ASBMR Fellow

I am pleased to be admitted as a Fellow of the American Society for Bone and Mineral Research. I have been associated with the Society for more than 25 years. Over the period, I have made many contributions to the Society in various roles (eg committee membership, editorial duties, meeting chairmanship).

The letter of admission writes:

Dear Dr. Nguyen:

On behalf of the Fellow of the American Society for Bone and Mineral Research (ASBMR) Advisory Committee, I am happy to congratulate you on being selected as a Fellow of the ASBMR! I would like to take this opportunity to sincerely thank Professor Ego Seeman (University of Melbourne) and Professor Roberto Civitelli (Washington University, St Louis) for nominating and supporting me.

The Fellow of the ASBMR program serves to recognize long-term ASBMR members who have made outstanding contributions to the field of bone and mineral science. The following are a few details and deadlines related to your designation:

  • You will be recognized at the ASBMR Annual Meeting occurring this year, September 29 – October 1, 2018 in Montréal, Québec, Canada
  • You will receive an official Fellow of the ASBMR pin and certificate endorsing your designation
  • You will be featured on the ASBMR website as well as in the ASBMR e-News weekly

Please keep in mind that in order to maintain your Fellows designation, you must remain either an active Full-Member or Emeritus Member of the society. Additional information regarding your recognition during the 2018 ASBMR Annual Meeting will be sent to you next month.

Congratulations once again! If you have any questions, please contact Lauren Strup at ASBMR’s Business Offices at (202) 367-1161 or at asbmr@asbmr.org.”

Intellectually, I have attended and contributed more than 150 abstracts to >20 annual scientific meetings of the Society. I have regularly served as an abstract reviewer, and have invited to serve as a co-chair and/or oral presenter in several (>10 times) meetings over the past 25 years. I have been a reviewer for the JBMR for 15 years, and on the editorial board of the JBMR for more than 11 years, and during that time, I must have reviewed >200 papers. I developed the statistical guidelines for the Journal (2010). Since 2018 I have become an Associate Editor of the JBMR, where I am responsible for manuscripts related to epidemiology, genetics and biostatistics. Over the past 20 years I have published 51 papers (28 of which I am the senior or first author), including 5 invited commentaries, in the JBMR, and these papers have received 4624 citations.

Nhật kí tháng 7/2017 và 8/2018

Tháng 8 thường là tháng bận rộn của tôi ở … nước ngoài. Lần này là ở Việt Nam. Về Việt Nam lần này với một chương trình làm việc dày đặc, từ Nam chí Bắc. Đầu tiên là chương trình đào tạo liên tục 5 ngày ở Bệnh viện Chợ Rẫy, kế đến là khánh thành trang web Sức Khỏe Xương (suckhoexuong.vn), sau đó là tổ chức một lớp học CME 1.5 ngày về loãng xương ở Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, chủ trì buổi phỏng vấn các ứng viên giáo sư cho Đại học Tôn Đức Thắng, rồi đi Hà Nội thực hiện một chương trình workshop 5 ngày về phương pháp nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Dược Hà Nội, vào Đà Lạt tham dự hội nghị loãng xương, và trước khi bay về Úc tôi nói chuyện một buổi tại Đại học Nguyễn Tất Thành. Đây là vài dòng ‘nhật kí’ trong chuyến đi và vài hình lưu niệm.

31/7/2018: Bệnh viện Chợ Rẫy

Lớp học CME ở Chợ Rẫy. Đây là lớp học thứ hai tại Chợ Rẫy, và sẽ trở thành thường niên trong tương lai. Ai cũng nói đây là một trong những chương trình thành công nhất mà chúng tôi đã làm cả 15 năm qua trên khắp nước. Gần 250 học viên từ mọi miền đất nước về tham gia lớp học. Mỗi ngày có 3-4 bài giảng và thực hành trên nghiên cứu thật. Rất nhiều câu hỏi. Không chỉ đơn thuần câu hỏi, mà là câu hỏi hay. Điều này chứng tỏ học viên đã có kinh nghiệm nghiên cứu hay có ý định rõ ràng trong tương lai.

Mà, đúng như vậy, vì nhiều học viên đã hay đang làm nghiên cứu y khoa. Người thì đang làm nghiên cứu sinh — trong và ngoài nước. Người thì bay từ nước ngoài về học. Người đang có ý định học PhD. Người thì đã đọc sách và nghe tôi giảng trên youtube, nên nay đến gặp mặt để hỏi thêm cho rõ. Nói chung là học viên đều có “võ” và ai cũng học hành nghiêm túc. Chương trình học là hành trang căn bản cho các bạn học viên trong sự nghiệp khoa học. Nhiều bạn nói với tôi là hành trang đi du học là mấy cuốn sách tôi soạn và mấy bài giảng như thế này. Một trường đại học bên Estonia sang VN tuyển sinh PhD nói với tôi rằng họ sẽ dùng chương trình giảng của chúng tôi cho các nghiên cứu sinh tương lai. Một trường đại học bên Hà Lan cũng dùng chương trình của chúng tôi cho nghiên cứu bên đó. Do đó, các bạn sẽ có nhiều người bạn trong “bộ lạc” khi hoàn tất chương trình học này.

Quang cảnh lớp học ở Bệnh viện Chợ Rẫy 31/7 đến 4/8/2018

Ts Trần Sơn Thạch đang giảng bài.

Qua những câu hỏi của các bạn trong lớp học, tôi dễ dàng nhận ra nhiều nhận thức chưa đúng, thậm chí sai, về nghiên cứu y khoa. Những câu hỏi về cách dùng thuật ngữ để mô tả một công trình nghiên cứu (như “mô tả cắt ngang có phân tích” mà chúng ta không thể nào tìm thấy trong y văn hay tập san y khoa danh giá) đến những vấn đề như “tính đại diện” hay cách ứng dụng các phương pháp phân tích thống kê. Nhiều ngộ nhận vẫn tồn tại từ thế hệ trước vẫn chưa được thay đổi cho tốt hơn. Có quá nhiều người cứ nghĩ rằng nói “phân tích” ở đây là “phân tích thống kê”, chứ không chịu nghĩ đến phân tích sinh hoá! Và, thế là hiểu lầm và lệch về “nghiên cứu cắt ngang có phân tích”! Tôi không nghĩ ra nghiên cứu cắt ngang nào mà không có phân tích sinh hoá hay phân tích dữ liệu?! Thế là tồn tại hai cách làm song song nhau: làm để đối phó với mấy người ngộ nhận ở trong nước, và làm để công bố quốc tế. Tốn kém ghê nơi!

1-2/8/2018: Khai mạc trang web suckhoexuog.vn và chương trình CME Loãng Xương

Tôi và vài bạn trong Hội loãng xương còn làm một chương trình CME cho hơn 350 học viên. Đây là chương trình CME chuyên về loãng xương đầu tiên ở Việt Nam. Tôi có ý tưởng từ lần đi dự hội nghị ở Singapore, và thấy mình có thể và nên làm một chương trình phong phú hơn Singapore.

Chương trình gồm 11 bài giảng, đi từ căn bản bone biology, định nghĩa về ‘osteoporosis’, vấn đề đo lường mật độ xương, chẩn đoán, điều trị, phòng ngừa, các vấn đề thời sự, và định hướng nghiên cứu. Các giảng viên là những bác sĩ kì cựu làm trong chuyên ngành lâu năm. Tôi tự hào vì chuyên ngành này ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu, nên chúng tôi có chất liệu khoa học cho Việt Nam, chứ không phải kiểu “đọc báo dùm bạn. Tôi rất vui khi thấy có hơn 350 bác sĩ khắp nơi về tham dự và học hỏi được nhiều điều một cách có hệ thống.

Trước đó, chúng tôi khai mạc website “Sức khoẻ xương” (suckhoexuong.vn). Đây là một sáng kiến của chúng tôi nhằm cung cấp thông tin chính thống về loãng xương cho công chúng và các đồng nghiệp trong chuyên ngành. Buổi khai mạc diễn ra ở Khách sạn Lotte Legend, với khoảng 200 người tham dự. Có vài bạn từ Hà Nội (Ngọc Lan, Thanh Thuỷ, v.v.) vào tham dự rất hào hứng.

Thảo luận với Quý Ngọc (đại diện nhà tài trợ DKSH cho trang web) trước khi khai mạc.

Tôi nói lời giới thiệu.

Trả lời câu hỏi của khán giả về vấn đề loãng xương.

Bác sĩ Đỗ Phước Hùng (BV Chợ Rẫy) đang nói về điều trị ngoại khoa đối với bệnh nhân loãng xương.

3/11 đến 7/8/2018: Đại học Dược Hà Nội

Sau chương trình CME, tôi và anh Thạch bay ra Hà Nội. Đến Hà thành trong một ngày ‘mờ nhân ảnh’. Sáng hôm nay (3/11) khai mạc chương trình học tại ĐH Dược Hà Nội, và có dịp gặp nhiều bạn cũ và mới. Nhưng trước khi khai mạc, Trường làm một buổi lễ trao chức danh “Giáo sư danh dự” cho tôi.

Dù được trao chức danh này tại nhiều đại học trên thế giới, nhưng đây là lần đầu tiên ở quê nhà, nên cảm xúc nhiều lắm. Có nơi (Tây) chỉ gửi một lá thư bổ nhiệm, và lúc nào cũng kèm theo câu “bổ nhiệm không có lương”, có nơi như Thái Lan thì chỉ một buổi ra mắt faculty, nhưng có nơi thì trịnh trọng. Riêng ở đây, ĐH Dược HN, thì chẳng những trịnh trọng, mà còn tình cảm. Tình cảm là vì đây là quê hương mình.

Lễ trao bằng Giáo sư Danh dự cho tôi. Người bên cạnh là Giáo sư Nguyễn Thanh Bình, đương kim hiệu trưởng.

Tôi đang nói bài đầu tiên trong chương trình gồm 15 bài giảng suốt 5 ngày.

Thật ra, tôi đã và đang hướng dẫn nghiên cứu sinh ở đây, nên thêm chức danh cũng có nghĩa là thêm trách nhiệm. (Cũng xin mở ngoặc để nói thêm rằng ở miền Nam tôi không được hướng dẫn nghiên cứu sinh, nhưng ở ngoài này thì tôi được. Nói chung, qui định ở VN thì nỗi nơi hiểu mỗi khác, rất khó nói.) Tôi quen với anh [nay là] hiệu trưởng từ những 11 năm trước, khi anh ấy “lang thang” về tận Rạch Giá tham gia một chương trình học do BV Kiên Giang tổ chức. Dạo đó, tôi có giúp cho một em nghiên cứu sinh trong Nam làm nghiên cứu ở đây, nên mối thâm tình lâu năm là vậy.

Chúng tôi tiêu ra 5 ngày, từ sáng đến chiều, cùng các học viên để bàn về qui trình và phương pháp nghiên cứu khoa học. Có gần 260 học viên đến từ miền Trung và Bắc. (Rất tiếc là một số bạn ghi danh trễ nên Trường không thể đáp ứng được nhu cầu. Phải hẹn lần sau.)

Trường ĐH Dược thực ra là campus của Trường Thuốc Đông Dương cũ (thành lập năm 1902). Trường Thuốc Đông Dương là một khoa của Viện Đại học Đông Dương. Đa phần các toà nhà ở đây vẫn còn nguyên hình dạng của hơn 100 năm trước. Có vài chỗ bị xuống cấp, nhưng nhìn chung thì vẫn còn “rất Pháp” ở đây. Đi trong khuôn viên trường này là như đi vào một chặng đường lịch sử. Tôi cứ tưởng tượng ngày xưa ông Alexandre Yersin đứng ở đây, ông Shihanouk đứng chỗ kia và nay … tôi đang đi theo vết chân của họ trong cái campus lịch sử này.

11/8/2018: Hội nghị thường niên Hội loãng xương TPHCM

Hội nghị khoa học thường niên lần XII được diễn ra ở Khách sạn Dalat – Saigon sáng nay (11/8). Gặp lại rất nhiều bạn bè cũ và mới: Nguyễn Tấn Bỉnh và phu nhân, Phạm Việt Thanh, Vũ Đình Hùng, Nguyễn Hải Thuỷ, Võ Tam, Võ Văn Sĩ, Vũ Thanh Thuỷ, thầy Trần Ngọc Ân, v.v. Và, vậy là chụp một hình lưu niệm.

Thầy Trần Ngọc Ân phát biểu lời khai mạc. Thầy nhắc đến những người đã đóng góp cho chuyên ngành này ở VN, và thầy có nhắc đến tôi một cách ưu ái. Thầy nói tôi là “Việt kiều yêu nước” (làm tôi … nhột) và là người “quan tâm đến rất nhiều vấn đề ở VN” kể chuyện thi cử mấy tuần qua, làm cả hội trường cười ngất. Không rõ ai là người ‘sáng chế’ ra chữ “Việt kiều yêu nước”, nghe nó vừa cảm tính [một cách không cần thiết] vừa thừa thải. Đã là người Việt thì ai chẳng yêu quê hương; chỉ có khác nhau là cách họ thể hiện tình cảm thiêng liêng đó thôi.

Những báo cáo khoa học trong hội nghị lần này cũng như những lần trước. Có nhiều báo cáo nghiên cứu khoa học, nhưng khi nghe qua và nhìn vào data thì tôi nghĩ đó là những thống kê lâm sàng, chứ chưa phải là ‘scientific research’. Nhiều đồng nghiệp sử dụng dữ liệu của bệnh nhân đến với họ để làm nghiên cứu, nhưng những dữ liệu và kết quả như thế rất khó diễn giải. Nguồn bệnh nhân từ bệnh viện là rất quan trọng, nhưng nó đòi hỏi phải có thiết kế thông minh thì mới có thể xem là ‘nghiên cứu khoa học’ hay ‘nghiên cứu lâm sàng’.

Ngồi suốt 1 ngày xem và nghe các báo cáo, tôi nhận ra hai điểm nổi cộm. Điểm thứ nhất là nhiều bạn dùng data của người khác quá nhiều, mà data của mình thì chẳng có hay có nhưng chẳng bao nhiêu. Điểm thứ hai là cách soạn slide vi phạm hầu như tất cả các nguyên tắc về soạn báo cáo miệng trong hội nghị. Có lẽ các bạn ấy không/chưa biết các nguyên tắc soạn powerpoint nên các thông điệp của họ bị lãng quên trong rừng dữ liệu và câu chữ.

Chụp hình lưu niệm ban tổ chức và khách mời. Từ trái qua phải: Huỳnh Văn Khoa (Chợ Rẫy), Nguyễn Văn Hùng (Bạch Mai), Võ Tam (Huế), Nguyễn Hải Thủy (Huế), tôi, Lê Anh Thư (Chợ Rẫy), Trương Văn Việt (cựu giám đốc BV Chợ Rẫy), Trần Ngọc Ân, Bs Linh (Chợ Rẫy), Bs Thục Lan (TDTU), Vũ Thanh Thủy (Hội LX Hà Nội), Vũ Đình Hùng (Hội Khớp TPHCM), Phạm Việt Thanh (cựu giám đốc Sở Y tế TPHCM), Nguyễn Tấn Bỉnh (đương kim giám đốc sở Y tế TPHCM), Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy).

GS Nguyễn Tấn Bỉnh, Giám đốc Sở Y Tế TPHCM, nói lời khai mạc.

Thầy Trần Ngọc Ân nói về lịch sử của hội và chuyên ngành.

Bs Thảo Uyên nói về cấu trúc xương ở bệnh nhân tiểu đường.

Dược sĩ Phạm Nữ Hạnh Vân (ĐH Dược Hà Nội) với bài nghiên cứu về kinh tế dược trong điều trị loãng xương.

Bs Trần Bình Thanh (hình như là Bv Thống Nhất) đang nói về loãng xương ở bệnh nhân với hội chứng chuyển hóa.

