"Alexandre Yersin Award for outstanding medical publication"

Hội Y khoa Thụy Sĩ – Việt Nam (HELVIETMED) hân hạnh thông báo 4 nhà khoa học được trao giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc. Các nhà khoa học được trao giải là Bs. Vương Ngọc Lan và cộng sự, thuộc Trường Đại học Y Dược TPHCM; Bs Hà Tấn Đức, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ; Bs Hồ Phạm Thục Lan và cộng sự thuộc Đại học Tôn Đức Thắng; và Bs Ngô Tất Trung và cộng sự thuộc Bệnh viện 108, Hà Nội. Mỗi nhóm khoa học sẽ được trao 30 triệu đồng và một chứng nhận về thành tựu nghiên cứu.

Giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc là một sáng kiến của HELVIETMED để ghi nhận đóng góp của các nhà khoa học Việt Nam cho y văn quốc tế. Qua công bố quốc tế, họ giúp xây dựng uy danh của Việt Nam trong cộng đồng khoa học thế giới. Một mục tiêu khác của Giải thưởng Alexandre Yersin là cổ vũ hợp tác nghiên cứu cấp quốc gia và quốc tế nhằm cải thiện phẩm chất chăm sóc bệnh nhân. Giải thưởng đầu tiên được trao cho những công trình đã công bố trong 5 năm qua.

Mỗi công trình nghiên cứu được đánh giá qua 5 tiêu chuẩn: phẩm chất khoa học, tầm ảnh hưởng trong lâm sàng, ảnh hưởng trong khoa học, tính cách tân, và uy danh của tập san khoa học. Giải thưởng Alexandre Yersin chỉ dành cho công trình nghiên cứu được thực hiện ở Việt Nam bởi nhà khoa học Việt Nam chủ trì. Hội đồng thẩm định bao gồm 7 giáo sư và bác sĩ từ Thụy Sĩ, Pháp, và Úc, dưới sự chủ trì của tôi. (Dĩ nhiên, tôi không tham gia đánh giá các công trình tôi có liên quan gián tiếp hay trực tiếp).

Lễ trao giải thưởng đã được tổ chức ở Khách sạn Prince (Sài Gòn) vào ngày 27/7/2017. Tôi có vinh hạnh tham gia buổi lễ thân mật nhưng trang trọng. Ngoài những ý nghĩa khoa học, tôi nghĩ giải thưởng Alexandre Yersin for Outstanding Publication (AYOP) còn mang nặng nghĩa tình.

Nghĩa tình của các đồng nghiệp trong y giới ở nước ngoài, mà cụ thể là Thuỵ Sĩ, với các đồng nghiệp trong nước. Các bác sĩ và nhà khoa học ở Thuỵ Sĩ dù đã thành danh vẫn nghĩ về quê nhà và các đồng nghiệp bên nhà. Họ ngồi lại với nhau, đóng góp tài chánh, và thiết lập một giải thưởng đầy ý nghĩa. Ý nghĩa khoa học là nâng cao năng lực khoa học ở trong nước, xiển dương những công trình nghiên cứu vừa cách tân vừa có ảnh hưởng. Ở nước ngoài chúng tôi không làm được, nhưng các bạn ở trong nước làm được, và chúng tôi muốn khuyến khích, ghi nhận, xiển dương và … vỗ tay. Tình nghĩa là vậy.

Giải thưởng tuy không có giá trị bạc triệu, nhưng tấm lòng của các bạn Thuỵ Sĩ là bạc tỉ, giống như lá cờ Chữ Thập Đỏ của Thuỵ Sĩ vậy.

Tôi là “người ngoài” (hiểu theo nghĩa là dân Úc) nhưng hoá ra lại là người trong cuộc. Khi các bạn ấy mời tôi tham dự trong vai trò “chair” cho giải thưởng, tôi vừa thấy cái hay vừa ngạc nhiên. Ngạc nhiên là vì cộng đồng y khoa gốc Việt bên Thuỵ Sĩ không đông như bên Mĩ hay Úc, nhưng họ có ý tưởng rất tiền phong. Thế là tôi vinh hạnh góp một tay cùng các đồng nghiệp bên Thuỵ Sĩ để bày tỏ một tấm lòng đến các bạn trong nước qua giải AYOP.

Các bạn được trao giải thưởng ngày hôm qua đều là những tấm gương. Tấm gương tận tuỵ với khoa học và hợp tác khoa học. Đáng lí ra tất cả các bạn đều được giải, nhưng vì tài lực có hạn nên chỉ chọn được các bạn đại diện. Các bạn là đại diện cho khoa học Việt Nam ngày hôm nay và tương lai. Nói ra thì có vẻ to tát, nhưng sự thật là vậy. Một lần nữa, xin chúc mừng các bạn đã được chọn trao giải!

Vài hình ảnh hôm trao giải thưởng ở Sài Gòn (27/7/2018):

MC khai mạc buổi lễ trao giải thưởng Alexandre Yersin for Outstanding Publication

Ông Tổng lãnh sự Thuỵ Sĩ Othmar Hardegger phát biểu khai mạc.

Bác sĩ Nguyễn Quân-Vinh, chủ tịch Hội Y khoa Thuỵ Sĩ – Việt Nam phát biểu.

Tôi trong tư cách chair của hội đồng phát biểu về tiêu chuẩn của giải thưởng.

Bs Hồ Mạnh Tường nhận giải thưởng cho công trình được công bố trên Tập san New England Journal of Medicine.

Bác sĩ Hồ Phạm Thục Lan nhận giải thưởng cho công trình trên Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism

Bác sĩ Hà Tấn Đức và PGS Phạm Thị Ngọc Thảo nhận giải thưởng cho công trình trên Nature Scientific Reports.

Tiến sĩ Ngô Tất Trung và PGS Lê Hữu Song (bệnh viện 108) nhận giải thưởng cho công trình trên BMC Infectious Diseases.

Ông tổng lãnh sự nói lời cám ơn tôi.

Chụp hình kỉ niệm với một số bác sĩ đến tham dự buổi lễ trao giải.

