Ngày Loãng Xương Thế Giới 20/10

Hôm nay là ngày 20/10. Có lẽ ít bạn biết, nhưng 20/10 là Ngày Loãng Xương Thế Giới (World Osteoporosis Day, WOD). Quỹ Loãng xương Quốc tế phát động WOD như là một dịp để nâng cao nhận thức của cộng đồng về bệnh loãng xương và những hệ quả nghiêm trọng của bệnh. Nhân dịp này, tôi xin chia sẻ một số thông tin liên quan đến bệnh lí loãng xương ở Việt Nam và trang web http://www.suckhoexuong.vn do chúng tôi khai trương chừng 3 tháng trước.

Cái thông điệp quan trọng nhất của Ngày Loãng Xương Thế Giới là “Hãy yêu thương bộ xương của bạn” hay “Love Your Bones”. Chú ý là ‘bones’ số nhiều! Số xương trong cơ thể chúng ta thay đổi theo độ tuổi, nhưng ở độ tuổi trưởng thành thì bộ xương chúng ta (con người) có 206 xương khác nhau (1). Người ta phân biệt xương theo hình dạng và kích thước, và có 4 nhóm xương chính là xương dài (ví dụ như xương tay), xương ngắn (xương cổ tay), xương phẳng (như xương sọ), và xương bất thường (như xương cột sống). Phải thương yêu và chăm sóc bộ xương, bởi vì không có nó thì chúng ta không đi đứng được, không có calcium và phosphote để điều phối các cơ phận khác trong cơ thể. Vậy mà đa số chúng ta không xem bộ xương ra gì, cho đến khi xương bị gãy thì mới thấy là … tốn kém và nguy hiểm. Do vậy, cái thông điệp quan trọng đối với nam cũng như nữ — trẻ cũng như già — là phải chăm sóc bộ xương cho tốt.

Trái lại với nhiều người nghĩ xương là cố định, thật ra xương là một loại mô năng động, dù chúng ta không thấy cụ thể. Xương của chúng ta thay đổi liên tục, có thể nói là từng phút trong cơ thể. Sự thay đổi đó có tên là “bone modeling” (tạm dịch và mô hình hóa) và “bone remodeling” (tái mô hình hóa). Trong lúc chúng ta còn trẻ, như ở tuổi thiếu niên, thì bone remodeling có chức năng định hình bộ xương sao cho thích hợp với dáng dấp, chiều cao và trọng lượng của chúng ta. Khi đến tuổi trưởng thành và cao tuổi, thì quá trình remodeling bắt đầu làm việc. Chức năng của remodeling là đào thải xương cũ và thay thế bằng xương mới, và nó diễn ra theo một chu trình 4 bước: nghỉ ngơi, hủy xương, tạo xương, khoáng hóa xương mới. Mỗi chu trình 4 bước này xảy ra chừng 3 đến 6 tháng, và nó diễn ra liên tục và suốt đời. Cứ 10 năm thì chúng ta có một bộ xương mới hoàn toàn (mà chúng ta không biết).

Hai nhóm tế bào chính đóng vai trò trong quá trình tạo xương và hủy xương là osteoblast (tế bào tạo xương hay tạo cốt bào) và osteoclast (tế bào hủy xương hay hủy cốt bào). Hai thuật ngữ này chỉ khác nhau một mẫu tự: c và b. Trong điều kiện bình thường, hai nhóm tế bào này làm việc nhịp nhàng với nhau, và lượng xương bị đào thải bằng số lượng xương được tạo ra. Nhưng khi có ‘vấn đề’ thì các tế bào hủy xương làm việc mạnh hơn nhóm tế bào tạo xương. ‘Có vấn đề’ ở đây bao gồm nhiều yếu tố như suy giảm estrogen (ở nữ giới), hút thuốc lá (ở nam giới), hay nói chung là lão hóa. Khi các tế bào hủy xương làm việc quá mạnh, chúng ta bị mất xương dần dần, dẫn đến xương bị suy yếu về khả năng chịu đựng. Khi xương bị suy yếu, chỉ cần một va chạm nhỏ (như một cái hắt hơi) là xương bị gãy. Xương nào cũng có thể bị gãy, nhưng xương thường hay bị gãy bao gồm xương cột sống thắt lưng, xương đùi (hip), xương chậu (pelvis), xương tay, và xương sườn.

Gãy xương thường diễn ra một cách âm thầm, hoàn toàn không có triệu chứng. Chỉ đến khi xương bị gãy, và nhiều trường hợp bệnh nhân bị gãy xương không có triệu chứng hiển nhiên, thì lúc đó mới biết loãng xương. Chính vì đặc tính này mà bệnh loãng xương được ví von là “căn bệnh âm thầm” (silent disease).

Loãng xương không phải là một bệnh lí mới. Các nhà khoa học Ai Cập đã phân tích 74 bộ xương khai quật từ các mummies (thi thể được ướp) ở Ai Cập, và phát hiện hơn 10% có dấu hiệu loãng xương. Ngoài ra, các nhà khoa học còn tìm thấy sự khác biệt về loãng xương giữa nam và nữ và giai cấp xã hội. Ở nam giới, những quan chức có nguy cơ loãng xương thấp hơn thường dân, nhưng ở nữ giới thì quan chức cao cấp có tỉ lệ loãng xương cao gấp hai lần thường dân. Do đó, những ý kiến cho rằng loãng xương là bệnh thời đại e rằng không đúng.

Ở Việt Nam nhiều người bị loãng xương

Loãng xương là một bệnh có qui mô rất lớn. Hiện nay, có khoảng 200 triệu người trên thế giới bị loãng xương. Mỗi năm, có khoảng 8.9 triệu người bị gãy xương do loãng xương. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy ở nữ giới, cứ 1 trong 3 người sau 50 tuổi sẽ bị gãy xương nếu họ sống đến độ tuổi 85. Ở nam giới, nguy cơ gãy xương trọng đời là khoảng 20%. Chi phí chăm sóc và điều trị loãng xương, chỉ tính riêng ở Mĩ, là 12-18 tỉ SD.

Ở Việt Nam, chúng tôi đã thực hiện khá nhiều nghiên cứu nên cũng có khá nhiều dữ liệu. Ở nữ trên 60 tuổi, có khoảng 25-30% người bị loãng xương; ở nam giới trên 50 tuổi, cứ 10 người thì có 1 người bị loãng xương. Ở Việt Nam, chúng tôi cũng đã có những nghiên cứu về chi phí điều trị gãy cổ xương đùi. Chẳng hạn như nghiên cứu của DS Phạm Nữ Hạnh Vân (ĐH Dược Hà Nội) lần đầu tiên cho thấy một ca gãy cổ xương đùi tốn bệnh nhân khoảng 17-20 triệu đồng, nhưng nếu thay khớp háng thì chi phí lên đến 80 triệu đồng. Nếu mỗi năm có khoảng 10 ngàn ca gãy cổ xương đùi thì chi phí có thể lên đến 40 triệu USD, và đó là chưa tính các dạng gãy xương khác và chi phí chăm sóc sau khi phẫu thuật.

Những dữ liệu thật này cho thấy loãng xương và gãy xương ở Việt Nam thật sự là một gánh nặng xã hội và nền y tế. Hiện nay, khoảng 7% dân số trên 65 tuổi, nhưng tỉ lệ này sẽ tăng lên 23% vào năm 2050. Do đó, gánh nặng loãng xương sẽ gia tăng nhanh trong tương lai vì dân số Việt Nam đang lão hoá nhanh.

Gãy xương đùi và ung thư vú

Gãy xương đùi là một hệ quả nghiêm trọng nhất của loãng xương, vì bệnh nhân có thể tử vong sớm. Tuy gãy cổ xương đùi thường hay thấy ở phụ nữ sau mãn kinh, nhưng khoảng 1/3 trường hợp gãy cổ xương đùi xảy ra ở nam giới.

Ít ai biết rằng nguy cơ gãy cổ xương đùi cao hơn nguy cơ ung thư vú. Ở nữ giới, nguy cơ [trọn đời] gãy cổ xương đùi là khoảng 12-15%, còn nguy cơ mắc bệnh ung thư vú là khoảng 10%. Nhưng quan trọng hơn là nguy cơ tử vong sau khi gãy cổ xương đùi tương đương với nguy cơ tử vong sau khi mắc ung thư vú. Khoảng 15-20% bệnh nhân bị gãy cổ xương đùi tử vong sau gãy xương trong vòng 12 tháng.

Tiêu biểu về hệ quả của gãy cổ xương đùi và tử vong là những người nổi tiếng như Đức Giáo Hoàng John Paul Đệ Nhị, thân mẫu Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị, Tổng thống Reagan, bà Greta Friedman, người phụ nữ nổi tiếng trong bức ảnh “Nụ Hôn”, v.v. đều bị gãy cổ xương đùi và tử vong không lâu sau đó.

Gãy xương làm giảm tuổi thọ

Gãy xương cột sống thắt lưng có lẽ là một trong những dạng gãy xương phổ biến nhất. Có ba dạng gãy xương cột sống: gãy đĩa đốt sống, gãy bờ đốt sống, và gãy nén đốt sống. Tuy nhiên, nhiều bệnh nhân bị gãy xương đốt sống nhưng không hề hay biết, vì không có triệu chứng cụ thể. Gần 2/3 trường hợp gãy xương đốt sống là do phát hiện tình cờ qua X quang.

Khoảng phân nửa các phụ nữ bị gãy xương bị chết trong 7 năm, và con số này trong nam giới là 5 năm. Nói cách khác, một khi nam giới bị gãy xương họ có nguy cơ chết sớm hơn nữ giới đến 2 năm. Đối với những bệnh nhân may mắn sống sót sau gãy xương, họ cũng bị mắc nhiều biến chứng và chất lượng cuộc sống bị giảm đáng kể.

Thiếu điều trị

Hiện nay, qua nhiều nghiên cứu chúng ta đã có nhiều thuốc có hiệu quả rất tốt trong việc giảm gãy xương. Những thuốc phổ biến hiện nay như bisphosphonates và mới nhất là denosumab có thể giảm nguy cơ gãy xương đến 50%. Có bằng chứng cho thấy điều trị bệnh nhân gãy cổ xương đùi giảm nguy cơ tử vong ở những bệnh nhân này khoảng 30%.

Mặc dù có thuốc hiệu quả, nhưng rất ít bệnh nhân gãy xương được điều trị. Nghiên cứu của chúng tôi và đồng nghiệp trên thế giới cho thấy hơn 70% bệnh nhân gãy xương không được điều trị bằng các thuốc có hiệu quả. Hai năm trước đây, trong một nghiên cứu ở một bệnh viện chấn thương chỉnh hình ở Việt Nam, chúng tôi phát hiện không có bệnh nhân gãy cổ xương đùi nào được điều trị!

Nhưng như chúng ta biết nếu bệnh nhân gãy xương không được điều trị thì nguy cơ bị gãy xương lần thứ hai hay thứ ba, thậm chí tử vong sẽ tăng cao. Do đó, tình trạng thiếu điều trị có ảnh hưởng đến tuổi thọ của bệnh nhân trong cộng đồng, và đây phải được xem là một vấn đề nghiêm trọng (cũng chẳng khác gì bệnh nhân bị đột quị mà không được điều trị).

Biến chứng trong điều trị

Một trong những quan ngại về điều trị loãng xương có thể là do những thông tin về biến chứng phụ của điều trị. Trong thời gian gần đây, có một số nghiên cứu cho thấy ở những bệnh nhân ung thư dùng bisphosphonates trong một thời gian dài (trên 10 năm), một số ít bị hoại tử xương hàm (osteonecrosis of the jaw).

Hoại tử xương hàm rất hiếm trong cộng đồng, chỉ khoảng 1 trên 2000 – 10000 người. Không ai biết chắc nguyên nhân của bệnh là gì, nhưng bệnh thường thấy ở các bệnh nhân sử dụng steroid trong thời gian dài, bệnh nhân ung thư điều trị bằng hóa học trị liệu, bệnh nhân với tiền sử răng bị nhiễm trùng, bệnh nhân thiếu máu, những người lạm dụng rượu bia, v.v.

Một số dữ liệu được báo cáo trong các hội nghị loãng xương cho thấy dùng bisphosphonates lâu năm có liên quan đến hội chứng gãy xương không tiêu biểu (atypical femur fracture). Tuy nhiên, tần số xảy ra rất hiếm, khoảng 6 ca trên 100,000 ca điều trị. Hiện nay, chúng ta chưa biết đây là mối liên quan nhân quả hay là do một cơ chế khác. Nhưng những phát hiện mới cho thấy thuốc bisphosphonates cần được sử dụng cẩn thận thì lợi ích vẫn cao hơn tác hại (nếu có).

Thuốc điều trị

Năm tới (2009) là kỉ niệm 50 năm ngày thuốc Bisphosphonate (trước đây có tên là Diphosphonate) được khám phá. Đây là một loại thuốc quan trọng bậc nhất trong chuyên ngành loãng xương. Do đó, các tổ chức y khoa quốc tế sẽ tổ chức hội nghị để ôn lại những thành tựu và bài học về thuốc bisphosphonate (Bx).

Một trong những phát triển quan trọng nhất của thuốc Bx được trình bày trong Hội nghị loãng xương quốc tế ở Montreal vào tháng qua. Đó là công trình nghiên cứu hiệu quả thuốc zoledronate (trong nhóm thuốc Bx) ở những người có mật độ xương được gọi là ‘osteopenia’. Cần nói thêm một chút để biết được ý nghĩa của nghiên cứu này: cho đến nay, Bx chỉ được chỉ định cho bệnh nhân có mật độ xương (thể hiện qua chỉ số T) dưới -2.5, hay còn gọi là ‘loãng xương’ hoặc đã bị gãy xương. Ở những bệnh nhân này, Bx đã được minh chứng là có hiệu quả rất tốt.

