"Garvan Fracture Risk Calculator" 10 tuổi.

Mười năm trước ngày này, chúng tôi triển khai một mô hình tiên lượng gãy xương có tên là “Garvan Fracture Risk Calculator”. Đây là một trong những phát triển quan trọng trong chuyên ngành loãng xương, vì nó thay đổi cách đánh giá về loãng xương từ một yếu tố (như mật độ xương) sang cách đánh giá đa yếu tố, và dùng mô hình thay vì dùng ý kiến cá nhân theo truyền thống “yes/no”. Tôi gọi đó là “Personalized Risk Assessment”.

Mô hình Garvan rất đơn giản về mặt kĩ thuật, nhưng nó phức tạp về dữ liệu và logistics. Phải cần đến 20 năm để có dữ liệu cho việc phát triển mô hình. Chúng tôi phải theo dõi hơn 2000 người cao tuổi suốt 20 năm trời để có những dữ liệu đắt tiền (thời đó). Không dễ dàng chút nào trong thực tế. Nếu không có NHMRC tài trợ cho, thì chúng tôi không thể triển khai được. Khi đã có mô hình rồi, còn phải triển khai nó. Triển khai xong, còn phải đi thuyết phục cộng đồng y khoa thế giới (và ngay cả tại Úc) để người ta biết đến và sử dụng. Nói như vậy để thấy triển khai mô hình tiên lượng trong y khoa không hề đơn giản như nhiều người ngoài y khoa tưởng hay nghĩ.

Dạo đó, Nguyễn Đình Nguyên và tôi bàn trong lab phải làm gì, và làm nhanh. Phải làm nhanh vì tôi biết một nhóm do WHO tài trợ cũng đang tiến hành như chúng tôi. Chúng tôi đã công bố bài báo trước họ. Năm 2007 chúng tôi công bố trên Osteoporosis International, một năm sau thì nhóm kia công bố cũng trên tập san đó. Khi mới xuất bản, nhiều người trong chuyên ngành gọi là “Nguyen’s Model” vì tác giả đầu là “Nguyen D. Nguyen”. Nhưng sau này Garvan không hài lòng vì họ không muốn cá nhân hoá (?) Nhưng dù sao thì đây cũng là một đóng góp mang tính fundamental của người Việt trong chuyên ngành loãng xương.

Đã có hàng trăm bài báo theo sau mô hình Garvan, và hàng ngàn trích dẫn. Nó khắc cái tên “Garvan” trong chuyên ngành loãng xương. (Ông viện trưởng nói vậy). Luận án của Nguyên được giải thưởng của Garvan, và nhiều giải thưởng từ các hiệp hội lớn trên thế giới. Đây là vài “personal reflection” của tôi về quá trình phát triển và triển khai mô hình Garvan:

https://www.nguyenvantuan.info/research-blog/the-garvan-fracture-risk-calculator-is-10-years-old

Một trong những ý nguyện của tôi là trong 5 năm tới, chúng tôi sẽ xây dựng mô hình tương tự cho Việt Nam và Á châu. Chúng tôi đã có dữ liệu từ công trình VOS, nên vấn đề chỉ là thời gian và expertise mà thôi. Tháng 4 và tháng 5 này tôi sẽ đi quảng bá cái ý tưởng đó ở Seoul và Hồng Kông, và sẽ thuyết phục vài nước Á châu tham gia thành lập một tập đoàn khoa học loãng xương.

The Garvan Fracture Risk Calculator is 10 years old!

Ten years ago today, we launched the Garvan Fracture Risk Calculator (GRX). This is one of our significant contributions to osteoporosis and bone health internationally. On this 10th year anniversary occasion, I reflect our work that led to the development and implementation of GRX.

Over 10 years ago, in a weekly lab meeting my doctoral student (Dr. Nguyen D. Nguyen) and I decided that we would translate our findings into a tool that can be used by doctors and patients alike for predicting the absolute risk of fracture for an individual. I called the concept “individualized risk assessment,” and wrote an editorial in Osteoporosis International to articulate my idea. Nguyen was an ideal person to do the work because he was a clinician and a very competent statistician. (It’s hilarious that some people in the field mistaken him as my son — NO. There are almost 35% of people in Vietnam carrying “Nguyen” as their surname).

Actually, my idea of ‘individualization‘ was not new; I learned it from colleagues in the cancer research field. At the time, cancer researchers were busily developing nomograms for predicting the risk of having cancer, and it appeared that these nomograms worked well for many cases. Why these probabilistic tools work well? Now, we know that highly experienced clinicians can also make good prognosis, and that is a fact. Unfortunately, their predictions are highly variables and less consistent, or in scientific language, clinicians’ predictions are irreproducible. But reproducibility is a bedrock of science. So, scientifically, we cannot rely on clinician’s personal judgment. Statistical prognostic models have been shown to outperform clinical judgment, because these models can objectively incorporate many risk data. Moreover, any prognosis from a statistical model is unbiased, consistent, and completely reproducible.

At the time we were working on the development of the Garvan Fracture Risk Calculator, clinicians still diagnosed osteoporosis based on a bone mineral density (BMD) measurement. Any post-menopausal woman or man aged 50 yr and older with a BMD T-score being less than -2.5 is classified as having “osteoporosis”. A T-score of -2.48 is not osteoporotic, but a T-score of -2.51 is. The diagnosis was (and still is) dichotomous, simple and clean.

I thought the above classification is absurd. Nguyen and I had observed that over 50% of women and 70% of men with a fracture did not have “osteoporisis” (i.e., their BMD T-scores were above the -2.5 threshold). We were intrigued by this fact (and have published a paper in JCEM) and asked what other factors contributed to fracture? Nguyen did a sophisticated analysis called “Bayesian Model Averging” and he found that apart from old age and low BMD, the number of falls and the number of prior fractures were very important risk factors for fracture. When he presented the result in a lab meeting, I said to myself: this makes sense! We then wrote a series of papers to describe our predictive models and how they could be used for individualized fracture risk assessment. I decided to send the papers to Osteoporosis International, because the journal was (and still is) a highly clinically oriented venue. In the papers, we made a point that:

The ultimate aim of developing a prognostic model is to provide clinicians and each individual with their risk estimate to guide clinical decisions. At present, individuals with low bone mineral density (i.e., T-scores being less than -2.5) or with a history of prior low trauma fracture are recommended for therapeutic intervention. This recommendation is logical and appropriate, since these individuals – as shown in this study and previous studies – have higher risk of fracture, and treatment can reduce their risk of fracture. However, because fracture is a multifactorial event, there is more than one way that an individual can attain the risk conferred by either low BMD or a prior fracture. Indeed, virtually all women aged 70 years with BMD T-scores less than -1.5 and all 80-year-old men with BMD T-scores less than -1.0 can be considered ‘high risk’. On the other hand, no 60 year old men or women without a prior fracture and a fall are considered high risk, even when their BMD T-scores are below -2.5. This demonstrates the informativeness of a multivariable prognostic model, and the limitation of a risk stratification-based approach for risk assessment for an individual.

We also made another point re the uniqueness of fracture risk:

Each individual is important and unique. […] Prognosis is about imparting information of fracture risk to an individual and each individual is a unique case, because there exists no ‘average individual’ in the population. The more risk factors are considered, the greater likelihood of uniqueness of an individual’s profile being defined. Therefore, by modeling risk factors in their continuous scale the present models can be uniquely tailored to an individual.”

One year later after the publication of our papers, the FRAX model — developed under the sponsorship of the World Health Organization — was published. So, doctors and patients in the world now have at least two tools to assess their own risk of fracture in their convenience. The two models, Garvan and FRAX, have helped transform the management of osteoporosis worldwide.

Our Garvan Fracture Risk Calculator has been a success. Many research groups around the world have validated the model in their populations, and they found that the model could be used to guide osteoporosis management in their local setting. The name “Garvan” has imprinted in the bone field through hundred of publications and thousands of references.

The Garvan tool is a key component of “Know Your Bones” that helps people self-assess their bone health. (You can click on the above link to have your test now!)

However, more work remains to be done to optimize the tool’s prognostic performance. I propose approaches to improve the accuracy of existing predictive models by incorporating new markers such as genetic factors, bone turnover markers, trabecular bone score, and time-variant factors. I believe that new and more refined models for individualized fracture risk assessment will help identify those most likely to sustain a fracture, those most likely to benefit from treatment, and encouraging them to modify their risk profile to decrease risk. My team and I are busily working toward that ideal.

There have been more than 100 articles on the Garvan model in the literature, including ours. Here are some of my recent reviews that I have written for journals and books:

Nguyen TV. Individualized Fracture Risk Assessment: State-of-the-Art and Room for Improvement. Osteoporosis and Sarcopenia 2018; in-press.

Nguyen TV. Individualized Assessment of Fracture Risk: Contribution of “Osteogenomic Profile”. J Clin Densitom 2017;20:353-359.

Nguyen TV, Eisman JA. Assessment of fracture risk: population association vs individual prediction. J Bone Miner Res 2017 Dec 27.

Nguyen TV, Eisman JA. Genetic profiling and individualized assessment of fracture risk. Nature Review Endocrinolology 2013 Mar;9(3):153-61.

Nguyen TV, Center JR, Eisman JA. Individualized fracture risk assessment: progresses and challenges. Curr Opin Rheumatol. 2013 Jul;25(4):532-41.

Nguyen TV, Eisman JA. Genetics and the individualized prediction of fracture. Curr Osteoporos Rep 2012 Sep;10(3):236-44.