Tóm lược các công trình nghiên cứu được trao giải

Bs. Vương Thị Ngọc Lan và đồng nghiệp: Thụ tinh trong ống nghiệm: Chuyển phôi tươi và chuyển phôi đông lạnh có hiệu quả như nhau (New England Journal of Medicine 2018;378:137-147)

Thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON) được thực hiện thành công đầu tiên trên giới vào năm 1978. Có hai cách để thực hiện TTTON: chuyển phôi tươi và đông lạnh phôi. Trước đây, có quan điểm cho rằng đông lạnh phôi có thể dẫn đến hiệu quả điều trị thấp, và do đó, chuyển phôi tươi thường được ưa chuộng trong TTTON. Tuy nhiên, chưa có đủ bằng chứng để khẳng định chuyển phôi tươi hay đông lạnh phôi có hiệu qua hơn.

Để trả lời câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu ở Bệnh viện Mỹ Đức kết hợp với các nghiên cứu viên từ Đại học Y Dược TPHCM và Đại học Adelaide (Úc) đã thực hiện một nghiên cứu lâm sàng đối chứng để so sánh hiệu quả thụ tinh giữa chuyển phôi tươi và đông lạnh phôi. Nghiên cứu được thực hiện trên 782 phụ nữ, và họ được chia thành hai nhóm một cách ngẫu nhiên: nhóm chuyển phôi tươi (391 phụ nữ) bà nhóm đông lạnh phôi (391 phụ nữ).

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ trẻ sinh [còn sống] trong nhóm chuyển phôi tươi là khoảng 35%, và nhóm đông lạnh phôi là 36%. Nói cách khác, tỉ lệ trẻ sinh giữa hai nhóm tương đương nhau. Tuy nhiên, nhóm chuyển phôi tươi có thời gian có thai sớm hơn 1 tháng so với nhóm đông lạnh phôi. Kết quả nghiên cứu được công bố trên tập san New England Journal of Medicine, một trong những tập san y học uy tín nhất trên thế giới hiện nay.

Ý nghĩa của nghiên cứu là việc chuyển phôi tươi và trữ lạnh phôi có hiệu quả như nhau. Do đó, các cặp vợ chồng hiếm muộn không cần chuyển nhiều phôi tươi một lúc mà có thể giảm số phôi chuyển xuống, số còn dư được đông lạnh để sử dụng sau đó, tránh việc phải kích thích buồng trứng trở lại nếu thất bại. Ngoài ra, việc giảm số phôi chuyển cũng giúp giảm biến chứng đa thai, hạn chế các biến chứng trong thai kỳ, sức khỏe của mẹ và bé. Ngược lại, các bác sĩ cũng không nên bỏ việc chuyển phôi tươi vì sẽ làm kéo dài thời gian từ bắt đầu điều trị đến có thai của bệnh nhân. Mỗi năm trên thế giới có hơn 2 triệu cặp vợ chồng làm TTTON. Đây là một trong những nghiên cứu quan trọng, góp phần làm thay đổi phác đồ TTTON trên thế giới.

Bs Hà Tấn Đức và đồng nghiệp: Xây dựng mô hình tiên lượng tử vong ở bệnh nhân cấp cứu (Scientific Reports 2017;7:46474)

Khoa cấp cứu tại các bệnh viện Việt Nam thường xuyên bị quá tải do số lượng bệnh nhân đông, bệnh lý đa dạng, và thiếu nhân lực phục vụ. Bệnh nhân cấp cứu thường có nguy cơ tử vong cao; những bệnh nhân còn sống có nguy cơ biến chứng cao. Một trong những khó khăn và thách thức là làm thế nào để nhận ra những bệnh nhân có nguy cơ cao để ưu tiên hóa điều trị và giảm tử vong. Mặc dù các bác sĩ có kinh nghiệm cao có thể nhận dạng bệnh nhân có nguy cơ cao, nhưng đánh giá của họ thường không nhất quán và thiếu chính xác.

Bác sĩ Hà Tấn Đức và đồng nghiệp (Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ) đã thực hiện một nghiên cứu vừa công phu vừa qui mô để xác định các yếu tố có liên quan đến tử vong, và từ đó xây dựng mô hình tiên lượng. Nghiên cứu được thực hiện trên 2175 bệnh nhân cấp cứu ở Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ. Tỷ lệ tử vong trong vòng 30 ngày là khoảng 10%. Các yếu tố liên quan đến tử vong bao gồm: giới tính (nam), tăng tần số hô hấp, tăng urea trong máu, giảm độ bão hòa oxy, và chỉ số hôn mê. Dựa trên các yếu tố ngày, nhóm nghiên cứu đã xây dựng một mô hình tiên lượng. Họ áp dụng mô hình tiên lượng trên một nhóm 2060 bệnh nhân thuộc Bệnh viện Đa Khoa Thành phố Cần Thơ, và kết quả cho thấy mô hình tiên lượng chính xác khoảng 80%. Công trình nghiên cứu được công bố trên tập san Scientific Reports (thuộc tập đoàn Nature).

Công trình nghiên cứu này là một đóng góp quan trọng cho y văn bệnh nhân cấp cứu. Lần đầu tiên, Việt Nam xây dựng một mô hình tiên lượng cho bệnh nhân Việt Nam để nhận dạng các bệnh nhân có nguy cơ cao cần điều trị tích cực nhằm giảm tử vong. Công trình này cũng thể hiện một đóng góp đầu tiên của Việt Nam trong y văn về hồi sức cấp cứu.

Bs Hồ Phạm Thục Lan và đồng nghiệp: Ảnh hưởng của lượng mỡ và lượng cơ đến loãng xương (Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism 2014, 99(1):30–38).

Mật độ xương (BMD) là một yếu tố rất quan trọng cho tiên lượng gãy xương, và vì thế BMD được dùng để chẩn đoán loãng xương bệnh lý loãng xương. Trọng lượng cơ thể là một yếu tố có ảnh hưởng đến mật độ xương (BMD). Người có cân nặng cao thường có BMD cao và ít bị loãng xương. Nhưng trọng lượng cơ thể chủ yếu được cấu thành bởi lượng cơ và lượng mỡ. Câu hỏi “nóng” trong chuyên ngành loãng xương là yếu tố nào — lượng cơ hay lượng mỡ — có ảnh hưởng đến BMD. Hai mươi năm qua, câu hỏi này vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng trong y văn.

Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi đã thực hiện một loạt 3 nghiên cứu, gồm 2 nghiên cứu nguyên thủy trên hơn 2000 người Việt và 1 nghiên cứu tổng hợp. Kết quả nghiên cứu cho thấy lượng cơ có tác động đến BMD cao hơn là lượng mỡ. Phát hiện này (lượng cơ đóng vai trò quan trọng hơn lượng mỡ) nhất quán trên cả hai giới tính và cho cả người da trắng lẫn người châu Á.

Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng, vì tăng cường hoạt động thể lực là một biện pháp quan trọng trong việc phòng chống loãng xương và ngăn ngừa mất xương. Qua nghiên cứu này, có thể nói rằng, chúng tôi đã giải đáp một câu hỏi vốn là đề tài tranh luận suốt 20 năm qua. Công trình được công bố trên tạp chí hàng đầu trong chuyên ngành nội tiết là Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism năm 2014 và đã được trích dẫn 114 lần (theo Google Scholar).

Ts Ngô Tất Trung và đồng nghiệp, Tối ưu hóa phương pháp PCR cho việc chẩn đoán nhiễm trùng máu (BMC Infectious Diseases 2016;16:235)

Nhiễm trùng máu là bệnh lý truyền nhiễm cấp tính có tỷ lệ tử vong cao. Mỗi năm trên thế giới có khoảng 28-31 triệu người mắc nhiễm trùng máu, trong đó có khoảng 8 triệu tử vong. Để điều trị kịp thời, việc xác định được mầm bệnh sớm là rất quan trọng. Cho đến nay, việc xác định mầm bệnh dựa vào phương pháp cấy máu. Tuy nhiên, phương pháp cấy máu có nhược điểm là tốn kém thời gian (2 ngày đến 7 ngày), luợng máu cần thiết để cấy khá cao, và khó tối ưu hóa điều kiện cấy máu.

Một giải pháp có tiềm năng thay thế phương pháp cấy máu là dùng kỹ thuật phản ứng chuỗi (polymerase chain reaction – PCR) để khuếch đại đặc hiệu các trình tự DNA cho từng vi trùng hay vi khuẩn gây bệnh. Tuy nhiên, một khó khăn đáng kể trong việc áp dụng PCR trong chẩn đoán nhiễm trùng máu là sự hiện diện của hàm lượng DNA của bệnh nhân dẫn đến kết quả dương tính giả và âm tính giả.

Ts Ngô Tất Trung và nhóm nghiên cứu của Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 đã khắc phục sự hạn chế đó bằng cách tạo ra một chất trung gian (tạm gọi là “dung môi”) giúp loại bỏ 99,9% dung lượng DNA từ bệnh nhân, và do đó tăng độ nhạy và độ đặc hiệu của phương pháp chẩn đoán. Với phương pháp mới của nhóm nghiên cứu, khả năng xác định mềm bệnh chính xác hơn và nhạy hơn phương pháp PCR thông thường. Ngoài ra, ưu điểm của phương pháp mới là giảm thời gian chẩn đoán xuống còn chỉ 6 giờ.

Phát kiến và nghiên cứu đã được công bố trên tập san BMC Infectious Diseases năm 2016. Đây là một phát kiến đem lại lợi ích trực tiếp cho bệnh nhân. Công trình nghiên cứu còn thể hiện một đóng góp quan trọng trong y văn quốc tế.

Giới thiệu sách mới: "Cẩm nang nghiên cứu khoa học"

Tôi rất hân hạnh giới thiệu đến các bạn đọc xa gần một cuốn sách mới nhất của tôi có tựa đề là “Cẩm nang nghiên cứu khoa học: từ ý tưởng đến công bố” (1). Đây không phải là cuốn sách cũ, mà nội dung hoàn toàn mới. Nội dung bao gồm 20 chương sách nhằm giải đáp những thắc mắc mà nhiều học sinh và sinh viên thường tự hỏi bắt đầu nghiên cứu khoa học từ đâu, ý tưởng nghiên cứu xuất phát từ nguồn nào, phương pháp nghiên cứu ra sao, và công bố kết quả nghiên cứu ở đâu. Đó là những câu hỏi cơ bản trong qui trình nghiên cứu khoa học.

Cuốn sách này chỉ là một tập tài liệu ngắn nhằm tổng quan qui trình và nghiên cứu khoa học. Nội dung không đi vào chi tiết về phương pháp, vốn là chủ đề của các cuốn sách khác. Mục tiêu của tôi là cung cấp cho các bạn mới bắt đầu làm nghiên cứu khoa học thấy được hành trình trước mắt để chuẩn bị. Cuốn sách được soạn từ những bài giảng trong các lớp tập huấn về nghiên cứu khoa học do tôi thực hiện trong thời gian hơn 15 năm qua ở Việt Nam. Qua những lớp tập huấn này, tôi đã rút ra nhiều bài học từ học viên và qua hợp tác nghiên cứu. Những lớp tập huấn đó được sự giúp đỡ của rất nhiều người mà tôi muốn ghi nhận và cảm ơn. Tôi đặc biệt cám ơn Tiến sĩ Trần Sơn Thạch (Viện nghiên cứu y khoa Garvan) và Bs Hà Tấn Đức (Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ) đã giúp tôi và trợ giảng trong nhiều năm qua trong các lớp học về phương pháp nghiên cứu khoa học.

Xin trích vài đoạn để các bạn biết hơn chút về nội dung cuốn sách:

Thế nào là “nghiên cứu khoa học“?

“Nghiên cứu khoa học là chủ đề của chương này. Theo tôi, nghiên cứu khoa học là một hoạt động của con người nhằm sáng tạo ra tri thức mới hay mở rộng tri thức hiện hành qua ứng dụng phương pháp khoa học.

Hai điều kiện của định nghĩa trên là mục tiêu và phương pháp. Mục tiêu là nhằm sáng tạo ra tri thức mới hoặc mở rộng ‘biên cương’ của tri thức hiện hành. Tri thức mới dĩ nhiên phải được chuyển hóa từ thông tin và dữ liệu. Khám phá ra một động vật mới, phát hiện một mối liên hệ mới giữa gen và bệnh tật, hay phát hiện một qui luật tự nhiên, tất cả những điều đó đều có thể xem là tri thức mới. Mở rộng kiến thức hiện hành bao gồm việc ứng dụng tri thức vào một lĩnh vực cụ thể. Chẳng hạn như chúng ta biết được cơ chế của các xương bào trong xương là một tri thức tương đối mới, nhưng tìm cách ức chế các xương bào đó để phát triển thành thuốc điều trị cho bệnh nhân thì được xem là một sự mở rộng tri thức khoa học. Do đó, điều kiện thứ nhất của nghiên cứu khoa học là mục tiêu: tạo ra tri thức mới hay mở rộng tri thức hiện hành.