Nhưng câu hỏi đặt ra là ở những người có chỉ số T từ -1.0 đến -2.5 thì Bx có hiệu quả không? Một nhóm nghiên cứu New Zealand đã có câu trả lời cho câu hỏi đó qua một nghiên cứu qui mô (1). Công trình nghiên cứu có thể tóm tắt như sau. Tổng số bệnh nhân là 2000 phụ nữ (tuổi trung bình 71), được chia thành 2 nhómnhóm: Nhóm chứng (1000 người) và nhóm zoledronate (1000 người). Zoledronate 5 mg được truyền 1 năm / lần. Bệnh nhân được theo dõi & điều trị trong vòng 6 năm. Kết quả sau 6 năm như sau:

• Giảm nguy cơ gãy xương 37% (xem hình 1);

• Giảm nguy cơ gãy xương cột sống 55%;

• Giảm nguy cơ gãy xương đùi 34% (nhưng không có ý nghĩa thống kê);

• Giảm nguy cơ tử vong 35% (HR 0.65; khoảng tin cậy [KTC] 95% từ 0.40 đến 1.05);

• Giảm nguy cơ ung thư 33% (HR 0.67; KTC95%, 0.50 đến 0.89);

• Giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim 39% (HR 0.61; KTC95%, 0.36 đến 1.02).

Hình 1: Hiệu quả giảm nguy cơ gãy xương ở bệnh nhân thiếu xương (osteopenia) được điều trị bằng zoledronate.

Đây là một nghiên cứu quan trọng, bởi vì lần đầu tiên chúng ta biết rằng điều trị bệnh nhân gãy xương dù chưa phải loãng xương vẫn có thể giảm nguy cơ gãy xương. Quan trọng hơn, zoledronate còn giảm nguy cơ ung thư, nhồi máu cơ tim, và giảm nguy cơ tử vong. Nhiều khán giả trong hội nghị đều ngạc nhiên vì kết quả … quá tốt. Cần nhấn mạnh rằng đây là nghiên cứu không phải do công ti thuốc tài trợ, mà là do quĩ khoa học của Chính phủ New Zealand. Điều này làm cho uy tín của nghiên cứu càng được nâng cao. (Tôi đoán rằng công ti bán thuốc zoledronate ở Việt Nam và trên thế giới chắc là cười tươi trước kết quả này.)

Nhưng Bx không phải là nhóm thuốc duy nhất cho loãng xương; một nhóm thuốc mới được bào chế và phê chuẩn cho điều trị loãng xương là denosumab (hay gọi tắt là Dmab). Đây là thuốc được phát triển nhờ vào khám phá hệ thống RANK (receptor activator of nuclear factor-kappaB) và RANK ligand (viết tắt là RANKL)/OPG vào cuối thập niên 1990 (OPG là viết tắt của chữ osteoprotegerin). Trước đây (tức trước thập niên 1990) chúng ta biết rằng yếu tố kiểm soát các tế bào hủy xương là các tế bào stromal (tức là các tế bào nối kết). Nhưng sau này, chúng ta biết rằng các “thành viên” trong gia đình Hệ RANKL/RANK có vai trò kiểm soát và điều chế qui trình chu chuyển xương. Ngược lại, OPG thì bảo vệ xương bằng cách ức chế các tế bào hủy xương. Do đó, tỉ số RANKL/OPG có thể xem là một chỉ số sức khỏe của xương. Ngoài vai trò trong xương, RANKL/OPG còn có ảnh hưởng đến các tế bào ung thư.

Dmab là một kháng thể đơn dòng (monoclonal antibody) do công ti Amgen sản xuất. Dmab có hiệu quả ngăn chận sự hình thành các tế bào hủy xương, hoặc tiêu diệt các tế bào “bad guys” này. Nghiên cứu trên bệnh nhân loãng xương cho thấy denosumab giảm nguy cơ gãy xương cột sống đến 68%, một hiệu quả chưa thấy trước đây đối với các thuốc khác. Ngoài ra, Dmab xem ra còn có hiệu quả giảm mất xương ở bệnh nhân ung thư.

Trong tương lai, sẽ còn một loại thuốc nữa ra đời: romosozumab. Đây là thuốc được phát triển dựa trên hiểu biết về sclerostin, là một sản phẩm của osteocyte (xương bào). Một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên để đánh giá romosozumab trên 7180 phụ nữ sau mãn kinh và loãng xương đã được thực hiện, và kết quả rất khả quan. Sau 12 tháng điều trị tỉ lệ gãy xương đốt sống ở nhóm romosozumab là 0.5%, so với 1.8% ở nhóm chứng, tức romosozumab giảm nguy cơ gãy xương đến 73%. Kết quả sau 2 năm điều trị cho thấy romosozumab giảm nguy cơ gãy xương cột sống 75%. Tuy nhiên, chứng cứ gãy xương ngoài cột sống (non-vertebral fracture) chưa được rõ ràng: nhóm romosozumab có tỉ lệ gãy xương 2.7% so với nhóm chứng là 3.6%. Nhưng những kết quả này cho thấy trong chuyên ngành loãng xương, chúng ta lại có thêm một loại thuốc mới có hiệu quả rất cao đề ngăn chận tình trạng mất xương và giảm nguy cơ gãy xương ở bệnh nhân loãng xương.

Tóm lại, nhân Ngày Loãng Xương Thế Giới, chúng ta nên bảo vệ bộ xương tốt hơn nữa. Không có lí do gì mà chỉ quan tâm đến tim, gan, thận, da mà lại bỏ quên xương. Xương là cơ phận rất quan trọng nhưng cũng có nguy cơ cao bị gãy, và khi gãy thì rất nhiều hệ quả xảy ra, kể cả chết sớm. Thật vậy, khoảng 20% nữ và 30% nam gãy xương đùi chết trong vòng 12 tháng. “Vắng một người thế giới trở nên hoang vu”, Trịnh Công Sơn nói vậy. Thế giới này cần các bạn.

Calcium và vitamin D vẫn là hai yếu tố quan trọng trong phòng chống loãng xương.

Trong hơn 15 năm qua, khác với các chuyên ngành lớn khác, chuyên ngành loãng xương ở Việt Nam đã có những nghiên cứu quan trọng. Những công trình đó đã được công bố trên các tập san hàng đầu trên thế giới. Hội Loãng Xương ở Sài Gòn được thành lập và đến nay đã 12 tuổi. Chúng tôi cũng đóng góp đào tạo khá nhiều nghiên cứu sinh trong chuyên ngành loãng xương ở Việt Nam. Và, nhân ngày này, tôi xin giới thiệu trang web http://www.suckhoexuong.vn của chúng tôi để các bạn tham khảo về sức khỏe xương.

Tham khảo:

(1) Reid IR, Horne A, Mihov B, Stewart A, Garratt E, Wong S, et al. Fracture Prevention with Zoledronate in Older Women with Osteopenia. N Engl J Med. 2018;10:1056/NEJMoa1808082.

Quí tộc và "Nouveau Riche"

Những thảo luận về ‘quí tộc’ và ‘tinh hoa’ làm tôi liên tưởng đến một vở kịch rất nổi tiếng của văn hào Molière có tựa đề là “Le Bourgeois Gentilhomme“, có thể dịch sang tiếng Anh là “The Would-be Gentleman” và tiếng Việt là “Trưởng giả học làm sang” (tựa đề này dịch chưa đúng bản chất câu chuyện) và phim “Pretty Woman” vào đầu thập niên 1990s. Câu chuyện trong vở kịch lừng danh (viết vào thế kỉ 17) và cuốn phim 30 tuổi đó xem ra rất liên quan với những ý kiến về ‘quí tộc’ và ‘tinh hoa’ ở Việt Nam.

Một màn trong vở kịch “The Would-be Gentleman” (Người muốn làm trưởng giả). Ông già quê mùa Jourdain mướn thầy về dạy âm nhạc và khiêu vũ để làm người quí tộc.

Trưởng giả học làm sang

Vở kịch “Le Bourgeois Gentilhomme” được dịch sang tiếng Anh là “The Would-be Gentleman” (‘Muốn làm trưởng giả’) theo tôi là đúng nghĩa hơn tựa đề tiếng Pháp. Câu chuyện trong vở kịch xoay quanh nhân vật tên là Jourdain, người thừa hưởng gia tài đáng kể của thân phụ để lại. Tuy có nhiều tiền, nhưng ông Jourdain là một người ít học và thuộc giai tầng thấp trong xã hội, và ông muốn trở thành một người trong giai cấp quí tộc. Để thực hiện ước mơ đó, ông cho mướn thầy đến dạy nhạc, dạy triết học, khiêu vũ, kiếm thuật, và mướn thợ may đến thiết kế cho ông những bộ trang phục cầu kì, kiểu cách, y như những nhà quí tộc. Thấy giới quí tộc hay tổ chức những buổi hoà nhạc trong biệt thự, ông Jourdain cũng mướn những dàn nhạc biểu diễn tại nhà ông. Nói tóm lại, lão Jourdain — nói theo người miền Tây — là một kẻ học đòi.

Là kẻ học đòi, nên ông Jourdain trở thành một người hợm hĩnh và bị gạt. Xuất thân từ giai cấp hạ tầng, ông phải đóng kịch để được giới quí tộc xem là cùng ‘bộ lạc’ với họ, nhưng trong thực tế giới quí tộc chẳng xem ông ra gì vì ông không bao giờ là người của bộ lạc cả. Chúng (giới quí tộc) lợi dụng và khai thác ông để kiếm tiền. Điển hình là tay bá tước tên là Dorante (lúc đó thiếu nợ đầy đầu) lợi dụng giấc mơ quí tộc của Jourdain để vòi tiền, vì hắn nói rằng chỉ cần đề cập cái tên Jourdain lên vua là vua sẽ xoá nợ cho Dorante; lão già Jourdain khoái chí và thế là tung tiền cho tên bá tước ma giáo. Vì nghĩ mình đã là quí tộc, nên lão Jourdain muốn cô con gái (tên là Lucille) thành hôn với một chàng trai thuộc giai cấp quí tộc. Biết được ý định này, người yêu của Lucille là Cléonte (chàng trai thuộc giai cấp trung lưu) bèn đóng vai con trai của một bá tước Thổ Nhĩ Kì, và thế là ông Jourdain gật đầu cho cuộc hôn nhân! Ông Jourdain đã bị lường gạt vì giấc mơ quí tộc của ông. Toàn bộ vở kịch là một bài học ở đời và cũng là một thông điệp mạnh mẽ: Hãy là chính mình, chứ đừng bắt chước người khác.

Pretty Woman

Nói đến giai tầng xã hội và ‘hãy là chính mình’ tôi chợt nhớ đến phim “Pretty Woman” do Richard Gere và Julia Roberts thủ diễn. Phim Pretty Woman, có thể xem là thuộc thể loại tình cảm hài, rất rất nổi tiếng vào đầu thập niên 1990s và trở thành một đề tài cho sách giáo khoa và nghiên cứu xã hội học. Phim xoay quanh câu chuyện một triệu phú (hay tỉ phú?) tên là Edward Lewis (Richard Gere đóng) trong một chuyến đi công cán ở Los Angeles, và giữa lúc lạc đường trong khu phố ‘đèn đỏ’, tình cờ gặp Vivian Ward (Julia Roberts), và cuộc tình giữa hai người nảy nở từ đó để lại cho khán giả nhiều ấn tượng buồn vui về giai cấp xã hội.

Cuộc tình chợp nhoáng (1 tuần) giữa hai người, một thuộc giai cấp thượng lưu và một thuộc giai cấp hạ đẳng. Trong khi Edward là doanh nhân thuộc hạng ‘corporate raider’ mua bán các công ti để kiếm bạc triệu, Vivian là một … ‘sex worker’. Vivian lúc đó chỉ đòi 20 USD để chỉ đường cho Edward, nhưng cuộc gặp gỡ tình cờ đó trở thành một ‘hợp đồng’ tình cảm lâm thời giữa hai người. Chỉ qua nói chuyện, Edward thấy Vivian là người thú vị chứ không đơn giản là một cô gái làng chơi. Edward lúc đó độc thân (và mới chia tay với người bạn gái) muốn mướn Vivian đóng vai là ‘partner’ để theo anh ta trong một cuộc thương lượng quan trọng với các đối tác kinh doanh. Edward đề nghị cái giá 3000 USD cho cả tuần, một số tiền quá lớn đối với cô gái đứng đường và nghèo khổ như Vivian. Edward mời Vivian về ở chung trong một penthouse thuộc một khách sạn Regent Beverly Wiltshire sang trọng bậc nhất của Los Angeles. Trong thời gian này, Vivian được người quản lí khách sạn là Barney Thompson chỉ dạy cho cách trang phục và cách ăn uống trong nhà hàng sang trọng, hay nói chung là học làm trưởng giả để có thể xứng đôi với vị khách hàng triệu phú của khách sạn là Edward Lewis.