Đà Lạt

Lâu lắm rồi mới có dịp đi Đà Lạt, nên tôi ở lại 2 ngày ở đây. Đến Đà Lạt buổi trưa, mưa gió sụt sùi. Nhưng thỉnh thoảng cũng có vài giây phút nắng, và bông nở rộ rất đẹp bên mấy căn hộ chung quanh hồ Tuyền Lâm. Chẳng biết ai đặt tên cái hồ này, nhưng đó là một cái tên đẹp và ý nhị. Cũng may, chứ để mấy người vô văn hoá đặt tên thì chắc Alexandre Yersin có sống lại cũng ngậm ngùi.

Những căn hộ ở đây xinh xắn vô cùng. Nếy không có mưa thì đây là nơi nghỉ mát lí tưởng. Còn mưa gió sụt sùi như hôm nay (và suốt tuần này) thì tôi chỉ biết ngồi trong phòng ngắm … mưa. Cảnh quang chung quanh đây rất đẹp. Hoá a, Hồ Tuyền Lâm từng có tên là Hồ Quang Trung, sau này tỉnh mới đổi tên thành Tuyền Lâm. Dĩ nhiên, ‘tuyền’ là suối; ‘lâm’ là rừng; Tuyền Lâm là suối rừng. Nói là suối, chứ hồ rộng đến 320 ha! Tôi đã có 2 ngày nghỉ và quên thế giới ở đây.

Khách sạn Terracotta nằm ngay bên cạnh hồ Tuyền Lâm.

Phía trước khách sạn Terracotta.

Chỗ này sáng ra chạy bộ rất hay. Nhưng hai ngày tôi ở đó thì trời mưa hoài nên chỉ biết nhìn.

Một cảnh hồ Tuyền Lâm nhìn từ phòng ngủ

Một góc hồ Tuyền Lâm nhìn từ phòng ngủ. Thử tưởng tượng sáng ra thức dậy nhìn cảnh này thì còn làm gì được?!

Phỏng vấn ứng viên giáo sư cho TDTU

Một trong những việc tôi phải làm trong chuyến về nhà vừa qua là phỏng vấn các ứng viên cho 3 chức vụ giáo sư (assistant, associate và full professor) cho ĐH Tôn Đức Thắng. Kết quả sẽ có nay mai, nhưng lần phỏng vấn này là lần thứ hai và diễn ra rất “smooth.”

Hội đồng phỏng vấn gồm 2 giáo sư trong nước và 4 giáo sư nước ngoài. Tất cả đều là full professor. Tôi được giao làm chair, và tôi áp dụng cách chúng tôi làm bên Úc. Từ thủ tục, tiêu chuẩn đến câu hỏi đều y như cách làm việc của các hội đồng bổ nhiệm thuộc các đại học G8 bên Úc. Chẳng hạn như tôi nói với mỗi ứng viên về qui chế phỏng vấn, họ có quyền không trả lời nếu ai đó hỏi câu hỏi xúc phạm, nhưng họ không được challenge hội đồng; ok thì tiếp tục, không ok thì ngưng phỏng vấn. Ai cũng ok. Chẳng có ai gây tác động đến hội đồng. Không bông hoa. Không điện thoại. Không tiếng Việt. Do đó, một ứng viên người Úc cảm thấy “at home” là cũng đúng.

Khác với hội đồng nhà nước công nhận chức danh gần như suốt đời, TDTU bổ nhiệm có thời hạn. Người thì 5 năm, người thì 1 năm thử thách. Chúng tôi không bỏ phiếu, mà bàn ngay tại chỗ. Hồ sơ các ứng viên được gửi ra nước ngoài bình duyệt, chứ không phải trong nội bộ trường, và bình duyệt chỉ mang tính tham khảo. Chúng tôi không quan tâm đến tiêu chuẩn viết sách. Chúng tôi cũng chẳng quan tâm đến việc cân đo đong đếm giờ giảng (vì có 2 ngạch cho chức vụ: giảng dạy và nghiên cứu). Tôi nghĩ thủ tục và qui chế của TDTU đơn giản và minh bạch hơn cách làm của hội đồng nhà nước.

Năm nay, chỉ có 7 ứng viên, nhưng phải mất cả nửa ngày làm việc. Ứng viên thì đa số là người nước ngoài, một số đã là associate professor hay full professor ở nước ngoài, nhưng một số là mới. Nhiều ứng viên rất tốt, và tôi nghĩ họ có thể đóng góp cho Trường và cho VN trong tương lai. Tôi đặc biệt quan tâm đến các ứng viên bên khoa học xã hội có thể đóng góp về nghiên cứu Hoàng Sa và Trường Sa. Có vài người vượt xa tiêu chuẩn cứng của Trường. Có người là professor ở đại học phương Tây, thậm chí Mĩ, nhưng chưa chắc đáp ứng tiêu chuẩn của TDTU. Năm ngoài cũng có một trường hợp full professor từ một đại học có tiếng ở Tây Âu (hơn state university bên Mĩ) nhưng vẫn không được bổ nhiệm full professor của TDTU, còn số ca associate professor từ nước ngoài thì bị loại khá nhiều.

Thật ra, đó cũng là mục tiêu của chúng tôi: nhận ra những người có tài có thể đóng góp cho khoa học VN. Những “tiêu chuẩn cứng” của TDTU thì chắc chắn cao hơn rất xa so với tiêu chuẩn của nhà nước. Nhưng hội đồng không mấy quan tâm đến số lượng, mà chú ý đến phẩm chất khoa học. Tôi nghĩ các giáo sư được TDTU bổ nhiệm tương đương hay cao hơn một số đại học Úc và Mĩ.

Tôi nghĩ nếu các đại học khác làm như TDTU thì sẽ tránh những tranh cãi không cần thiết. Ngoài ra, cách làm theo G8 cũng tránh để lọt những ứng viên thiếu tiềm năng đóng góp cho VN.

12/8/2018: Ra mắt sách

Hôm qua, tôi có dịp tham dự buổi ra mắt sách cho cuốn “Cẩm nang nghiên cứu khoa học” của tôi tại Đường Sách Sài Gòn. Gặp lại nhiều bạn trên mạng và ngoài đời. Đặc biệt là gặp lại 3 người quen là anh Nguyễn Hữu Thái, Ts Nguyễn Thị Hậu (Hậu khảo cổ) và người bạn fb Huỳnh Văn Kiệt từ Đà Nẵng vào (xem hình).

Lần đầu tiên dự một buổi ra sách như thế này tôi vừa lúng túng vừa thú vị. Cũng may là ban tổ chức rất chuyên nghiệp, nên mọi chuyện đều diễn ra trơn tru. Đây là cuốn sách thứ 9 của tôi do Nxb Tổng Hợp xuất bản. Cuốn này thực chất là tập hợp những bài giảng về nghiên cứu khoa học tôi và các đồng nghiệp thực hiện trên 10 năm qua trên mọi miền đất nước. Đó là những chương trình “workshop” thường từ 5-12 ngày, với nội dung từ ý tưởng nghiên cứu, phương pháp thí nghiệm, phương pháp phân tích dữ liệu, đến công bố kết quả nghiên cứu. Cuốn sách xoay quanh những nội dung đó, và đã được đón nhận rất nồng nhiệt. Sách được bán hàng trăm copies ngay từ ngày đầu tiên phát hành!

Tôi nghĩ mình đã “gãi” đúng những chỗ ngứa của nhiều sinh viên và nghiên cứu sinh. Những chỗ ngứa đó là: câu hỏi nghiên cứu đến từ đâu, làm sao đánh giá câu hỏi nghiên cứu đáng để theo đuổi, cách triển khai nghiên cứu, cách phân tích và diễn giải kết quả phân tích, cách sọan bài báo khoa học, và con đường khoa học phía trước. Tôi cố gắng giải đáp những câu hỏi đó bằng văn phong kể chuyện và tránh tối đa những thuật ngữ khoa học. Bạn đọc sẽ thấy nghiên cứu khoa học rất thú vị, vì đó là một cách duy nghĩ (a way of thinking), chứ không phải là cái gì quá cao siêu và xa vời.

Trong buổi giao lưu ra mắt sách cũng có nhiều bạn hỏi những câu hỏi tương tự, và tôi cố gắng giải đáp cho các bạn trẻ ấy qua những trải nghiệm cá nhân. Có em hỏi nên chuẩn bị gì cho việc làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài (em này sắp đi du học), tôi nói nên chuẩn bị 4 điều: (a) chủ động học hành, vì không còn cách học “cầm tay chỉ việc” nữa; (b) nhớ socializing với đồng môn, chứ không phải chỉ vùi đầu vào học và lab; (c ) phải giữ mối quan hệ tốt với thầy cô, chuẩn bị tinh thần cho 3 loại thầy cô (vua chúa, độc tài, và người bạn); và (d) học nói và học viết, hay nói chung là “communication skills.” Thiếu những chuẩn bị đó là công thức cho thất bại.

Tôi nghĩ cuốn sách chẳng những có ích sinh viên, mà còn có ích cho nhà quản lí khoa học. Đã có nhiều bạn viết thư cho tôi nói rằng những cuốn sách trước đã giúp ích cho họ trong việc xét duyệt đề cương nghiên cứu và đánh giá khoa học. Trong buổi ra sách, chị Hậu cũng nói rằng những chia sẻ của tôi về cách soạn và trình bày slides trong các hội nghị đã giúp cho chị ấy rất nhiều trong các hội nghị quốc tế. Thành ra, tôi muốn nghĩ rằng các bạn đã từng làm nghiên cứu cũng sẽ thấy vài kinh nghiệm hữu ích từ cuốn “Cẩm nang” này.

Ps: Dự buổi ra mắt sách của tôi mà còn được tặng một cuốn sách của một anh bạn vong niên là KTS Nguyễn Hữu Thái. Anh Thái là người có mặt trong thời khắc lịch sử ngày 30/4/1975 tại Dinh Độc Lập. Trong sách, anh có kể lại sự việc ngày hôm đó như là một nhân chứng lịch sử và là một chứng từ lịch sử.

Khách mời đến dự có KTS Nguyễn Hữu Thái, Ts Nguyễn Thị Hậu (lâu lắm rồi tôi mới gặp lại chị ấy).

MC đọc lời khai mạc.

Tôi đang giải thích nội dung cuốn sách.

Gặp và chụp hình với một người bạn qua mạng Huỳnh Văn Kiệt

"Alexandre Yersin Award for outstanding medical publication"

Hội Y khoa Thụy Sĩ – Việt Nam (HELVIETMED) hân hạnh thông báo 4 nhà khoa học được trao giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc. Các nhà khoa học được trao giải là Bs. Vương Ngọc Lan và cộng sự, thuộc Trường Đại học Y Dược TPHCM; Bs Hà Tấn Đức, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ; Bs Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự thuộc Đại học Tôn Đức Thắng; và Bs Ngô Tất Trung và cộng sự thuộc Bệnh viện 108, Hà Nội. Mỗi nhóm khoa học sẽ được trao 30 triệu đồng và một chứng nhận về thành tựu nghiên cứu.

Giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc là một sáng kiến của HELVIETMED để ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam cho y văn quốc tế. Qua công bố quốc tế, họ giúp xây dựng uy danh của Việt Nam trong cộng đồng khoa học thế giới. Một mục tiêu khác của Giải thưởng Alexandre Yersin là cổ vũ hợp tác nghiên cứu cấp quốc gia và quốc tế nhằm cải thiện phẩm chất chăm sóc bệnh nhân. Giải thưởng đầu tiên được trao cho những công trình đã công bố trong 5 năm qua.

Mỗi công trình nghiên cứu được đánh giá qua 5 tiêu chuẩn: phẩm chất khoa học, tầm ảnh hưởng trong lâm sàng, ảnh hưởng trong khoa học, tính cách tân, và uy danh của tập san khoa học. Giải thưởng Alexandre Yersin chỉ dành cho công trình nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam bởi nhà khoa học Việt Nam chủ trì. Hội đồng thẩm định bao gồm 7 giáo sư và bác sĩ từ Thụy Sĩ, Pháp, và Úc, dưới sự chủ trì của tôi. (Dĩ nhiên, tôi không tham gia đánh giá các công trình tôi có liên quan gián tiếp hay trực tiếp).

Lễ trao giải thưởng đã được tổ chức ở Khách sạn Prince (Sài Gòn) vào ngày 27/7/2017. Tôi có vinh hạnh tham gia buổi lễ thân mật nhưng trang trọng. Ngoài những ý nghĩa khoa học, tôi nghĩ giải thưởng Alexandre Yersin for Outstanding Publication (AYOP) còn mang nặng nghĩa tình.

Nghĩa tình của các đồng nghiệp trong y giới ở nước ngoài, mà cụ thể là Thuỵ Sĩ, với các đồng nghiệp trong nước. Các bác sĩ và nhà khoa học ở Thuỵ Sĩ dù đã thành danh vẫn nghĩ về quê nhà và các đồng nghiệp bên nhà. Họ ngồi lại với nhau, đóng góp tài chánh, và thiết lập một giải thưởng đầy ý nghĩa. Ý nghĩa khoa học là nâng cao năng lực khoa học ở trong nước, xiển dương những công trình nghiên cứu vừa cách tân vừa có ảnh hưởng. Ở nước ngoài chúng tôi không làm được, nhưng các bạn ở trong nước làm được, và chúng tôi muốn khuyến khích, ghi nhận, xiển dương và … vỗ tay. Tình nghĩa là vậy.

Giải thưởng tuy không có giá trị bạc triệu, nhưng tấm lòng của các bạn Thuỵ Sĩ là bạc tỉ, giống như lá cờ Chữ Thập Đỏ của Thuỵ Sĩ vậy.

Tôi là “người ngoài” (hiểu theo nghĩa là dân Úc) nhưng hoá ra lại là người trong cuộc. Khi các bạn ấy mời tôi tham dự trong vai trò “chair” cho giải thưởng, tôi vừa thấy cái hay vừa ngạc nhiên. Ngạc nhiên là vì cộng đồng y khoa gốc Việt bên Thuỵ Sĩ không đông như bên Mĩ hay Úc, nhưng họ có ý tưởng rất tiền phong. Thế là tôi vinh hạnh góp một tay cùng các đồng nghiệp bên Thuỵ Sĩ để bày tỏ một tấm lòng đến các bạn trong nước qua giải AYOP.

Các bạn được trao giải thưởng ngày hôm qua đều là những tấm gương. Tấm gương tận tuỵ với khoa học và hợp tác khoa học. Đáng lí ra tất cả các bạn đều được giải, nhưng vì tài lực có hạn nên chỉ chọn được các bạn đại diện. Các bạn là đại diện cho khoa học Việt Nam ngày hôm nay và tương lai. Nói ra thì có vẻ to tát, nhưng sự thật là vậy. Một lần nữa, xin chúc mừng các bạn đã được chọn trao giải!

Vài hình ảnh hôm trao giải thưởng ở Sài Gòn (27/7/2018):

MC khai mạc buổi lễ trao giải thưởng Alexandre Yersin for Outstanding Publication

Ông Tổng lãnh sự Thuỵ Sĩ Othmar Hardegger phát biểu khai mạc.

Bác sĩ Nguyễn Quân-Vinh, chủ tịch Hội Y khoa Thuỵ Sĩ – Việt Nam phát biểu.

Tôi trong tư cách chair của hội đồng phát biểu về tiêu chuẩn của giải thưởng.

Bs Hồ Mạnh Tường nhận giải thưởng cho công trình được công bố trên Tập san New England Journal of Medicine.

Bác sĩ Hồ Phạm Thục Lan nhận giải thưởng cho công trình trên Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism

Bác sĩ Hà Tấn Đức và PGS Phạm Thị Ngọc Thảo nhận giải thưởng cho công trình trên Nature Scientific Reports.