Tri thức ở đây phải đáp ứng 2 đặc tính chính: phổ quát và tái lập. Ở đây, tôi không có ý định bàn sâu về tri thức theo nghĩa triết học vì tôi không am hiểu triết học. Kiến thức phổ quát có thể hiểu là những tri thức mang tính qui luật tự nhiên. Chẳng hạn như hút thuốc lá gây ung thư phổi có thể xem là một tri thức phổ quát, vì tri thức này hiện diện ở bất cứ sắc dân nào và địa phương nào. Đặc tính thứ hai là tái lập (reproducibility). Một công trình nghiên cứu được xem là khoa học nếu kết quả từ nghiên cứu có thể lặp lại trong nhiều nghiên cứu khác với điều kiện các nghiên cứu đó dùng cùng phương pháp với nghiên cứu gốc. Chẳng hạn như mối liên hệ giữa gen FTO và tiểu đường được quan sát ở rất nhiều nghiên cứu độc lập trên thế giới, và đây là một đặc tính quan trọng của khoa học. Nếu kết quả nghiên cứu không được tái lập thì đó chưa phải là tri thức khoa học. Do đó, tính tái lập có thể xem là nền tảng của khoa học, và là yếu tố để phân biệt khoa học thật với khoa học dỏm.”

Ý tưởng nghiên cứu đến từ đâu?

“Nghiên cứu khoa học xuất phát từ ý tưởng. Ý tưởng xuất phát từ nhiều nguồn, nhưng chủ yếu là qua quan sát thực tế, đọc những bài nghiên cứu trước (hay trong y văn, đối với ngành y), tham dự hội nghị; chú ý đến kĩ thuật mới, ý tưởng ngành khác; và … một chút tưởng tượng. Quan sát thực tế là một nguồn ý tưởng rất quan trọng. Chẳng hạn như tôi chú ý thấy hình như số bệnh nhân tử vong ở bệnh viện hơi nhiều trong hai ngày cuối tuần, tôi nghĩ ngay đến lời giải thích rằng có thể hai ngày đó thiếu bác sĩ và y tá, và thế là câu hỏi nghiên cứu hình thành. Tham dự hội nghị và nghe các chuyên gia giảng cũng là dịp để có ý tưởng mới. Có khi có thể các bạn chẳng có ý tưởng gì mới, mà chỉ muốn lặp lại nghiên cứu của người khác ở bệnh viện mình. Loại nghiên cứu “me too” này chẳng có vấn đề gì, vì đó là cách các bạn học làm nghiên cứu.”

Ngộ nhận về tính đại diện:

“Hầu hết những ai làm nghiên cứu lâm sàng đều từng trải qua các hội đồng xét duyện đề tài hay nghiệm thu, và tuyệt đại đa số đều nhận được lời phê bình là nghiên cứu không mang tính đại diện. Nhận xét này hàm ý nói kết quả nghiên cứu không có giá trị khoa học, và có khi nó được dùng như là một cách bác bỏ nỗ lực của nhà nghiên cứu. Nhưng trong thực tế, nhiều nghiên cứu không cần tính đại diện. Trong chương này tôi sẽ giải thích tại sao một nghiên cứu y học nghiêm chỉnh không nhất thiết phải có mẫu mang tính đại diện.”

Tại sao có ngưỡng giá trị P (xác suất) 0.05?

“Nhưng vấn đề đặt ra là ngưỡng của trị số P bao nhiêu để bác bỏ giả thuyết vô hiệu. Fisher đưa ra đề nghị ngưỡng P = 0.05, và không ngờ đề nghị này đã gây một ảnh hưởng vô cùng lớn trong lịch sử khoa học, bởi vì từ đó giới khoa học thuộc tất cả các lĩnh vực và khắp thế giới dùng ngưỡng đó để tuyên bố về khám phá khoa học.

Nhưng tại sao Fisher chọn 0.05 làm ngưỡng để phân định giữa nhiễu và không nhiễu? Đây là một câu hỏi làm nhiều người suy luận và tốn khá nhiều giấy mực. Có truyền thuyết cho rằng một hôm ông tắm trong bồn nhưng vẫn suy tư về ngưỡng của trị số P, nghĩ hoài không ra, thì khi xả nước bồn đột nhiên ông thấy năm ngón chân của mình trên mặt nước làm ông lạnh, và thế là ông chọn trị số P = 0.05 làm ngưỡng để tuyên bố “có ý nghĩa thống kê” (7).”

Mẫu và quần thể:

Để hiểu kết quả phân tích tốt hơn, chúng ta cần phải phân biệt hai phạm trù: mẫu và quần thể. Mẫu ở đây là sample, là số người chúng ta chọn ngẫu nhiên. Quần thể trong thuật ngữ thống kê là population. Tuy gọi là population nhưng nó không có nghĩa thông thường là dân số. Như vậy, mẫu được lấy từ quần thể. Dĩ nhiên, chúng ta có thể chọn rất nhiều mẫu từ một quần thể, và phân bố của các chỉ số thống kê (được tính toán từ mẫu) cho phép chúng ta có thể suy luận về phân bố của quần thể.

Phân biệt mẫu và quần thể giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn khái niệm thống kê, nhưng một phân biệt khác là các chỉ số thống kê mẫu và thông số cũng cần thiết. Khi chúng ta lấy mẫu, chúng ta chỉ có thể tính toán những chỉ số thống kê, như trung bình, trung vị, phương sai, độ lệch chuẩn, tỉ lệ hay xác suất, v.v. Tất cả những chỉ số đó (được tính từ mẫu), thuật ngữ tiếng Anh gọi là statistic. Thuật ngữ thông số hay parameter là những chỉ số thống kê liên quan đến quần thể. Như vậy, chúng ta có hai nhóm chỉ số tồn tại song song nhau, một nhóm đề cập đến mẫu (statistic), một nhóm liên quan đến quần thể (chúng ta gọi là parameter). Theo qui ước chung, kí hiệu của các statistic được viết bằng mẫu tự tiếng Latin, và các thông số được viết bằng mẫu tự Hi Lạp.