Pretty Woman là một câu chuyện về sự cách biệt giai cấp và lối sống. Xuyên suốt cuốn phim, cả hai người — Edward và Vivian — phải ‘đấu tranh’ với những khác biệt về giai tầng và giá trị xã hội. Vivian học làm người trưởng giả, và Edward phải thấu cảm cho những vụng về và thô kệch thỉnh thoảng được biểu hiện qua hành vi của Vivian. Nhưng Edward học từ Vivian cách đối nhân xử thế công bằng và kính trọng. Phim Pretty Woman có một cái kết có hậu (happy ending). Sau 1 tuần hợp đồng, Edward Lewis đem lòng thương Vivian Ward (và Vivian cũng thấy thương anh chàng triệu phú). Câu chuyện được xem như là một chuyện Tấm Cám hay Cinderella hiện đại. (Thật ra, bản gốc của phim thì sau khi chia tay Edward, Vivian bị chết vì quá liều thuốc phiện). Nhưng cái thông điệp quan trọng nhất của Pretty Woman là “hãy là chính mình, đừng đóng kịch”. Những cử chỉ có khi vụng về của Vivian rất đáng yêu và thật hơn là những kiểu cách kệch cỡm không tự nhiên.

Julia Roberts (trong vai cô gái giang hồ Vivian Ward) và Richard Gere (trong vai nhà triệu phú Edward Lewis) trong phim Pretty Woman. Phim này rất nổi tiếng vào đầu thập niên 1990s, và là chủ đề của rất nhiều nghiên cứu xã hội và sách giáo khoa. Vivian Ward từ một cô gái đứng đường ở khu đèn đỏ Los Angeles biến thành một ‘partner’ sang trọng của ông triệu phú Lewis. Câu chuyện được xem là một lọ lem tân thời.

****

Vở kịch “The Would-be Gentleman” và phim “Pretty Woman” nhắc nhở chúng ta về giai cấp xã hội ở Việt Nam ngày nay. Để hiểu chữ “giai cấp xã hội” tôi nghĩ phải hiểu cái nghĩa gốc của nó trong tiếng Anh là “socio-economic status”. Chú ý tính từ này, socio-economic, gồm hai chữ xã hội (social) và kinh tế (economic) nối kết nhau. Xã hội ở đây phải hiểu là các yếu tố như trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú, sắc tộc, còn ‘kinh tế’ ở đây là tiền bạc và địa vị trong guồng máy kinh tế. Nói cách khác, phải có hai yếu tố — xã hội và kinh tế — (chứ không phải một) thì mới xác định một giai tầng xã hội cho một cá nhân.

Lão Jourdain tuy có nhiều tiền, nhưng không phải là người thuộc giai cấp quí tộc vì ông thiếu yếu tố xã hội. Cô Vivian Ward trong Pretty Woman tuy là một cô gái đứng đường nhưng cô có những suy nghĩ và tố chất của một người thuộc nhóm elite – tinh hoa, vì những suy nghĩ của cô thậm chí có thể thay đổi đường hướng kinh doanh của Edward Lewis.

Việt Nam có những người rất nhiều tiền, nhưng khó mà xếp họ vào nhóm ‘quí tộc’, cho dù họ rất muốn như thế. Thật ra, tôi nghĩ Việt Nam trong hơn nửa thế kỉ qua không có giai cấp quí tộc. Làm sao có giai cấp quí tộc khi người ta chọn theo con đường của mấy ông Tây râu ria kia và ông Tàu mặt trơn nọ. Làm sao có giai cấp quí tộc sau cuộc cách mạng dưới danh nghĩa “trí phú, địa hào, đào tận gốc, trốc tận rễ”. Ngay cả những người muốn nghĩ mình là ‘quí tộc’ chỉ mới thoát ra từ cái văn hóa XHCN ở miền ngoài, họ không có những tố chất — và vẫn còn phải học — trí, văn, thiện, mĩ của giới quí tộc.

Nhưng các nước mới ra khỏi XHCN như Nga và Tàu có giai cấp “Nouveau riche”. Nouveau riche (có thể tạm dịch là “trọc phú mới”) là một danh từ không hàm ý nghĩa tích cực, mà là tiêu cực và có phần khinh bỉ. Thành phần nouveau riche là những người trục lợi và làm giàu, không phải nhờ vào gia tài của tổ tiên để lại, mà là nhờ vào những mối quan hệ hắc ám với các thế lực cầm quyền và cướp bóc dân chúng có bài bản. Những kẻ nouveau rich làm giàu rất nhanh. Họ xuất phát từ thành phần hạ đẳng trong xã hội, và do đó, họ thường ít học, thiếu kiến thức, và kém văn hoá trong cư xử hàng ngày. Tiêu biểu cho những kẻ nouveau riche là những trọc phú bên Tàu hiện nay, họ là những hậu duệ của những người bần cùng theo Mao làm cách mạng, và họ làm giàu nhờ vào lợi dụng mối quan hệ với đảng cộng sản Tàu — có khi là con cái của các đảng viên cao cấp — để thu tóm và buôn bán bất động sản, và khai thác tài nguyên quốc gia.

Giới nouveau riche ở Tàu đang học làm làm ‘quí tộc’. Họ thừa biết rằng đồng tiền họ đang có không mua được danh giá, không làm cho họ sang trọng, không làm cho người phương Tây nể trọng, mà ngược lại làm cho người ta khinh rẻ. Giới nouveau riche Tàu thừa biết rằng quần chúng Tàu chỉ sợ họ, nhưng trong thâm tâm thì rất khinh họ. Thế là họ phải bỏ tiền ra để ghi danh học những lớp học về văn hoá và cư xử. Những lớp học chỉ có 7 ngày nhưng tốn 12,000 USD. Cái giá 12,000 USD đó sẽ giúp cho họ biết nói tiếng Anh cho lịch lãm; biết cách hành xử ở những nơi sang trọng, như đi thang máy trong khách sạn ‘up market’; cách ăn mặc đúng cách và đúng dịp; cách dùng muỗng nĩa trong các buổi tiệc ‘formal’; cách thưởng thức nghệ thuật, từ âm nhạc đến hội hoạ. Nói chung là họ học những ‘protocol’ và kiến thức cơ bản trong xã hội phương Tây, mà những ai sống lâu và hoà nhập ở các nước phương Tây đều không ít thì nhiều biết qua. (Có vài trường đại học bên Mĩ gửi giáo sư của họ đi học những lớp protocol này).

Ở Việt Nam, nơi có thể xem là một phiên bản của Tàu, cũng có thành phần nouveau rich. Những người nouveau rich ở Việt Nam cũng chẳng khác gì so với các đồng môn của họ ở bên Tàu về xuất thân và cách làm giàu. Do vậy, những người nouveau riche ở Việt Nam cũng có những đặc điểm giống như giới tân trọc phú ở bên Tàu, tức là vụng về trong phát biểu, nông cạn trong ý kiến, thô kệch trong hành xử, kém văn hoá trong cách ăn và mặc, v.v. Cứ nhìn trang phục và cách họ mặc, cách họ dùng cái cà vạt, cách họ quàng cái khăn ngang cổ, cách họ trang điểm, cách họ cầm li rượu, cách họ đi đứng, cách họ ngồi, v.v. thì chúng ta thấy rõ họ thiếu cái cốt cách của giai tầng ‘quí tộc’. Mượn câu nói của John Steiner (“You can take the ape out of the jungle, but you cannot the jungle out of the ape”), họ có thể đã thoát khỏi ngôi nhà nông XHCN, nhưng cái chất lúa vẫn chưa thoát ra khỏi họ.

Việt Nam — cũng như bất cứ nước nào — có thành phần ‘political elite’. Đó là những người đang cầm quyền trong hệ thống chính trị và guồng máy kinh tế. Có thể nói đa số những political elites này là đảng viên. Vì là tinh hoa chính trị, khó mà nói họ đại diện cho quần thể dân chúng. Cứ nhìn xem ở trong nước, họ nói và viết tiếng Việt làm cho dân chúng nhăn mặt khó chịu, còn ra nước ngoài cách họ nói tiếng Anh (thật ra là đọc) trong các hội nghị quốc tế chẳng ai hiểu. Một dân tộc 90 triệu người mà có những người ‘mang chuông đi đấm xứ người’ như thế thì quả là một sự thiệt thòi đáng kể. Tóm lại, Việt Nam có thể có tầng lớp “political elite”, nhưng khó mà nói họ là “intellectual elite.” Nhưng dĩ nhiên, elite hay tinh hoa cũng không có nghĩa là ‘quí tộc’. Thật ra, tôi đoán rằng những political elites này cũng không muốn xem mình là quí tộc, vì họ tự hào xuất thân từ giai cấp lao động, và cha anh họ từng căm thù và đánh đổ giai cấp quí tộc.

Cũng giống như ông Jourdain mời dàn nhạc về nhà biểu diễn, những kẻ trọc phú mới này đang rao bán ý tưởng một nhà hát giao hưởng. Nhà hát giao hưởng để những kẻ tự xem mình là quí tộc thưởng thức. Nhưng như nói trên, họ không thể nào thuộc giai cấp quí tộc được, và họ cũng chỉ là những kẻ đang giúp cho những tên bá tước Dorante trong vở kịch Moliere trục lợi mà thôi.

Cũng như ông Jourdain trong The Would-be Gentleman và cô Vivian Ward trong Pretty Woman dù được khoác lên người những bộ đồ sang trọng và đã qua lớp học về giao tiếp trong giai cấp thượng lưu, nhưng những người trong giai cấp đó vẫn không xem cô là người trong ‘bộ lạc’. Cũng như đất nước Việt Nam, dù có tỉ phú và nhiều triệu phú đô la, nhưng trong con mắt của người phương Tây thì vẫn là một nước nghèo hay rất nghèo (và trong thực tế thì đúng như thế). Sự hiện diện của những trọc phú mới không làm cho Việt Nam hãnh diện, mà chỉ là dấu hiệu về một sự hư hỏng mang tính hệ thống. Trong một môi trường nghèo khổ, nhà tranh vách lá, việc xuất hiện một lâu đài là dấu hiệu của hợm hĩnh. Ở Úc, những chiếc xe hơi cao ngồng ngềnh có thời được xem là antisocial — phản xã hội. Ở Việt Nam, trong môi trường đường xá tồi tệ và ngập nước triền miên mà xuất hiện ‘siêu xe’ là dấu hiệu của bất bình thường, của một ‘antisocial disease’ — bệnh phản xã hội. Tương tự, sự hiện diện của một nhà hát giao hưởng không làm cho cái thành phố mang tên Hồ Chí Minh sang trọng hơn, nếu không muốn nói là làm cho thành phố thêm nhí nhố và hợm hĩnh, như sự hợm hĩnh của ông Jourdain trong vở kịch vào thế kỉ 17.

A note of thank-you

Last night I had the pleasure to attend the presentation of the 2018 Vice-Chancellor’s Awards for Research Excellence. I am also pleased, honored, and very thankful to have received the UTS Chancellor’s Medal for Exceptional Research. This award is, to me, a catalyst for doing more greater things in the future.

It was such a wonderful occasion to meet many amazing people who have made UTS a great university nowadays. The University has established 7 prizes to recognize individuals who have made substantive contributions to the University and Australia-wide. These prizes are for Research Support, Research Development (including supervision of graduate students), Research Excellence through Collaboration, Early Career Research Excellence Award, UTS Medal for Teaching and Research Integration, Deputy Vice-Chancellor’s Medal for Research Impact, and finally the Chancellor’s Medal for Exceptional Research (1). The ceremony last night was a salute to all finalists and winners, each of whom has made incredible contributions to the University and Australian higher education.

As I said in the short remark at the ceremony, I came to UTS (almost five years ago) with a big plan and burning ambition. Over the past five years, with the help of many colleagues and my students, I have realized part of the plan. However, much remains to be done. I want to put the UTS name in the map of osteoporosis research worldwide through important and transformative research.

I would like to take this opportunity to thank Professor Joanne Tipper, Head of the UTS School of Biomedical Engineering, who has enthusiastically nominated me for the prize. I thank Professor Michael Blumstein, Associate Dean of FEIT, for heartily supporting the nomination. I thank Professor Ego Seeman (University of Melbourne), Professor John Eisman (University of Notre Dame Australia), Professor Roberto Civitelli (University of Washington in St Louis, USA), and Professor David Hanley (University of Calgary, Canada), who have written nice things about me and my works.

As part of the prize conferring ceremony, each of finalists was interviewed and given a chance to articulate their views. When asked what would be the role of a modern university, I invoked the Humboldtian ideal of a university as an answer. I consider that universities should function as (a) producers of ideas and knowledge through high quality research; and (b) catalysts for technological and knowledge transfer through teaching and collaboration with the industry, in our case, with health care institutions. As a member of the UTS academic community, I am working toward that ideal.

—-

(1) The Chancellor’s Medal for Exceptional Research honours the very best research achievement by an individual researcher.

Catching up with my colleagues at UTS

I am talking about my work and my view on modern university

Kẻ đưa đò

Hôm nọ, tôi chủ trì buổi [cứ tạm gọi là] bảo vệ luận án tiến sĩ (1) của một em nghiên cứu sinh. Quan sát và nghe cách trình bày tôi thấy em ấy đã trưởng thành khá nhiều trong thời gian 4 năm qua. Nhìn lại mình, tôi chợt nhận ra cái hình tượng và vai trò của kẻ đưa đò của mình trong thời gian qua.

Người hướng dẫn tiến sĩ như kẻ đưa đò. Tôi thấy cách ví von bằng hình tượng này rất hay. Quan niệm của tôi về vai trò của người mentor là giúp nghiên cứu sinh trở thành ‘leader’ bằng cách giúp họ tiếp xúc những ‘leader’ trong chuyên ngành trên thế giới.