Tiến sĩ Ngô Tất Trung và PGS Lê Hữu Song (bệnh viện 108) nhận giải thưởng cho công trình trên BMC Infectious Diseases.

Ông tổng lãnh sự nói lời cám ơn tôi.

Chụp hình kỉ niệm với một số bác sĩ đến tham dự buổi lễ trao giải.

Tóm lược các công trình nghiên cứu được trao giải

Bs. Vương Thị Ngọc Lan và đồng nghiệp: Thụ tinh trong ống nghiệm: Chuyển phôi tươi và chuyển phôi đông lạnh có hiệu quả như nhau (New England Journal of Medicine 2018;378:137-147)

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) được thực hiện thành công đầu tiên trên giới vào năm 1978. Có hai cách để thực hiện TTTON: chuyển phôi tươi và đông lạnh phôi. Trước đây, có quan điểm cho rằng đông lạnh phôi có thể dẫn đến hiệu quả điều trị thấp, và do đó, chuyển phôi tươi thường được ưa chuộng trong TTTON. Tuy nhiên, chưa có đủ bằng chứng để khẳng định chuyển phôi tươi hay đông lạnh phôi có hiệu qua hơn.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu ở Bệnh viện Mỹ Đức kết hợp với các nghiên cứu viên từ Đại học Y Dược TPHCM và Đại học Adelaide (Úc) đã thực hiện một nghiên cứu lâm sàng đối chứng để so sánh hiệu quả thụ tinh giữa chuyển phôi tươi và đông lạnh phôi. Nghiên cứu được thực hiện trên 782 phụ nữ, và họ được chia thành hai nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm chuyển phôi tươi (391 phụ nữ) bà nhóm đông lạnh phôi (391 phụ nữ).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trẻ sinh [còn sống] trong nhóm chuyển phôi tươi là khoảng 35%, và nhóm đông lạnh phôi là 36%. Nói cách khác, tỉ lệ trẻ sinh giữa hai nhóm tương đương nhau. Tuy nhiên, nhóm chuyển phôi tươi có thời gian có thai sớm hơn 1 tháng so với nhóm đông lạnh phôi. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tập san New England Journal of Medicine, một trong những tập san y học uy tín nhất trên thế giới hiện nay.

Ý nghĩa của nghiên cứu là việc chuyển phôi tươi và trữ lạnh phôi có hiệu quả như nhau. Do đó, các cặp vợ chồng hiếm muộn không cần chuyển nhiều phôi tươi một lúc mà có thể giảm số phôi chuyển xuống, số còn dư được đông lạnh để sử dụng sau đó, tránh việc phải kích thích buồng trứng trở lại nếu thất bại. Ngoài ra, việc giảm số phôi chuyển cũng giúp giảm biến chứng đa thai, hạn chế các biến chứng trong thai kỳ, sức khỏe của mẹ và bé. Ngược lại, các bác sĩ cũng không nên bỏ việc chuyển phôi tươi vì sẽ làm kéo dài thời gian từ bắt đầu điều trị đến có thai của bệnh nhân. Mỗi năm trên thế giới có hơn 2 triệu cặp vợ chồng làm TTTON. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng, góp phần làm thay đổi phác đồ TTTON trên thế giới.

Bs Hà Tấn Đức và đồng nghiệp: Xây dựng mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cấp cứu (Scientific Reports 2017;7:46474)

Khoa cấp cứu tại các bệnh viện Việt Nam thường xuyên bị quá tải do số lượng bệnh nhân đông, bệnh lý đa dạng, và thiếu nhân lực phục vụ. Bệnh nhân cấp cứu thường có nguy cơ tử vong cao; những bệnh nhân còn sống có nguy cơ biến chứng cao. Một trong những khó khăn và thách thức là làm thế nào để nhận ra những bệnh nhân có nguy cơ cao để ưu tiên hóa điều trị và giảm tử vong. Mặc dù các bác sĩ có kinh nghiệm cao có thể nhận dạng bệnh nhân có nguy cơ cao, nhưng đánh giá của họ thường không nhất quán và thiếu chính xác.

Bác sĩ Hà Tấn Đức và đồng nghiệp (Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ) đã thực hiện một nghiên cứu vừa công phu vừa qui mô để xác định các yếu tố có liên quan đến tử vong, và từ đó xây dựng mô hình tiên lượng. Nghiên cứu được thực hiện trên 2175 bệnh nhân cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày là khoảng 10%. Các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm: giới tính (nam), tăng tần số hô hấp, tăng urea trong máu, giảm độ bão hòa oxy, và chỉ số hôn mê. Dựa trên các yếu tố ngày, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình tiên lượng. Họ áp dụng mô hình tiên lượng trên một nhóm 2060 bệnh nhân thuộc Bệnh viện Đa Khoa Thành phố Cần Thơ, và kết quả cho thấy mô hình tiên lượng chính xác khoảng 80%. Công trình nghiên cứu được công bố trên tập san Scientific Reports (thuộc tập đoàn Nature).

Công trình nghiên cứu này là một đóng góp quan trọng cho y văn bệnh nhân cấp cứu. Lần đầu tiên, Việt Nam xây dựng một mô hình tiên lượng cho bệnh nhân Việt Nam để nhận dạng các bệnh nhân có nguy cơ cao cần điều trị tích cực nhằm giảm tử vong. Công trình này cũng thể hiện một đóng góp đầu tiên của Việt Nam trong y văn về hồi sức cấp cứu.

Bs Hồ Phạm Thục Lan và đồng nghiệp: Ảnh hưởng của lượng mỡ và lượng cơ đến loãng xương (Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism 2014, 99(1):30–38).

Mật độ xương (BMD) là một yếu tố rất quan trọng cho tiên lượng gãy xương, và vì thế BMD được dùng để chẩn đoán loãng xương bệnh lý loãng xương. Trọng lượng cơ thể là một yếu tố có ảnh hưởng đến mật độ xương (BMD). Người có cân nặng cao thường có BMD cao và ít bị loãng xương. Nhưng trọng lượng cơ thể chủ yếu được cấu thành bởi lượng cơ và lượng mỡ. Câu hỏi “nóng” trong chuyên ngành loãng xương là yếu tố nào — lượng cơ hay lượng mỡ — có ảnh hưởng đến BMD. Hai mươi năm qua, câu hỏi này vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng trong y văn.

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã thực hiện một loạt 3 nghiên cứu, gồm 2 nghiên cứu nguyên thủy trên hơn 2000 người Việt và 1 nghiên cứu tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng cơ có tác động đến BMD cao hơn là lượng mỡ. Phát hiện này (lượng cơ đóng vai trò quan trọng hơn lượng mỡ) nhất quán trên cả hai giới tính và cho cả người da trắng lẫn người châu Á.

Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng, vì tăng cường hoạt động thể lực là một biện pháp quan trọng trong việc phòng chống loãng xương và ngăn ngừa mất xương. Qua nghiên cứu này, có thể nói rằng, chúng tôi đã giải đáp một câu hỏi vốn là đề tài tranh luận suốt 20 năm qua. Công trình được công bố trên tạp chí hàng đầu trong chuyên ngành nội tiết là Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism năm 2014 và đã được trích dẫn 114 lần (theo Google Scholar).

Ts Ngô Tất Trung và đồng nghiệp, Tối ưu hóa phương pháp PCR cho việc chẩn đoán nhiễm trùng máu (BMC Infectious Diseases 2016;16:235)

Nhiễm trùng máu là bệnh lý truyền nhiễm cấp tính có tỷ lệ tử vong cao. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 28-31 triệu người mắc nhiễm trùng máu, trong đó có khoảng 8 triệu tử vong. Để điều trị kịp thời, việc xác định được mầm bệnh sớm là rất quan trọng. Cho đến nay, việc xác định mầm bệnh dựa vào phương pháp cấy máu. Tuy nhiên, phương pháp cấy máu có nhược điểm là tốn kém thời gian (2 ngày đến 7 ngày), luợng máu cần thiết để cấy khá cao, và khó tối ưu hóa điều kiện cấy máu.

Một giải pháp có tiềm năng thay thế phương pháp cấy máu là dùng kỹ thuật phản ứng chuỗi (polymerase chain reaction – PCR) để khuếch đại đặc hiệu các trình tự DNA cho từng vi trùng hay vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, một khó khăn đáng kể trong việc áp dụng PCR trong chẩn đoán nhiễm trùng máu là sự hiện diện của hàm lượng DNA của bệnh nhân dẫn đến kết quả dương tính giả và âm tính giả.

Ts Ngô Tất Trung và nhóm nghiên cứu của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã khắc phục sự hạn chế đó bằng cách tạo ra một chất trung gian (tạm gọi là “dung môi”) giúp loại bỏ 99,9% dung lượng DNA từ bệnh nhân, và do đó tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp chẩn đoán. Với phương pháp mới của nhóm nghiên cứu, khả năng xác định mềm bệnh chính xác hơn và nhạy hơn phương pháp PCR thông thường. Ngoài ra, ưu điểm của phương pháp mới là giảm thời gian chẩn đoán xuống còn chỉ 6 giờ.

Phát kiến và nghiên cứu đã được công bố trên tập san BMC Infectious Diseases năm 2016. Đây là một phát kiến đem lại lợi ích trực tiếp cho bệnh nhân. Công trình nghiên cứu còn thể hiện một đóng góp quan trọng trong y văn quốc tế.

Giới thiệu sách mới: "Cẩm nang nghiên cứu khoa học"

Tôi rất hân hạnh giới thiệu đến các bạn đọc xa gần một cuốn sách mới nhất của tôi có tựa đề là “Cẩm nang nghiên cứu khoa học: từ ý tưởng đến công bố” (1). Đây không phải là cuốn sách cũ, mà nội dung hoàn toàn mới. Nội dung bao gồm 20 chương sách nhằm giải đáp những thắc mắc mà nhiều học sinh và sinh viên thường tự hỏi bắt đầu nghiên cứu khoa học từ đâu, ý tưởng nghiên cứu xuất phát từ nguồn nào, phương pháp nghiên cứu ra sao, và công bố kết quả nghiên cứu ở đâu. Đó là những câu hỏi cơ bản trong qui trình nghiên cứu khoa học.

Cuốn sách này chỉ là một tập tài liệu ngắn nhằm tổng quan qui trình và nghiên cứu khoa học. Nội dung không đi vào chi tiết về phương pháp, vốn là chủ đề của các cuốn sách khác. Mục tiêu của tôi là cung cấp cho các bạn mới bắt đầu làm nghiên cứu khoa học thấy được hành trình trước mắt để chuẩn bị. Cuốn sách được soạn từ những bài giảng trong các lớp tập huấn về nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện trong thời gian hơn 15 năm qua ở Việt Nam. Qua những lớp tập huấn này, tôi đã rút ra nhiều bài học từ học viên và qua hợp tác nghiên cứu. Những lớp tập huấn đó được sự giúp đỡ của rất nhiều người mà tôi muốn ghi nhận và cảm ơn. Tôi đặc biệt cám ơn Tiến sĩ Trần Sơn Thạch (Viện nghiên cứu y khoa Garvan) và Bs Hà Tấn Đức (Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ) đã giúp tôi và trợ giảng trong nhiều năm qua trong các lớp học về phương pháp nghiên cứu khoa học.

Xin trích vài đoạn để các bạn biết hơn chút về nội dung cuốn sách:

Thế nào là “nghiên cứu khoa học“?

“Nghiên cứu khoa học là chủ đề của chương này. Theo tôi, nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm sáng tạo ra tri thức mới hay mở rộng tri thức hiện hành qua ứng dụng phương pháp khoa học.

Hai điều kiện của định nghĩa trên là mục tiêu và phương pháp. Mục tiêu là nhằm sáng tạo ra tri thức mới hoặc mở rộng ‘biên cương’ của tri thức hiện hành. Tri thức mới dĩ nhiên phải được chuyển hóa từ thông tin và dữ liệu. Khám phá ra một động vật mới, phát hiện một mối liên hệ mới giữa gen và bệnh tật, hay phát hiện một qui luật tự nhiên, tất cả những điều đó đều có thể xem là tri thức mới. Mở rộng kiến thức hiện hành bao gồm việc ứng dụng tri thức vào một lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn như chúng ta biết được cơ chế của các xương bào trong xương là một tri thức tương đối mới, nhưng tìm cách ức chế các xương bào đó để phát triển thành thuốc điều trị cho bệnh nhân thì được xem là một sự mở rộng tri thức khoa học. Do đó, điều kiện thứ nhất của nghiên cứu khoa học là mục tiêu: tạo ra tri thức mới hay mở rộng tri thức hiện hành.

Tri thức ở đây phải đáp ứng 2 đặc tính chính: phổ quát và tái lập. Ở đây, tôi không có ý định bàn sâu về tri thức theo nghĩa triết học vì tôi không am hiểu triết học. Kiến thức phổ quát có thể hiểu là những tri thức mang tính qui luật tự nhiên. Chẳng hạn như hút thuốc lá gây ung thư phổi có thể xem là một tri thức phổ quát, vì tri thức này hiện diện ở bất cứ sắc dân nào và địa phương nào. Đặc tính thứ hai là tái lập (reproducibility). Một công trình nghiên cứu được xem là khoa học nếu kết quả từ nghiên cứu có thể lặp lại trong nhiều nghiên cứu khác với điều kiện các nghiên cứu đó dùng cùng phương pháp với nghiên cứu gốc. Chẳng hạn như mối liên hệ giữa gen FTO và tiểu đường được quan sát ở rất nhiều nghiên cứu độc lập trên thế giới, và đây là một đặc tính quan trọng của khoa học. Nếu kết quả nghiên cứu không được tái lập thì đó chưa phải là tri thức khoa học. Do đó, tính tái lập có thể xem là nền tảng của khoa học, và là yếu tố để phân biệt khoa học thật với khoa học dỏm.”

Ý tưởng nghiên cứu đến từ đâu?

“Nghiên cứu khoa học xuất phát từ ý tưởng. Ý tưởng xuất phát từ nhiều nguồn, nhưng chủ yếu là qua quan sát thực tế, đọc những bài nghiên cứu trước (hay trong y văn, đối với ngành y), tham dự hội nghị; chú ý đến kĩ thuật mới, ý tưởng ngành khác; và … một chút tưởng tượng. Quan sát thực tế là một nguồn ý tưởng rất quan trọng. Chẳng hạn như tôi chú ý thấy hình như số bệnh nhân tử vong ở bệnh viện hơi nhiều trong hai ngày cuối tuần, tôi nghĩ ngay đến lời giải thích rằng có thể hai ngày đó thiếu bác sĩ và y tá, và thế là câu hỏi nghiên cứu hình thành. Tham dự hội nghị và nghe các chuyên gia giảng cũng là dịp để có ý tưởng mới. Có khi có thể các bạn chẳng có ý tưởng gì mới, mà chỉ muốn lặp lại nghiên cứu của người khác ở bệnh viện mình. Loại nghiên cứu “me too” này chẳng có vấn đề gì, vì đó là cách các bạn học làm nghiên cứu.”

Ngộ nhận về tính đại diện:

“Hầu hết những ai làm nghiên cứu lâm sàng đều từng trải qua các hội đồng xét duyện đề tài hay nghiệm thu, và tuyệt đại đa số đều nhận được lời phê bình là nghiên cứu không mang tính đại diện. Nhận xét này hàm ý nói kết quả nghiên cứu không có giá trị khoa học, và có khi nó được dùng như là một cách bác bỏ nỗ lực của nhà nghiên cứu. Nhưng trong thực tế, nhiều nghiên cứu không cần tính đại diện. Trong chương này tôi sẽ giải thích tại sao một nghiên cứu y học nghiêm chỉnh không nhất thiết phải có mẫu mang tính đại diện.”