Nguyen TV. Mapping translational research into individualized prognosis of fracture risk. International Journal of Rheumatic Diseases 2008; 11:347-358.

Bich H. Tran, Jacqueline R. Center, Tuan V. Nguyen. Translational genetics of osteoporosis: from population association to individualized risk assessment. In Primer on the Metabolic Bone Diseases and Disorders of Mineral Metabolism, Seventh Edition, Ed: Clifford Rosen. ASBMR 2017 Edition.

Nguyen TV, Eisman JA. Pharmacogenetics and pharmacogenomics of osteoporosis: personalized medicine outlook. In Genetics of Bone Biology and Skeletal Disease, Edited by RJ Thakker, MP Whyte, JA Eisman, T Igarashi. Academic Press Amsterdam 2017 Edition.

Nguyen TV. Individualized Progress of Fractures in Men. In Osteoporosis in Men – the effect of gender on skeletal health, 2nd Ed, Edited by ES Orwoll, JP Biezikian, and D Vanderschueren. Academic Press, 2011.

===

This is the Press Release 10 years ago:

WEB-BASED TOOL TO PREDICT RISK OF BONE FRACTURE

Scientists from Garvan have developed a fracture risk calculator using data, accumulated over 17 years, from the internationally recognised Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study. A paper describing the tool and its methodology was published today in the prestigious international journal, Osteoporosis International.

Media Release: 07 March 2008

It will soon be possible for anyone over 60 to predict their individual risk of bone fracture with the aid of a simple web-based tool, developed by the Sydney-based Garvan Institute of Medical Research.

The tool will be accessible online from the end of March at http://www.fractureriskcalculator.com

Each person has a unique risk profile, a combination of five factors including sex, age, weight, history of prior fracture, number of falls in the past 12 months and bone mineral density.

Scientists from Garvan developed the tool using data, accumulated over 17 years, from the internationally recognised Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study. A paper describing the tool and its methodology was published online today in the prestigious international journal, Osteoporosis International.

“The biggest challenge at the moment is how to develop prognostic tools that allow individuals and their doctors to predict risk of fracture” said Professor John Eisman, Director of Garvan’s Bone and Mineral Research Program.

Associate Professor Tuan Nguyen, whose team at Garvan developed the tool, said “We have kept our model simple and easy to use. In addition to the web-based version, it is also available on paper as a nomogram, a simple graph which is easy for a clinician to complete.”

The prognostic tool was developed in two stages. First, people from the Dubbo epidemiological study were separated into ‘low risk’ and ‘high risk’ categories. Their risk factors were combined in a statistical model, allowing scientists to derive the weighting for each risk factor. For these analyses, the Dubbo population was split into two halves. Scientists derived the prognostic model from one half and then applied the model to the other half to ensure that it accurately predicted their fracture risk.

This Tool has the potential to allow individuals to make informed judgments about their actual risk of having an osteoporotic fracture and what steps they may wish to take to reduce that risk.

Josef Stalin chết vì nguyên nhân gì?

Sáu mười lăm năm trước, ngày hôm nay (5/3), Josef Stalin chết. Nhưng cái chết của Stalin là một nguồn bàn luận và nghiên cứu suốt nửa thế kỉ qua. Báo chí tuyên truyền của Liên Xô thì cho rằng Stalin chết vì bệnh tuổi già. Nhưng các chuyên gia y khoa thì suy đoán rằng Stalin chết là có thể do bị đầu độc, và thủ phạm chẳng ai khác hơn là một hay hơn một đồng chí thân cận của y.

Bác sĩ Miguel A. Faria là người dành nhiều thời gian và công sức để nghiên cứu về nguy nhân dẫn đến cái chết của Stalin. Ông đã viết một loạt bài trên các tập san y khoa, đặc biệt là tập san Surgical Neurology International (1,2) lí giải rằng Stalin bị đầu độc, nhưng không biết chất độc là gì. Để biết một chút câu chuyện, tôi tóm tắt diễn biến trong những ngày cuối đời của Stalin qua những gì Bác sĩ Faria công bố trên tập san SNI.

Bối cảnh dẫn đến cái chết của Stalin

Trước khi chết vài tuần, Stalin đã bị chóng mặt và cao huyết áp. Bác sĩ riêng của Stalin là Giáo sư V. N. Vinogradov (3) khuyên y nên nghỉ chức vụ hiện hành để dưỡng bệnh. Lời khuyên chân tình đó hóa ra là … mắc oán. Không lâu sau đó, Stalin ra lệnh bắt giam ông giáo sư và một số bác sĩ trong vụ án “Âm mưu bác sĩ” (4), vì y nghi rằng có âm ưu ám sát y.

Theo tác giả cuốn sách “Stalin – Triump and Tragedy” Dimitri Volkogonov, đêm trước khi Stalin ngã bệnh, y cho gọi Lavrenti Beria (Bộ trưởng công an) đến để hỏi về việc lấy cung Giáo sư Vinogradov. Beria báo cáo với Stalin rằng “Ngoài những bản chất xấu xa, ông giáo sư có cái lưỡi dài. Hắn đã nói với các bác sĩ dưới quyền rằng đồng chí Stalin từng bị nhiều cơn căng thẳng thần kinh.”

Với bản chất tàn bạo, Stalin hỏi: “Rồi bây giờ ông có đề nghị gì? Mấy tên bác sĩ đó có thú nhận chưa? Nói với Ignatiev [trùm mật vụ] rằng nếu y không làm cho chúng thú nhận thì chúng ta sẽ giảm chiều cao của ông ấy bằng 1 cái đầu.” Beria có lẽ hơi hoảng nên bảo đảm với Stalin rằng “Chúng sẽ thú nhận. Với sự hỗ trợ của Timashuk và các nhà yêu nước khác, chúng ta sẽ xong cuộc điều tra, và sẽ báo cáo đến đồng chí để sắp xếp một phiên tòa công chúng.” Stalin ra lệnh: “Sắp xếp đi!” Những mẩu đối thoại đó xảy ra vào đêm 30/3/1953 rạng sáng ngày 1/3/1953.

Stalin lâm bệnh

Trong đêm 28/2 đến 1/3 các ủy viên Bộ Chính trị như Beria, Khrushchev, Malenkov, và Bulganin cùng với Stalin xem phim ở Điện Kremlin. Sau khi các ủy viên Bộ chính trị ra về, Stalin lên giường ngủ. Viên cận vệ trong đêm đó là M. Starostin và người phụ tá là Tukov.

Cho đến trưa hôm sau, Stalin không ra khỏi phòng ngủ. Viên cận vệ bắt đầu nghi ngờ và lén vào xem qua, và phát hiện Stalin nằm dưới sàng! Nhưng viên cận vệ không dám đến gần. Đến khi đánh bạo đến gần thì mới biết Stalin đã bất tỉnh, tay quờ quạng muốn giúp, miệng ú ớ nói không nên lời.

Lúc đó, viên cận vệ liên lạc Malenkov (một tay sai thân tín của Stalin) để báo cáo tình hình; Malenkov tìm cách liên lạc Beria nhưng không được ngay. Đến khi Beria và Malenkov đến hiện trường thì Beria còn la mắng viên cận vệ là “Tụi bây la hoảng cái gì? Ông sếp đang ngủ mà. Thôi, mình đi, Malenkov.” Sau đó, Beria còn dặn viên cảnh vệ là “Đừng hoảng sợ như vậy, và đừng làm phiền chúng tao. Đừng lay động đồng chí Stalin.”

Sáng hôm sau, Khrushchev đến nơi hiện trường, và hỏi “Ông sếp sao rồi?” Viên cảnh vệ báo cáo “Ông ấy rất yếu, chắc có vấn đề nghiêm trọng”. Khrushchev nói “Bác sĩ đang trên đường đến.” Khoảng 8:30 và 9:00 giờ sáng ngày 2/3 thì bác sĩ đến nơi. Lúc đó, Stalin đã bất tỉnh suốt 13 giờ đồng hồ, và không được hỗ trợ bất cứ bằng phương tiện y khoa nào.

Ngày 2/3/1953

Khi bác sĩ đến nơi, Stalin đã nằm bất động trong vũng nước đái trên ghế sofa. Cánh tay phải và chân phải đều bị liệt. Huyết áp lúc đó là 190/110, và nhịp tim là 78. Bác sĩ ra lệnh trích máu ở sau lỗ tai và truyền magnesium sulfate. Nhưng đến 2:10 chiều thì huyết áp của Stalin lại tăng cao đến 210/120. Suốt hai ngày sau đó, sức khỏe của Stalin bị tuột dốc dần dần và y nằm bất động, hoàn toàn không đáp ứng.

Ngày 3/3/1953

Có một tia hi vọng khi các bác sĩ và đồng chí của Stalin thấy y mở mắt. Nhưng chỉ 1 giây lát sau thì Stalin lâm vào bất tỉnh nữa.

Ngày 4/3/1953

Stalin bắt đầu lên cơn nấc dữ dội, và ói ra máu.

Ngày 5/3/1953

Thân thể Stalin đổ mồ hôi quá nhiều và nhịp tim không còn. Khi được bơm oxygen hoặc chích camphor và adrenaline cơ thể Stalin không đáp ứng. Các bác sĩ tuyên bố Stalin chết vào lúc 9:50 tối ngày 5/3/1953. Chẩn đoán ghi trên hồ sơ bệnh án là “bệnh cơ bản — tăng huyết áp và rối loạn tuần hoàn não – xuất huyết bao tử” (5).