Bất cứ nghiên cứu sinh nào mới bước vào con đường nghiên cứu khoa học cũng đều có những … ngây ngô. Những ngây ngô rất dễ thương. Dù họ chẳng biết gì về vấn đề, nhưng họ người thì tham vọng đầy mình, người thì rụt rè thiếu tự tin. Có người vào con đường nghiên cứu với tham vọng chinh phục bệnh tật, muốn tìm ra tất cả những gì mình muốn tìm cho được. Trái lại, cũng có người e dè, rụt rè, sợ hãi, không biết tương lai sẽ ra sao, mình sẽ nghiên cứu cái gì, và kết quả như thế nào, có đủ chất liệu cho một luận án tiến sĩ. Dù tham vọng hay thiếu tự tin, tuyệt đại đa số các nghiên cứu sinh mới vào học cứ như là học trò tiểu học: ngơ ngáo.

Rồi họ phải qua một thời gian 4 năm (có khi 6 năm) rèn luyện trong cái lò gọi là “laboratory”. Trong cái lò đó, họ phải đọc rất nhiều bài báo khoa học, và chính vì thế mà người ta gọi học tiến sĩ là “reading”; họ phải thực hiện nhiều nghiên cứu; học cách thiết kế thí nghiệm và trân trọng dữ liệu; họ phải học cách phân tích dữ liệu; họ phải học cách diễn giải kết quả phân tích; họ phải học cách viết bài báo khoa học; họ phải học cách nói trong các hội nghị nhỏ và lớn; họ phải học đối nhân xử thế với đồng môn và biết đối xử với cấp trên trong chuyên ngành. Nói chung, họ phải trải qua một giai đoạn rèn luyện về “kĩ năng cứng” lẫn “kĩ năng mềm.”

Trong quá trình đào tạo đó, họ phải chịu rất nhiều “bầm dập” tinh thần. Xuất thân là những sinh viên xuất sắc (trong ngành y hay ngoài ngành y), nhưng khi vào học tiến sĩ thì cái quá trình đào tạo trong cái lò đó làm cho họ thấy mình như những kẻ ngu dốt. Có thể nói bất cứ cái gì họ làm cũng đều bị đánh giá là sai hay chưa ok! Làm cái gì cũng bị chê là sai, là chưa đúng, là chưa đạt. Trong seminar, phát biểu ra một ý nào đó thì bị thầy hay đồng nghiệp chê là học chưa đến và thiếu kiến thức. Diễn giải dữ liệu thì bị chê là kém hiểu biết! Viết văn thì bị chê là dở và bị chỉnh sửa như học trò tiểu học. Nói trước hội nghị thì bị chê là thiếu tính chuyên nghiệp. Nói chung, cái quá trình đào tạo tiến sĩ biến một nghiên cứu sinh sáng dạ và hăng hái khi mới vào học trở thành nhũn nhặn sau khi ra trường. Một lò đào tạo tốt phải làm cho người tốt nghiệp tự tin hơn về kĩ năng nhưng khiêm tốn hơn về kiến thức. Tự tin vì mình biết được vấn đề và có đóng góp vào giải quyết vấn đề. Nhưng khiêm tốn hơn vì biết mình còn có quá nhiều điều để học hỏi.

Nhưng cái hay của quá trình đào tạo đó là nó rèn luyện những sinh viên trưởng thành. Trưởng thành để tự nhận ra là mình còn ‘nhỏ’. Trưởng thành trong suy nghĩ một cách ‘critical’, và rèn luyện tính hoài nghi lành mạnh (healthy skepticism) trước những phát biểu khoa học. Trưởng thành trong cách phát hiện và giải quyết vấn đề. Trưởng thành trong tầm nhìn về chuyên ngành và có một bức tranh lớn trong đầu. Trưởng thành trong kĩ năng khoa học và văn hóa khoa học. Tuy nhiên, có không ít nghiên cứu sinh người Việt mới xong, thậm chí chưa xong chương trình đào tạo, mà đã tự cho mình là “expert” (chuyên gia) và phát biểu kiểu coi trời bằng vung, nhìn thấy ai cũng sai. Những người kém văn hoá này sẽ không bao giờ thành công trong khoa học.

Một ‘outcome’ quan trọng khác là quá trình đào tạo giúp cho sinh viên biết viết và biết nói tốt hơn. Viết và nói là hai kĩ năng rất cơ bản và gần như tự nhiên của con người, nhưng viết và nói trong môi trường khoa học là hai kĩ năng phải học chứ không thể có được một cách tự nhiên. Chỉ cần nhìn cách nghiên cứu sinh tốt nghiệp trình bày trong hội nghị, người ta có thể đoán được người đó được đào tạo hoàn chỉnh hay không.

Tốt nghiệp tiến sĩ cũng chỉ mới là bước đầu trong sự nghiệp khoa học. Tôi hay ví von rằng tốt nghiệp tiến sĩ như là mới xong huấn luyện ở một võ đường, người tốt nghiệp còn phải “xuống núi” đề đầu quân vào một võ đường khác — hay nói cụ thể hơn là làm nghiên cứu hậu tiến sĩ (postdoc) ở một labo khác. Các đại học Úc và Mĩ rất kị hiện tượng inbreeding tri thức, nên họ “đuổi” nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp sang một labo khác (trước khi quay về trường cũ). Phải sau khi xong chương trình postdoc thì mới bắt đầu trưởng thành trong khoa học được. Một điều đáng tiếc là rất nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam không có cơ hội làm nghiên cứu postdoc (hay có nhưng thời gian quá ngắn) nên họ chưa thật sự trưởng thành trong khoa học.

Điều làm cho nhiều nghiên cứu sinh lo lắng và mối tương tác với người thầy. Họ rất ngại lọai thầy “độc tài” và lọai thầy cô “vua chúa”. Hai loại thầy này không cần biết nghiên cứu sinh làm gì, họ chỉ cần có kết quả; họ xem nghiên cứu sinh như đám nô lệ rẻ tiền. Thân phận nghiên cứu sinh trong các labo nước ngoài giống như câu ca dao “thân em như tấm lụa đào / phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. May mắn gặp được thầy tốt thì êm xuôi, còn nếu xui xẻo gặp thầy “cà chớn” thì đành ôm mối hận dài lâu.

Đây là nghiên cứu sinh số 13 thuộc lab tôi, chưa kể 2 người ở Việt Nam và 1 ở Thuỵ Điển. Tôi đã có nghiên cứu sinh người Úc, Trung Đông, Tàu lục địa, Tàu Hồng Kông, người Việt từ Việt Nam và người Việt sanh ra và trưởng thành ở Úc. Phải nói rằng trong nhóm nghiên cứu sinh đó, nếu lấy thước đo về giải thưởng và công bố khoa học thì nghiên cứu sinh người Việt Nam là thành công nhất. Sự thật đó làm cho tôi tự hào. Điều đó cũng nói lên rằng nếu người Việt mình được đặt vào môi trường tốt thì họ sẽ có cơ duyên thi thố tài năng, và có lẽ [nếu không hơn người] thì cũng sẽ chẳng kém ai.

Tương lai sau khi tốt nghiệp tiến sĩ giống như bức hoạ cartoon này.

https://www.the-scientist.com/opinion/opinion-the-postdoc-crisis-34259

Nhưng con đường khoa học phía trước của các nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp còn gian nan lắm. Không phải như ở Việt Nam (nơi nghiên cứu sinh mới ra trường thì có khi thành quan chức, nhà quản lí, hay đảm nhiệm các chức vụ quan trọng), ở ngoài này thì các nghiên cứu sinh còn phải qua một giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sĩ (postdoc), và để có một vị trí postdoc là cả một cuộc cạnh tranh gian nan, chỉ có một số ít mới được vị trí này. Sau postdoc, còn phải phấn đấu để đạt các vị trí khoa bảng quan trọng trong đại học, và nhất là … xin tài trợ. Nhiều người có thể thành công trong học tiến sĩ, nhưng cứ “bồng bềnh” sau khi tốt nghiệp tiến sĩ.

Khó khăn đặc biệt là lớn đối với người Á châu chúng ta. Tôi mới thử làm một phân tích các dữ liệu của NHMRC (giống như NIH bên Mĩ) thì thấy đúng là người Á châu chúng ta gặp nhiều khó khăn trong nấc thang khoa bảng. Trong số hơn 2000 học bổng tiến sĩ do NHMRC cấp, có khoảng 20% là sinh viên gốc Á châu. Nhưng con số này rơi rụng dần dần khi leo những nấc thang cao hơn: ở cấp đầu sự nghiệp, trong số hơn 1000 nhà khoa học được cấp Early Career Fellowship, chỉ có 10% là gốc Á châu; nhưng ở cấp Research Fellowship (cấp giáo sư), thì trong số gần 600 người được trao ‘ghế’ , chỉ có 3.5% là nhà khoa học gốc Á châu! Trong số nhà khoa học được tài trợ dự án nghiên cứu cấp “Project Grants”, chỉ có 3% là nhà khoa học gốc Á châu, và ở cấp “Program Grants” thì không có người Á châu nào (zero). Khi nói “gốc Á châu” ở đây, chủ yếu là Tàu, kế đến là Ấn Độ. Riêng số người Việt trong các nấc thang trên thì còn ít lắm, chỉ đếm đầu ngón tay thôi. Những dữ liệu trên cho thấy ở cấp thấp, các nhà khoa học gốc Á châu khá thành công, nhưng ở cấp cao thì “rơi rụng” rất nhiều.

Nói như vậy để thấy con đường từ tốt nghiệp tiến sĩ đến một nhà khoa học độc lập và ‘thành công’ là rất gian nan. Nhưng “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi / mà khó vì lòng người ngại núi e sông,” không vì khó khăn mà “đầu hàng”. Ở nước ngoài — chứ đâu phải ở Việt Nam nơi mà yếu tố ngoài khoa bảng quyết định — mọi người đều có cơ hội để đạt được giấc mơ của mình. Quan niệm của tôi về hướng dẫn nghiên cứu sinh (tiếng Anh gọi là mentorship) là giúp nghiên cứu sinh tin vào tương lai, và đạt được hoài bão trở thành ‘leader’ bằng cách giúp họ tiếp xúc những ‘leader’ trong chuyên ngành trên thế giới. Tôi nghĩ quan niệm đó đúng với vai trò của kẻ đưa đò vậy. Đến đây, thì tôi đã làm tròn vai trò của kẻ đưa đò và sẽ lui vào hậu trường để quan sát thế hệ mới vươn lên.

===

(1) Ở Úc, không có buổi “bảo vệ luận án” như bên các nước Bắc Âu, vì nghiên cứu sinh thường xuyên báo cáo tiến độ nghiên cứu hàng 6 tháng (cấp khoa/trường) và hàng tuần/tháng (cấp labo). Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đều đa phần công bố trên các tập san khoa học, nên không cần buổi bảo vệ luận án. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn phải qua một buổi gọi là “Final Presentation” trước hội đồng trường và bất cứ ai muốn tham dự nghe.

"Ru" của Kim Thúy: điệu ru của người tị nạn

Có lẽ một số bạn biết rằng năm nay sẽ không có giải Nobel về văn chương, vì những lủng củng trong nội bộ Hội đồng Nobel. Thay vào đó là một giải thưởng có tên là “The New Academy Prize in Literature” (tương đương với giải Nobel). Một tin rất đáng để chia vui là trong danh sách ngắn cho giải New Prize gồm 4 nhà văn (1), có một nhà văn Canada gốc Việt tên là Kim Thúy. Nhà văn Kim Thúy viết về thân phận của những người tị nạn gốc Việt ở Canada, nhưng cũng là viết cho tất cả những người Việt tị nạn trên thế giới.

Nhà văn Kim Thúy, người Gia Nã Đại gốc Việt, thuyền nhân, người tị nạn. Kim Thúy sinh năm 1968, vượt biển đến Mã Lai năm 1978, định cư ở Quebec từ đầu năm 1979. Cô tốt nghiệp cử nhân ngôn ngữ học và cử nhân luật. Kim Thúy đến với văn chương một cách tình cờ, và tác phẩm đầu tay của cô, “Ru” viết về thân phận của những người Việt tị nạn, đã được dịch sang 27 ngôn ngữ trên thế giới (ngoại trừ Việt Nam).

Kim Thúy là một người Canada gốc Việt, một người tị nạn, một ‘boat people’ hay ‘thuyền nhân.’ Lý Thành Kim Thúy sinh vào năm Mậu Thân khói lửa (1968) tại Sài Gòn. Cô xuất thân từ một gia đình trung lưu ở Sài Gòn. Thân phụ cô là một giáo sư triết học và từng là dân biểu của VNCH. Ông ngoại của Kim Thúy từng là Phó Đô Trưởng Sài Gòn. Sau 1975, gia đình cô cũng như hàng triệu gia đình khác, cuộc sống bị đảo lộn. Căn biệt thự của gia đình bị người Bắc vào chiếm đóng và biến thành một trạm công an. Cả gia đình quyết định tìm đường đến tự do, và họ vượt biển trên một con thuyền nhỏ. Họ may mắn đến được Mã Lai vào năm 1978, và sống cuộc sống kham khổ trong trại tị nạn cùng với các đồng hương khác. Đến đầu năm 1979 thì gia đình cô được chấp nhận cho đi định cư ở Canada.

Kim Thúy đến với văn chương một cách tình cờ. Cô tốt nghiệp cử nhân về ngôn ngữ học và cử nhân luật từ Đại học Montreal. Cô từng làm việc như là một phiên dịch viên, một luật sư và từng về Hà Nội (1998) làm việc cho một hãng luật Canada. Sau đó, Kim Thúy và gia đình quay về Montreal, cô mở một nhà hàng tên là “Ru de Nam”. Kinh doanh nhà hàng được 5 năm, cô quay sang viết văn, ban đầu chỉ là viết để giải khuây, giải trí. tác phẩm đầu tay của cô có tựa đề đơn giản là “Ru”. Đây cũng là tác phẩm được đề cử và lọt vào vòng chung kết của giải New Prize in Literature, được xem là thay thế giải Nobel văn chương.