Tại sao có ngưỡng giá trị P (xác suất) 0.05?

“Nhưng vấn đề đặt ra là ngưỡng của trị số P bao nhiêu để bác bỏ giả thuyết vô hiệu. Fisher đưa ra đề nghị ngưỡng P = 0.05, và không ngờ đề nghị này đã gây một ảnh hưởng vô cùng lớn trong lịch sử khoa học, bởi vì từ đó giới khoa học thuộc tất cả các lĩnh vực và khắp thế giới dùng ngưỡng đó để tuyên bố về khám phá khoa học.

Nhưng tại sao Fisher chọn 0.05 làm ngưỡng để phân định giữa nhiễu và không nhiễu? Đây là một câu hỏi làm nhiều người suy luận và tốn khá nhiều giấy mực. Có truyền thuyết cho rằng một hôm ông tắm trong bồn nhưng vẫn suy tư về ngưỡng của trị số P, nghĩ hoài không ra, thì khi xả nước bồn đột nhiên ông thấy năm ngón chân của mình trên mặt nước làm ông lạnh, và thế là ông chọn trị số P = 0.05 làm ngưỡng để tuyên bố “có ý nghĩa thống kê” (7).”

Mẫu và quần thể:

Để hiểu kết quả phân tích tốt hơn, chúng ta cần phải phân biệt hai phạm trù: mẫu và quần thể. Mẫu ở đây là sample, là số người chúng ta chọn ngẫu nhiên. Quần thể trong thuật ngữ thống kê là population. Tuy gọi là population nhưng nó không có nghĩa thông thường là dân số. Như vậy, mẫu được lấy từ quần thể. Dĩ nhiên, chúng ta có thể chọn rất nhiều mẫu từ một quần thể, và phân bố của các chỉ số thống kê (được tính toán từ mẫu) cho phép chúng ta có thể suy luận về phân bố của quần thể.

Phân biệt mẫu và quần thể giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm thống kê, nhưng một phân biệt khác là các chỉ số thống kê mẫu và thông số cũng cần thiết. Khi chúng ta lấy mẫu, chúng ta chỉ có thể tính toán những chỉ số thống kê, như trung bình, trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn, tỉ lệ hay xác suất, v.v. Tất cả những chỉ số đó (được tính từ mẫu), thuật ngữ tiếng Anh gọi là statistic. Thuật ngữ thông số hay parameter là những chỉ số thống kê liên quan đến quần thể. Như vậy, chúng ta có hai nhóm chỉ số tồn tại song song nhau, một nhóm đề cập đến mẫu (statistic), một nhóm liên quan đến quần thể (chúng ta gọi là parameter). Theo qui ước chung, kí hiệu của các statistic được viết bằng mẫu tự tiếng Latin, và các thông số được viết bằng mẫu tự Hi Lạp.

Diễn giải kết quả nghiên cứu:

Đối diện với một nghiên cứu mà kết quả cho thấy có mối liên quan giữa E và O, người đọc hay nhà khoa học làm gì để đánh giá mức độ khả tín của kết quả này? Một cách đơn giản nhất là xem xét đến mô hình nghiên cứu. Nếu mô hình nghiên cứu là RCT (randomized controlled trial) thì vấn đề đơn giản. Đối với nghiên cứu RCT so sánh hai nhóm (như nhóm dùng thuốc thật và nhóm dùng giả dược) được thiết kế tốt, tất cả các yếu tố liên quan đến O đều bằng nhau giữa hai nhóm bệnh nhân, nên khác biệt về O giữa hai nhóm chỉ có thể là do can thiệp. Nhưng đối với các nghiên cứu quan sát, nhà nghiên cứu không thể kiểm soát tất cả các yếu tố nguy cơ, nên có sự mất cân đối giữa hai nhóm so sánh (mắc bệnh và không mắc bệnh), nên vấn đề trở nên phức tạp hơn nghiên cứu RCT. Để diễn giải kết quả nghiên cứu quan sát một cách hợp lí, nhà nghiên cứu cần phải xem xét đến 3 yếu tố chính:

• Yếu tố ngẫu nhiên (chance hay random error)
• Yếu tố bias
• Yếu tố nhiễu (confounding effect)

Chỉ khi nào loại bỏ ba yếu tố này thì mối liên quan mới có thể xem là mối liên hệ nhân quả.

Năm nguyên tắc đặt tựa đề bài báo:

Đặt tựa đề cũng là một khoa học, và điều này không phải là nói theo kiểu mĩ từ đâu, mà là một thực tế. Trong quá khứ đã có rất nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa tựa đề, số chữ trong tựa đề, và tần số trích dẫn của bài báo. Qua những nghiên cứu này, các nhà khoa học có kinh nghiệm đã đi đến vài qui luật (hay đúng hơn là “nguyên tắc”) về cách đặt tựa đề sao cho tối ưu. Năm nguyên tắc sau đây cần phải chú ý khi đặt bút viết tựa đề.

Nguyên tắc 1: Một tựa đề tốt nên chuyển tải được những nét chính của nghiên cứu với số chữ ít nhất.

Nguyên tắc 2: Bắt đầu tựa đề với từ quan trọng.

Nguyên tắc 3: (Nếu có thể tựa đề) nên có một điểm mạnh về phương pháp.

Nguyên tắc 4: Dùng những “từ khóa” (keywords) trong tựa đề.

Nguyên tắc 5: Tựa đề cần phải có thông tin, hay nói theo tiếng Anh là ‘informative’.

Năm căn bệnh trong khoa học:

Bệnh tìm ý nghĩa thống kê: Significosis
Bệnh tìm cái mới: Neophilia
Bệnh hám lí thuyết: Theorrhea
Bệnh hám thuật toán: Arigorium
Bệnh chạy theo lượng: Disjunctivitis”

Hi vọng các bạn sẽ tìm thấy vài ý tưởng và sự động viên từ cuốn sách này để dấn thân vào nghiên cứu khoa học.

===

Sách do Nxb Tổng Hợp phát hành. Số trang: 400. Giá bán: 118,000 đồng. Có bán tại Nhà sách Minh Khai, Nhà sách FaHASA, và Nhà sách Tổng Hợp ở Đường Sách.

Mua sách sỉ có thể đặt qua email: hathanhnguyennxb@gmail.com.

Điểm sách "Silent Invasion"

Nhờ một bạn giới thiệu mà tôi biết đến cuốn sách “Silent Invasion” (1) của tác giả Clive Hamilton (2). Phải nói rằng đây là một cuốn sách, nói như Giáo sư John Fitzgerald, là rất đáng đọc. Đáng đọc để biết một cuộc xâm lăng âm thầm vào chính trường nước Úc được điều phối từ Bắc Kinh. Đáng đọc để hiểu hơn những chiến lược mà Tàu cộng đã và đang áp dụng, cùng với sự tiếp tay của những Hoa kiều, để mua chuộc ảnh hưởng và qua đó bành trướng chính trị đến các nước khác, trong đó có Việt Nam.

Đây là một cuốn sách cũng như câu chuyện đằng sau (3) đã và đang gây chấn động ở Úc. Đi đâu cũng nghe giới trí thức nói về nó. Hôm kia, trong một buổi giải lao, một giáo sư người Úc thuộc đại học UTS cũng nói với tôi về cuốn sách này, và những gì tác giả cảnh báo. Người Việt chúng ta, dù ở Úc hay ở Việt Nam, cũng nên đọc quyển sách này. Đọc để thấy sách lược của Tàu nhằm gây ảnh hưởng và xâm nhập vào hệ thống chính trị từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất.

Mục tiêu và chiến lược

Mục tiêu của đảng cộng sản Tàu là kéo Úc vào quĩ đạo kinh tế và chính trị do Tàu kiểm soát. Nhưng vì Úc đang là đồng minh thân thiết của Mĩ, nên chiến lược để đạt mục tiêu đó là tạo ra chia rẽ giữa Úc và Mĩ, là gây ảnh hưởng kinh tế, là đe doạ chính trị, là gây bất ổn cho Úc.

Tàu cộng dùng nhiều biện pháp để thực hiện chiến lược trên. Họ có Mặt trận Tổ quốc để lôi kéo Hoa kiều phục vụ cho họ. Họ lập chi bộ đảng cộng sản ở các đại học Úc nhằm kiểm soát tư tưởng của du học sinh và biến họ thành những “chiến sĩ” tuyên truyền ngay trong lòng nước Úc. Họ tung tiền mua chính khách Úc, từ cấp cao đến cấp thấp. Họ vung tiền mua các tập đoàn kinh tế Úc và mua các cơ sở vật chất (như cảng, công ti năng lượng, đất đai và trang trại).

Cách mà đảng cộng sản Tàu (CCP) gây ảnh hưởng và xâm nhập là qua 3 kênh: người Tàu di cư, các tổ chức xã hội do đảng cộng sản Tàu điều hành, và qua tiền. CCP xem những người Tàu di dân trong thập niên 1980 và du học sinh là những phần tử có thể làm trung gian để thu thập thông tin và báo cáo về cho chính phủ Tàu. CCP thành lập hàng loạt các tổ chức mang danh kiều bào (như Ủy ban Hoa kiều ở nước ngoài, Hội đồng hương Hoa kiều, Hội sinh viên, v.v.) và qua đó chuyển tiền để gây ảnh hưởng đến chính trường Úc. CCP còn tung tiền ra cho các nhân vật trung gian để mua ảnh hưởng, mua ý kiến của giới chính trị Úc để họ có những phát biểu có lợi cho Tàu. Số tiền tung ra không phải hàng triệu, mà con số lên đến hàng trăm triệu đôla!

Những kẻ ‘apologist‘ cho Tàu cộng và thân Tàu cộng lí giải rằng việc gây ảnh hưởng mà Tàu áp dụng lên Úc là bình thường, vì Mĩ vẫn làm thế chứ có tử tế gì đâu! Nhưng tác giả Hamilton chỉ ra rằng những kẻ apologist này cố tình chối bỏ thực tế là Mĩ là một nền dân chủ, còn Tàu cộng là độc tài; Mĩ không có ý định chiếm Úc, Tàu cộng muốn; Mĩ bảo vệ Úc, Tàu cộng xâm lược hay ít ra là có ý đồ xâm lược. Những khác biệt giữa các tập đoàn kinh tế Mĩ và Tàu cộng cũng được Hamilton chỉ ra rõ ràng: các công ti Mĩ là tư nhân và độc lập với chính phủ, các công ti Tàu là của đảng cộng sản Tàu; Mĩ xem kinh tế là môi trường kinh doanh, Tàu xem kinh doanh là hình thức để đạt mục tiêu chính trị; các công ti của Mĩ không có chi bộ của đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ, các công ti Tàu là ổ của đảng cộng sản Tàu (trang 113).

“Tiền là bầu sữa của chính trị”

Một trong những vụ mua ảnh hưởng gây tai tiếng xảy ra vào giữa năm nay (2018), khi một thượng nghị sĩ của Úc tên là Sam Dastyari bị buộc phải từ chức và đuổi khỏi Thượng nghị viện. Lí do là y đã nhận hơn 150,000 AUD từ một tỉ phú tên là Huang Xiangmo, người có mối quan hệ rất mật thiết với đảng cộng sản Tàu. Sam Dastyari biết mình bị tình báo Úc theo dõi, và đã tiết lộ tin này cho Huang Xiangmo. Hành động của Sam Dastyari có dân biểu Úc xem là “phản bội.” Phản bội vì làm việc cho ngoại bang. Do đó, sau vụ Dastyari bị đuổi khỏi Thượng nghị viện, Úc phải ra đạo luật nhằm cảnh báo những dân biểu và chính khách Úc có quan hệ với ngoại bang. Nói là “ngoại bang”, nhưng nước được hiểu chính là Tàu.

Huang Xiangmo là ai? Huang sinh năm 1969 ở làng Yuhu (dịch là Ngọc Hồ) thuộc vùng Chaozhu tỉnh Quảng Đông. Huang làm giàu nhanh chóng nhờ buôn bán bất động sản và các mối quan hệ (tiếng Hoa là guanxi) với các nhân vật chóp bu trong Đảng cộng sản Tàu (những nhân vật này đều bị đi tù hay tự tử sau này). Có lẽ thấy tình hình không ổn, nên Huang xin di cư sang Úc sống từ những năm đầu thế kỉ 21. Huang vẫn duy trì mối quan hệ hữu hảo với các nhân vật chóp bu trong Đảng cộng sản Tàu, thậm chí đại diện cho Tàu trong các buổi lễ hội quan trọng ở Úc.

Huang Xiangmo có một triết lí rất thú vị: “Money is the milk for politics” (Đồng tiền là nguồn sữa cho chính trị). Nói là làm. Từ ngày ông có mặt ở Úc (khoảng 2010), Huang đã cho hơn 4 triệu đôla cho 2 đảng chính trị của Úc, và ông đã đầu tư 2 tỉ đôla vào nông nghiệp Úc. Huang cho hàng triệu đôla để Đại học Công nghệ Sydney (UTS) thành lập viện Úc-Hoa ACRI (Australia-China Relations Institute). UTS cám ơn Huang bằng cách phong tặng cho ông danh hiệu “Giáo sư”.

 

Quan hệ cấp cao. Thủ tướng Malcolm Turnbull và tỉ phú Huang Xiangmo. Hình dưới: hiệu trưởng Đại học Quốc gia Úc và đại diện của đoàn thanh niên công sản Tàu.

Trung tâm ACRI được xem là cái loa tuyên truyền của CCP ngay tại một đại học lớn của Úc! Ngay cả vấn đề Biển Đông, ACRI cũng chỉ nói cho Tàu và theo Tàu. ACRI không bao giờ lên tiếng về những đàn áp ở Tàu, không bao giờ đề cập đến vụ Thiên An Môn. Giáo sư Clive Hamilton nói thẳng rằng “Let us call the Australia-China Relations Institute for what it is: a Beijing-backed propaganda outfit disguised as a legitimate research institute, whose ultimate objective is to advance the CCP’s influence in Australian policy and political circles.” (Chúng ta hãy gọi đúng tên của ACRI: đó là một trạm tuyên truyền của Đảng cộng sản Tàu ngụy trang viện nghiên cứu, mà mục tiêu tối hậu là gây ảnh hưởng của Đảng cộng sản Tàu lên chính sách và chính trường Úc).

Một nhân vật được cuốn Silent Invasion đề cập đến nhiều là Chau Chak Wing. Ông cũng là một tỉ phú người Tàu nhưng có quốc tịch Úc. Ông chủ yếu sống ở Quảng Châu trong một biệt phủ rất lớn. Ông là người không muốn xuất hiện trước công chúng, nhưng là một nhân vật có nhiều quyền thế qua đồng tiền. Năm 2015, ông bỏ ra 70 triệu đô la để mua biệt thự “Le Mer” của tỉ phú James Packer, và đập phá để xây lại cái mới theo ý ông! Tỉ phú Chau Chak Wang có nhiều mối quan hệ quan trọng với các nhân vật chóp bu trong đảng Cộng Sản Tàu và trong giới cầm quyền ở Tàu.

Ở Úc, ông cũng quen với rất nhiều nhân vật chóp bu từ thủ tướng đến bộ trưởng trong chính quyền Úc. Năm 2004 và 2005 ông tài trợ cho Kevin Rudd (người sau này trở thành thủ tướng Úc), Wayne Swan (sau này là bộ trưởng ngân khố), Stephen Smith (sau này thành bộ trưởng ngoại giao) sang Quảng Châu. Chương trình chuyến đi có cả buổi tham quan biệt phủ của Chau được mô tả là “mênh mông” và “xa xỉ”. Sau chuyến đi, Chau Chak Wang tài trợ cho Đảng Lao Động Úc 1.7 triệu đôla và Đảng Liberal 2.9 triệu đôla. Báo chí Úc ghi nhận rằng chưa có một doanh nhân gốc Á châu nào mà rộng lòng như Chau Chak Wing.