Diễn giải kết quả nghiên cứu:

Đối diện với một nghiên cứu mà kết quả cho thấy có mối liên quan giữa E và O, người đọc hay nhà khoa học làm gì để đánh giá mức độ khả tín của kết quả này? Một cách đơn giản nhất là xem xét đến mô hình nghiên cứu. Nếu mô hình nghiên cứu là RCT (randomized controlled trial) thì vấn đề đơn giản. Đối với nghiên cứu RCT so sánh hai nhóm (như nhóm dùng thuốc thật và nhóm dùng giả dược) được thiết kế tốt, tất cả các yếu tố liên quan đến O đều bằng nhau giữa hai nhóm bệnh nhân, nên khác biệt về O giữa hai nhóm chỉ có thể là do can thiệp. Nhưng đối với các nghiên cứu quan sát, nhà nghiên cứu không thể kiểm soát tất cả các yếu tố nguy cơ, nên có sự mất cân đối giữa hai nhóm so sánh (mắc bệnh và không mắc bệnh), nên vấn đề trở nên phức tạp hơn nghiên cứu RCT. Để diễn giải kết quả nghiên cứu quan sát một cách hợp lí, nhà nghiên cứu cần phải xem xét đến 3 yếu tố chính:

• Yếu tố ngẫu nhiên (chance hay random error)
• Yếu tố bias
• Yếu tố nhiễu (confounding effect)

Chỉ khi nào loại bỏ ba yếu tố này thì mối liên quan mới có thể xem là mối liên hệ nhân quả.

Năm nguyên tắc đặt tựa đề bài báo:

Đặt tựa đề cũng là một khoa học, và điều này không phải là nói theo kiểu mĩ từ đâu, mà là một thực tế. Trong quá khứ đã có rất nhiều nghiên cứu về mối liên quan giữa tựa đề, số chữ trong tựa đề, và tần số trích dẫn của bài báo. Qua những nghiên cứu này, các nhà khoa học có kinh nghiệm đã đi đến vài qui luật (hay đúng hơn là “nguyên tắc”) về cách đặt tựa đề sao cho tối ưu. Năm nguyên tắc sau đây cần phải chú ý khi đặt bút viết tựa đề.

Nguyên tắc 1: Một tựa đề tốt nên chuyển tải được những nét chính của nghiên cứu với số chữ ít nhất.

Nguyên tắc 2: Bắt đầu tựa đề với từ quan trọng.

Nguyên tắc 3: (Nếu có thể tựa đề) nên có một điểm mạnh về phương pháp.

Nguyên tắc 4: Dùng những “từ khóa” (keywords) trong tựa đề.

Nguyên tắc 5: Tựa đề cần phải có thông tin, hay nói theo tiếng Anh là ‘informative’.

Năm căn bệnh trong khoa học:

Bệnh tìm ý nghĩa thống kê: Significosis
Bệnh tìm cái mới: Neophilia
Bệnh hám lí thuyết: Theorrhea
Bệnh hám thuật toán: Arigorium
Bệnh chạy theo lượng: Disjunctivitis”

Hi vọng các bạn sẽ tìm thấy vài ý tưởng và sự động viên từ cuốn sách này để dấn thân vào nghiên cứu khoa học.

===

Sách do Nxb Tổng Hợp phát hành. Số trang: 400. Giá bán: 118,000 đồng. Có bán tại Nhà sách Minh Khai, Nhà sách FaHASA, và Nhà sách Tổng Hợp ở Đường Sách.

Mua sách sỉ có thể đặt qua email: hathanhnguyennxb@gmail.com.

Điểm sách "Silent Invasion"

Nhờ một bạn giới thiệu mà tôi biết đến cuốn sách “Silent Invasion” (1) của tác giả Clive Hamilton (2). Phải nói rằng đây là một cuốn sách, nói như Giáo sư John Fitzgerald, là rất đáng đọc. Đáng đọc để biết một cuộc xâm lăng âm thầm vào chính trường nước Úc được điều phối từ Bắc Kinh. Đáng đọc để hiểu hơn những chiến lược mà Tàu cộng đã và đang áp dụng, cùng với sự tiếp tay của những Hoa kiều, để mua chuộc ảnh hưởng và qua đó bành trướng chính trị đến các nước khác, trong đó có Việt Nam.

Đây là một cuốn sách cũng như câu chuyện đằng sau (3) đã và đang gây chấn động ở Úc. Đi đâu cũng nghe giới trí thức nói về nó. Hôm kia, trong một buổi giải lao, một giáo sư người Úc thuộc đại học UTS cũng nói với tôi về cuốn sách này, và những gì tác giả cảnh báo. Người Việt chúng ta, dù ở Úc hay ở Việt Nam, cũng nên đọc quyển sách này. Đọc để thấy sách lược của Tàu nhằm gây ảnh hưởng và xâm nhập vào hệ thống chính trị từ cấp cao nhất đến cấp thấp nhất.

Mục tiêu và chiến lược

Mục tiêu của đảng cộng sản Tàu là kéo Úc vào quĩ đạo kinh tế và chính trị do Tàu kiểm soát. Nhưng vì Úc đang là đồng minh thân thiết của Mĩ, nên chiến lược để đạt mục tiêu đó là tạo ra chia rẽ giữa Úc và Mĩ, là gây ảnh hưởng kinh tế, là đe doạ chính trị, là gây bất ổn cho Úc.

Tàu cộng dùng nhiều biện pháp để thực hiện chiến lược trên. Họ có Mặt trận Tổ quốc để lôi kéo Hoa kiều phục vụ cho họ. Họ lập chi bộ đảng cộng sản ở các đại học Úc nhằm kiểm soát tư tưởng của du học sinh và biến họ thành những “chiến sĩ” tuyên truyền ngay trong lòng nước Úc. Họ tung tiền mua chính khách Úc, từ cấp cao đến cấp thấp. Họ vung tiền mua các tập đoàn kinh tế Úc và mua các cơ sở vật chất (như cảng, công ti năng lượng, đất đai và trang trại).