Tại sao “Ru”? Trong một bài phỏng vấn trên Đài Tiếng nói Hoa Kì (VOA), Kim Thúy giải thích rằng cô muốn người ngoại quốc biết tiếng Việt qua tên của tác phẩm. (Do đó, những sáng tác sau này cô đặt tựa đề chỉ một chữ Việt như “Mẫn“, “Vi“). Kim Thúy lí giải rằng “ru” trong tiếng Việt chỉ là một chữ ngắn từ cách viết đến phát âm, nhưng ý nghĩa của chữ thì dài lắm (như ru con chẳng hạn). Cô nói “nhìn chữ là thấy thương“! Ngoài ý nghĩa tiếng Việt, “Ru” còn có nghĩa là dòng suối nhỏ trong tiếng Pháp, cũng có thể hiểu là nước mắt. Tôi thì hiểu tựa đề cuốn tiểu thuyết như là “Điệu ru và nước mắt”.

Tác phẩm đầu tay của Nhà văn Kim Thúy qua bản dịch của cây bút Sheila Fischman.

Tôi đã đọc những điệu ru và nước mắt đó gần 10 năm trước, khi cuốn sách được giới thiệu nồng nhiệt trên báo chí Úc. “Ru” có thể xem là một tự truyện của Kim Thúy. Cuốn tiểu thuyết là câu chuyện về một phụ nữ tên là Nguyễn An Tịnh hồi tưởng lại quãng đời thiếu niên trong thời kì chiến tranh ác liệt ở Việt Nam, và chuyện cô vượt biển tìm tự do ở Canada. Cô viết:

Tên tôi là Nguyễn An Tịnh và má tôi tên Nguyễn An Tĩnh. Chỉ một dấu chấm ở dưới chữ ‘i’ như thế đã làm cho tôi khác biệt với má tôi như một gạch nối dài của bà. Chỉ một dấu chấm nhỏ đó cũng đủ để xác minh ý nghĩa của danh tính tôi. Trong tiếng Việt tên của má tôi có nghĩa là ‘bình an và tĩnh’ còn tên tôi nghĩa là ‘bình an và thế giới tịnh’. Từ những cái tên có thể thay đổi, má tôi đã xác định tôi là một mầm non của chính bà, một dấu gạch nối của lịch sử cuộc đời của bà.”

Nước mắt trong những ngày đầu định cư trên xứ người. Kim Thúy kể lại câu chuyện cảm động rằng cái ngày đầu tiên khi cả gia đình đáp xuống Canada, một người bảo trợ Canada lại ôm ba cô trong vòng tay và chào mừng đến Canada. Cái mở rộng của vòng tay đó như mở rộng cả tương lai của gia đình và của chính cô. Kim Thúy hồi tưởng rằng những ngày đầu tiên, có những người Canada tử tế đến cho giường, nệm, áo, và các đồ gia dụng để định cư. Có người hàng xóm cho gia đình cô cái áo lạnh bằng len và ba cô tự hào mặc nó suốt cả năm trời, mà không biết rằng cái áo đó dành cho phụ nữ! Cười ra nước mắt.

“Ru” cũng là một câu chuyện về sự khác biệt văn hóa và căn cước tính. Trong quá trình định cư ở Canada, gia đình của cô cũng phải từ bỏ lề lối cũ để thích nghi với xã hội mới. Từ một giai cấp trung lưu ở Việt Nam, bây giờ họ thuộc thành phần cùng cực trong xã hội mới. Nhưng họ đã sống sót và vươn lên. Nhưng trong “Ru” không có những hằn học hay nguyền rủa những kẻ cai trị cướp bóc mới, mà chỉ là những lời thủ thỉ về sự mất mát, về căn cước tính của người kể chuyện, và những lời tự tình đầy nhân văn tính. Câu chuyện về hai căn cước tính của một người tị nạn: một căn cước Việt Nam, và một căn cước Canada. Người tị nạn đó dù mang cái căn cước tính Canada, sống trong xã hội mới theo phương Tây, nhưng cái căn cước tinh thần vẫn là một người Việt. Hai cái căn cước tính đó thể hiện ngay trong văn phong theo Pháp, nhưng suy nghĩ và cách nhìn thì lại hoàn toàn Việt Nam.

Là người tị nạn và từng sống thời niên thiếu ở trong nước, nên sáng tác của Kim Thúy chịu ảnh hưởng bởi những mảnh đời sau sự sụp đổ của chế độ VNCH. Sống trong một gia đình trung lưu và còn quá nhỏ, nên nhân vật Nguyễn An Tịnh không cảm nhận được sự khốc liệt của chiến tranh:

Khi còn nhỏ, tôi nghĩ rằng chiến tranh và hòa bình là hai thái cực đối nghịch nhau. Tôi đã sống cuộc sống bình an trong lúc Việt Nam đang ở trong một cuộc chiến ác liệt, và tôi chỉ hiểu chiến tranh sau khi mọi người buông súng. […] Mẹ tôi thường trích dẫn câu tục ngữ trên mặt bảng đen của lớp 8 ở Sài Gòn ‘Ðời là một sự đấu tranh, và cái giá của buồn bã là sự thua trận’.” (2)

Sự thua trận đã cho ra đời tác phẩm “Ru”. Kim Thúy cho biết cô không có ý định trở thành nhà văn, mà ngược lại, văn chương đến với cô trong lúc cô nghỉ việc ở nhà để nghĩ về tương lai. Cố cho biết cô hay ngủ gục ở những đèn xanh, đèn đỏ Montreal vì mất ngủ và quá mệt trong việc làm. Cô cố gắng làm cho mình thức tỉnh bằng cách ăn hạt dưa, nhưng ăn mãi rồi bị hư răng, và người em nha sĩ của cô khuyên không ăn hạt dưa nữa. Thế là thay vì ăn hạt dưa, cô chọn viết: viết văn trong lúc chờ đèn xanh ở các giao lộ! Viết càng nhiều cô càng thích viết văn. Sau khi đóng cửa nhà hàng, chồng cô không cho đi làm nữa, và nên ở nhà tịnh dưỡng. Chính thời gian rảnh rổi ở nhà, cô đến với văn chương và viết cuốn tiểu thuyết “Ru”. Viết về những kí ức vụn thời mới định cư ở Canada, về những kỉ niệm trong gia đình, và đứa con mắc bệnh tự kỉ. Có thể nói rằng “Ru” lấy câu chuyện của đứa con tự kỉ để nhắc lại những ngày đầu tị nạn mà cô không nghe được và không nói được ngôn ngữ địa phương. (Cũng xin mở ngoặc rằng bây giờ thì Kim Thúy nói thạo cả tiếng Pháp, tiếng Anh, và tiếng Việt nữa).

Tác phẩm “Ru” được rất nhiều tán dương từ các nhà phê bình văn học quốc tế. Tôi thấy Nhà phê bình Jerôme Garcin nhận xét rất đúng rằng Kim Thúy như là người chắt chiu những mảnh vỡ kí ức của hơn 30 năm, tương tự như những mảnh vỡ của một cái bình sơn mài tuyệt đẹp của Việt Nam. Mặc dù Kim Thúy mô tả văn chương của mình là chỉ “viết chơi” thôi, nhưng cái tài bẩm sinh là ở chỗ đó, viết chơi mà được đón nhận nồng nhiệt khắp nơi trên thế giới.

Cuốn sách đã được dịch sang 25 (hay 27) ngôn ngữ, và được lưu hành từ Âu sang Á. Nhưng sách vẫn chưa về đến Việt Nam. Kim Thúy nói nửa đùa nửa thật rằng có lẽ “Ru” viết về cuộc đời tị nạn và chuyện vượt biển mà ở trong nước nhà cầm quyền vẫn chưa cảm thấy thỏa mái khi đề cập đến một mảng lịch sử đau buồn đó. Đó cũng là một thiệt thòi cho thế hệ sau này ở Việt Nam.

Cuốn sách (bản tiếng Anh) chỉ có khoảng 150 trang, nhưng không dễ đọc chút nào. Rất nhiều lần tôi … bỏ cuộc. Nhưng rồi vì tò mò và cũng muốn thấy lại mình trong sáng tác, nên lại đọc tiếp. Do đó, dù chỉ 150 trang nhưng phải tốn cả tháng trời mới đọc và hiểu cuốn sách. Tại sao khó đọc? Tại vì trong “Ru”, Kim Thúy cấu trúc câu chuyện không phải theo chương như cách làm truyền thống của các nhà văn, mà là theo đoản khúc (‘vignette’), có khi rất rời rạc. Còn văn phong thì đầy tính ẩn dụ, thi vị, rất nữ tính, và có khi … hài hước. Những ấn tượng đầu đời của một em bé 10 tuổi trên xứ người, từ câu nói đến cái mông tròn trịa của cô giáo người Pháp, được Kim Thuý mô tả rất hồn nhiên. Tuy lối viết độc đáo đó không phải ai cũng thích, nhưng giới văn học thì khen hết lời. Chủ bút báo Figaro (Pháp) khen như sau: “Cách viết văn của Kim Thúy tựa như những dòng thi ca trôi đi, như dòng chảy của con suối nhỏ, nó chuyển tải và hiệu triệu những chất liệu cuộc sống.”

Trong vài năm gần đây, trong cộng đồng người Việt tị nạn ở các nước Tây Âu đã xuất hiện vài văn tài đáng chú ý. Nổi tiếng nhất có lẽ là Nguyễn Thanh Việt (giải Pulitzer), nhưng còn có nhiều nhà văn gốc Việt khác cũng sáng chói trên văn đàn quốc tế. Trong số này phải kể đến Linda Le (Pháp), Thi Bui (Mĩ), Ocean Vuong (Mĩ), Monique Truong (Pháp), Nam Le (Úc), Lai Thanh Hà (Mĩ), Nguyễn Hoài Hương (Pháp), v.v. Nay có thên một Kim Thúy vào chung kết cho giải thưởng ngang tầm giải Nobel văn chương. Có phải người Việt chúng ta có “gene văn chương”? Đa số họ khai thác những chủ đề liên quan đến người tị nạn, những hồi tưởng về trại tị nạn vùng Đông Nam Á, những khó khăn trong cuộc sống mới trên xứ người, và những xung đột nội tâm về căn cước tính của người tị nạn.

Kim Thúy cũng khai thác những chủ đề tị nạn và người tị nạn. Có người xem “Ru” là một thách thức xã hội về tình trạng kì thị người di cư, nhưng Kim Thúy cho biết cô không thách thức ai cả, mà “Ru” chỉ là một cái note cám ơn, mà cô gọi là “homage”. Cám ơn những người Canada đã tiếp nhận gia đình cô và những người tị nạn Việt Nam. Trong một phỏng vấn trên đài truyền hình Canada, Kim Thúy nói rằng khi nhìn lại hình ảnh của mình trong trại tị nạn, cô thấy hình ảnh của những con người xấu xí, dơ bẩn, và vô vọng; không có lí do gì Canada nhận họ, nhưng trong thực tế thì Canada đã mở rộng vòng tay đón nhận họ. Đó là một cái ơn lớn, và cuốn tiểu thuyết “Ru” được cô xem là một cái note — chỉ là một ghi chú thôi — để cám ơn những người công dân vô danh Canada đã cho các thuyền nhân như cô một cơ hội tuyệt vời mà họ đã mất đi ngay trong quê hương họ được sinh ra. Chúng ta, những ‘thuyền nhân’, phải cám ơn Kim Thúy vì cô ấy đã nói được lời cảm ơn tuyệt vời qua “Ru”.

Tác phẩm “Ru” còn chuyển tải những nét văn hóa và những truyền thống đặc thù của Việt Nam đến độc giả nước ngoài. Nó giúp cho độc giả nước ngoài khám phá và hiểu hơn những suy nghĩ và lịch sử của người Việt chúng ta. Nhưng Kim Thúy cho biết những gì cô viết chẳng là gì so với thực tế. Cô nói “Khi tôi viết, ở một khía cạnh nào đó, tôi không đem lại công bằng cho thực tế. Hiện thực lớn hơn và kì vĩ hơn những gì chúng ta có thể tưởng tượng.” Quả thật như vậy. Hiện thực thuyền nhân và những đấu tranh sinh tồn trong xã hội mới phong phú hơn và giàu chất liệu hơn bất cứ một tiểu thuyết nào. Nhưng tiểu thuyết có khả năng dựng lại những câu chuyện mà nhân sự không có khả năng tự thuật. Những thảm cảnh ập đến thuyền nhân trong những chuyến hải hành; những căn lều tạm bợ và thô sơ ở trại tị nạn; những mảnh đời cười ra nước mắt trong trại tị nạn; những cơn mưa nhiệt đới; những công việc nặng nhọc trong nhà bếp, từ lau nhà đến rửa chén trong các quán ăn; những bước thăng tiến trong học hành và công việc; những thăng hoa và buồn tủi trong cuộc sống mới, tất cả cần phải được ghi lại để thế hệ sau hiểu rõ hơn về một mảng lịch sử bị cố tình bỏ quên. “Ru” đã làm được cái việc đó cho rất nhiều thuyền nhân thuộc thế hệ tôi. Tự truyện của cô cũng là tự truyện của hàng triệu thuyền nhân khác trên khắp thế giới.