Năm 2004, Bob Carr, lúc đó là thủ hiến bang New South Wales, cũng là bạn khá thân với Chau. Có lẽ do tình bạn và sự rộng rãi của Chau trong việc cho tiền Đảng Lao Động, nên Carr nhận con gái của Chau là Winky Chau vào làm tập sự trong văn phòng chính phủ của Carr. Sau khi Carr rời chính trường, Winky Chau trở thành “chuyên gia tư vấn”, và cô ta mua luôn tờ nhật báo tiếng Hoa Australian New Express Daily.

Chau Chak Wing cũng chính là người cấp tiền cho Đại học Công nghệ Sydney (UTS) xây tòa nhà “Dr. Chau Chak Wing Building.” Câu chuyện thật ra bắt đầu từ con trai của tỉ phú Chau Chak Wing. Lúc đó (đầu thập niên 2000), Eric, con trai của Chau Chak Wing, đang theo học cử nhân kiến trúc tại UTS. Hiệu trưởng (vice-chancellor) của UTS lúc đó là Giáo sư Ross Milbourne nhận ra nhân vật này và đã lên một kế hoạch xin tiền được mô tả là “cunning” (các bạn muốn hiểu sao cũng được). Milbourne hỏi cậu ấm Eric muốn đi chơi ở Los Angeles để gặp kiến trúc sư huyền thoại Frank Gehry không, và dĩ nhiên cậu ấm ham vui gật đầu. Những gì xảy ra phía hậu trường sau đó thì không ai biết rõ, nhưng chỉ biết kết quả thành công mĩ mãn: Chau Chak Wing đồng ý cho UTS 20 triệu đô la để xây dựng một tòa nhà mới lấy tên ông. Mặc dù ông không có bằng tiến sĩ, nhưng ông yêu cầu UTS đặt tên tòa nhà là “Tòa nhà Tiến sĩ Chau Chak Wing”.

Nghe lén và mĩ nhân kế

Tàu còn nổi tiếng qua những chiêu trò theo dõi khi các quan chức Úc viếng thăm Tàu. Dưới tiêu đề “Bẫy Mật”, tác giả Simon Hamilton thuật lại câu chuyện thủ tướng Úc lúc đó (2014) là Tony Abbott thăm chính thức Tàu cộng, và đoàn của ông có cố vấn Peta Credlin tham gia. Trước khi lên đường, phái đoàn đã được ASIO (cục tình báo Úc) cảnh báo về những chiêu trò theo dõi của an ninh Tàu cộng. ASIO khuyên tất cả các thành viên trong đoàn không dùng charger điện thoại của khách sạn, không dùng bất cứ USB nào được cho làm quà, không bao giờ để máy tính cá nhân trong phòng khách sạn, v.v.

Credlin kể rằng khi nhận phòng khách sạn, bà lập tức rút cái dây điện đồng hồ đánh thức, tắt hết tivi bằng cách rút dây điện khỏi ổ điện. Chỉ vài phút sau, có người gõ cửa nói là “bồi phòng” (housekeeper) đến giúp, và người “bồi phòng” này cắm hai dây điện vào ổ điện. Chờ người bồi phòng rời phòng, Credlin lại rút ra hai dây điện. Vài phút sau, người bồi phòng lại gõ cửa và cắm hai dây vào ổ điện! Bực mình quá, Credlin rút tháo cái đồng hồ đánh thức và để phía ngoài phòng, sau đó bà lấy mền trùm kín cái tivi.

Sở dĩ Credlin phải làm vậy là vì phái đoàn Úc biết được những bẫy mật của Tàu cộng. Trong quá khứ, Tàu cộng dùng rất nhiều mưu mẹo, nhưng phổ biến nhất là dùng mĩ nhân để đưa nạn nhân vào tình thế nan giải. Đã có một dân biểu Úc bị gài bẫy mĩ nhân kế, và Tàu cộng có hẳn video và hình ảnh về mối quan hệ này. Cho đến nay, theo tác giả Simon Hamilton, người dân biểu này đang là cái loa thân Tàu ở Úc.

Đảng là quốc gia

Trong sách Silent Invasion, tác giả Hamilton nhắc nhở cho chúng ta biết rằng một xã hội Tàu đã bị tẩy não hơn nửa thế kỉ. Người dân, đặc biệt là giới thanh niên, nghĩ rằng yêu tổ quốc là yêu đảng cộng sản Tàu, vì đảng chính là quốc gia (party is the nation). Giới lãnh đạo của đảng cộng sản Tàu đã từ bỏ (gián tiếp) quan niệm cách mạng Mác xít, đấu tranh giai cấp, và thế giới vô sản. Nhưng họ duy trì cơ cấu đảng theo hệ thống của Lenin.

Năm 2016, viên bộ trưởng giáo dục Tàu tuyên bố thẳng thừng rằng hệ thống giáo dục phải đi đầu trong việc truyền bá ý thức hệ của đảng cộng sản Tàu, và cảnh cáo các ‘hostile force‘ (thế lực thù địch) đang tìm cách xâm nhập vào hệ thống trường học và đại học để gây tổn hại đến “thành tựu của cách mạng.”

Tổ chức văn nghệ vinh danh PLA ngay tại Hurstville, thủ phủ của người Tàu lục địa tại Úc.

Những học sinh và sinh viên Tàu ngày nay đã bị tẩy não ghê gớm, tuyệt đại đa số họ không còn phân biệt được giữa đảng và tổ quốc, và sẵn sàng hùng hổ bảo vệ tổ quốc = đảng ở mọi lúc và mọi nơi. Năm 2015, một nhóm sinh viên Tàu thuộc Đại học Quốc gia Úc (ANU) xông vào một nhà thuốc của Đại học và hùng hổ chất vấn chủ nhà thuốc rằng “Ai cho ông phân phối tờ báo này?” Đó là tờ Epoch Times của nhóm Pháp Luân Công. Mới đây, một giảng viên bị sinh viên Tàu hung hăn phản đối vì ông giảng về sự kiện Thiên An Môn và chủ quyền Biển Đông, và sự việc lên tận cấp Bộ ngoại giao Tàu phàn nàn với Chính phủ Úc. Sự việc tuy nhỏ, nhưng nó nói lên những kẻ bị tẩy não này đang là một mối đe dọa đối với Úc.

Những người trẻ thuộc thế hệ bị tẩy não này đang có mặt ở Úc. Hiện nay, có hơn 550 ngàn du học sinh Tàu ở Úc. Ngoài ra, còn số một số nhà khoa học cấp cao (cấp giáo sư) cũng có mặt khắp nơi trong các đại học Úc, và họ hình thành cái mà Hamilton gọi là “enclave” (ý nói những khoa có nhiều giáo sư gốc Tàu). Hamilton lấy một trường thuộc Đại học Curtin (Tây Úc) chỉ ra rằng trong số 8 người cấp ‘faculty’ ở đây, thì 7 người là người Tàu. Có những bài báo khoa học chỉ thuần Tàu và tác giả Tàu, nhưng địa chỉ thì đại học Úc! Hamilton còn chỉ ra rằng một số giáo sư Tàu trong lĩnh vực kĩ thuật và công nghệ thông tin đang ngồi trong các hội đồng khoa học cấp quốc gia của Úc (như ARC College of Experts) có liên quan mật thiết với đảng cộng sản và giới quân sự bên Tàu.

Đừng thờ ơ và ngây thơ!

Tóm lại, Silent Invasion là một cuốn sách công phu và đáng đọc. Tính công phu nằm ở nguồn thông tin, với hơn 60 trang ghi chú và nguồn tài liệu. Đáng đọc để nhìn sự bành trướng của đảng cộng sản Tàu bằng một cái nhìn rộng lớn hơn và bao quát hơn, và để đặt vào bối cảnh mối quan hệ giữa Việt Nam và Tàu cộng.

Hamilton đã có công lớn chỉ ra những chiến thuật và mưu mẹo của CCP nhằm gây lôi kéo Úc vào trong quĩ đạo của Tàu và bẻ gãy mối quan hệ chiến lược giữa Mĩ và Úc. Ở một mức độ nào đó, có thể nói Tàu đã thành công, nhưng cuốn sách này nhằm cảnh tỉnh những kẻ hoạt động trong chính trường Úc còn mơ mộng ôm Tàu vào vòng tay mình. Hamilton còn cảnh báo rằng sự thờ ơ, ngây thơ của chính khách Úc là một tài sản quí báu của Tàu cộng.

Đối với một nền dân chủ tương đối lâu đời như Úc mà Tàu còn làm được, vì đối với Việt Nam vốn có ‘truyền thống’ lệ thuộc Tàu thì việc những kẻ cầm quyền Tàu cộng gây tác động còn dễ dàng hơn. Đọc cuốn sách này, chúng ta — người Việt — dễ nhận ra những chiêu trò gây ảnh hưởng của Tàu, vì thấy … quen quen. Xâm nhập chính trường. Mua ý kiến và mua quan chức bằng tiền. Tung tiền mua đất đai. Đe dọa hoặc dùng chiêu thức lưu manh. Dùng lưu manh không được thì dùng mĩ nhân kế. Vân vân. Do đó, không thể xem thường những hành động của Tàu ở Việt Nam. Dùng câu nói đó của Hamilton, chúng ta cũng có thể nói rằng sự ngây thơ và thờ ơ của giới “elite” và có học Việt Nam cũng là một tài sản quí báu của Tàu để họ xâm lăng nước ta.

===

(1) Sách “Silent Invasion: China’s Influence in Australia” của Giáo sư Clive Hamilton, Nhà xuất bản Hardie Grant Books 2017. Sách dày 356 trang, kể cả 57 trang bị chú và ghi chú.

(2) Hamilton là giáo sư về đạo đức công chúng (Public Ethics) thuộc Đại học Charles Sturt (Canberra). Ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian để theo dõi sự xâm lăng của Tàu vào Úc, và cuốn sách này chỉ là một thành tựu trong thời gian hai mươi năm qua.

(3) Cuốn sách Silent Inavasion có một số phận rất gian nan. Theo tác giả Simon Hamilton tiết lộ, thoạt đầu bản thảo cuốn sách được một nhà xuất bản lớn của Úc lả Allen & Unwin đồng ý ấn hành vào tháng 4 năm 2017. Thế nhưng, Allen & Unwin đột ngột hủy bỏ quyết định này vào ngày 2/11/2017, với lí do đưa ra là “pháp lí”. Hóa ra, lí do pháp lí chính là Allen & Unwin sợ Tàu cộng kiện. Thế là Hamilton phải nhờ đến một nhà xuất bản khác, nhỏ hơn, nhưng can đảm hơn: đó là Hardie Grant. Nhưng sự việc một nhà xuất bản số 1 của Úc không dám in cuốn sách làm cho rất nhiều người trong giới khoa bảng cảm thấy xúc phạm đến tự do ngôn luận, và nó thể hiện một sự xâm phạm đến những giá trị cốt lõi của nước Úc.

Từ "Dấu Binh Lửa" tới "Tù Binh và Hòa Bình": Phan Nhật Nam và những chấn thương không chảy máu

Trong văn nghệ, có rất nhiều trường hợp mà tên tuổi của tác giả gắn liền với một tác phẩm. Một trong những trường hợp đó là Nhà văn Phan Nhật Nam mà tôi rất hân hạnh giới thiệu đến các bạn xa gần qua bài viết công phu của Bs Ngô Thế Vinh. Nói đến Phan Nhật Nam là những người thuộc thế hệ tôi và sau này đều nghĩ ngay đến “Mùa hè đỏ lửa,” một tác phẩm trứ danh mà ngay cả ngày nay đọc lại tôi vẫn thấy hay. Hay từ cách bố cục những thiên phóng sự rực lửa chiến tranh đến cái hay về chữ nghĩa, và đặc biệt là tính nhân văn trong tác phẩm.

Nước ta có thời bị chia cắt hai miền, và một hệ quả của sự chia cắt là sự hình thành hai nhóm nhà văn quân đội: miền Nam VNCH và miền Bắc cộng sản. Không nói ra thì ai cũng biết có sự khác biệt rất lớn giữa hai nhóm nhà văn, khác biệt từ tính nghệ thuật đến nội dung tác phẩm. Nếu những tác phẩm của vài nhà văn nổi tiếng ngoài Bắc có những cảnh tượng rùng rợn về ăn gan, uống máu, dao găm, v.v. thì các tác phẩm của các nhà văn quân đội trong Nam hoàn toàn trống vắng những văn chương đầy ám ảnh đó. Thật vậy, đọc văn của Phan Nhật Nam, một nhà văn quân đội, bạn đọc sẽ không thấy bất cứ một sự căm thù nào.

Không có căm thù trong văn chương của Phan Nhật Nam, nhưng văn của ông thì tràn đầy cái dũng và khí phách. Khí phách của một người lính nhảy dù. Khí phách của một tù nhân trong trại ‘cải tạo’. Cái khí phách thậm chí còn thể hiện với thân phụ ông – một người cộng sản ở bên kia chiến tuyến. Những người ‘đồng nghiệp’ bên kia chiến tuyến của Phan Nhật Nam cũng có lúc nể phục văn tài và khí phách của ông. Vài năm trước, khi một nhà văn có tiếng và có quyền ở Hà Nội mời Phan Nhật Nam về tham dự một buổi ‘giao lưu’ trong chương trình ‘hoà hợp hoà giải dân tộc’, nhưng ông khẳng khái từ chối. Những ồn ào sau lời từ chối đó cũng nói lên một Phan Nhật Nam đầy khí phách và nhân bản.

Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Bs Ngô Thế Vinh như là một ‘documentation’ về Phan Nhật Nam, người mà văn nghiệp và văn tài có thể xem là một ‘di sản’ văn học của miền Nam trước 1975.

NVT

====

Từ “Dấu Binh Lửa” tới “Tù Binh và Hòa Bình”: Phan Nhật Nam và những chấn thương không chảy máu

“Tôi là kẻ sống sót sau một cuộc chiến tranh dài hơn trí nhớ.”

Phan Nhật Nam

NGÔ THẾ VINH

Hình 1: tới thăm Phan Nhật Nam 21.07.2017, đi tìm những vật chứng.

[tư liệu Ngô Thế Vinh]

TIỂU SỬ

Phan Nhật Nam cũng là bút hiệu, Rốc là tên gọi ở nhà; sinh ngày 9/9/1943, tại Phú Cát, Hương Trà, Thừa Thiên, Huế; nhưng ngày ghi trên khai sinh 28/12/1942, chánh quán Nại Cửu, Triệu Phong, Quảng Trị.

1954-1960 tiểu học Mai Khôi Huế; Saint Joseph Đà Nẵng; trung học Phan Chu Trinh Đà Nẵng

1963-1975 tốt nghiệp Khoá 18 Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, gia nhập binh chủng Nhảy Dù, qua các đơn vị Tiểu Đoàn 7, 9, 2, và Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù; Tiểu Khu Bà Rịa Long An; Biệt Động Quân; Ban Liên Hợp Quân Sự Trung Ương 4 và 2 Bên.