Cách mà đảng cộng sản Tàu (CCP) gây ảnh hưởng và xâm nhập là qua 3 kênh: người Tàu di cư, các tổ chức xã hội do đảng cộng sản Tàu điều hành, và qua tiền. CCP xem những người Tàu di dân trong thập niên 1980 và du học sinh là những phần tử có thể làm trung gian để thu thập thông tin và báo cáo về cho chính phủ Tàu. CCP thành lập hàng loạt các tổ chức mang danh kiều bào (như Ủy ban Hoa kiều ở nước ngoài, Hội đồng hương Hoa kiều, Hội sinh viên, v.v.) và qua đó chuyển tiền để gây ảnh hưởng đến chính trường Úc. CCP còn tung tiền ra cho các nhân vật trung gian để mua ảnh hưởng, mua ý kiến của giới chính trị Úc để họ có những phát biểu có lợi cho Tàu. Số tiền tung ra không phải hàng triệu, mà con số lên đến hàng trăm triệu đôla!

Những kẻ ‘apologist‘ cho Tàu cộng và thân Tàu cộng lí giải rằng việc gây ảnh hưởng mà Tàu áp dụng lên Úc là bình thường, vì Mĩ vẫn làm thế chứ có tử tế gì đâu! Nhưng tác giả Hamilton chỉ ra rằng những kẻ apologist này cố tình chối bỏ thực tế là Mĩ là một nền dân chủ, còn Tàu cộng là độc tài; Mĩ không có ý định chiếm Úc, Tàu cộng muốn; Mĩ bảo vệ Úc, Tàu cộng xâm lược hay ít ra là có ý đồ xâm lược. Những khác biệt giữa các tập đoàn kinh tế Mĩ và Tàu cộng cũng được Hamilton chỉ ra rõ ràng: các công ti Mĩ là tư nhân và độc lập với chính phủ, các công ti Tàu là của đảng cộng sản Tàu; Mĩ xem kinh tế là môi trường kinh doanh, Tàu xem kinh doanh là hình thức để đạt mục tiêu chính trị; các công ti của Mĩ không có chi bộ của đảng Cộng Hòa hay Dân Chủ, các công ti Tàu là ổ của đảng cộng sản Tàu (trang 113).

“Tiền là bầu sữa của chính trị”

Một trong những vụ mua ảnh hưởng gây tai tiếng xảy ra vào giữa năm nay (2018), khi một thượng nghị sĩ của Úc tên là Sam Dastyari bị buộc phải từ chức và đuổi khỏi Thượng nghị viện. Lí do là y đã nhận hơn 150,000 AUD từ một tỉ phú tên là Huang Xiangmo, người có mối quan hệ rất mật thiết với đảng cộng sản Tàu. Sam Dastyari biết mình bị tình báo Úc theo dõi, và đã tiết lộ tin này cho Huang Xiangmo. Hành động của Sam Dastyari có dân biểu Úc xem là “phản bội.” Phản bội vì làm việc cho ngoại bang. Do đó, sau vụ Dastyari bị đuổi khỏi Thượng nghị viện, Úc phải ra đạo luật nhằm cảnh báo những dân biểu và chính khách Úc có quan hệ với ngoại bang. Nói là “ngoại bang”, nhưng nước được hiểu chính là Tàu.

Huang Xiangmo là ai? Huang sinh năm 1969 ở làng Yuhu (dịch là Ngọc Hồ) thuộc vùng Chaozhu tỉnh Quảng Đông. Huang làm giàu nhanh chóng nhờ buôn bán bất động sản và các mối quan hệ (tiếng Hoa là guanxi) với các nhân vật chóp bu trong Đảng cộng sản Tàu (những nhân vật này đều bị đi tù hay tự tử sau này). Có lẽ thấy tình hình không ổn, nên Huang xin di cư sang Úc sống từ những năm đầu thế kỉ 21. Huang vẫn duy trì mối quan hệ hữu hảo với các nhân vật chóp bu trong Đảng cộng sản Tàu, thậm chí đại diện cho Tàu trong các buổi lễ hội quan trọng ở Úc.

Huang Xiangmo có một triết lí rất thú vị: “Money is the milk for politics” (Đồng tiền là nguồn sữa cho chính trị). Nói là làm. Từ ngày ông có mặt ở Úc (khoảng 2010), Huang đã cho hơn 4 triệu đôla cho 2 đảng chính trị của Úc, và ông đã đầu tư 2 tỉ đôla vào nông nghiệp Úc. Huang cho hàng triệu đôla để Đại học Công nghệ Sydney (UTS) thành lập viện Úc-Hoa ACRI (Australia-China Relations Institute). UTS cám ơn Huang bằng cách phong tặng cho ông danh hiệu “Giáo sư”.

 

Quan hệ cấp cao. Thủ tướng Malcolm Turnbull và tỉ phú Huang Xiangmo. Hình dưới: hiệu trưởng Đại học Quốc gia Úc và đại diện của đoàn thanh niên công sản Tàu.

Trung tâm ACRI được xem là cái loa tuyên truyền của CCP ngay tại một đại học lớn của Úc! Ngay cả vấn đề Biển Đông, ACRI cũng chỉ nói cho Tàu và theo Tàu. ACRI không bao giờ lên tiếng về những đàn áp ở Tàu, không bao giờ đề cập đến vụ Thiên An Môn. Giáo sư Clive Hamilton nói thẳng rằng “Let us call the Australia-China Relations Institute for what it is: a Beijing-backed propaganda outfit disguised as a legitimate research institute, whose ultimate objective is to advance the CCP’s influence in Australian policy and political circles.” (Chúng ta hãy gọi đúng tên của ACRI: đó là một trạm tuyên truyền của Đảng cộng sản Tàu ngụy trang viện nghiên cứu, mà mục tiêu tối hậu là gây ảnh hưởng của Đảng cộng sản Tàu lên chính sách và chính trường Úc).