Nhiều người thuộc thế hệ tôi không có khả năng viết lách để kể lại câu chuyện của mình. Nhưng thế hệ tôi có những kí ức có thể giúp cho thế hệ sau có chất liệu để trở thành một Kim Thúy khác. Xin trích một câu nói của Kim Thúy viết về người thân sinh của cô để minh họa: “Ba má tôi thường hay nhắc nhở chúng tôi rằng họ không có tiền để lại cho các con, nhưng tôi nghĩ họ đã để lại cho chúng tôi những kí ức dồi dào, giúp cho chúng tôi hiểu rõ cái đẹp của hoa đậu tía (wisteria), cái tinh tế của con chữ, và sức mạnh của kì quan. Họ còn cho chúng tôi đôi chân để đi trên những giấc mơ đến vô cùng, và đó chính là hành trang để chúng tôi tiếp tục hành trình của mình.”

Bối cảnh của Ru là chiến tranh Việt Nam, là những mảnh đời cùng cực trong trại tị nạn, và những câu chuyện sống sót của người tị nạn ở Canada. Như cô từng thổ lộ, Ru là một quyển sách của những “từ khóa” (keywords); khi cô ấy nói ‘trái táo’, độc giả nghĩ rằng cô ấy vẽ trái táo cho họ, nhưng quả thật độc giả đã đem lại chiều kích thứ 3 cho tác phẩm. Cái chiều kích thứ 3 đó, theo tôi, là Kim Thúy đã giúp cho chúng ta — dù là thuyền nhân hay không phải thuyền nhân — khám phá được những cung bậc yêu thương và lòng vị tha của con người ở ngay trong những thời điểm cùng cực khổ nạn nhất. Chính lòng vị tha và cung bậc yêu thương đó là yếu tố phân định giữa một bên là cái thiện và một bên cái ác đã xô đẩy quá nhiều người ra khỏi quê hương.

Dù giải thưởng “The New Academy Prize in Literature” đã chưa đến tay Kim Thúy lần này (3), nhưng văn tài của cô đã được công nhận là ở đẳng cấp Nobel.

===

(1) https://www.cbc.ca/books/montreal-s-kim-th%C3%BAy-shortlisted-for-alternative-nobel-prize-1.4804617

Bốn nhà văn được short-listed là Haruki Murakami (Nhật), Kim Thúy (Canada), Maryse Condé (Guadeloupe), và Neil Gaiman (Anh).

(2) “Life is a struggle and the price of sadness is defeat.”

(3) Nhà văn Maryse Condé được trao giải thưởng “The New Academy Prize in Literature” năm 2018:

https://www.nytimes.com/2018/10/12/books/maryse-conde-alternative-lobel-literature.html

Fellow of the American Society for Bone and Mineral Research

I have just attended the Annual Scientific Meeting of the American Society for Bone and Mineral Research in Montréal (Canada). It was a rewarding occasion, with so many new advances in bone health and osteoporosis being presented at the Meeting. Along with other colleagues, I was formally admitted to the Society as a new Fellow (1).

New Fellows of the American Society for Bone and Mineral Research

The Fellowship program of the ASBMR is recognize individual scientists who have made distinguished contributions to the field of bone science and osteoporosis research. For me, I have been a member of the ASBMR for more than 25 years, and during that time, I have published 51 papers in the Journal of Bone and Mineral Research (JBMR), and these papers have received more than 4600 citations. I have served on the Editorial Board of the JBMR for more than 15 years, and I am now an Associate Editor of the Journal, where I am responsible for manuscripts related to epidemiology, genetics and biostatistics.

In the role of Associate Editor, I need your help. I am looking for experts who can review papers in the field of clinical medicine, genetics and genomics, and epidemiology. If you would like to help, please feel free to contact me on my website’s contact.

(1) http://www.asbmr.org/fellows-of-the-asbmr

The Fellow of the ASBMR designation recognizes long-term members who have shown a commitment to ASBMR through service as a volunteer of the Society, have made outstanding contributions to the field of bone and mineral science, and have published in the Journal of Bone and Mineral Research (JBMR®). Fellows are nominated by their peers, followed by an evaluation and selection by a review committee and approved by the ASBMR Council.

Nói không với dự án Cái Lớn, Cái Bé – Đi tìm các giải pháp phi công trình cho Đồng bằng Sông Cửu Long

Lời giới thiệu: Thời gian gần đây, trước những tin tức thời sự về sách giáo khoa và chính trị, ít ai chú ý đến một siêu dự án có thể gây tác động khôn lường đến Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL): đó là dự án xây đập sông Cái Lớn và Cái Bé (Kiên Giang). Nhưng có một người ở nước ngoài lúc nào cũng đau đáu nghĩ về sông Cửu Long: đó là Nhà văn Bs Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn sách nổi tiếng “Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng“. Trong bài viết dưới đây, Bs Ngô Thế Vinh chỉ ra những tác hại có thể thấy trước được nếu siêu dự án này thành hiện thực.

Đồng bằng sông Cửu Long là một vùng đất quan trọng của Việt Nam và Á châu. Với 18 triệu dân ở vùng này, mỗi năm xuất khẩu trị giá trên dưới 16 tỉ USD, và con số này tăng 6-7% mỗi năm. Số lượng gạo xuất khẩu từ ĐBSCL (gần 5 triệu tấn) chiếm 95% tổng số lượng gạo xuất khẩu của cả nước. Tuy dân số ĐBSCL chiếm 22% tổng dân số cả nước, nhưng GDP của vùng chiếm 27% GDP của cả nước.

Tuy nhiên, có thể nói không ngoa rằng ĐBSCL đang ‘lâm nguy’. Việc canh tác càng ngày càng khó khăn, thu nhập từ làm ruộng bị suy giảm mỗi năm, nên nông dân dần dần bỏ ruộng đi làm công nhân. Hạn hán kéo dài và nước mặn xâm nhập làm cho có năm hơn 500,000 ha không thể canh tác và 575,000 người thiếu nước ngọt. Thêm vào đó là sức ép dân số cùng với việc sử dụng thuốc trừ sâu bừa bãi dẫn đến ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm sông nước hết sức nghiêm trọng. Nhà tôi ở ven sông vốn là một nhánh nhỏ của sông Cái Lớn, ngày xưa cá tôm tràn đầy, nhưng ngày nay thì chẳng còn bao nhiêu, và thay vào đó là rác rưởi đầy sông, không ai dám tắm sông vì nước sông bị ô nhiễm ghê gớm. Có thể nói rằng những con sông ở vùng ĐBSCL đã và đang chết dần.

Do đó, nhà chức trách phải có hành động để ‘giải cứu’ ĐBSCL. Biện pháp các nhà chức trách nghĩ đến là xây đập thuỷ lợi trên sông Cái Lớn và Cái Bé. Sông Cái Lớn rộng 500-650 m và sâu 12-14 m; sông Cái Bé nhỏ hơn phân nửa sông Cái Lớn; hai sông này đem nước mặn vào bán đảo Cà Mau và Vị Thanh. Do đó, trên lí thuyết, mục đích của đập sông Cái Lớn và Cái Bé là điều tiết nước mặn, ngọt cho phù hợp với mùa vụ địa phương.

Mới nghe qua về mục đích thì cũng có lí, nhưng trong thực tế thì phức tạp hơn nhiều, và dự án này đã gặp phải nhiều phản đối gay gắt từ giới khoa học. Những quan tâm mà giới khoa học nêu lên là: (i) đập sẽ làm thay đổi dòng chảy tự nhiên của nước, gây tác hại đến phù sa và thuỷ sản; (ii) đập sẽ làm cho tình trạng ô nhiễm càng trầm trọng và nguy hiểm hơn; và do đó (iii) sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế của các nước và cuộc sống của người dân trong vùng.

Biện pháp xây đập mang tính chắp vá hơn là theo một kế hoạct tổng thể cho toàn vùng. Thật vậy, tỉnh Kiên Giang chỉ là một tỉnh trong số 13 tỉnh thành; do đó, xây đập ở đây có thể giải quyết một vấn đề cho tỉnh, nhưng lại gây tác hại cho các nơi khác (hay thậm chí ngay trong tỉnh). Cần nói thêm rằng trước đây đã có cống đập Ba Lai (xây năm 2002) và công trình Quản Lộ – Phụng Hiệp (1990), nhưng cả hai công trình này đều chẳng đem lại lợi ích cho ĐBSCL nói chung. Giáo sư Võ Tòng Xuân chỉ ra rằng ở Hà Lan trước đây người ta cũng xây đập để giữ ngọt và ngăn mặn, nhưng vì gặp qúa nhiều tác hại và gây ô nhiễm môi trường, nên họ cũng phải phá bỏ để khai thông dòng chảy tự nhiên. Ấy vậy mà ngày nay, nhà chức trách lại đi theo vết xe đổ của người khác!

Dự án xây đập sông Cái Lớn và Cái Bé có giá trị hơn 3300 tỉ đồng (khoảng 165 triệu USD), nhưng đọc báo cáo dài gần 400 trang về tác động môi trường tôi phải nói là quá sơ sài. Báo cáo có nhiều chất liệu cảm tính và duy ý chí hơn là khoa học. Khó thấy những dữ liệu từ nghiên cứu khoa học trong báo cáo. Nếu có thì nguồn số liệu không rõ ràng, hoặc lạc hậu. Không thấy những công trình nghiên cứu mô phỏng “what if” (việc gì xảy ra) trong báo cáo về tác hại đến ô nhiễm môi trường và tác hại đến nông thuỷ sản. Phần dự báo về ô nhiễm (3 trang) vô cùng sơ sài và chẳng có cơ sở khoa học nào cả. Đọc báo cáo này, ai cũng có thể thấy rõ ràng rằng dự án có thể ví von như được “xây dựng trên cát”, vì thiếu những nghiên cứu khoa học trước đó. Do đó, đứng trên quan điểm khoa học, dự án này không có cơ sở khoa học vững chắc.

Bất cứ can thiệp nào vào thiên nhiên cũng đều có thể đem lại lợi ích và tác hại. Vấn đề là tìm một biện pháp can thiệp đem lại lợi ích nhiều hơn tác hại. Nhìn vào những con đập hiện nay, chúng ta có thể dự báo rằng quyết định xây dựng đập trên sông Cái Lớn và Cái Bé có thể gây tác động đến môi sinh, xã hội và kinh tế của gần 20 triệu người, và ảnh hưởng tiêu cực đến vựa lúa lớn nhất của Á châu. Một quyết định như thế cần phải dựa trên luận cứ khoa học, chứ không thể dựa trên ý chí chủ quan. Hãy dừng ngay dự án, và bắt đầu làm nghiên cứu khoa học để đánh giá lợi và hại của các con đập hiện nay và trong tương lai.

NVT

===============

Nói không với dự án Cái Lớn, Cái Bé – Đi tìm các giải pháp phi công trình cho Đồng bằng Sông Cửu Long

Ngô Thế Vinh | 3-10-2018

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

và 18 triệu Cư dân Đồng Bằng Sông Cửu Long

Bây giờ chính sách phát triển thủy lợi của Việt Nam phải được chuyển đổi theo sự chuyển hướng của nông nghiệp, không thể theo mục tiêu cũ để tiếp tục tăng sản lượng lúa thông qua thâm canh nông nghiệp mà phải theo mục tiêu cải thiện sinh kế của nông dân thông qua đa dạng hóa cây trồng và canh tác tổng hợp. Nhưng rất tiếc các nhóm lợi ích vẫn bám mục tiêu đầu tiên đòi hỏi phải xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn, xây dựng cống đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước ngọt quí hiếm từ Sông Hậu xa tít để tiếp tục bắt dân trồng lúa, như Dự án Sông Cái Lớn – Cái Bé (CLCB). Nhóm lợi ích luôn có thế lực mạnh, để được duyệt dự án thì họ mới có ăn, mặc kệ dân trồng lúa cứ nghèo.” [Trao đổi cá nhân giữa GS Võ Tòng Xuân và Ngô Thế Vinh, qua một eMail ngày 16.09.2018]

Hình 1: trên và dưới, phối cảnh tổng thể Cống Cái Lớn, Cống Cái Bé, được mệnh danh là Công trình Thế Kỷ: hệ thống vĩnh cửu cống ngăn mặn CLCB, nếu thực hiện, theo ý kiến của các chuyên gia độc lập thì không những rất tốn kém (hơn 3 ngàn tỉ đồng) và không cần thiết, lại có nhiều rủi ro tiềm ẩn, huỷ hoại rộng rãi cả một hệ sinh thái mong manh của Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL). Một dự án từ Bộ NN & PTNT hoàn toàn đi ngược với tinh thần Nghị Quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu do TT Nguyễn Xuân Phúc ký ban hành ngày 17.11.2017 trong đó nhấn mạnh nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.” (1,2)

NHỮNG CÔNG TRÌNH THẤT BẠI Ở ĐBSCL: CÓ BÀI HỌC NÀO ĐƯỢC RÚT RA HAY AI NHẬN TRÁCH NHIỆM

Từ hơn hai thập niên, người viết đã không ngừng lên tiếng về mối nguy cơ trên toàn hệ sinh thái lưu vực Sông Mekong do những con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc, tới chuỗi 9 con đập thuỷ điện dòng chính của Lào, rồi tới 2 dự án đập của Cambodia: ngoài những hậu quả rối loạn về dòng chảy, mất nước nơi các hồ chứa và quan trọng nhất là mất nguồn cát nguồn phù sa, dẫn tới một tiến trình đảo ngược khiến một ĐBSCL đang dần tan rã. Đồng bằng đang tan rã theo các bờ sông và sạt lở dọc theo duyên hải Biển Đông.