Hình 2: giữa, Hướng đạo sinh Phan Nhật Nam và Trưởng Tô Phạm Liệu. Sau này cả hai đều chọn vào Binh chủng Nhảy Dù; trái, Phan Nhật Nam, thiếu uý Tiểu đoàn 7 Nhảy Dù 1964; phải, Tô Phạm Liệu là một bác sĩ can trường của Tiểu đoàn 11 Nhảy Dù sống sót sau trận đánh ác liệt trên đồi Charlie, Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 trên vùng cực bắc Tây Nguyên, nhưng người bạn thân thiết của Tô Phạm Liệu là Trung tá Tiểu Đoàn trưởng Nguyễn Đình Bảo thì hy sinh ở lại Charlie. Tô Phạm Liệu mất ở Mỹ ngày 29.09.1997 ở tuổi 56; [tư liệu Phan Nhật Nam]

1975-1989 tù cải tạo 14 năm qua các trại giam Miền Bắc với 2 đợt kiên giam ( 2/1979 đến 8/1980; 9/1981 đến 5/1988)

1990-1993 ra tù bị quản chế và chỉ định cư trú tại Lái Thiêu, Bình Dương Miền Nam, cũng là thời gian Nam được gần gũi với nhà báo Như Phong

1993 sang Mỹ định cư, thời gian đầu ở San Jose, rồi qua Washington D.C, Houston, Minnesota, Colorado…

Thời gian đầu tới Mỹ, có cả một chiến dịch báo chí truyền truyền thông lên án Phan Nhật Nam là Việt Cộng nằm vùng, phủ nhận cờ vàng… Giữa những ngộ nhận oan khiên, câu nói của Tô Phạm Liệu đủ làm Nam ấm lòng: “Tao biết thằng Nam từ hồi còn nhỏ, hai đứa tao cùng ở một nhà, đi học chung một trường. Nó làm sao là Việt Cộng được.”

2005-2018 hiện vẫn làm việc ở tuổi 76 và sống ở Nam California

TÁC PHẨM

Trước 1975

Dấu Binh Lửa (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1969)

Tường trình về người và chiến tranh nơi Miền Nam 1960-1968

Dọc Đường Số 1 (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970)

Trên quê hương, dọc con lộ, địa ngục có thật hằng ngày mở ra

Ải Trần Gian (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970)

Tự sự hoá qua biến cố chính trị, quân sự ở Huế, Đà Nẵng, Miền Trung 1966

Dựa Lưng Nỗi Chết (Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1971)

Thảm hoạ Xuân Mậu Thân 1968 ở Huế được viết với khung cảnh tiểu thuyết

Mùa Hè Đỏ Lửa (Nxb Sáng Tạo, Sài Gòn 1972)

Thiên hùng ca Mùa Hè của Miền Nam trong trận chiến giữ đất, bảo vệ dân

Tù Binh và Hoà Bình (Nxb Hiện Đại, Sài Gòn 1974)

Lời báo động khẩn thiết sau Hoà bình nguỵ danh từ Hiệp định Paris 1973

Mỗi tựa sách chỉ với tên nhà xuất bản đầu tiên. Bút ký chiến tranh Phan Nhật Nam được tái bản nhiều lần ở Miền Nam trước 1975 và cả ở hải ngoại sau này, riêng cuốn Mùa Hè Đỏ Lửa được tái bản tới lần thứ 30 do nhiều nhà xuất bản khác nhau và cũng hiếm khi tác giả được các nhà xuất bản thanh toán nhuận bút.

Sau 1975

Những Chuyện Cần Được Kể Lại (Nxb Tú Quỳnh, California 1995)

Đường Trường Xa Xăm (Nxb Tú Quỳnh, California 1995)

Đêm Tận Thất Thanh (Tác giả xuất bản, Houston 1997)

Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (Nxb 1997)

Mùa Đông Giữ Lửa (Tác giả xuất bản, Houston 1997)

Chuyện Dọc Đường (Nxb Sống, California 2013)

Phận Người, Vận Nước (Nxb Sống, California 2014)

Hình 3: bìa các sách Phan Nhật Nam xuất bản trước 1975, riêng bìa cuốn Tù Binh và Hoà Bình là sách tái bản ở hải ngoại 1987. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Hình 4: bìa các sách Phan Nhật Nam xuất bản sau 1975 tại hải ngoại, thực sự là từ sau 1993, thời gian Phan Nhật Nam thoát ra khỏi Việt Nam. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Tiếng Anh

Peace and Prisoner of War (Nxb Kháng Chiến, Hoa Kỳ 1987)

The Stories Must Be Told (Nxb Nắng Mới, Westminster 2002)

A Vietnam War Epilogue (Nxb Thư viện Toàn Cầu, California 2013)

Hình 5: từ trái, bìa bản tiếng Việt cuốn Tù Binh và Hoà Bình, Nxb Kháng Chiến 1987; bản tiếng Anh Peace and Prisoners of War,1989 [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Tiếng Pháp

Stigmates de Guerre (Nxb Sống, California 2016)

Un Été Embrasé (Nxb L’ Harmattan 2018)

Hình 6: từ trái, bìa tác phẩm Mùa Hè Đỏ Lửa; bìa Un Été Embrasé, bản dịch tiếng Pháp của Liễu Trương, do Nxb L’Harmattan, série Asie 2018. (dịch giả Liễu Trương đã làm luận án tiến sĩ Sorbonne với đề tài: Võ Phiến, Culture Nationale, Lectures Occidentales 2001). [tư liệu Ngô Thế Vinh]

PHAN NHẬT NAM VÀ VÕ PHIẾN

Vào tháng 7 năm 1993 cũng là năm Phan Nhật Nam tới Mỹ, trong bộ sách Văn Học Miền Nam – cuốn Ký, Võ Phiến viết:

Phan Nhật Nam, viết liên tiếp sáu cuốn ký về chiến tranh. Đọc những điều ông kể, người dân nghe chuyện lính cũng lây luôn cái phẫn nộ, cái uất hận của ông. Lòng nào nghĩ đến cái “văn” trong những tác phẩm như thế.

Mười lăm năm* của một người lính Nhảy Dù, ông làm lính xứng đáng. Mười lăm năm trong lao tù cộng sản, ông làm một tù nhân can trường… Văn nghiệp mười năm của ông phản ảnh chỗ nhiệt tâm dũng mãnh, can trường, trong cuộc sống ấy. Cái “văn” của ông là ở đó. (5)

[* theo Phan Nhật Nam, con số đúng là 14 năm lính, 14 năm tù / ghi chú của người viết]

Phan Nhật Nam khi viết cuốn Dọc Đường Số 1, cũng có tâm sự của riêng ông: “Viết vì sau 8 năm lính, chính cảnh đời vừa qua kích thích và ảnh hưởng trên tôi quá đỗi. Thôi thì viết bút ký: Viết bút ký hay là một thứ cầu kinh trong một niềm cô đơn đen đặc, viết bút ký để thấy những giọt nước mắt vô hình tuôn chảy sau bao nhiêu lần nín kín, viết bút ký như một tiếng nức nở được thoát hơi sau hàm răng nghiến chặt thấm ướt máu tươi từ đôi môi khô héo. Tôi viết bút ký như một tiếng thở dài trong đêm.” (4)

Hình 7: Phan Nhật Nam tại nhà Võ Phiến Los Angeles tháng 11.1995

[tư liệu Viễn Phố]

Dấu Binh Lửa, của Phan Nhật Nam ra mắt 1969 đã gây ngay nơi người đọc những chấn động sâu xa. Là một bút ký chiến tranh đầu tay nhưng đã cho thấy ngay bút lực của một văn tài. Coup d’ essai, coup de maître.

Một trích đoạn, câu chuyện chị Lai ở Kiến Hoà trên vùng sông nước Đồng Bằng Sông Cửu Long. Trong cuộc hành quân truy lùng VC, mấy Tiểu đoàn Dù đã đánh tan địch quân, khi ấy Phan Nhật Nam chỉ là thiếu uý mới ra trường Võ Bị Đà Lạt, chỉ huy một trung đội trong một trận đánh lớn đầu đời:

“Tôi đi vào ngôi nhà đang âm ỉ cháy, những chiếc cột lớn lỏng chỏng hỗn độn bốc khói xám…Một người đàn bà áo trắng quần đen tay ôm chiếc lẵng mây trước ngực ngồi im trên nền gạch đôi mắt nhìn thẳng ngơ ngác. Thấy chúng tôi đi vào chị ta đứng dậy, đứng thẳng người như pho tượng, như thân cây chết với đôi mắt không cảm giác… Tôi đi đến trước chị đàn bà…

– Làm gì chị ngồi đây, không biết đang đánh nhau sao?

Im lặng, đôi mắt ngơ ngác lóe lên tia nhìn sợ hãi. Bỗng nhiên chị ta đưa thẳng chiếc lẵng mây vào mặt tôi, động tác nhanh và gọn như một người tập thể dục. Sau thoáng ngạc nhiên tôi đưa tay đón lấy… Hai bộ áo quần, chiếc khăn trùm đầu, gói giấy nhỏ buộc chặt bằng dây cao su. Mở gói, hai sợi giây chuyền vàng, một đôi bông tai…

Tên lính xua tay đuổi người đàn bà đi chỗ khác. Lạnh lùng, chị ta xoay người bước đi như xác chết nhập tràng.

– Chị kia quay lại đây tôi trả cái này… – Tôi nói vọng theo.

Người đàn bà xoay lại, cũng với những bước chân im lặng, trở về đứng trước mặt tôi nhưng đôi mắt bây giờ vỡ bùng sợ hãi, vẻ hốt hỏang thảm hại làm răn rúm khuôn mặt và run đôi môi… Chị ta còn trẻ lắm, khỏang trên dưới hai bảy, hai tám tuổi, da trắng mát tự nhiên, một ít tóc xõa xuống trán làm nét mặt thêm thanh tú. Tôi đưa trả chiếc lẵng mây, chị đàn bà đưa tay đón lấy, cánh tay run rẩy như tiếng khóc bị dồn xuống. Chiếc lẵng rơi xuống đất, hai cánh tay buông xuôi mệt nhọc song song thân người. Dòng nước mắt chảy dài trên má. Tôi hươi mũi súng trước mặt chị ta:

– Ngồi đây! Tôi chỉ nòng súng vào bực tam cấp. Khi nào tụi tôi đi thì chị đi theo… Tại sao khóc, nhặt vàng lên đi chứ… – Im lặng, chỉ có nỗi im lặng kỳ quái, thân thể người đàn bà cứ run lên bần bật, nước mắt ràn rụa… Từ từ chị đưa bàn tay lên hàng nút áo trước ngực… Không! Không thể như thế được, tôi muốn nắm bàn tay kia để ngăn những ngón tay run rẩy đang mở dần những hàng nút bóp để phơi dưới nắng một phần ngực trắng hồng! Không phải như thế chị ơi… Người đàn bà đã hiểu lầm tôi… Không lấy vàng và bắt đứng lại! Chị ta không hiểu được lời nói của tôi, một người Việt Nam ở cùng trên một mảnh đất. Chị ta tưởng tôi thèm muốn thân xác và đòi hiếp dâm! Tội nghiệp cho tôi biết bao nhiêu, một tên sĩ quan hai mươi mốt tuổi làm sao có thể biết đời sống đầy máu lửa và đớn đau tủi hổ đến ngần này. Tôi đi lính chỉ với một ý nghĩ: Đi cho cùng quê hương và chấm dứt chiến tranh bằng cách góp mặt. Thê thảm biết bao nhiêu cho tôi với ngộ nhận tủi hổ này… Tôi muốn đưa tay lên gài những chiếc nút áo bật tung, muốn lau nước mắt trên mặt chị nhưng chân tay cứng ngắc hổ thẹn. Và chị nữa, người đàn bà quê thật tội nghiệp, cảnh sống nào đã đưa chị vào cơn sợ hãi mê muội để dẫn dắt những ngón tay cởi tung hàng nút áo, sẵn sàng hiến thân cho một tên lính trẻ, tuổi chỉ bằng em út, trong khi nước mắt chan hòa trên khuôn mặt đôn hậu tràn kinh hãi.

Quân rút ra khỏi làng, chị đàn bà đi theo chúng tôi, vẫn với những bước đi ngượng ngập cứng nhắc, vẫn đôi mắt nhìn vào khoảng trống không cảm giác… Quân rút ra gần đến quốc lộ, con sông bên trái đầy thuyền, hỗn độn dòng người chen chúc. Dân của vùng hành quân trốn ra từ ngày trước, tiếng người kêu la vang dội một khoảng sông, họ hỏi thăm tình trạng nhà cửa, người thân thích, người kẹt trong vùng hành quân. Tiếng khóc vang rân…

– Lai! Mày đó Lai ơi! – Bà già dưới sông mồm kêu tay ngoắc chị đàn bà theo chúng tôi. Chị ta dừng lại như để nhớ một dĩ vãng, như nhớ một khỏang sống đã đi qua… – Lai! Lai ơi, má đây con…- Chị đàn bà đứng lại xoay người về phía dòng sông… Má! Má!

Tôi thấy đôi môi run rẩy thì thầm: Nhà cháy rồi! Nhà cháy rồi! Chị ta đi lần ra phía bờ sông, cũng với những bước chân của người mất hồn, bóng áo trắng nổi hằn trên đám dừa xanh.” [Hết trích dẫn, Người Chết Dưới Chân Chúa, Dấu Binh Lửa]

Nhân có một bản dịch cuốn Dấu Binh Lửa sang tiếng Pháp: Stigmates de Guerre, Phan Nhật Nam xúc cảm viết một thư ngỏ gửi bằng hữu:

Dấu Binh Lửa sống đến nay được 48 năm (1968-2016) và người viết vượt quá tuổi 70… Quả thật là một phép lạ qua chiến tranh, khổ nạn Việt Nam từ sự tồn tại của cuốn sách đến người lính viết nên những giòng chữ đầu đời nầy trong lửa đạn Mậu Thân Huế, 1968. Nay cuốn sách được thành hình với một chữ, nghĩa khác – Pháp Ngữ, ngôn ngữ mà bản thân tôi và các bạn hằng thấm sâu từ tuổi thơ ấu ở quê nhà, mỗi người mỗi cách, mỗi cường độ vì vẻ mỹ lệ, cao quý qua âm sắc, cấu trúc, văn phong, văn ý. Quả thật bản thân tôi không hề nghĩ ra phép lạ thứ hai nầy hiện thực; và nay chuyện thần kỳ trở thành sự thật từ những giòng chữ đầu tiên của anh Phan Văn Quan, tiếp nên chuyện ở Tòa Báo Sống có sự tham dự ngẫu nhiên / một cách cố ý của Nguyễn Xuân Nghĩa, và dần hoàn chỉnh với Bồ Đại Kỳ, qua hợp tác của cô TT Tôn Nữ Phan.

Tôi không quá lời vì quả thật bản thân đang ở trong hoàn cảnh không thiết tha với bất cứ điều gì… Cho dù đây là cuốn sách viết bởi máu, nước mắt, nỗi đau có thật.

Cô Thủy Tiên sắp có mặt ở Pháp, sẽ tiếp xúc với các bạn ở bên ấy và chắc sẽ có một bản in trong năm nay – Một năm Thân như lần ra đời của nó 48 năm trước. Có một điều kỳ thú là cuốn sách có liên hệ rất cụ thể với những người gốc xứ Huế, họ Phan!

Phan Nhật Nam (1943-2016) với Mỗi Người Bạn ở Huế-Đà Nẵng-Sàigòn-Paris… và nơi nước Mỹ.

Tôi quen Phan Nhật Nam và Vũ Ngự Chiêu từ Việt Nam, nhưng có lẽ gần gũi và thân thiết hơn với Nam là trong thời gian sống ở Mỹ. Với không chút dè dặt, tôi vẫn nói với Nam: “Bút ký viết về Chiến Tranh Việt Nam trước 1975 của Phan Nhật Nam là hay nhất đối với cả hai miền Nam Bắc”.

Với một chút dư vị cay đắng, Nam nói: “Chỉ có bác nghĩ về tôi như vậy, nhưng đó không phải cái nhìn của văn giới và ngay cả với những bạn Võ Bị của tôi nữa.” Bản thân Nam đã bị đối xử khá bất công, không phải chỉ với trong nước mà kể cả với các cộng đồng ở hải ngoại.