Tuy nhiên điều thú vị là trong báo cáo cho Ủy ban trung ương đảng cộng sản thì người ta đục bỏ xuất huyết dạ dày!

Sau này, kết quả giảo nghiệm tử thi Stalin cho thấy xuất huyết não. Bác sĩ Faria lí giải rằng cao huyết áp có thể dẫn đến đột quị và đột quị xuất huyết não (hemorrhagic stroke), nhưng không liên quan đến xuất huyết bao tử hay xuất huyết thận.

Qua diễn biến trên và thái độ cùng hành vi của Beria làm cho Bác sĩ Faria đặt giả thuyết rằng Stalin chết là do bị đầu độc, và kẻ đầu độc rất có thể là Beria. Một nhân vật khác cũng có thể là thủ phạm: Khrushchev. Faria cho rằng những người này (Beria và Khrushchev) thừa hiểu bản tính tàn bạo của Stalin và mạng sống của họ có thể ở tình thế hiểm nguy (lúc đó Stalin đã phàn nàn rằng có ‘nội phản’), nên họ phải ra tay trước. Trong thế giới cộng sản, các đồng chí hay đầu độc với nhau, do đó nếu Stalin có bị Beria ra tay hạ thủ thì cũng không quá ngạc nhiên.

Stalin là một nhân vật gây ra nhiều tranh cãi. Những nhà trí thức Nga qui kết Stalin là thủ phạm của hàng triệu cái chết, là một ác quỉ thời nay, là đồ tể còn hơn cả Hitler. Nhưng ở Nga, một số người vẫn xem Stalin là “Bác Joe”, là Á Thánh, và ngay cả ở Việt Nam Stalin vẫn còn là thần tượng của vài người, trong đó có cả thi sĩ Tố Hữu. Cái chết của Stalin đã từng là đề tài của ít nhất là 2 cuốn sách và một số bài báo nghiên cứu y khoa. Năm nay, dù đã 65 năm từ ngày Stalin chết, nhưng nguyên nhân tử vong thì vẫn còn là một giả thuyết. Tuy nhiên, những chứng cứ mới đây và nhất là kết quả giảo nghiệm tử thi mà phía Nga công bố có vẻ nhất quán với giả thuyết đầu độc của Bác sĩ Faria.

====

(1) Faria MA. The death of Stalin – was it a natural death or poisoning? Surg Neurol Int 2015;6:128.

(2) Faria MA. Stalin’s mysterious death. Surg Neurol Int 2011;2:161.

(3) Bác sĩ Vladimir N. Vinogradov qua đời ở Moscow năm 1962.

(4) Vụ án “Doctors’ plot” hay có khi báo chí tuyên truyền của Liên Xô gọi là “Bác sĩ phản gián” là một chiến dịch do Stalin tổ chức để hãm hại các bác sĩ gốc Do Thái. Họ bị tố cáo là âm mưu ám sát các lãnh đạo đảng cộng sản Xô Viết. Tất cả chứng cứ đều do cơ qua an ninh của đảng cộng sản dựng lên, và sau khi Stalin chết, thì sự việc mới rõ ràng.

(5) Nguyên văn dịch tiếng Anh là “Arising on March 5 in connection with the basic illness — hypertension and the disruption of circulation in the brain — a stomach hemorrhage facilitated the recurrent collapse, which ended in death.” [2]

Bổ nhiệm giáo sư: 5 "nên" và 5 "không nên"

Mấy ngày qua, có thể nói là báo chí và công chúng ‘dậy sóng’ về chức danh giáo sư. Sau quyết định công nhận hơn 1200 giáo sư và phó giáo sư, ông Thủ tướng yêu cầu phải rà soát lại. Kết quả ra soát càng làm công chúng nghi ngờ thêm! Báo VNexpress hỏi tôi về qui trình bổ nhiệm giáo sư ở Úc và có đề nghị gì về qui chuẩn cho chức danh giáo sư ở Việt Nam. Tôi có 5 đề nghị “nên” và năm đề nghị “không nên”.

Bài phỏng vấn đã đăng hai kì trên VNexpress:

https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/giao-su-o-australia-duoc-bo-nhiem-nhu-the-nao-3717429.html

https://vnexpress.net/tin-tuc/giao-duc/gs-nguyen-van-tuan-khong-nen-bo-nhiem-quan-chuc-lam-giao-su-3717824.html

===

Phóng viên (PV): Quy trình phong hàm giáo sư ở Australia như thế nào?

NVT: Ở Úc, cũng như ở nhiều nước nói tiếng Anh như Mĩ, Canada, Anh, v.v., giáo sư được xem là một chức vụ trong hệ thống đại học. Vì là chức vụ, nên không có khái niệm tiến phong, chỉ có bổ nhiệm. Việc bổ nhiệm giáo sư là do các đại học thực hiện thông qua một qui trình chuẩn. Qui trình này có 4 bước như sau:

  • Bước 1, ứng viên soạn thảo một hồ sơ khoa học, và đệ trình cho khoa trưởng. Hồ sơ bao gồm lí lịch khoa học, bản sao 10 bài báo quan trọng trong sự nghiệp và 5 bài báo trong 5 năm qua, kèm theo một văn bản giải thích tại sao ứng viên đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra cho chức vụ giáo sư.

  • Bước 2, khoảng 2-3 tháng sau ngày đệ trình cho khoa, một hội đồng bổ nhiệm và đề bạt (committee of appointment and promotion) cấp khoa họp, xem xét hồ sơ, và gửi hồ sơ ra ngoài cho các giáo sư khác bình duyệt.

  • Bước 3, khoảng 2-3 tháng sau khi nhận được bình duyệt của các giáo sư ngoài, hội đồng bổ nhiệm và đề bạt cấp trường sẽ họp và phỏng vấn ứng viên (nếu ứng viên có cơ hội được mời phỏng vấn). Sau đó, hội đồng sẽ xem xét có nên bổ nhiệm hay đề bạt ứng viên.

  • Bước 4 là quyết định bổ nhiệm, thường là do hiệu trưởng đại học kí.

Đó là qui trình chung, nhưng qui trình này có khi còn tùy thuộc vào cấp giáo sư nữa. Ví dụ như đề bạt từ phó giáo sư lên giáo sư thực thụ thì còn phải qua hai lần phỏng vấn, chứ không phải một lần cho cấp phó giáo sư. Như có thể thấy qua qui trình trên, các thủ tục rất đơn giản và minh bạch. Đại học Tôn Đức Thắng cũng có qui trình tương tự như trên.

PV: Tiêu chí gì được chú trọng?

NVT: Tiêu chí thì giống nhau, nhưng tiêu chuẩn thì tùy thuộc vào trường đại học, cấp giáo sư và ngạch bổ nhiệm. Ở Úc có hai ngạch bổ nhiệm giáo sư: nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Nhưng dù ở ngạch nào hay cấp nào thì ứng viên vẫn được xét duyệt dựa trên 5 tiêu chí chính:

  • Thành tích nghiên cứu khoa học;

  • Thành tích giảng dạy và đào tạo;

  • Đóng góp cho chuyên ngành trên bình diện quốc gia và quốc tế;

  • Đóng góp cho trường đại học;

  • Đóng góp cho cộng đồng xã hội và chính sách công.

Mỗi tiêu chí có một nhóm tiêu chuẩn. Chẳng hạn như trong tiêu chí về nghiên cứu khoa học, hội đồng sẽ xem xét đến phẩm chất và thành tựu nghiên cứu khoa học của ứng viên. Phẩm chất khoa học có đánh giá qua số trích dẫn (chứ không phải số bài báo), tập san công bố, tác động đến chuyên ngành, v.v. Không có những con số cụ thể bao nhiêu, bởi vì những chỉ số vừa kể chỉ có tính tham khảo. Tuy nhiên, có những con số “hiểu ngầm”, như ở các trường Go8 (tức thuộc nhóm 8 đại học nghiên cứu) thì một giáo sư phải có chỉ số H từ 20 trở lên, phó giáo sư phải có chỉ số H 15 trở lên. Kinh nghiệm tôi đã và đang ngồi trong các hội đồng này thì một giáo sư đạt được những ‘chuẩn’ đó thường có ít nhất 100 bài báo khoa học, còn phó giáo sư thì con số phải cỡ 40 trở lên. Đó là tiêu chuẩn cho ngạch giáo sư nghiên cứu, còn ngạch giáo sư giảng dạy thì có phần thấp hơn.

Mấy năm gần đây, một tiêu chuẩn quan trọng khác là thu hút tài trợ. Tôi thấy rất nhiều hồ sơ giáo sư nhấn mạnh đến số tiền (thường là bạc triệu USD) mà họ đem về cho trường. Lí do là mỗi đô la họ đem về cho trường thì trường được hưởng 30 cent. Do đó, thu hút tài trợ vừa là một thước đo đóng góp cho nhà trường mà vừa là một tín hiệu được đồng nghiệp ghi nhận.

Tiêu chí về nghiên cứu khoa học dù có thể quan trọng nhất, nhưng vẫn chưa đủ để được bổ nhiệm hay đề bạt chức vụ giáo sư. Một giáo sư thực thụ trước hết phải là một người “lãnh đạo khoa học”, và ứng viên phải chứng minh khả năng này qua các hoạt động khác như đóng vai trò quan trọng trong các hiệp hội chuyên môn cấp quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong các hội đồng xét duyệt tài trợ khoa học, hội đồng biên tập của các tập san khoa học có uy tín. Ứng viên còn phải chứng minh mình được đồng nghiệp quốc tế công nhận qua các hình thức như được chủ tọa hay mời giảng trong các hội nghị quốc tế, được mời viết xã luận và tổng quan, v.v. Tất cả những tiêu chí này tuy chẳng có thước đo cụ thể, nhưng có khi lại là yếu tố quyết định cho sự thành bại trong bổ nhiệm và đề bạt!