Với những mối hoạ từ thượng nguồn, thực tế cho thấy Việt Nam đã không thể làm gì được. Tuy là một quốc gia cuối nguồn, Việt Nam đã không thể ngăn cản được một dự án thuỷ điện phía thượng nguồn lưu vực Mekong nào cả, đó là chưa kể Việt Nam còn thúc đẩy quá trình ấy thông qua việc xây dựng nhà máy thuỷ điện ở Lào và Cambodia và gần đây nhất là mua điện từ Lào. Kể từ ngày Ngoại trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm phạm phải một sai lầm chiến lược khi đặt bút ký Hiệp định Uỷ hội Sông Mekong / Mekong River Commission năm 1995 từ bỏ quyền phủ quyết / veto vốn đã có trong Hiệp ước Uỷ Ban Sông Mekong / Mekong River Committee năm 1957 từ thời Việt Nam Cộng Hoà.

Và mọi người chắc vẫn không quên sự kiện nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phải kêu gọi Trung Quốc xả nước từ đập thuỷ điện Cảnh Hồng / Jinhong Dam Vân Nam để cứu hạn cho ĐBSCL trong những ngày cuối tháng 03 năm 2016.

Nhưng còn phải kể tới những công trình phát triển tự huỷ / self-destructive development ngay nơi ĐBSCL trong bốn thập niên qua với những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên tài nguyên và sự sống còn của cả một vùng châu thổ cuối nguồn Sông Mekong. Điển hình có thể kể, từ sau 1975:

_ Xây đê đắp đập chắn lũ hệ thống đê bao để mở rộng khu làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên khu Tứ Giác Long Xuyên và vùng trũng Đồng Tháp Mười.

_ Xây hệ thống cống đập chắn mặn phá vỡ nhịp đập thiên nhiên của hệ sinh thái ĐBSCL điển hình là 2 dự án lớn: Ngọt hoá Bán Đảo Cà Mau và Công trình Cống đập Ba Lai.

NGỌT HOÁ BÁN ĐẢO CÀ MAU: MỘT ĐIỂN HÌNH HỐI TIẾC

Công trình Quản Lộ – Phụng Hiệp, ngọt hóa Bán đảo Cà Mau được khởi công từ đầu thập niên 1990 với vốn 1,400 tỉ đồng vay từ World Bank/ Ngân hàng Thế giới. Trong suốt giai đoạn 1990 đến năm 2000, hàng trăm cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được rộng rãi đầu tư. Theo tính toán – trên lý thuyết của ngành thủy lợi thuộc Bộ NN & PTNT, hệ thống đưa nước ngọt từ Sông Hậu về Bán đảo Cà Mau sẽ cung cấp nước tưới, chủ yếu trồng lúa, cho 70,000 ha đất của tỉnh Bạc Liêu, 50,000 ha đất của Cà Mau và 66,000 ha đất của Kiên Giang.

Hình 2: Bản đồ hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt nơi vùng châu thổ Đồng Bằng Sông Cửu Long. Nguồn: Amir Hosseinpour (ZEF), trích dẫn bởi Simon,2014 (6)

Hình 3: Bản đồ Quy hoạch thủy lợi vùng Nam Bán Đảo Cà Mau. (6)

Với những hậu quả là: Về khía cạnh công trình, do các cống ngăn mặn đã gây cản trở giao thông trên sông rạch nên phải làm thêm những công trình khác như âu thuyền Tắc Thủ, được xây từ năm 2001 tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, thuộc hai huyện Thới Bình và U Minh, Cà Mau với kinh phí gần 80 tỉ đồng nữa. Công trình này do Cty CP Tư vấn XD Thủy lợi II thiết kế và xây dựng. Âu thuyền Tắc Thủ [Hình 4] sau khi hoàn thành năm 2006, đã chứng tỏ không những là vô dụng, mà còn gây thêm cản trở giao thông. Cho đến nay, hầu như không ai chịu trách nhiệm về kế hoạch thất bại và đầu tư lãng phí này. (6)

Hình 4: Âu thuyền Tắc Thủ do Cty CP Tư vấn XD Thủy lợi II thiết kế và xây dựng từ 2001 tại ngã ba sông Ông Đốc – Cái Tàu – sông Trẹm, Cà Mau, với kinh phí gần 80 tỉ đồng nhưng sau khi hoàn thành năm 2006, đã chứng tỏ là vô dụng, mà còn gây thêm cản trở giao thông. Photo by Nguyễn Kiến Quốc (6)

Về khía cạnh hệ sinh thái, do dòng chảy sông rạch thường xuyên bị chặn lại bởi các cống, nên sự kết nối hữu cơ giữa hệ sinh thái sông-biển với thủy triều từ biển là hoàn toàn bị triệt tiêu trong thời gian cống bị đóng. Và khi mở cống, ô nhiễm tích luỹ lại theo dòng nước lan toả huỷ diệt sinh cảnh và nguồn thuỷ sản nơi cửa sông và vùng cận duyên.

Phía trong cống không còn hiện tượng nước lớn, nước ròng mỗi ngày, hoặc nước rong nước kém cho chu kỳ rằm mỗi nửa tháng. Khi chưa có cống đập, thủy triều trong sông rạch vùng Bán đảo Cà Mau tuy không đều nhưng có khi biên độ cao đến gần 2 mét. Do các cống đóng suốt mùa khô, nên khúc sông bên trong trở thành hồ nước tù đọng khiến tình trạng ô nhiễm gia tăng. Rác rưởi từ nguồn phế thải gia cư, cộng thêm với các độc chất phục vụ trồng lúa như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón hoá học tràn xuống tích tụ dày đặc. [Hình 5]

Hình 5: ở những nơi dòng sông không chảy, ĐBSCL dày đặc ô nhiễm và sinh cảnh thì đang chết dần. Photo by Ngô Thế Vinh 12.2017

Và theo Nhóm Nghiên Cứu Mekong từ ĐH Cần Thơ (6), hệ thống các cống chặn mặn làm mất nguồn năng lượng dòng chảy nước ngọt từ phía thượng nguồn (mũi tên màu xanh) và năng lượng thuỷ triều đem dòng nước mặn từ biển vào (mũi tên màu đỏ) khiến môi trường tự nhiên của ĐBSCL không còn được tẩy rửa hàng ngày (con nước lớn- con nước ròng), hàng tháng (con nước rong- con nước kém), và hàng năm (mùa nước nổi- mùa nước cạn) như trước kia. Hệ quả là hàm lượng oxy hòa tan (DO) trong nước rất thấp khiến sông rạch mất cả khả năng tự làm sạch nguồn nước bằng cơ chế oxy hóa. [Hình 6]

Hậu quả ô nhiễm là nước trong các sông rạch đổi sang màu đen, bốc mùi hôi thối do các chất hữu cơ phân hủy; và nguồn nước trong các vùng thủy lợi không còn sử dụng được cho mục đích ăn uống, kể cả sinh hoạt tắm giặt hàng ngày. Người dân nay phải sống bằng nước ngọt bơm từ những giếng ngầm, nguồn nước ngầm này cũng ngày một hạ thấp và có nơi cư dân đã phải khoan đến độ sâu 80 – 120 mét để tới được nguồn nước ngọt. Nhu cầu khai thác tầng nước ngầm để lấy nước ngọt quá lớn đang làm gia tăng tốc độ sụt lún đất ĐBSCL nhanh gấp nhiều lần hơn nước biển dâng. (6)

Hình 6: nhờ năng lượng dòng chảy nước ngọt từ phía thượng nguồn (mũi tên màu xanh) và năng lượng dòng nước mặn từ biển (mũi tên màu đỏ) mà môi trường tự nhiên của ĐBSCL được tẩy rửa hàng ngày (con nước lớn-ròng), hàng tháng (con nước rong-kém), và hàng năm (mùa nước nổi-cạn). Nguồn nước này cũng giúp cho nước chảy được trong các kênh rạch vì địa hình ĐBSCL quá bằng phẳng. (6) Những cống đập ngăn mặn của Bộ NN & PTNT đang “khai tử”dòng chảy và nhịp đập / Mekong Delta Pulse của hệ sinh thái ĐBSCL.

Về khía cạnh tài nguyên, nguồn thủy sản cũng là nguồn chất đạm/ protein quan trọng trong mỗi bữa ăn với tô cá chén cơm của cư dân ĐBSCL bị sút giảm nghiêm trọng: các loài cá trắng của nước chảy có nguy cơ bị tiêu diệt do dòng sông bị chặn bởi các cống đập, chỉ còn lại các loài cá đen nước tù của ao hồ như cá lóc, cá trê, cá rô phi… Đây là hậu quả tất yếu khi mà hệ sinh thái sông ngòi (riverine environment) đã bị chuyển sang hệ sinh thái ao hồ (lacustrine environment) (Nguyễn Hữu Thiện, 2018).

Do môi trường nước cực kỳ ô nhiễm, lại thêm, lục bình phát triển tràn lan phủ kín cả mặt thoáng sông rạch khiến ghe tàu đi lại rất khó khăn nên nhiều nơi người dân đã phải phun thuốc diệt cỏ trên lớp lục bình nhằm khai quang thuỷ lộ khiến nước sông càng ô nhiễm thêm nữa; [Hình 7] và do thiếu nguồn chất đạm từ tôm cá và các loài thuỷ sản khác đã ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng, trẻ em có nguy cơ bị suy dinh dưỡng.

Hình 7: Những giề lục bình phủ kín sông rạch do nước tù đọng phía trong các cống chắn khiến ghe tàu đi lại khó khăn, nhiều nơi người dân đã phải dùng thuốc diệt cỏ để khai quang lục bình nhằm tạo lối đi khiến nước sông lại càng thêm ô nhiễm. Lục bình còn ngăn cản ánh sáng và không khí rất cần thiết cho sự sống còn của các loài thuỷ sinh. Photo by Ngô Thế Vinh 12.2017

Các loại cây quen sống ở vùng nước lợ, điển hình như cây dừa nước, hư hại và chết do vùng nước lợ bị ngọt hoá. Nói chung, toàn thể tính đa dạng của hệ sinh thái khu vực quy hoạch bị xuống cấp và bị huỷ hoại nghiêm trọng.

Về phương diện xã hội, ở những nơi có cống đập chặn dòng, do việc canh tác trở nên khó khăn, chi phí cao mà lợi nhuận sút giảm, cộng thêm môi trường nước bị ô nhiễm, là một trong những lý do khiến tình trạng di dân ngày càng phổ biến và nhiều người đã bỏ đồng ruộng đi tìm kế mưu sinh ở các khu công nghiệp bên ngoài ĐBSCL hoặc trên thành phố. (6) Trong hai thập niên qua đã có ngót 2 triệu cư dân ĐBSCL phải rời bỏ quê hương vốn được coi là “vùng mật ngọt” với gạo trắng nước trong tôm cá đầy đồng thì nay phải ra đi tìm kế sinh nhai. Trong nghịch cảnh đó thì phụ nữ và trẻ em là bị nhiều tổn thương nhất.

Hình 8: Người dân Bạc Liêu và rồi lan sang Cà Mau rủ nhau đi phá cống đập ngăn mặn. Nguồn: tư liệu VTV, Giữa đôi dòng mặn ngọt 1998 (6) https://vtv.vn/video/phim-tai-lieu-giua-doi-dong-man-ngot-83951.htm

Kết quả là chỉ sau hơn 5 năm, công trình ngọt hóa Bán đảo Cà Mau đã bộc lộ những bất cập giữa lý thuyết và thực tế gây nhiều khó khăn cho đời sống cư dân trong vùng. Từ năm 1997-1998, đã có hàng trăm nông dân đòi phá các hệ thống cống đập này để lấy nước lợ vào nuôi tôm; tháng 7/1998 nông dân Bạc Liêu kéo nhau đi phá đập Láng Trâm và phong trào phá cống ngăn mặn lan sang tỉnh Cà Mau. [Hình 8]

Cuối cùng, sau năm 2000 Chính quyền phải nhượng bộ để cho các tỉnh trong vùng dự án chuyển đổi 450,000 ha đất trồng lúa sang vùng nuôi tôm, cũng có nghĩa là bước sửa sai để đưa vùng đất này trở về điểm xuất phát, trả lại hệ sinh thái tự nhiên của hai mùa mặn ngọt.

Không chỉ có vậy, ngoài sự lãng phí 1,400 tỉ đồng, Dự án Ngọt hoá Bán đảo Cà Mau, cho dù có sửa sai nhưng vẫn còn để lại những tổn thất về môi trường tự nhiên và nguồn tài nguyên và càng làm cho đất nước càng nghèo thêm. Các mục tiêu chính của dự án Ngọt hóa Bán đảo Cà Mau gần như hoàn toàn thất bại.

CỐNG ĐẬP BA LAI: THÊM MỘT HỐI TIẾC NỮA

Sau thất bại của công trình Ngọt Hoá Bán đảo Cà Mau, tưởng như đã là một bài học, nhưng vẫn tiếp theo dự án Cống đập Ba Lai, thêm một bài học không học / unlearned lesson vẫn phát xuất từ Bộ NN & PTNT.