PHAN NHẬT NAM VÀ HỮU THỈNH

Ngày đầu tháng 9, 2017 Phan Nhật Nam phone cho tôi, cho biết anh mới nhận được một thư của Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam mời về tham dự cuộc họp mặt sẽ diễn ra ở Hà Nội và một số địa phương miền Bắc, từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. Rồi qua eMail, Nam chuyển cho tôi đọc nguyên văn bức điện thư của Hữu Thỉnh.

Thư gửi nhà văn Phan Nhật Nam

Thưa Anh,

1/ Để đỡ đường đột, xin giới thiệu. Tôi là Hữu Thỉnh, người từng đọc anh đã lâu, hiện nay đang làm việc tại Hội Nhà văn Việt Nam. Tôi mới gặp Thuỵ Kha vừa ở bên ấy về, cho biết có gặp anh và hai người đã từng cùng nhau uống bia vui vẻ. Đây quả là một sự kiện bất ngờ thú vị. Với dư âm của các cuộc gặp ấy, tôi viết thư này thăm anh và bày tỏ nguyện vọng “tái bản” cuộc gặp ấy, và di chuyển nó về quê nhà với quy mô rộng hơn, thời gian dài hơn trong khuôn khổ một cuộc gặp mặt của Hội Nhà văn Việt Nam với các nhà văn Việt Nam đang sống và làm việc tại nước ngoài. Đây là một cuộc hội ngộ mà chúng tôi mong mỏi từ lâu, nay mới có thể thực hiện được. Với ý nghĩa cao cả, góp phần vào làm giàu các giá trị truyền thống của dân tộc, xứng đáng để chúng ta vượt qua mọi xa cách và trở ngại, cùng ngồi lại với nhau trong tình đồng nghiệp. Tôi chờ đợi được anh chia xẻ điều đó và chân thành mời anh tham gia sự kiện nói trên.

Anh Nam ơi, tôi muốn nói thêm rằng, chúng ta đều không còn trẻ nữa. Tôi hình dung cuộc gặp gỡ này là rất có ý nghĩa cho những năm tháng còn lại của mỗi chúng ta. Tôi cũng dự đoán rằng, có thể có những khó khăn. Nhưng từ trong sâu thẳm thiên chức nhà văn, chúng ta cùng chọn Dân Tộc làm mẫu số chung để vượt qua tất cả.

2/ Cuộc gặp mặt này dự kiến sẽ diễn ra từ 20 đến 25 tháng 10 năm 2017 tại Hà Nội và một số địa phương ở phía Bắc. Trường hợp anh Nam, Ban tổ chức sẽ lo chi phí toàn bộ đi về và thời gian tham gia Cuộc gặp mặt. Vì đây là lần đầu, còn nhiều bỡ ngỡ, xin anh vui lòng lấy vé giúp và cho biết thời gian chuyến bay để chúng tôi ra đón anh tại sân bay Nội Bài. Quá trình chuẩn bị có gì cần trao đổi, xin anh cho chúng tôi biết sớm.

3/ Ngay sau khi được hồi âm của anh, tôi sẽ gửi giấy mời chính thức cùng chương trình của Cuộc gặp mặt. Mùa Thu Hà Nội cùng những giá trị bền vững của tâm hồn Việt đang chờ đón cuộc gặp mặt của chúng ta.

Chúc anh sức khoẻ, may mắn, gia đình hạnh phúc và mong sớm nhận tin tốt lành.

Hũu Thỉnh, Hà Nội 1/9/2017

Tôi có cảm tưởng Nam khá xúc động với “mixed feelings” khi nhận được bức thư của Hữu Thỉnh. Nhiều câu hỏi đặt ra cho Nam: trả lời hay không thư Hữu Thỉnh, có nên công khai hoá bức thư, trả lời với tư cách một một người lính của Miền Nam hay một Nhà Văn. Tôi chỉ có một gợi ý với Nam: cho dù Nam chưa bao giờ nhận mình là một nhà văn mà chỉ là một người lính-viết văn, nhưng Hữu Thỉnh mời Nam với tính cách một Nhà Văn chứ không phải một người lính của Miền Nam. Thư trả lời của bạn nếu có, thì vẫn với tư cách của một người cầm bút. Và bạn có tất cả lý lẽ để trả lời Hữu Thỉnh với những dòng chữ thật cô đọng – theo một văn phong mà tôi gọi là style télégraphique / đánh điện tín. Và rồi Phan Nhật Nam cũng cho tôi đọc bản thảo bức điện thư gửi Hữu Thỉnh trước khi gửi đi. Tôi chỉ nói với Nam: “Dù bạn muốn hay không, thì những dòng chữ này đã trở thành một phần của lịch sử.”

Thư gửi ông Hữu Thỉnh

Hội Nhà Văn Hà Nội

[Qua địa chỉ điện thư cô Đào Kim Hoa

Phụ tá Ngoại vụ Hội Nhà văn]

Tôi, Phan Nhật Nam, nguyên là một sĩ quan cấp Đại Uý Hiện Dịch Thực Thụ thuộc Sư Đoàn Nhảy Dù Quân Lực VNCH gởi đến ông Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hà Nội để trả lời thư ngày 1 tháng 9, 2017 qua điện thư của cô Đào Kim Hoa.

1/ Từ vị thế một quân nhân thuộc đơn vị tác chiến của Quân lực Miền Nam như trên vừa kể ra, với tính khách quan, độc lập của người không liên hệ đối với sinh hoạt của giới văn hoá, học thuật trong nước, ở Hà Nội trước, sau 1975. Tôi có thư này để trả lời mời gọi của ông Hữu Thỉnh đã trực tiếp gửi tới cá nhân tôi nhằm thực hiện tiến trình gọi là “Hoà Hợp Hoà Giải.” Câu trả lời trước tiên, dứt khoát là: Tôi xin được hoàn toàn từ chối sự mời gọi vì những lẽ…

2/ Là một người sinh trưởng từ thập niên 1940, tiếp sống qua hai cuộc chiến 1945-1954; 1960-1975, thực tế lịch sử, chiến tranh, xã hội Việt Nam trước, sau 1975 đã cho người lính chúng tôi xác chứng: không hề có chủ trương hoà hợp hoà giải từ người / chủ nghĩa / chế độ cộng sản trong lý thuyết cũng như qua sách lược hành động.

3/ Từ thực tiễn của # 2 thêm kinh nghiệm mà bản thân cá nhân là một đối tượng thụ nạn của thành phần gọi là “Nguỵ Quân-Nguỵ Quyền” thuộc chế độ Quốc Gia Việt Nam (1948-1954); Việt Nam Cộng Hoà (1955-1975) đến hôm nay vẫn tiếp tục bị miệt thị, xuyên tạc và triệt hạ dẫu chiến tranh đã chấm dứt từ 1975.

4/ Trong tình thế chung nhất của # 2, # 3, chắc chắn rằng không thể nào thực hiện được “Hoà Hợp Hoà Giải” như ông Hữu Thỉnh đề nghị ! Cũng bởi, giới Nhà Văn chính là đối tượng hàng đầu bị bách hại đối với tất cả chế độ cộng sản Đông-Tây. Lịch sử đẫm máu của 100 năm chế độ cộng sản từ 1917 đến nay như một vũng tối ghê rợn phủ chụp lên lương tri nhân loại. Hỏi thử cuộc họp mặt tháng 10 tại Hà Nội (cho dẫu thực lòng đi nữa) sẽ gây được tác dụng gì? Nhà Văn? Nhà Văn Việt Nam đích thực là những ai? Nhưng đây không phải là vấn đề của cá nhân tôi – Trước sau chỉ là một Người Lính-Viết Văn. Cũng bởi tôi chưa hề nhận Chứng Chỉ Giải Ngũ của Bộ Quốc Phòng / VNCH cho dù đã không mặc quân phục từ 1975.

5/ Hãy nhìn lại… Thương phế binh VNCH là những lão nhân phế binh, thương trận đã không được sống với dạng Con Người từ 30 Tháng 4, 1975. Hãy để cho Người Lính VNCH còn sống sót và gia đình được trở lại Miền Nam sửa sang phần mộ Chiến Hữu nơi Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hoà là nơi giới cầm quyền Hà Nội chủ trương phá bỏ một cách có hệ thống, dẫu người chết gần nửa thế kỷ qua không thể nào đe doạ đối với Chế độ XHCN!

Xin hãy “Hoà Hợp Hoà Giải” với những người đã chết. Với những người đang sống sau thảm hoạ Formosa, Nghệ An. Hãy hoà hợp hoà giải với “Khúc ruột ở trong nước” trước. Khi ấy không cần mời, chúng tôi “Khúc ruột ngàn dặm” sẽ về. Về rất đông. Người Viết Văn – Lương Tri và Chứng Nhân của Thời Đại sẽ về. Tất cả cùng về Việt Nam.

Kính thư,

Người Lính – Viết Văn

Công Dân Mỹ gốc Việt

Phan Nhật Nam

Washington DC, 9 tháng 9, 2017

Hình 8: tranh hí hoạ của Babui Mamburao 9/2017 nhân sự kiện Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam Hữu Thỉnh mời nhà văn Phan Nhật Nam, tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa về tham dự cuộc họp mặt ở Hà Nội và một số địa phương miền Bắc từ ngày 20 đến 25 tháng 10 năm 2017. [nguồn: Đàn Chim Việt]

Bức thư của Phan Nhật Nam trả lời ông Chủ Tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh, đã gây nhiều phản ứng khác nhau kể cả nhiều chỉ trích. Nhưng từ lâu như đã được “miễn nhiễm” và Nam thì rất “lì đòn”.

Một bà cô của Nam tuổi gần 90 từ Canada, có chồng là Đại tá VNCH chết trong trận Lam Sơn 719 Hạ Lào, không rõ thực hư bà cũng nghi hoặc hỏi Nam: “O nghe con đi Hà Nội phải không? Nam trả lời là không, nhưng bà vẫn nói tiếp: Nếu quả thật con đi thì làm sao dượng con chết nhắm mắt cho được.”

Nhưng có lẽ, hạnh phúc đầy đủ nhất với Phan Nhật Nam là coup phone nhận được từ một đệ tử cũ, trung sĩ vác máy truyền tin theo Nam khi còn ở Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù, có biệt danh là Hiền rỗ hiện còn sống ở Hố Nai Biên Hoà: “Tụi em vô cùng ấm lòng với câu trả lời không của đích thân.” Người lính Nhảy Dù vẫn quen gọi cấp chỉ huy của mình là đích thân. Hiền muốn nói tới bức thư Phan Nhật Nam trả lời Chủ tịch Hội Nhà Văn Hữu Thỉnh từ chối lời mời về Hà Nội. Những người lính Miền Nam cho dù có bị đầy đoạ khổ cực từ bao năm nhưng như từ bao giờ, ngọn lửa ấm kiêu hãnh vẫn chưa bao giờ tắt trong lòng họ.

VẪN NHỮNG CON SỐ LUÔN ÁM ẢNH

Phan Nhật Nam có một trí nhớ kỳ lạ về các sự kiện và những con số, và mỗi con số đều có riêng một ý nghĩa trong cuộc đời Nam. Phải chăng đó là hậu chứng của những ngày tháng dài đẵng đếm lịch trong tù của Phan Nhật Nam?

Chỉ riêng tháng 6 thôi, Nam nhớ như in các sự kiện với những con số: 11.06.1963 ngày Thích Quảng Đức tự thiêu; ngày 11.06.1965 kết thúc trận đánh Đồng Xoài; rồi 19.06.1965 ngày Quân Lực.

Sắp tới Ngày Quân Lực 19 tháng 06, Nam viết eMail cho một người bạn bên TQLC:

Bác TV Cấp ơi, Quả thật tôi viết không nổi, đọc không xuống trong những ngày nầy, lại thêm nhớ Ngày Quân Lực, 19/6/2018 sắp tới – Ngày ấy, năm 1965, tôi và bác (mấy ông K.19) mới qua tuổi 20. Tôi chưa hoàn hồn về lần Trần Trí Dũng chết ( cùng các Anh Trần Văn Ký, Á Khoa 17; TTrg Hợp Khoá 14), Đoàn Phương Hải bị thương, Lâm Văn Rớt bị bắt.. Tiểu đoàn 7 ND chết bị thương 14 sĩ quan, từ tiểu đoàn trưởng đến trung đội trưởng chỉ mấy tiếng đồng hồ Trận Đồng Xoài (11/6/65)

Tôi chỉ biết ngồi ôm mấy trẻ con lính ra khóc ở văn phòng đại đội (là viên thiếu úy còn sống sót của ĐĐ72). Ra Biên Hòa thấy thêm cảnh vợ con lính của Tiểu Đoàn 52 BĐQ; Tiểu Đoàn 2/7/SĐ5BB (Sư Đoàn 5 của Đại tá Thiệu) trước 1964 cũng đóng ở Biên Hòa.

Tình cảnh đau thương của TĐ7ND; 52 BĐQ; 2/7/SĐ5BB… năm 1965 so với nguy nan tan nát của đất nước ngày nay đâu thấm vào đâu?!

Người Lính VNCH làm gì? Tôi chỉ muốn cầm một trái lựu đạn về Sài Gòn thôi!

Thiếu úy Phan Nhật Nam K.18/TVBQGVN/Tiểu Đoàn 7 ND, KBC 4919

Như một chu kỳ của con số 14, ngay cả tên Nam – mẫu tự N cũng ở thứ tự số 14. Trong bức thư chuẩn bị chia tay với các bạn đồng sự trong đài SBTN, có đoạn Nam viết: “Tôi đi lính 14 năm (1961-1975), tôi đi tù 14 năm (1975-1989) và nay cũng đã 14 năm, tôi rời SBTN. Đời sống chỉ là màn hợp tan không ai có thể lường được. Vậy chúng ta tạm chia tay”.

Như bỗng chốc, trong thời gian gần đây Phan Nhật Nam chợt thấy những ngày tháng bonus còn lại cho dù có kéo dài thêm nữa cũng không còn mang một ý nghĩa nào. Và rồi từng bước, từng bước Phan Nhật Nam thản nhiên chuẩn bị một kết thúc ý nghĩa cho cuộc đời mình.

11.06.1963 ngày Thích Quảng Đức tự thiêu như một ám ảnh với Nam. Nam vẫn nghĩ rằng, chưa bao giờ anh có ý tưởng tự vẫn / suicide mà Nam cho là một trốn chạy. Không có nỗi sợ hãi nào khiến anh phải trốn chạy. Nhưng anh cũng không nhận đó là một tự thiêu / self-immolation… và anh khẳng định đó cũng không phải là một tự vẫn chính trị / political suicide mà là một nghi thức/ ritualistic của sự hoá thân / metamorphose trong ngọn lửa để đánh động cái mà Nam muốn gọi là lương tâm của thời đại. Bước hoá thân đó cần tới hùng tâm và một quyết định đương đầu can đảm. Vẫn theo Nam, với quan điểm của Nhà Phật, đời sống không phải chỉ giới hạn trong sự tồn tại của nhục thân… Phan Nhật Nam đã thảo một tâm thư như một di bút, gửi tới Đức Giáo Hoàng, Đức Đạt Lai Lạt Ma, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, bao gồm cả hai thủ lãnh chính trị thế giới là Tổng Thống Mỹ và Chủ Tịch Nhà Nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa…

MỘT CHUẨN BỊ BÌNH THẢN VÀ CHU ĐÁO

Bây giờ thì Phan Nhật Nam đang ở Arizona. Nói chuyện qua phone, giữa lúc đang diễn ra trận chung kết World Cup bóng đá 15.07.2018 giữa hai đội Croatia và Pháp. Nam hầu như hoàn toàn không biết và cũng không quan tâm gì tới sự kiện thể thao hành tinh này. Hình như trong nhà chỉ có một mình Nam, anh đang tĩnh tâm trong một căn phòng im vắng. Các con đều đi làm, ra khỏi nhà.