Một tiêu chí khác cũng quan trọng không kém là đóng góp cho trường và cho xã hội. Một giáo sư, dù là cấp thấp hay cao, phải ý thức rằng mình có nhiệm vụ đóng góp cho trường và cho đất nước, chứ không phải chỉ ngồi trong ‘tháp ngà’ khoa bảng. Những đóng góp này có thể là qua hình thức viết báo phổ thông, phục vụ trong các ban tư vấn cho chính phủ, phục vụ trong các hội đồng cấp trường.

Tuy nhiên, như tôi nói lúc đầu, mỗi trường có một bộ tiêu chuẩn khác nhau, bởi vì nó phụ thuộc vào quá trình phát triển của trường. Những trường lâu năm và danh tiếng thường có bộ tiêu chuẩn cao hơn và qui trình gắt gao hơn những trường đang trong giai đoạn củng cố và phát triển. Có khi họ yêu cầu ứng viên phải chỉ ra là ứng viên tương đương với giáo sư nào trên thế giới. Do đó, chức vụ và chức danh giáo sư rất phụ thuộc vào trường.

Đó là chưa kể đến những trường hợp được bổ nhiệm ‘thần tốc’ hay chẳng qua qui trình chuẩn trên, nhưng những trường hợp này không nhiều. Chẳng hạn như vài ngày trước, Đại học Công nghệ Sydney (UTS) bổ nhiệm một nhà báo kì cựu chức giáo sư và giám đốc Trường báo chí, dù nhà báo này chưa từng giảng dạy và cũng chưa từng nghiên cứu khoa học có công bố quốc tế. Những trường hợp như thế tuy hiếm nhưng càng ngày càng nhiều, vì sự thay đổi nhận thức về chức vụ giáo sư ở các đại học phương Tây.

PV: Mục đích của việc phong hàm giáo sư là gì?

NVT: Mục đích số 1 của việc bổ nhiệm (chứ không phải “tiến phong”) giáo sư là nhằm thu hút và giữ nhân tài. Hai chữ ‘nhân tài’ ở đây phải hiểu là những nhà khoa học có những thành tích và thành tựu khoa học và giảng dạy giúp nâng cao uy danh của trường đại học trên trường quốc tế. Tiếng Anh gọi mục đích này là ‘visibility’, tức là ‘điểm nổi’. Trường đại học có nổi hay không là nhờ vào những giáo sư và những đóng góp của họ.

Mục đích thứ hai là ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học. Ghi nhận qua việc bổ nhiệm họ vào vị trí tương xứng. Vị trí tương xứng trong khoa bảng, xã hội, và tài chánh. Do đó, có thể nói rằng mục đích thứ hai của việc bổ nhiệm giáo sư là tưởng thưởng.

PV: Anh đánh giá thế nào về số lượng giáo sư, phó giáo sư Việt Nam tăng đột biến năm vừa qua?

NVT: Báo chí và nhiều người trong giới học thuật đã nhận xét rằng con số giáo sư và phó giáo sư năm nay tăng một cách “đột biến” so với năm trước. Tôi xem lại con số thì sự gia tăng chủ yếu là ở nhóm phó giáo sư (tăng gần 80%, từ 638 đến 1141), còn nhóm giáo sư thì tăng 30% (từ 65 lên 85 người). Đúng là có tăng bất thường.

Nhưng tôi nghĩ nếu nhìn lại quá khứ thì cũng đã có những đợt tăng đột biến như thế. Có thể xem biểu đồ dưới đây để thấy xu hướng tôi vừa đề cập. Qui chế phong giáo sư ở Việt Nam bắt đầu từ 1980, và năm đó có đến 83 người được phong giáo sư và 347 người là phó giáo sư. Hai năm sau, số GS và PGS lần lượt là 117 và 664, tính ra tăng 82% so với năm 1980. Năm 1992, Nhà nước phong chức danh giáo sư cho 247 người, và con số này là kỉ lục trong suốt 38 năm qua. Ngay cả những năm 1984, 1992, 1996 và 2002, con số GS dao động trong khoảng 115 đến 210 người! Do đó, có thể nói con số giáo sư được công nhận năm nay (2017) không phải là quá cao.

Tuy nhiên, con số phó giáo sư được công nhận năm 2017 thì đúng là cao một cách bất thường so với suốt thời gian từ 1980 đến 2016.

Để thấy những con số GS/PGS của Việt Nam là bất bình thường, chúng ta phải nhìn sang Thái Lan để so sánh. Số liệu năm 2015 của Bộ Giáo dục Thái Lan cho biết các đại học hiện có 6376 associate professor (tức phó giáo sư) và 754 professor (tức cấp “giáo sư” của Việt Nam). Tính chung, các đại học Thái Lan có khoảng 7130 giáo sư và phó giáo sư. Ở Việt Nam, chỉ tính từ 2001, đã có 981 giáo sư và 8074 phó giáo sư, tức tổng số cao hơn Thái Lan khoảng 27%!

Biểu đồ thể hiện số giáo sư (màu hồng) và phó giáo sư (màu xanh) được phong hay công nhận từ năm 1980 đến 2017.

PV: Ở Australia có trường hợp cụ thể nào được phong hàm giáo sư trọn đời như ở Việt Nam không ạ? (theo em được biết thì ở nhiều nước, chức danh giáo sư thường gắn với thời gian làm việc ở trường đại học)

NVT: Bởi vì giáo sư được xem là chức vụ, nên không ai giữ chức này suốt đời, và do đó không thể dùng chức danh giáo sư suốt đời. Khi được bổ nhiệm chức vụ giáo sư, nhiệm kì thường là 5 năm. Ví dụ như ông John Hewson (cựu giáo sư kinh tế của Đại học New South Wales) khi ông rời khoa bảng và tham gia chính trường thì ông không còn chức danh “giáo sư” trước tên nữa. Tuy nhiên, các đại học Úc có qui chế phong tặng chức danh “Emeritus Professor” cho những giáo sư đã nghỉ hưu nhưng từng có công lớn với trường trong thời gian tại chức. Phong tặng chức danh “Emeritus Professor” phải do một hội đồng khoa bảng của trường đại học xem xét và hiệu trưởng phê chuẩn.

PV: Ở Australia có qui chế giới hạn một giáo sư hướng dẫn bao nhiêu nghiên cứu sinh hay không? Chất lượng hướng dẫn được đánh giá như thế nào? Hiện dư luận Việt Nam đang xôn xao vì giáo sư (là quan chức nhà nước) dù bận rộn nhưng vẫn hướng dẫn cho rất nhiều nghiên cứu sinh và việc đó được quy đổi thành điểm.

NVT: Như tôi có đề cập trong phần tiêu chí đề bạt và bổ nhiệm chức vụ giáo sư, đào tạo và giảng dạy là một trong 5 tiêu chí quan trọng. Đối với các giáo sư ngạch giảng dạy thì chất lượng giảng dạy và viết sách giáo khoa (được xuất bản bởi các nhà xuất bản có uy tín như Wiley, Springer, Elsevier) được xem là một tiêu chuẩn. Nhưng đối với các giáo sư ngạch nghiên cứu thì hướng dẫn sinh viên cấp tiến sĩ và thạc sĩ là một tiêu chuẩn để xem xét đề bạt. Có thể nói 100% các phó giáo sư và giáo sư Úc đều có thành tích hướng dẫn nghiên cứu sinh cấp tiến sĩ, chỉ khác nhau là số lượng mà thôi.

Dĩ nhiên là có giới hạn số nghiên cứu sinh mà một giáo sư có thể hướng dẫn. Thông thường tôi thấy một giáo sư chỉ có thể hướng dẫn 5 sinh viên cùng một lúc, không thể hơn được. Lí do là vì ở Úc, các nghiên cứu sinh là những người làm nghiên cứu toàn thời gian (y như người đi làm), và theo qui định, mỗi tuần giáo sư phải giành ra ít nhất 1 giờ cho một nghiên cứu sinh. Trong thực tế thì nhiều hơn, vì giáo sư phải thường xuyên có mặt để nghiên cứu sinh có thể tham vấn. Đó là chưa tính đến thời gian biên tập bản thảo cho nghiên cứu sinh, họp lab, họp seminar, v.v. Vả lại, cứ mỗi 6 tháng thì đại học họ mời cả thầy và trò gặp hội đồng đào tạo của trường để báo cáo tiến độ, và nếu có vấn đề thì tìm biện pháp khắc phục. Cũng có vài trường hợp khi giáo sư không gặp nghiên cứu sinh thường xuyên thì hội đồng sẽ chuyển nghiên cứu sinh sang một nhóm khác dưới sự hướng dẫn của một giáo sư mới.