Một nhân vật được cuốn Silent Invasion đề cập đến nhiều là Chau Chak Wing. Ông cũng là một tỉ phú người Tàu nhưng có quốc tịch Úc. Ông chủ yếu sống ở Quảng Châu trong một biệt phủ rất lớn. Ông là người không muốn xuất hiện trước công chúng, nhưng là một nhân vật có nhiều quyền thế qua đồng tiền. Năm 2015, ông bỏ ra 70 triệu đô la để mua biệt thự “Le Mer” của tỉ phú James Packer, và đập phá để xây lại cái mới theo ý ông! Tỉ phú Chau Chak Wang có nhiều mối quan hệ quan trọng với các nhân vật chóp bu trong đảng Cộng Sản Tàu và trong giới cầm quyền ở Tàu.

Ở Úc, ông cũng quen với rất nhiều nhân vật chóp bu từ thủ tướng đến bộ trưởng trong chính quyền Úc. Năm 2004 và 2005 ông tài trợ cho Kevin Rudd (người sau này trở thành thủ tướng Úc), Wayne Swan (sau này là bộ trưởng ngân khố), Stephen Smith (sau này thành bộ trưởng ngoại giao) sang Quảng Châu. Chương trình chuyến đi có cả buổi tham quan biệt phủ của Chau được mô tả là “mênh mông” và “xa xỉ”. Sau chuyến đi, Chau Chak Wang tài trợ cho Đảng Lao Động Úc 1.7 triệu đôla và Đảng Liberal 2.9 triệu đôla. Báo chí Úc ghi nhận rằng chưa có một doanh nhân gốc Á châu nào mà rộng lòng như Chau Chak Wing.

Năm 2004, Bob Carr, lúc đó là thủ hiến bang New South Wales, cũng là bạn khá thân với Chau. Có lẽ do tình bạn và sự rộng rãi của Chau trong việc cho tiền Đảng Lao Động, nên Carr nhận con gái của Chau là Winky Chau vào làm tập sự trong văn phòng chính phủ của Carr. Sau khi Carr rời chính trường, Winky Chau trở thành “chuyên gia tư vấn”, và cô ta mua luôn tờ nhật báo tiếng Hoa Australian New Express Daily.

Chau Chak Wing cũng chính là người cấp tiền cho Đại học Công nghệ Sydney (UTS) xây tòa nhà “Dr. Chau Chak Wing Building.” Câu chuyện thật ra bắt đầu từ con trai của tỉ phú Chau Chak Wing. Lúc đó (đầu thập niên 2000), Eric, con trai của Chau Chak Wing, đang theo học cử nhân kiến trúc tại UTS. Hiệu trưởng (vice-chancellor) của UTS lúc đó là Giáo sư Ross Milbourne nhận ra nhân vật này và đã lên một kế hoạch xin tiền được mô tả là “cunning” (các bạn muốn hiểu sao cũng được). Milbourne hỏi cậu ấm Eric muốn đi chơi ở Los Angeles để gặp kiến trúc sư huyền thoại Frank Gehry không, và dĩ nhiên cậu ấm ham vui gật đầu. Những gì xảy ra phía hậu trường sau đó thì không ai biết rõ, nhưng chỉ biết kết quả thành công mĩ mãn: Chau Chak Wing đồng ý cho UTS 20 triệu đô la để xây dựng một tòa nhà mới lấy tên ông. Mặc dù ông không có bằng tiến sĩ, nhưng ông yêu cầu UTS đặt tên tòa nhà là “Tòa nhà Tiến sĩ Chau Chak Wing”.

Nghe lén và mĩ nhân kế

Tàu còn nổi tiếng qua những chiêu trò theo dõi khi các quan chức Úc viếng thăm Tàu. Dưới tiêu đề “Bẫy Mật”, tác giả Simon Hamilton thuật lại câu chuyện thủ tướng Úc lúc đó (2014) là Tony Abbott thăm chính thức Tàu cộng, và đoàn của ông có cố vấn Peta Credlin tham gia. Trước khi lên đường, phái đoàn đã được ASIO (cục tình báo Úc) cảnh báo về những chiêu trò theo dõi của an ninh Tàu cộng. ASIO khuyên tất cả các thành viên trong đoàn không dùng charger điện thoại của khách sạn, không dùng bất cứ USB nào được cho làm quà, không bao giờ để máy tính cá nhân trong phòng khách sạn, v.v.

Credlin kể rằng khi nhận phòng khách sạn, bà lập tức rút cái dây điện đồng hồ đánh thức, tắt hết tivi bằng cách rút dây điện khỏi ổ điện. Chỉ vài phút sau, có người gõ cửa nói là “bồi phòng” (housekeeper) đến giúp, và người “bồi phòng” này cắm hai dây điện vào ổ điện. Chờ người bồi phòng rời phòng, Credlin lại rút ra hai dây điện. Vài phút sau, người bồi phòng lại gõ cửa và cắm hai dây vào ổ điện! Bực mình quá, Credlin rút tháo cái đồng hồ đánh thức và để phía ngoài phòng, sau đó bà lấy mền trùm kín cái tivi.

Sở dĩ Credlin phải làm vậy là vì phái đoàn Úc biết được những bẫy mật của Tàu cộng. Trong quá khứ, Tàu cộng dùng rất nhiều mưu mẹo, nhưng phổ biến nhất là dùng mĩ nhân để đưa nạn nhân vào tình thế nan giải. Đã có một dân biểu Úc bị gài bẫy mĩ nhân kế, và Tàu cộng có hẳn video và hình ảnh về mối quan hệ này. Cho đến nay, theo tác giả Simon Hamilton, người dân biểu này đang là cái loa thân Tàu ở Úc.

Đảng là quốc gia

Trong sách Silent Invasion, tác giả Hamilton nhắc nhở cho chúng ta biết rằng một xã hội Tàu đã bị tẩy não hơn nửa thế kỉ. Người dân, đặc biệt là giới thanh niên, nghĩ rằng yêu tổ quốc là yêu đảng cộng sản Tàu, vì đảng chính là quốc gia (party is the nation). Giới lãnh đạo của đảng cộng sản Tàu đã từ bỏ (gián tiếp) quan niệm cách mạng Mác xít, đấu tranh giai cấp, và thế giới vô sản. Nhưng họ duy trì cơ cấu đảng theo hệ thống của Lenin.