Hầu như không ai biết, chỉ mới hai tuần trước đây thôi, Phan Nhật Nam đã tới rất gần đường ranh của con dốc tử sinh. Nam đã rất chu đáo và thản nhiên chuẩn bị cho một kết thúc tự nguyện.

Một ngày sau ngày Quân Lực 19.06.2018, sáng nay Nam vẫn lái xe tới đài SBTN. Thường thì anh làm việc ở nhà, gửi bài qua internet và chỉ vào đài khi có một chương trình thu hình hay Talk show với Kim Nhung. Hôm nay không có một chương trình thu hình như vậy, không có hẹn nhưng anh vẫn tới. Đi một vòng, như mọi lần Nam tươi cười chào hỏi mọi người. Và rồi anh tìm gặp được một cậu đàn em cũng tên Nam. Anh nhờ Nam cùng đi tới Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, trên đường All American Way, với lý do “thực hiện một video clip ngắn về sinh hoạt cộng đồng” . Hồn nhiên, cậu đàn em đem theo một video camera gọn nhẹ đi với Phan Nhật Nam.

Tới nơi, thấy ông anh xuống xe, ra mở cốp sau xe lấy ra một lá cờ VNCH, một bình nhựa đỏ 5 gallons bốc mùi xăng. Hiểu ngay điều gì sắp xảy ra, thất sắc, cậu ấy nói lớn tiếng với Phan Nhật Nam “Anh ơi, đâu có được. Em là người Công giáo, sống chết là do tay Chúa, em đâu có thể để anh làm chuyện này. Anh không ngưng ngay là em la lên, bót Cảnh sát ở phía trước.

Trước tình huống này, biết dự định đã không thành, Nam không có phản ứng gì và lại bình thản lên xe đưa cậu em trở về đài. Sau đó, như không có chuyện gì xảy ra, Nam tự lái xe trên đường về nhà. Nam nẩy ý muốn tìm nhiếp ảnh viên Trương Tuấn, một cậu em giang hồ khác mà Nam biết chắc là Tuấn sẵn sàng nghe Nam làm bất cứ chuyện gì, nhưng rồi không kiếm đâu ra cái cell phone mà từ sáng anh mang sẵn bên mình với lời dặn cuối cùng cho hai con ở Arizona.

Ngày 30.06.2018, Nam vẫn đi dự đại hội cựu học sinh Phan Chu Trinh Đà Nẵng. Gặp lại các bạn cũ, Nam đã không có nhiều cảm xúc.

Trở về nơi căn chung cư trên lầu 8, cũng trên Đường Số 1 như một flashback khiến Nam lại nhớ tới Dọc Đường Số 1 ngày nào.

Và rồi hai ngày sau đó, ngày 2 tháng 7, chuẩn bị lái xe đưa bạn đi thăm thầy cũ ở San Diego, Nam chợt thấy trên bảng đồng hồ xe / dashboard có báo hiệu đèn vàng, không biết chuyện gì, Nam rẽ qua một garage đàn em. Cậu ấy cho biết, đèn báo hiệu có thể là do một bánh xe bị xẹp. Lại thấy có mùi xăng bốc ra, cậu ấy mở cốp sau và la Nam: “Trời nóng cả trăm độ, chú để bình xăng sau xe có thể cháy nổ bất cứ lúc nào, như vậy đâu có được!” Nam lấy cớ sắp đi xa xuống San Diego, sợ thiếu xăng nên đem theo xăng secours.” Cậu ấy vừa vá lốp xe và vừa giúp Nam đổ cả 5 gallons xăng-super vào bình xăng xe.

Dự định không thành, lần này Nam chỉ đổ tại ý Chúa Thánh Linh chưa cho phép anh được bước ra khỏi ải trần gian này.

Rồi bỗng cơ thể Nam bắt đầu có những biểu hiện bất thường, người anh như bị cứng lại, đau ran bên ngực trái và tim gần như nghẽn lại không đập nổi nữa. Nam tới phòng mạch Bs Nguyễn Ngọc Kỳ, là một đàn anh bên Không quân và cũng là bác sĩ gia đình của Nam trong nhiều năm. Anh Kỳ cho Nam nhập viện khẩn cấp. Hai ngày nằm viện, với mọi thử nghiệm về tim mạch và tổng trạng đều rất tốt. Và Nam được xuất viện. Nam nhớ rất rõ, từ ngày sang Mỹ có lẽ đây là lần thứ tư anh bị một hội chứng tim mạch như vậy. Sau đó, để có một không khí gia đình, Nam bay sang Arizona sống với hai con và cũng để có mấy ngày tĩnh tâm.

Qua phone, Nam kể lại là đêm qua, mấy đứa con thấy đầu bố Nam sáng lên và thấy có cả một bông sen vàng trên trán bố. Phan Nhật Nam có xác tín về một hiện tượng mà anh rất tin là có thật này.

Không muốn đụng tới đức tin của bạn, nhưng tôi vẫn nghĩ theo khía cạnh y khoa: đây là một ảo giác / delusional không phải là hiếm gặp nơi nhóm bệnh nhân Cựu Chiến Binh Việt Nam/ Vietnam Vets trong mấy chục năm qua mà tôi thường gặp.

Trưa 20.07, anh Phạm Phú Minh Diễn Đàn Thế Kỷ sau khi dự cuộc triển lãm tranh của Hs Nguyễn Đình Thuần từ hội trường Việt Báo về, biết tôi quen thân với Phan Nhật Nam, anh PPMinh, viết một eMail cho tôi:

Anh Vinh,

Phòng tranh của Nguyễn Đình Thuần trưa nay có nhiều văn nhân tài tử, lâu lâu được gặp cũng vui. Tuần trước tôi gửi mail cho Nam chúc mừng quyển Mùa Hè Đỏ Lửa được dịch sang tiếng Pháp, thì nhận được trả lời rất vắn tắt của Nam nói rằng mình đang ở một chỗ rất xa. Nay gặp mới biết chỗ ấy là bệnh viện. Sau đại hội cựu học sinh Phan Chu Trinh Đà Nẵng thì đột nhiên Nam bị cứng cả người, và theo lời Nam, trái tim gần như đập không nổi nữa. Đưa vào bệnh viện cấp cứu, người ta khám hết cả người kể cả Nuclear Stress Test thì không thấy bệnh tật gì hết, mọi thứ rất tốt. Có vẻ là do một dồn nén tâm lý sao đó mà gây khó khăn cho tim. Theo tôi thấy thì Nam hoàn toàn trở lại bình thường, có cho tôi xem bức ảnh chụp trong bệnh viện có một quần ánh sáng trên trán.

Phan Nhật Nam có văn tài, và cũng có vài cái tật vui vui. Tôi rất quý tài năng, và có khuynh hướng quên đi phần còn lại. Hôm qua Nam nói nhiều về chị Liễu Trương với tác phẩm Albert Camus. Rất vui, chuyện nào cũng tích cực. Nếu anh có viết về Phan Nhật Nam thì nên công bố, tôi rất mong điều đó. Nam cho biết chưa nhận được bản dịch Mùa Hè Đỏ Lửa, do nhà xuất bản gửi. Như vậy hiện nay ở Mỹ chỉ có anh Vinh là có Un Été Embrasé, chắc do dịch giả gửi. Còn tôi giữa tháng Tám LH từ Pháp mới mang sách về.

Hằng ngày tôi vẫn thường cảm thấy rất mệt, một tình trạng chưa thấy lối ra.

PPMinh 20.07.2018

Phạm Phú Minh cũng trải qua 13 năm tù, có giai đoạn bị giam nơi trại Thanh Cẩm, Thanh Hoá. Năm 1983 sau khi Phạm Phú Minh được đưa vào một trại ở miền Nam, Phan Nhật Nam đã được chuyển tới trại Thanh Cẩm.

Anh Phạm Phú Minh bị một Hội chứng Mệt Mỏi Kinh niên / Chronic Fatigue Syndrome trong nhiều năm, mà không có một chẩn đoán bệnh lý nào rõ rệt. Nếu bảo rằng, đó là triệu chứng của PTSD thì chắc chắn anh ấy phủ nhận và cả không tin.

Hình 9: trái, lá quốc kỳ VNCH lớn; phải: chiếc bình nhựa 5 gallons xăng để sau cốp xe trên đường tới Tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, trên đường All American Way, ngày 20.06.2018, Westminster.

Hình 10: Phan Nhật Nam nhập viện ngày 02.07.2018, do đau ngực / chest pain, rối loạn tim mạch và cao huyết áp. Trên tấm hình, Nam vẫn nhìn thấy có một bông Sen Vàng đang toả sáng trên trán, như một “huệ nhãn” mà riêng anh có được. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Hình 11: trái, một đoạn thơ của Phan Nhật Nam trong Đêm Tận Thất Thanh (1997); phải: mấy dòng di bút dặn dò người quản lý chung cư Flower Park Plaza, # 812 là số phòng của Phan Nhật Nam. Cũng Chung cư này, trên lầu 10 là nơi nhà thơ Nguyễn Chí Thiện sống những ngày tháng cuối đời. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

VẾT THƯƠNG KHÔNG CHẢY MÁU

PTSD / Post Traumatic Stress Disorder là một hội chứng rối loạn hậu chấn thương – là dạng chấn thương tâm lý, rất thường gặp nơi các cựu chiến binh, và cả thường dân do phải trải qua, chứng kiến cảnh chết chóc tàn phá ngoài chiến trận hay bị tù đầy. Phan Nhật Nam, một sĩ quan tác chiến, rồi là một phóng viên chiến tranh, và hơn thế nữa với 14 năm tù bao gồm cả bị gông cùm biệt giam, Nam tuy là kẻ sống sót / survivor như một phép lạ nhưng cơ thể đã mang đầy thương tích – với những vết thương không chảy máu [Wounds Don’t Bleed].

Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, PTSD chưa hề là một chẩn đoán y khoa được chấp nhận một cách phổ quát. Cho tới khi đám cựu chiến binh Mỹ tham dự các cuộc viễn chinh từ Irak, Afghnistan trở về thì ngoài số thương vong do vũ khí súng đạn, còn có hiện tượng con số tự tử gia tăng rất bất thường tới mức báo động, đưa tới nhiều cuộc nghiên cứu và kết quả PTSD được chính thức công nhận là một thực thể “chẩn đoán bệnh lý / medical diagnosis” từ hơn 3 thập niên qua [từ 1980]. Đó là một hội chứng phức tạp và biến thiên qua từng cá nhân, có thể kể: sự tái trải nghiệm / re-experiencing: những cơn ác mộng, những hồi tưởng / flashbacks, những ám ảnh về chấn thương / unwanted thoughts of the traumatic events. Tất cả dẫn tới sự quá mẫn cảm / hyper-vigilance, dễ giận dữ / anger, dẫn tới sự né tránh / avoidance, tự cô lập / isolation, và cả hoang tưởng / paranoia.

Nhiều năm làm việc trong một bệnh viện cựu chiến binh, có thể nói đây là một trải nghiệm không phải không thường gặp. Không ít cựu chiến binh với nhiều kiêu hãnh – trong đó có Phan Nhật Nam, cho dù có tất cả triệu chứng điển hình của PTSD nhưng vẫn chối từ / denial, không muốn chấp nhận hay nhắc tới thực trạng ấy cho đó có thể là biểu hiện của sự yếu đuối / weakness, trong khi đó thực sự là những vết thương chiến trận / combat wound cho dù không chảy máu, cùng với những vết thương của tra tấn và tù đày đang âm thầm tàn phá con người Phan Nhật Nam một cách toàn diện.

Bề ngoài là một tâm lý ổn định nhưng đó chỉ là kết quả của của những dồn nén cảm xúc vào vùng vô thức, để rồi chỉ còn là những biểu hiện trên thân xác mà từ y khoa gọi là somatization như: các triệu chứng rối loạn tim mạch, thần kinh hay về tiêu hoá… mà không giải thích được bằng những phương pháp chẩn đoán bệnh lý thông thường, và những biểu hiện đó rõ nét hơn khi tình trạng căng thẳng / stress gia tăng.

Hình 12: trái, Phan Nhật Nam đứng nhìn xuống từ lầu 8; phải, Phan Nhật Nam và những chứng vật: một lá cờ vàng lớn, một bình đựng xăng 5 gallons và hai hộp quẹt gas. Nam lúc này như một robot, buông xả, không cảm xúc, anh để mặc tôi trong căn phòng chung cư của anh và rất vô thức, anh cứ tuần tự làm theo những điều tôi yêu cầu. Trong phòng Nam, ngoài trang thờ cúng gia tiên với di ảnh của Mẹ – bà chết rất trẻ ở tuổi 39, còn có bàn thờ Phật và cả một bàn thờ Chúa, cùng với hình của Cha Trương Bửu Diệp. [photo by Ngô Thế Vinh]

RŨ BỎ KÝ ỨC: KÝ ỨC NGƯỜI

Phan Nhật Nam không thể khác được chừng nào anh chưa thoát ra khỏi vũng lầy của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, mà anh “là kẻ sống sót.”

Bất cứ ở đâu và bao giờ, với quan điểm y khoa, Phan Nhật Nam luôn luôn là một bệnh nhân với rủi ro cao / high risk patient, sau một lần tự thiêu bất thành / unccessful suicidal attempt, mà Nam phủ nhận chỉ muốn gọi đó là một chọn lựa hoá thân, không biết bao giờ nhưng rồi sẽ có một lần thứ hai, thứ ba… và tới một lúc nào đó, không hề là bất ngờ Nam sẽ thành công chọn được một bước ra đi cho mình, để ra khỏi Ải Trần Gian này.

Phan Nhật Nam là một khuôn mặt của cộng đồng. Với tôi anh là một người bạn, nhưng với nhãn quan của y khoa anh cũng là một người bệnh đầy rủi ro. Tôi tôn trọng quyền riêng tư của anh nhưng vẫn muốn công khai hoá sự kiện mới đây; về phương diện tâm lý học có thể đây cũng là một bước điều trị khử nhạy / desensitization đối với những tình thế thử thách có thể đưa tới những phản ứng xúc động quá đáng hay không hợp lý, và dần dà người bệnh giải toả được một số những phản ứng tiêu cực và thay thế bằng sự thư giãn.

Đó như một bước phòng ngừa thứ cấp / secondary prevention thay vì đến một lúc nào đó, có thể là quá trễ để phải chứng kiến một sự đã rồi / fait accompli và chỉ còn là sự hối tiếc để viết một lời ai điếu / requiem.

Chính sự quá thản nhiên của Nam khiến tôi càng quan tâm. Tôi cũng rất cân nhắc và cả trách nhiệm với Phan Nhật Nam, khi viết về sự kiện này; cùng với một lời tạ lỗi nếu những điều viết ra khiến bạn tôi chỉ thêm nặng lòng.

NGÔ THẾ VINH

Sài Gòn 1963 – California 2018

Tham Khảo

1/ Súng Đạn Nào Giải Quyết Được khổ Đau. Lưu Diệu Vân Phỏng vấn nhà văn Phan Nhật Nam. Thời Báo 30.04.2018

2/ Gặp Phan Nhật Nam trên Quốc Lộ 1. Trần Vũ, Tạp Chí Hợp Lưu 10.08.2013

2/ Bút Ký Irina, Tập I. Phan Nhật Nam, pp.86-90, Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ 1992

3/ Như Phong, Gió Vẫn Thổi. Phan Nhật Nam. Tưởng Niệm Nhà Báo Như Phong. Nxb Viet Ecology Press & Người Việt Books 2016

4/ Dọc Đường Số 1. Phan Nhật Nam, Nxb Đại Ngã, Sài Gòn 1970

5/ Văn Học Miền Nam, Ký. Võ Phiến, Nxb Văn Nghệ 1999