Chất lượng hướng dẫn nghiên cứu sinh được đánh giá qua 3 chỉ tiêu. Thứ nhất là nghiên cứu có công bố được bài báo khoa học hay không, và nếu có thì công bố ở những tập san có ảnh hưởng cao hay không. Thứ hai là nghiên cứu sinh có được trao những giải thưởng của các hiệp hội chuyên ngành. Thứ ba là sau khi tốt nghiệp, nghiên cứu sinh có tìm được vị trí nghiên cứu hậu tiến sĩ (postdoc), và nếu tìm được thì ở trường thuộc hạng “top” hay không. Không chỉ nghiên cứu sinh, mà giáo sư còn phải có khả năng thu hút nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ, và sau khi xong huấn luyện thì sự nghiệp của họ như thế nào. Họ đến “đầu quân” từ tiền của họ hay của labo cũng là một tín hiệu ngầm về uy tín của giáo sư. Tất cả những chi tiết này đều được trình bày trong hồ sơ bổ nhiệm.

PV: Trách nhiệm của giáo sư sau khi được phong hàm là gì? Hoạt động của giáo sư được theo dõi như thế nào? Nếu không thực hiện đúng hoặc đủ thì xử lý ra sao? (miễn nhiệm hay không)

NVT: Câu trả lời tuỳ thuộc vào loại giáo sư. Thường, trong một đại học có nhiều loại giáo sư. Có những giáo sư ở cấp ‘thấp’ nhất là không giữ chức vụ nào quan trọng, còn gọi là ‘giáo sư trơn’. Có những giáo sư là giám đốc điều hành các labo nghiên cứu, nhóm nghiên cứu; có những giáo sư là chair (chủ nhiệm) của một chuyên ngành hay một bộ môn; có những giáo sư giữ chức quản lí như giám đốc một trường, một viện nghiên cứu, hay thậm chí khoa trưởng.

Sau khi được bổ nhiệm hay đề bạt thì các giáo sư vẫn tiếp tục làm công việc nghiên cứu hay giảng dạy, nhưng trường kì vọng họ phải làm tốt hơn nữa. Tốt hơn ở đây có thể hiểu là nâng cao chất lượng nghiên cứu nhiều hơn nữa, tham gia vào các hiệp hội chuyên môn quốc tế ở vai trò cao hơn nữa, tham gia vào các hội đồng biên tập với vai trò cao hơn nữa, v.v. Ngoài ra, trường cũng kì vọng giáo sư đem nhiều tiền về cho trường qua các hoạt động chuyển giao công nghệ, thu hút tài trợ cho nghiên cứu, và hoạt động quốc tế. Như tôi nói trên, mỗi giáo sư — nhất là cấp giáo sư thực thụ — phải là một ‘leader’ hay nhà lãnh đạo. Lãnh đạo ở đây cũng có nghĩa là nâng cái visibility của đại học trên trường quốc tế.

Rất ít khi nào giáo sư bị miễn nhiệm, vì nhiệm kì chỉ có 5 năm. Có những giáo sư sau khi được bổ nhiệm thì thành tích khoa học bắt đầu tuột dốc, và không còn năng lực thu hút tài trợ nữa, nên họ khó có thể gia hạn nhiệm kì sau. Bên cạnh đó, trong thực tế cũng có vài trường hợp bị miễn nhiệm do những hành động hay vi phạm ngoài khoa học, như sách nhiễu tình dục hay vi phạm điều lệ an toàn trong labo gây tai nạn nghiêm trọng cho cộng sự.

Nhưng nhìn chung, các giáo sư có mức độ độc lập rất cao so với những chức vụ khác. Chẳng hạn như tôi có ngân sách riêng, có quyền tuyển dụng nhân sự (như sinh viên tiến sĩ, hậu tiến sĩ, hay phụ tá nghiên cứu), có quyền hợp tác với bất cứ nhóm nghiên cứu nào trên thế giới, có quyền thương lượng với các công ti kĩ nghệ, v.v. Nói chung, mỗi giáo sư có chức vụ cụ thể giống như là giám đốc của một doanh nghiệp khoa học và đào tạo.

PV: Anh có đề xuất gì cho Việt Nam về quy trình phong hàm giáo sư để kết quả thuyết phục hơn hay không?

NVT: Tôi thấy đã có rất nhiều tiếng nói tâm huyết đề nghị cải cách qui trình và tiêu chuẩn cho các chức vụ giáo sư. Ở đây, tôi chỉ muốn nhắc lại những ý kiến mà tôi từng phát biểu (có lẽ quá nhiều lần) trước đây. Tôi có 10 đề nghị, 5 đề nghị “nên” và5 đề nghị “không nên”:

1. Nên thay đổi nhận thức về giáo sư. Chúng ta nên theo qui chế của đa số các đại học trên thế giới và xem giáo sư là một chức vụ, chứ không phải là chức danh hay phẩm hàm.

2. Nên giao việc bổ nhiệm chức vụ giáo sư cho trường đại học. Điều này đã được các nhà khoa học nêu lên rất nhiều trong thời gian gần đây. Nếu chấp nhận giáo sư là một chức vụ, mà chức vụ thì gắn liền với một đại học, nên một cách hợp lí là nên chuyển việc xét duyệt chức vụ giáo sư cho trường đại học. Tuy nhiên, tình hình ở Việt Nam là có nhiều đại học chưa có năng lực độc lập để bổ nhiệm giáo sư. Do đó, tôi đề nghị chỉ giao cho các đại học có công bố quốc tế thuộc nhóm [chẳng hạn như] “top 10” bổ nhiệm chức vụ giáo sư. Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ cần quản lí qui trình và tiêu chí, chứ không nên can thiệp vào các hội đồng bổ nhiệm của đại học.

3. Nên mở rộng 3 cấp giáo sư: assistant professor (giáo sư trợ lí), associate professor (phó giáo sư) và professor (giáo sư). Đây là xu hướng chung ở các đại học Âu Mĩ. Ngay cả ở Úc, nơi từng theo hệ thống của Anh, nay cũng bắt đầu chuyển sang hệ thống ba cấp giáo sư như Mĩ. Các nước trong vùng như Mã Lai, Thái Lan, Phi Luật Tân, Nam Dương, Singapore, và Hàn Quốc cũng đều theo hệ thống 3 bậc giáo sư như Mĩ. Chuyển sang hệ thống này giúp cho các nhà khoa học Việt Nam “dễ ăn nói” với các đồng nghiệp nước ngoài.

4. Nên tạo ra hai ngạch giáo sư: nghiên cứu khoa học và giảng dạy & đào tạo. Trong thực tế có những nhà khoa học chỉ làm nghiên cứu khoa học, nhưng cũng có nhiều người tập trung vào việc giảng dạy và đào tạo. Cả hai nhóm cần được ghi nhận đúng mức. Dĩ nhiên, tiêu chuẩn cho hai ngạch giáo sư cũng cần phải uyển chuyển để phản ảnh đúng đặc thù cho từng ngạch.

5. Nên có giáo sư nước ngoài bình duyệt (đối với một số ngành khoa học thực nghiệm và khoa học tự nhiên). Để cho người được bổ nhiệm chức vụ giáo sư cảm thấy mình xứng đáng đứng trong ‘hàng ngũ’ giáo sư trên thế giới, tôi đề nghị mỗi hồ sơ của ứng viên phải có ít nhất một giáo sư nước ngoài bình duyệt. Các giáo sư nước ngoài phải được chọn cẩn thận (như thuộc các trường đại học “top 500”) và có thành tích khoa học tốt. Điều này có thể khó lúc đầu, nhưng Đại học Tôn Đức Thắng đã làm và khá thành công.

6. Không nên bổ nhiệm các quan chức làm giáo sư. Việt Nam có lẽ là một trong vài nơi công nhận chức danh giáo sư cho các quan chức. Tôi nghĩ có thể có cách làm khác như cách làm ở Úc. Thay vì công nhận chức danh giáo sư cho họ, có thể tạo ra một chức vụ mới gọi là “Giáo sư kiêm nhiệm” hay “Conjoint Professor” (có khi gọi là “Adjunct Professor”), và theo qui chế này họ có quyền dùng chức danh “Giáo sư kiêm nhiệm” nhưng không được dùng chức danh “Giáo sư”.

7. Không nên có những tiêu chuẩn cứng nhắc như viết sách. Viết sách có thể xem là một tiêu chuẩn, nhưng không nên xem đó là yếu tố quyết định cho các chức danh giáo sư. Thành tựu khoa học của một cá nhân không thể chỉ phản ảnh qua sách. Thật ra, ở Úc một số ngành người ta không xem việc biên sọan sách là một tiêu chuẩn quan trọng.

8. Không nên theo đuổi những tính toán máy móc như điểm bài báo trên các tập san có bình duyệt ở nước ngoài tương đương hay cao hơn một chút so với những bài báo công bố trên các tập san ở trong nước. Các tập san khoa học nước ngoài, dù là có bình duyệt, cũng “thượng vàng hạ cám”, tức là rất khác nhau về phẩm chất. Một công trình trên tập san New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA, Nature, Science, Cell thì không thể xem tương đương với hay cao hơn chỉ 1-2 điểm so với một tập san như Medical Journal of Australia hay Y học thực hành được.

9. Không nên “bình quân hóa” trong xét duyệt công trạng khoa học.Hiện nay, một số ngành có xu hướng đánh đồng công trạng trong công trình nghiên cứu khoa học, mà theo đó rất nhiều ứng viên không đóng vai trò quan trọng trong bài báo vẫn được tính điểm như các tác giả khác (kể cả tác giả chủ trì). Cần nhớ rằng bổ nhiệm chức vụ giáo sư là nhận dạng và khuyến khích tính độc lập của nhà khoa học, nên cần phải đòi hỏi họ phải là tác giả chính các công trình khoa học quan trọng, chứ không thể “ăn theo” mà vẫn có điểm. Điều này có ý nghĩa quốc gia, bởi vì hơn 70% các bài báo khoa học trên các tập san quốc tế là do hợp tác với nước ngoài và thường do người nước ngoài chủ trì; chúng ta phải thay đổi tình hình này bằng cách thay đổi tiêu chuẩn bổ nhiệm giáo sư.