Năm 2016, viên bộ trưởng giáo dục Tàu tuyên bố thẳng thừng rằng hệ thống giáo dục phải đi đầu trong việc truyền bá ý thức hệ của đảng cộng sản Tàu, và cảnh cáo các ‘hostile force‘ (thế lực thù địch) đang tìm cách xâm nhập vào hệ thống trường học và đại học để gây tổn hại đến “thành tựu của cách mạng.”

Tổ chức văn nghệ vinh danh PLA ngay tại Hurstville, thủ phủ của người Tàu lục địa tại Úc.

Những học sinh và sinh viên Tàu ngày nay đã bị tẩy não ghê gớm, tuyệt đại đa số họ không còn phân biệt được giữa đảng và tổ quốc, và sẵn sàng hùng hổ bảo vệ tổ quốc = đảng ở mọi lúc và mọi nơi. Năm 2015, một nhóm sinh viên Tàu thuộc Đại học Quốc gia Úc (ANU) xông vào một nhà thuốc của Đại học và hùng hổ chất vấn chủ nhà thuốc rằng “Ai cho ông phân phối tờ báo này?” Đó là tờ Epoch Times của nhóm Pháp Luân Công. Mới đây, một giảng viên bị sinh viên Tàu hung hăn phản đối vì ông giảng về sự kiện Thiên An Môn và chủ quyền Biển Đông, và sự việc lên tận cấp Bộ ngoại giao Tàu phàn nàn với Chính phủ Úc. Sự việc tuy nhỏ, nhưng nó nói lên những kẻ bị tẩy não này đang là một mối đe dọa đối với Úc.

Những người trẻ thuộc thế hệ bị tẩy não này đang có mặt ở Úc. Hiện nay, có hơn 550 ngàn du học sinh Tàu ở Úc. Ngoài ra, còn số một số nhà khoa học cấp cao (cấp giáo sư) cũng có mặt khắp nơi trong các đại học Úc, và họ hình thành cái mà Hamilton gọi là “enclave” (ý nói những khoa có nhiều giáo sư gốc Tàu). Hamilton lấy một trường thuộc Đại học Curtin (Tây Úc) chỉ ra rằng trong số 8 người cấp ‘faculty’ ở đây, thì 7 người là người Tàu. Có những bài báo khoa học chỉ thuần Tàu và tác giả Tàu, nhưng địa chỉ thì đại học Úc! Hamilton còn chỉ ra rằng một số giáo sư Tàu trong lĩnh vực kĩ thuật và công nghệ thông tin đang ngồi trong các hội đồng khoa học cấp quốc gia của Úc (như ARC College of Experts) có liên quan mật thiết với đảng cộng sản và giới quân sự bên Tàu.

Đừng thờ ơ và ngây thơ!

Tóm lại, Silent Invasion là một cuốn sách công phu và đáng đọc. Tính công phu nằm ở nguồn thông tin, với hơn 60 trang ghi chú và nguồn tài liệu. Đáng đọc để nhìn sự bành trướng của đảng cộng sản Tàu bằng một cái nhìn rộng lớn hơn và bao quát hơn, và để đặt vào bối cảnh mối quan hệ giữa Việt Nam và Tàu cộng.

Hamilton đã có công lớn chỉ ra những chiến thuật và mưu mẹo của CCP nhằm gây lôi kéo Úc vào trong quĩ đạo của Tàu và bẻ gãy mối quan hệ chiến lược giữa Mĩ và Úc. Ở một mức độ nào đó, có thể nói Tàu đã thành công, nhưng cuốn sách này nhằm cảnh tỉnh những kẻ hoạt động trong chính trường Úc còn mơ mộng ôm Tàu vào vòng tay mình. Hamilton còn cảnh báo rằng sự thờ ơ, ngây thơ của chính khách Úc là một tài sản quí báu của Tàu cộng.

Đối với một nền dân chủ tương đối lâu đời như Úc mà Tàu còn làm được, vì đối với Việt Nam vốn có ‘truyền thống’ lệ thuộc Tàu thì việc những kẻ cầm quyền Tàu cộng gây tác động còn dễ dàng hơn. Đọc cuốn sách này, chúng ta — người Việt — dễ nhận ra những chiêu trò gây ảnh hưởng của Tàu, vì thấy … quen quen. Xâm nhập chính trường. Mua ý kiến và mua quan chức bằng tiền. Tung tiền mua đất đai. Đe dọa hoặc dùng chiêu thức lưu manh. Dùng lưu manh không được thì dùng mĩ nhân kế. Vân vân. Do đó, không thể xem thường những hành động của Tàu ở Việt Nam. Dùng câu nói đó của Hamilton, chúng ta cũng có thể nói rằng sự ngây thơ và thờ ơ của giới “elite” và có học Việt Nam cũng là một tài sản quí báu của Tàu để họ xâm lăng nước ta.

===

(1) Sách “Silent Invasion: China’s Influence in Australia” của Giáo sư Clive Hamilton, Nhà xuất bản Hardie Grant Books 2017. Sách dày 356 trang, kể cả 57 trang bị chú và ghi chú.

(2) Hamilton là giáo sư về đạo đức công chúng (Public Ethics) thuộc Đại học Charles Sturt (Canberra). Ông đã bỏ ra rất nhiều thời gian để theo dõi sự xâm lăng của Tàu vào Úc, và cuốn sách này chỉ là một thành tựu trong thời gian hai mươi năm qua.

(3) Cuốn sách Silent Inavasion có một số phận rất gian nan. Theo tác giả Simon Hamilton tiết lộ, thoạt đầu bản thảo cuốn sách được một nhà xuất bản lớn của Úc lả Allen & Unwin đồng ý ấn hành vào tháng 4 năm 2017. Thế nhưng, Allen & Unwin đột ngột hủy bỏ quyết định này vào ngày 2/11/2017, với lí do đưa ra là “pháp lí”. Hóa ra, lí do pháp lí chính là Allen & Unwin sợ Tàu cộng kiện. Thế là Hamilton phải nhờ đến một nhà xuất bản khác, nhỏ hơn, nhưng can đảm hơn: đó là Hardie Grant. Nhưng sự việc một nhà xuất bản số 1 của Úc không dám in cuốn sách làm cho rất nhiều người trong giới khoa bảng cảm thấy xúc phạm đến tự do ngôn luận, và nó thể hiện một sự xâm phạm đến những giá trị cốt lõi của nước Úc.