10. Không nên quá chú trọng vào lượng. Nhiều người có xu hướng quan trọng hóa số lượng bài báo quốc tế, số chức danh ‘danh dự’ như “giáo sư thỉnh giảng” hay số giải thưởng. Tuy nhiên, vấn đề không phải là lượng mà là phẩm. Những ứng viên với vài công trình quan trọng trên các tập san đỉnh hay có nhiều trích dẫn là những người cần phải được quan tâm hơn là những người công bố nhiều nhưng không có tác động. Những chức danh mang tính ngoại giao như “giáo sư thỉnh giảng” không có ý nghĩa hay trọng lượng gì trong việc bổ nhiệm giáo sư cả, nhưng những người được mời nói chuyện trong các hội nghị quốc tế tầm vài ngàn người chính là những người cần được ghi nhận.

Chức danh "Visiting Professor"

Ở Việt Nam người ta dịch chức danh “visiting professor” là “giáo sư thỉnh giảng“. (Chữ ‘thỉnh’ nghe oách thật, giống như thỉnh ông bà xuống núi vậy). Có người không hiểu bản chất của chức danh này nên đánh giá chưa đúng. Tôi xin chia xẻ với các bạn cách tôi hiểu về chức danh này qua trải nghiệm cá nhân như sau …

 

Cách hiểu ‘chuẩn’ về chức danh visiting professor là người từ một trường đại học A được mời giảng ở đại học B trong một thời gian ngắn, thường là 1 năm. Người ở trường A có thể là giảng viên hay phó giáo sư chứ không phải là giáo sư, nhưng vì lí do ngoại giao trường B trao cho chức danh “professor” nhưng có chữ “visiting” trước chức danh đó. Nhưng trong thực tế thì không phải vậy.

Lâu lắm rồi (chắc hơn 15 năm trước), tôi có dịp làm … Visiting Professor. Chuyện là một nhóm nghiên cứu ở UC Irvine mời tôi đến đó để hợp tác với họ về một dự án liên quan đến gen VDR và mất xương. Đi đâu chứ đến Irvine là tôi thích ngay vì nơi đó gần khu Little Saigon, nơi có những nhà hàng Việt Nam ngon nhất thế giới, ngon hơn cả bên Sài Gòn. Tưởng là họ gửi tôi một giấy mời, ai ngờ đó là một tờ giấy bổ nhiệm tôi chức Visiting Professor (mà lúc đó tôi chưa phải là Full Professor). Tôi không biết tại sao mình được thăng chức dễ như thế?! Tờ giấy bổ nhiệm được kèm theo đủ thứ văn bản về điều kiện như không có lương, như họ chỉ trả vé máy bay hạng … bình dân, như khách sạn thì hạng trên trung bình, ăn uống tôi phải tự lo liệu, v.v. Vì ở cả tháng nên phải tiết kiệm tiền. Thời gian ở Irvine tôi làm thì ít mà đi tắm biển thì nhiều, có những ngày không đến lab/office. Đồng nghiệp tôi nói “Relax, take your time” (Thoải mái, làm từ từ thôi). Thế đấy.

Lần thứ hai là ở Hồng Kông (CUHK) với một nhóm chuyên về loãng xương. Nhưng lần đó chỉ có 2 tuần thôi. Cũng làm thì ít, nói thì nhiều. Nói ở đây là tham gia seminar, lab meeting, tư vấn, chứ cũng chẳng có giảng dạy gì cả. Lần thứ ba là ở Thái Lan, thời gian là 1 tháng, nhưng tờ giấy bổ nhiệm là … 1 năm! Lần này thì được cho đi hạng business, nhưng khách sạn thì … “chỉ đến đó” (nhưng tôi thích cái không gian cây trái như là ở dưới quê nhà Kiên Giang). Thời gian này tuy mang danh là Visiting Professor, nhưng tôi chẳng có giảng gì cả. Mỗi ngày họ đưa tôi một lịch làm việc sẵn, giờ nào tiếp ai, giờ nào đi nói chuyện ở bộ môn nào, nói ở workshop nào v.v. nói chung là rất cụ thể. Nhưng chỉ có nửa ngày thôi, nửa ngày còn lại là tôi … chẳng làm gì cả. Thật ra là có làm nhưng làm việc bên Úc. Cuối tuần thì đi ra vùng ngoại ô, các tỉnh khác hay đi Lào chơi. Trong thời gian này tôi được mời đi nói chuyện ở Chiang Mai, Bangkok, Mahidol, thậm chí bay về Việt Nam nói chuyện trong hội nghị khoa học Việt Pháp nữa chứ! Đó, cái việc của Visiting Professor là vậy đó.

Lần khác là ở Na Uy. Lần này thì nằm trong một dự án hợp tác giữa hai lab, và tinh thần ‘ngầm’ là ‘có qua có lại mới toại lòng nhau.’ Lab chúng tôi mời bà ấy qua Úc làm Visiting Professor. Và, đến phiên bà ấy mời tôi sang làm Visiting Professor. Các bạn đọc thấy có vẻ kì kì, nhưng sự thật là vậy đó. Cũng như mấy lần trước, chẳng có giảng dạy gì cả, chỉ thảo luận trong lab là chính. Xong thảo luận thì đi ra ngoài cho khuây khỏa tinh thần. Chỉ vài tuần thì về, nhưng thư bổ nhiệm thì đề 1 năm!

Tôi biết trong thực tế còn có loại Visiting Professor mà đương sự chẳng đi đâu cả, chỉ ngồi ở nơi mình đang công tác. Nói cách khác, chức danh chỉ tồn tại trên giấy chứ không hiện hữu qua hành động. Lí do đơn giản là vì chức danh này chỉ mang tính ngoại giao, và (đối với một số ngành) không gian có khi không còn quan trọng nữa trong thời đại internet.

Nhưng có một nơi cho tôi chức danh này và tôi phải giảng. Đó là Đại học Tôn Đức Thắng và Đại học Y Hà Nội. Hai nơi này cũng chỉ ‘bổ nhiệm’ 1 năm, nhưng trong thực tế thì mỗi lần giảng là chỉ 1 hay cao lắm là 2 tuần. Phải nói là mệt, chứ không phải chuyện đùa hay “relax” như ở UCI hay các nơi khác. Nhưng nói cho ngay, tôi thích đóng góp cho quê nhà, nên chuyện giảng thì chẳng có gì phải phàn nàn hay đặt vấn đề.

Tất cả những ví dụ cá nhân trên chỉ để nói rằng về phương diện khoa bảng, chức danh (hay chức vụ) Visiting Professor không có một trọng lượng gì cả. Bởi vì đó là một hình thức ngoại giao trong hoạt động khoa học, chứ không phải là một ghi nhận về thành tích nghiên cứu khoa học. Đó cũng là một hình thức bóc lột tri thức có bài bản (chỉ trả 1 cái vé máy bay mà ‘bắt’ được người ta cả tháng trời thì là bóc lột rồi). Đó cũng không phải là một danh dự. Không ai xem xét đến chức danh này khi đề bạt chức danh giáo sư thực thụ. Người ta chỉ xem đó là một tín hiệu về qui mô hợp tác của ứng viên, chứ không phải là chỉ tiêu để đánh giá nghiên cứu khoa học.

Is repeat bone density scan necessary?

Currently, re-testing bone mineral density (BMD) is a controversial issue. Some experts argue that re-measurement of BMD is not necessary, because a single measurement of BMD can predict fracture up to 25 years. However, others argue that re-measurement of BMD is necessary (1), because the change in BMD is an important indication of fracture risk. I belong to the second group of experts. So, let me explain my view …

Everyone working in the field of osteoporosis knows that BMD is a key measure of bone health. Indeed, low BMD is the most important and the most reproducible risk factor for fracture, with each standard deviation decreasing in BMD being associated with 2-3 fold increase in fracture risk. This magnitude of association is actually equivalent to that of between blood pressure and stroke. Therefore, in practice clinicians use BMD to diagnose “osteoporosis”.

Now, a question of practical/clinical interest is: if an individual has already had a BMD measurement, is it necessary for the individual to have a second measurement? Some experts argue that there is no need to repeat BMD measurement, because — they argue — a single BMD can predict the risk of fracture over 20-25 years. This seems to make sense in many cases whose BMD is in the “normal” range. For those individuals with normal BMD, they have low risk of fracture anyway.

However, for individuals whose BMD is close to the osteoporotic level, what should we do? Now, in postmenopausal women and elderly men, BMD progressively declines with advancing age. The rate of decline is highly variable between individuals, but the average is about 0.5 to 0.8 per cent per year. That means if an individual with a current BMD [by GE-Lunar] of, say, 0.71 g/cm^2 (which is just above the osteoporotic threshold of 0.70) will likely to have osteoporosis over 1-2 years. I consider that these individuals should have a repeat BMD measurement.

Moreover, our study has previously shown that the rate of longitudinal bone loss is an important risk factor for fracture. Two individuals may have the same baseline BMD, but the one with excessive bone loss is at a much greater risk of fracture than the one with stable BMD. We cannot ignore the contribution of bone loss to fracture!

I consider that the decision of whether to repeat BMD measurements cannot be made without some knowledge of an individual’s initial BMD measurement. Moreover, the rate of bone loss is related to age and sex, and the presence of comorbidities. Older people tend to lose more bone mass than younger people. Women are known to have a greater rate of bone loss than men. Thus, the decision of the time to repeat needs to be personalized according to an individual’s profile.

It turns out that the two most important factors in the profile are age and initial BMD measurement. My student, Dr. Steven Frost, and I have developed a model for determining the time for repeat BMD measurements for each individual (2). Based on age and initial BMD measurement, we determined the time when an individual risk will reach the level of 20% risk of having osteoporosis or fracture. The result is a nomogram which can be translated into a table as follows:

Table 1: Estimates for determining the optimal time (in 0.5-yr increments) to reach the lower limit of the 90% CI of (A) 10% and (B) 20% risk of osteoporosis or fracture in women. Source: from (2).

Table 2: Estimates for determining the optimal time (in 0.5-yr increments) to reach the lower limit of the 90% CI of (A) 10% and (B) 20% risk of osteoporosis or fracture in men. Source: from (2).

Clinical case 1. An 80-yr-old women had a BMD T-score of −2. Her 5-year osteoporosis or fracture risk is 0.45. Moreover, table 1 suggests that the time to reach 10% risk of fracture or osteoporosis for the woman is 2 yr (90% CI: 1.5–2.1 yr). Thus, the woman would be advised to return for bone densitometry in 1.5 yr.

Clinical case 2. A 75-yr-old man had a BMD T-score of −1.5. Based on our paper (1) the 5-yr risk of osteoporosis or fracture is ∼0.18. Table 2 suggests that the time to reach 10% risk of osteoporosis or fracture is 2.7 yr (90% CI: 2.4–3.1 yr). Therefore, the suggested time for repeating BMD measurement is ∼2.5 yr.

Thus, as you can see from the above cases, repeat BMD measurement is necessary for some people. However, let me make my view clear: when it comes to the time to repeat BMD measurement, there is no yes/no categorical answer; it has to be determined on the basis of an individual’s risk profile, and we have a model (2) to help guide the decision.

===

(1) http://www.amjmed.com/article/S0002-9343(17)30640-X/pdf

(2) http://onlinelibrary.wiley.com/doi/10.1359/jbmr.090514/full

Việt Nam vướng mãi vào điện than như mắc phải một lời nguyền (Phạm Phan Long)

Dẫn nhập

Tăng thuế vào xăng ai phải gánh?

Giữ nguyên thuế cho than ai hưởng lợi?

Và những nghị quyết không thi hành ai chịu trách nhiệm?

Việt Nam đã có Luật Bảo Vệ Môi Trường Số: 55/2014/QH13 (2014) với những quy định “ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý phát thải khí nhà kính, phát triển năng lượng tái tạo, sản xuất và tiêu thụ thân thiện môi trường, hợp tác quốc tế về ứng phó với biến đổi khí hậu” nhưng quy hoạch điện và thuế môi trường hoàn toàn đi ngược các quy định kể trên.

Tuy Nghị Quyết bảo vệ môi trường 41-NQ/TW (2004) đề ra những mục tiêu và quan điểm “bảo đảm sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, công nghệ hiện đại” nhưng thực tế luật thuế bảo vệ môi trường (Luật số: 57/2010/QH12) đánh thuế vào xăng/dân 153 lần nặng hơn vào than/chủ nhiệt điện. Nhiệt điện than là công nghệ lỗi thời, thải ô nhiễm hủy hoại môi trường và có tác hại sức khỏe cư dân nhiều nhất.

Ngoài ra Nghị Quyết phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long trước biến đổi khí hậu 120/NQ-CP (2017) đề ra “tầm nhìn dài hạn, phát triển kinh tế các-bon thấp, kinh tế xanh, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên” và “ Phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên, phát triển năng lượng tái tạo gắn với bảo vệ rừng và bờ biển” nhưng Quy Hoạch Điện VII không điều chỉnh theo, vẫn bám chặt vào nhiệt điện than như hệ thống lãnh đạo bị khống chế bởi một lời nguyền.

Thảo luận

Bộ Tài chánh lại đề nghị tăng thuế Bảo vệ Môi trường (BVMT) từ 3.000 đồng lên 4.000 đồng/lít xăng (thay vì lên đến 8000 đồng/ lít) nhưng vẫn giữ nguyên thuế ở mức 30 đồng/kg cho than. Nếu dựa vào cùng lượng khí thải ra từ hai nguồn nhiên liệu này để so sánh, người tiêu thụ xăng hiện trả 115 lần và sắp phải trả 153 lần nhiều hơn nhiệt điện than. (Xem phụ lục dưới về tính toán cho con số 153).

Nếu điều chỉnh thuế BVMT cho nhiệt điện than dựa vào khí thải CO2 như xăng, nhiệt điện than sẽ phải trả 4608 đồng/kg than, tương đương 2072 đồng/kWh điện năng.

Chi phí thực sự cho điện than do đó phải kể là 2271 (giá điện EVN công tơ trả bằng thẻ)+2072 (thuế BVMT)=4343 đồng/kWh. Nhưng chưa hết, dân cư (hay xã hội) đang âm thầm phải trả thêm vào chi phí ngoại vi, external cost dưới hình thức tiền thuốc men, giảm tuổi thọ, ô nhiễm môi sinh, biến đổi khí hậu vào khoảng 1589 đồng/kW, do người viết đã tường trình. Tổng chi phí do đó là 4343+1294=5637 đồng/kWh, hay 25 xu US/kWh.

Dân thực thụ phải trả 150% chồng trên tiền trả cho EVN có lẽ không ngờ? Làm sao nhà nước giải thích cho dân giá điện thực thụ đó, khi các nước như Canada, Chile, Hoa Kỳ v.v. có thể mua năng lượng tái tạo xanh và sạch với chi phí bình quân dưới 5 xu US/kWh.

Đề nghị tăng thuế BVMT vào xăng lần này của Bộ Tài Chánh tuy đã hạ từ 8000 đồng xuống 4000 đồng/lít xăng vẫn là ưu đãi nhiệt điện than không thể lý giải; 90 triệu dân không thể chấp nhận cưu mang điện than và gánh chịu ô nhiễm như thế nữa.

Nghị Quyết 41-NQ/TW 2004 dường như không ai đọc

Nếu đọc Nghị Quyết NQ 41 ta sẽ thấy cách đánh thuế BVMT xăng và than từ không tuân theo một quan điểm hay mục tiêu nào trong Nghị Quyết này cả.

Kiểm điểm năm quan điểm trong NQ 41

1- Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại; là nhân tố bảo đảm sức khoẻ và chất lượng cuộc sống của nhân dân; góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – xã hội, ổn định chính trị, an ninh quốc gia và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta.

Nhiệt điện than đi ngược xu hướng nhân loại, nhiên liệu than phần lớn phải nhập cảng từ bên ngoài sẽ đặt an ninh năng lượng quốc gia vào tình huống bấp bênh và an toàn sức khoẻ dân cư sống dưới đe doạ của khói bụi than.

2- Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu, vừa là một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững, phải được thể hiện trong các chiến lược, qui hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế – xã hội của từng ngành và từng địa phương. Khắc phục tư tưởng chỉ chú trọng phát triển kinh tế – xã hội mà coi nhẹ bảo vệ môi trường. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững.

Nhiệt điện than bẩn, công nghệ cận tới hạn lỗi thời và là than là nguồn năng lượng kém hiệu quả kinh tế nhất, đáng lý phải xoá bỏ than khỏi quy hoạch điện từ NQ 41. Nhưng than vẫn chiếm lĩnh phần rất lớn trong Quy Hoạch Điện VII theo Hình 1, ngay khi điều chỉnh rồi vẫn cho xây thêm 42 GW nhiệt điện than (thay vì 62 GW) trong khi Trung Quốc chuyển hướng từ nay sẽ không xây thêm một nhà máy nhiệt điện than nào theo Hình 2.

Hình 1. Biểu đồ quy hoạch điện VII chưa điều chỉnh (dựa vào ADB).

Hình 2.Trung Quốc không xây nhiệt điện than, chuyển sang NLTT sau 2017 (dựa theo IEA)

3- Bảo vệ môi trường là quyền lợi và nghĩa vụ của mọi tổ chức, mọi gia đình và của mỗi người, là biểu hiện của nếp sống văn hoá, đạo đức, là tiêu chí quan trọng của xã hội văn minh và là sự nối tiếp truyền thống yêu thiên nhiên, sống hài hoà với tự nhiên của cha ông ta.

Điều khoản này viết rất hay, nhưng xem kỹ văn bản nghĩa vụ này là của tất cả xã hội nhưng không phải của … nhà nước.

4- Bảo vệ môi trường phải theo phương châm lấy phòng ngừa và hạn chế tác động xấu đối với môi trường là chính kết hợp với xử lý ô nhiễm, khắc phục suy thoái, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; kết hợp giữa sự đầu tư của Nhà nước với đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế; kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống.

Quy Hoạch Điện VII không hạn chế ô nguồn ô nhiễm điện than mà kết hợp đầu tư, huy động nguồn lực đẩy mạnh huy động nguồn lực trong xã hội và mở rộng hợp tác quốc tế (nhất là Trung Quốc); kết hợp giữa công nghệ hiện đại với các phương pháp truyền thống xã hội tăng công suất điện than và ô nhiễm lên 400%.

5- Bảo vệ môi trường là nhiệm vụ vừa phức tạp, vừa cấp bách, có tính đa ngành và liên vùng rất cao, vì vậy cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

Nhà nước nếu thật tình cần trân trọng lắng nghe khuyến cáo của các tổ chức xã hội dân sự độc lập, ngân hàng ADB, WWF-OXFAM, các NGO trí thức chuyên gia độc lập và nhất là dân cư chung quanh các trung tâm nhiệt điện.

Kiểm điểm ba mục tiêu của NQ 41

1- Ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường do hoạt động của con người và tác động của tự nhiên gây ra. Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học.

2- Khắc phục ô nhiễm môi trường, trước hết ở những nơi đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, phục hồi các hệ sinh thái đã bị suy thoái, từng bước nâng cao chất lượng môi trường.

3- Xây dựng nước ta trở thành một nước có môi trường tốt, có sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường, sống thân thiện với thiên nhiên.

Toàn bộ cả ba mục tiêu cũng như năm quan điểm trên đều bị Bộ Công Thương gạt bỏ khỏi Quy Hoạch Điện VII và luật thuế BVMT Bộ Tài Chánh đánh ngược lại.

Nghị Quyết 120-CP ký năm 2017 chưa thực hiện

Quy Hoạch Điện VII phần lớn dùng than và luật thuế BVMT đánh thuế BVMT nhiều nhất vào xăng ít nhất vào than, hoàn toàn đi ngược với Nghị Quyết 120, nhất là hai điều khoản có tính bức phá cấp tiến nhất sau đây:

Điều 3 c) Việc chuyển đổi mô hình phát triển phải dựa trên hệ sinh thái, đảm bảo phù hợp với điều kiện tự nhiên, đa dạng sinh học, văn hóa, con người và các quy luật tự nhiên; kết hợp giữa công nghệ tiên tiến, hiện đại với tri thức, kinh nghiệm truyền thống, đảm bảo tính ổn định và sinh kế của người dân, trong đó người dân và doanh nghiệp đóng vai trò trung tâm, Nhà nước đóng vai trò định hướng, dẫn dắt; thúc đẩy đổi mới, sáng tạo và hỗ trợ khởi nghiệp, đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nhất là thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quá trình chuyển đổi cần có tầm nhìn dài hạn, ưu tiên cho thích ứng với biến đổi khí hậu nhưng cũng phải tận dụng các cơ hội để phát triển kinh tế các-bon thấp, kinh tế xanh, bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.

Điều 4 c) – Phát triển công nghiệp xanh, ít phát thải, không gây tổn hại đến hệ sinh thái tự nhiên. Phát triển năng lượng tái tạo gắn với bảo vệ rừng và bờ biển.

Kết luận và giải pháp

Tăng thuế BVMT vào xăng ai phải gánh?

Thuế BVMT đã giúp ngụy tạo cho điện than ở giá 2271 Đồng/kWh, thực ra dân phải trả đến 5647 Đồng/kWh hay 150% nhiều hơn vì thuế và ô nhiễm.

Giữ nguyên thuế BVMT cho than ai hưởng lợi?

Nhiệt điện than hưởng lợi, năng lượng tái tạo (NLTT) rõ ràng không được chào đón vào Việt Nam. Quy Hoạch Điện VII xếp cho họ ngồi tại manh chiếu dưới cùng với thủy điện so với tấm chiếu trên to gấp năm lần để dành biệt đãi điện than. Giới đầu tư vào NLTT mất tin tưởng đầu tư vào một thị trường kỳ thị họ như vậy, và nếu họ cần có bảo đảm và sẽ đánh lãi xuất cao dự phòng rủi ro vào các dự án ở VN. (Chú thích: Giá bán vào lưới điện, FiT cho NLTT tuy đã nâng lên 7.8 xu đến 9.3 xu US/kWh nhưng vẫn không thể cạnh tranh với điện than trong quy hoạch hiện thời.)

Và những nghị quyết không thi hành ai chịu trách nhiệm?

Các bộ Công Thương, Tài Nguyên Môi trường và các tập đoàn EVN, Vinacomin có quyền lực quyết định nên có trách nhiệm tìm nguồn điện tối ưu kinh tế và môi sinh đáp ứng nhu cầu quốc gia. Xã hội dân sự cần lên tiếng yêu cầu nhà nước điều chỉnh mức thuế và tháo gỡ lời nguyền điện than ra cho cả nước. Lời giải vốn nằm sẵn trong các luật NQ đã có nêu trên và sau đây là những phương án không xa lạ, có thể trích ra từ những khuyến cáo quy hoạch trong nước và quốc tế:

  1. Quốc hội luật hóa các Nghị Quyết và điều chỉnh dần luật thuế BVMT dù tăng giá điện nhưng giảm thuế xăng.
  2. Tiết kiệm tiêu thụ điện năng có thể giảm nhu cầu 15% là ưu tiên cao nhất.
  3. Chuyển điện than sang nhiệt điện khí tất cả nhà máy đã có theo độ khả thi từng trường hợp như Hoa Kỳ.
  4. Ngưng đóng hồ sơ đang có không xét dự án nhiệt điện than nào trừ khi chuyển sang nhiệt điện khí.
  5. Không duyệt xét thêm nhiệt điện than nào chưa xây như Trung Quốc.
  6. Tăng đầu tư vào NLTT lên tối đa ít nhất ngang hàng Trung Quốc.

Thực hiện cần có những bảo đảm cốt yếu sau:

  1. Phải có Đánh giá tác động môi trường chiến lược tích hợp cho toàn bộ trung tâm nhiệt điện không chỉ làm độc lập cho từng dự án.
  2. ĐTM chiến lược phải do chuyên gia độc lập thực hiện có bảo đảm trách nhiệm nếu sai lầm.
  3. Tham vấn công khai với dân cư và trí thức.

Đề nghị tăng thêm thuế xăng lần này của Bộ Tài Chánh sẽ tiếp tục ưu đãi nhiệt điện than phải bác bỏ; 90 triệu dân không thể chấp nhận cưu mang điện than và gánh chịu ô nhiễm như thế nữa.

Ghi nhận

Người viết trân trọng cám ơn những thân hữu đã giúp duyệt xét, thảo luận, tu bổ bài khảo luận này và chia sẻ mối quan tâm chung.

Tài liệu tham khảo

[1] Thuế BVMT

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?class_id=1&mode=detail&document_id=98568

http://cafef.vn/neu-thue-xang-len-4000-dong-lit-ngan-sach-thu-gan-56000-ty-2018022508212951.chn

[2] Giá điện VN

http://www.evn.com.vn/c3/evn-va-khach-hang/Bieu-gia-ban-le-dien-9-79.aspx

[3] Chi phí ngoại vi

http://vietecology.org/Article/Article/265

[4] Quy Hoạch Điện VII

http://greatermekong.panda.org/our_solutions/2050powersectorvision/

[5] Quy Hoạch Điện VII điều chỉnh

http://www.evn.com.vn/d6/news/Quy-hoach-dien-VII-dieu-chinh-Phat-trien-nhiet-dien-than-the-nao-6-12-18109.aspx

[6] FiT-in Tariff

http://www.vietnam-briefing.com/news/vietnams-push-for-renewable-energy.html/

[7] ADB ALTERNATIVES FOR POWER GENERATION IN THE GREATER MEKONG SUB-REGION

Click to access vol_7_ies_mke_wwf_power_sector_vision_gms_assumptions_book_20160401_fina___.pdf

[8] Quy hoạch điện Trung Quốc

https://www.iea.org/weo/china/

[9] Tăng ô nhiễm điệ than VN

https://www.washingtonpost.com/news/energy-environment/wp/2018/02/07/if-the-world-builds-all-its-planned-coal-plants-climate-change-goals-are-doomed-scientists-say/?hpid=hp_hp-more-top-stories_ee-pruitt-450pm%3Ahomepage%2Fstory&utm_term=.6e2615709356

[10] Nghị Quyết BVMT 41-NQ/TW

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Nghi-quyet-41-NQ-TW-bao-ve-moi-truong-trong-thoi-ky-day-manh-cong-nghiep-hoa-hien-dai-hoa-dat-nuoc-53199.aspx

[11] Nghị Quyết BV ĐBSCL 120/NQ-CP

https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Tai-nguyen-Moi-truong/Nghi-quyet-120-NQ-CP-2017-phat-trien-dong-bang-song-Cuu-Long-thich-ung-voi-bien-doi-khi-hau-367711.aspx

Phụ Lục 1

So sánh thuế BVMT xăng và than

  • Thuế bảo vệ môi trường đánh vào xăng dân chúng tiêu thụ là 4000 đồng/lít, hay 5194 đồng/kg.
  • Xăng phát thải 3,08 kg CO2/kg, như vậy dân phải trả 1685 đồng/kg CO2 khi tiêu thụ xăng.
  • Thuế bảo vệ môi trường đánh vào than là 30 đồng/kg.
  • Than phát thải 2,73 kg CO2/kg, như vậy than trả 11 đồng/kg CO2 đốt than.
  • Như thế, dân chúng đang bị trừng phạt nặng nề, họ phải trả thuế BVMT cho xăng 1685/11=153 lần nặng hơn so với nhiệt điện than.

Chú thích:TS Nguyễn Đức Thắng nhận định thuế môi trường đúng ra cần đánh vào các ô nhiễm khác không chỉ CO2. Nếu tính thêm thuế cho CH4, N2O, thuỷ ngân, SO2, NOx, tỉ lệ 153 có lẽ sẽ còn cao hơn nữa.