Được khởi công tháng 02.2000, công trình chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị kéo sang xã Tân Xuân. Kinh phí ban đầu lên tới hơn 66 tỷ đồng VN. Trên lý thuyết – như từ bao giờ vẫn trên lý thuyết, cống đập Ba Lai có chức năng: ngăn mặn, giữ ngọt cho 115,000 hecta đất, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân cư Thành phố Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành; cùng kết hợp với phát triển giao thông thuỷ bộ và cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án. [sic]

Hai năm sau, từ tháng 04.2002 cống đập Ba Lai bắt đầu được đưa vào hoạt động, được vinh danh lúc đó là công trình thuỷ lợi lớn nhất ĐBSCL. Và từ đây, cửa sông Ba Lai, một trong 8 cửa của Cửu Long chính thức bị ngăn lại. [Hình 9]

Cho tới nay, cống đập Ba Lai đã vận hành được hơn 16 năm [2002-2018], hiệu quả công trình cống đập Ba Lai ấy ra sao? Những cống ngăn mặn Ba Lai đã không đạt mục đích vì còn chằng chịt những cửa sông kinh rạch khác không có cống ngăn đã tập hậu chuyển nước mặn vào bên trong hệ thống cống đập đã xây. Và để chỉ còn nghe những lời ta than của cư dân địa phương, bởi thế dân gian tỉnh Bến Tre mới có câu:

Ba Lai là cái cửa mình

Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ

Hình 9: từ ngày có cống đập Ba Lai, cửa sông Ba Lai nhánh thứ 8 bị Bộ NN & PTNT đóng lại. Cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp từ cả trăm năm nay, và hiện giờ Cửu Long Giang nay chỉ còn 7 nhánh: Thất Long. Photo by Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị

Sông Ba Lai ngừng chảy. Thay vì biến sông Ba Lai thành hồ nước ngọt thì cư dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô. Hậu quả là tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt, người dân sống trong tình trạng thiếu nước ngọt kinh niên, phải mua nước ngọt cho nhu cầu gia dụng có khi phải trả tới 100,000 đồng/ mét khối. [Tuổi Trẻ online 22.02.2016]

Giải thích của Chính quyền về “hiệu quả ngược” của công trình cống đập Ba Lai như hiện nay là đổ lỗi do thiếu vốn để làm nhiều công trình khác tiếp theo, đó là phải xây thêm cống đập và cả âu thuyền trên hai con sông Giao Hoà và Chẹt Sậy nơi vẫn tiếp tục đem nước mặn từ sông Cửa Đại đổ vào “hồ nước ngọt Ba Lai”.

Qua kinh nghiệm 16 năm vận hành của hệ thống cống đập Ba Lai, để thấy rằng dù tốn hàng bao nhiêu tỷ đồng, cứ với quyết tâm mù quáng can thiệp thô bạo khập khiễng vào thiên nhiên, làm cống ngăn mặn nhưng nước sông rạch bên trong vẫn không thể dùng được cho sinh hoạt, những công trình như thế còn khiến nước bên trong bị ô nhiễm nghiêm trọng hơn vì tù đọng do dòng sông không chảy.

Xây dựng cống đập Ba Lai không những đã rất tốn kém, nhưng khi phát hiện sai lầm thì việc phá bỏ, làm sạch môi trường và chuyển đổi sinh hoạt của cư dân cũng không thể mau chóng và không phải là dễ dàng.

Địa bàn môi trường không phải như một bàn cờ để dễ dàng xoá đi bày lại. Một câu hỏi được đặt ra: với những tác hại do cống đập Ba Lai gây ra, ai – Bộ NN & PTNT, hay TNMT/ Bộ Tài Nguyên Môi trường hay chính phủ trung ương sẽ nhận trách nhiệm với phong cách “đem con bỏ chợ” như hiện nay?

Hai bài học đắt giá. Từ bài học thất bại của Công trình Ngọt hoá Bán đảo Cà Mau tiếp theo thất bại khác của công trình Cống đập Chắn mặn Ba Lai, nhiều nhà khoa học và giới hoạt động môi trường như một “think tank” đã không ngừng lên tiếng cảnh báo rằng: nếu không có một đánh giá môi trường chiến lược cho toàn ĐBSCL mà chỉ đơn giản nhắm giải quyết tình hình mặn ngọt cho từng vùng, rồi lập ngay quy hoạch xây dựng xây một loạt hệ thống cống đập chỉ để ngăn mặn nơi các cửa sông lớn là phá vỡ cả một hệ sinh thái mong manh đã có đó từ ngàn năm và hậu quả sẽ khôn lường. Phát triển với những bước không bền vững / unsustainable development như trên đã và đang làm thay đổi diện mạo, gây tổn thương trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL và khiến các nguồn tài nguyên thiên nhiên cứ nghèo dần đi.

THUỶ LỢI CÁI LỚN-CÁI BÉ: THÊM MỘT “CÔNG TRÌNH THẾ KỶ” ĐẦY HOÀI NGHI

Dự án Thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé (CLCB) được đề xuất từ năm 2011 với chủ trương trên lý thuyết như một công trình nhằm ứng phó với nước biển dâng và biến đổi khí hậu và cũng để duy trì đất trồng lúa bảo đảm an ninh lương thực và xuất khẩu, theo quy hoạch thuỷ lợi tổng thể cho ĐBSCL đã được nguyên TT Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt ngày 19.04.2016.

Hình 10: trái, bản báo cáo Đánh giá Tác Động Môi trường (ĐTM), Dự án Hệ thống thuỷ lợi Sông Cái Lớn – Cái Bé; phải, vùng dự án CLCB (vùng màu hồng) trong lưu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long. (1) Nguồn: ĐTM tr..83

Dự án Thủy lợi CLCB Giai đoạn 1 được TT Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt ngày 17.04.2017 dựa theo tờ trình của Bộ NN & PTNT. Toàn bộ công việc soạn thảo dự án, nghiên cứu khả thi cho đến lập báo cáo ĐTM đều nằm trong một “chu trình khép kín” / behind close door thuộc quyền kiểm soát của Bộ NN & PTNT mà không cho thấy có một tổ chức, cá nhân độc lập nào tham gia. Chủ đầu tư dự án là Ban Quản lý đầu tư và Xây dựng Thuỷ lợi 10 thuộc Bộ NN & PTNT. Từ đơn vị tư vấn lập báo cáo dự án là Liên danh Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam – Viện Quy hoạch Thuỷ lợi Miền Nam – Công ty cổ phần Tư vấn Xây dựng Thuỷ lợi 2 rồi đến cơ quan lập báo cáo ĐTM là Viện Kỹ thuật Biển thuộc Quy hoạch Thuỷ lợi Việt Nam, tất cả đề là những đơn vị trực thuộc quản ý hành chính của Bộ NN & PTNT hoặc Bộ NN & PTNT có quyền ra chỉ đạo trực tiếp. Điều này có nghĩa các chuyên gia độc lập, tổ chức xã hội dân sự và cư dân không được tham vấn và có tiếng nói nào vào quyết định của dự án.

Dự án hệ thống thủy lợi CLCB với địa bàn chủ yếu ở vùng Bán đảo Cà Mau, được giới hạn bởi: phía bắc là kênh Cái Sắn; phía nam và đông nam là kênh Quản Lộ – Phụng Hiệp; phía đông bắc là sông Hậu và phía tây là Vịnh Thái Lan. Tổng diện tích vùng dự án là: 909,248 ha, trên địa bàn của 6 tỉnh / thành phố: Hậu Giang, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu và TP Cần Thơ. [Hình 10].

Theo báo cáo ĐTM (dày 487 trang) thì mục tiêu (trên lý thuyết) của dự án Hệ Thống Thuỷ Lợi CLCB giai đoạn 1 là:

  • Kiểm soát mặn, giải quyết mâu thuẫn giữa vùng nuôi trồng thủy sản ven biển và vùng sản xuất nông nghiệp của các tỉnh: Kiên Giang, Hậu Giang và tỉnh Bạc Liêu thuộc lưu vực sông Cái Lớn – Cái Bé. Đồng thời, góp phần phát triển thủy sản ổn định ở vùng ven biển của tỉnh Kiên Giang;

  • Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, tạo nguồn nước ngọt cho vùng ven biển để giải quyết tình trạng thiếu nước ngọt vào mùa khô, phòng chống cháy rừng, đặc biệt trong những năm hạn hán, góp phần phát triển kinh tế xã hội ổn định;

  • Tăng cường khả năng thoát lũ, tiêu úng, tiêu chua cải tạo đất phèn;

  • Kết hợp phát triển giao thông thủy, bộ trong vùng dự án.

Quy mô dự án hệ thống thủy lợi CLCB (giai đoạn 1) gồm các hạng mục công trình:

  • Cụm công trình cống Cái Lớn – Cái Bé, tuyến đê nối 2 cống và nối với quốc lộ 63 và các cống dưới tuyến đê. tuyến kênh nối 2 sông Cái Lớn và sông Cái Bé.

  • Nạo vét kênh Thốt Nốt và kênh KH6, sửa chữa cống, âu Tắc Thủ; cụm công trình bờ đông kênh Chắc Băng và sông Trẹm; cống Lương Thế Trân; cống Ông Đốc; Cống Xẻo Rô; cống Ngọn Tắc Thủ và trạm bơm Tắc Thủ.

Dự kiến tổng vốn đầu tư cho dự án (Giai đoạn 1) là 3.309,5 tỷ đồng (tương đương khoảng 150 triệu Mỹ kim).

ĐTM CÁI LỚN – CÁI BÉ: “ĐỀ NGHỊ CHỦ DỰ ÁN THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC BIỆN PHÁP GÂY Ô NHIỄM”?

  • Báo cáo ĐTM Hệ thống thủy lợi CLCB giai đoạn 1, do Viện Kỹ thuật biển trực thộc Viện Khoa học Thuỷ lợi Việt Nam (2018), một cơ quan trực thuộc Bộ NN & PTNT, được ghi là một Báo cáo chưa được thẩm định, phê duyệt.

Với một bản báo cáo ĐTM được ghi là chưa được thẩm định, phê duyệt thì đã có ngay một số nhận định khái quát từ giới chuyên gia trong nước cũng như hải ngoại cho rằng:

  • ĐTM dù với bề dày ngót 500 trang nhưng rất lan man nhiều sự kiện còn thiếu sót và không minh bạch do bị chi phối bởi quan điểm của chủ đầu tư / nhóm lợi ích, và chỉ để nhằm biện minh cho sự cấp thiết của dự án, nên lộ rõ nhược điểm là thiếu tính khoa học khách quan, thiếu tính thuyết phục và chưa thực tế.

  • Mục 01.1.2. Sự cần thiết phải đầu tư dự án chỉ nói chung chung mà thiếu dẫn chứng thực tế hiện trạng mặn-ngọt hiện nay trong vùng dự án đã gây tổn thất kinh tế xã hội cụ thể ra sao mà nay phải đối phó và thiếu một tầm nhìn chiến lược nhất là trong bối cảnh những “công trình thế kỷ” trước đó đã thật sự thất bại như đã dẫn chứng trong phần đầu của bài viết này. Cách viết báo cáo như vậy là nhằm để dễ dàng thông qua cho chủ đầu tư chứ không phải mang tính dự báo, cảnh báo để đưa ra giải pháp giảm thiểu hoặc thay thế từ một con toán so sánh được mất có sức thuyết phục.

  • ĐTM, ngoài tính toán rất sơ lược chi phí cho công trình, nhưng không thấy có đề cập chi phí hoạt động và bảo quản, không có ngân quỹ dự trù phòng thiệt hại rủi ro.

  • ĐTM không có thẩm định lợi hại tăng hay giảm cho dân bao nhiêu, cho chính quyền bao nhiêu so với hiện trạng, và cũng không rà xét các phương án nào khác để biết đây có là lộ trình tối ưu thật không?

  • Phần quan trọng nhất của ĐTM là các biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu ô nhiễm thì viết rất chung chung chưa đến 3 trang trong các mục 1.3.2. Với những giải pháp chung chung như thế, việc áp dụng thực hiện trong thực tế có ai đảm bảo hiệu quả.

  • Với một dự án thuỷ lợi có thời gian vận hành tối thiểu 50 năm, có khi đến cả trăm năm nhưng ĐTM lại tập trung chủ yếu vào phân tích tác động của giai đoạn chuẩn bị và xây dựng dự án mà lại viết sơ sài tác động của việc vận hành hệ thống thuỷ lợi CLCB sau khi xây dựng xong. Quan trọng nhất ĐTM này lại viết rất sơ sài những phần nội dung rất cơ bản và quan trọng như đánh giá tác động môi trường nước khi vận hành cống trong các mục 1.3.3.4, phần giảm thiểu tác động trên môi trường nước, giảm thiểu tới tài nguyên sinh thái… Với sự sơ sài chung chung như vậy thì không biết sẽ triển khai thực hiện thế nào trong thực tế.

Một điều đáng lưu ý là tử trang 451 tới trang 456, báo cáo ĐTM liên tục lặp đi lặp lại một ý quan trọng, được cho là ý kiến của 8 trên trên tổng số 39 UBND xã trong phần tham vấn cộng đồng: “đề nghị Chủ dự án thực hiện nghiêm túc biện pháp gây ô nhiễm.” [sic] Báo cáo ĐTM không đưa ra các văn bản gốc trích dẫn ý kiến chung này, nhưng có thể hiểu ý kiến “đề nghị Chủ dự án thực hiện nghiêm túc biện pháp gây ô nhiễm.” theo hai hướng:

  • Đơn vị tư vấn lập ĐTM không phân biệt được “biện pháp gây ô nhiễm” và “biện pháp kiểm soát ô nhiễm” là hai khái niệm hoàn toàn đối nghịch nhau. Đây là những khái niệm sơ đẳng nhất của những học sinh khi học về khoa học môi trường, lẽ nào những đơn vị tư vấn hàng đầu trực thuộc Bộ NN & PTNT với một đội ngũ hùng hậu gồm cả những vị phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, kỹ sư, cử nhân lại không phân biệt được hai khái niệm sơ đẳng ấy để đưa vảo báo cáo? Không phải không phân biệt được mà là cực kỳ cẩu thả khi viết và đọc báo cáo đến độ vô tri.

  • Đơn vị tư vấn lập ĐTM cố tình “nhét chữ vào miệng” các UBND xã để họ đưa ra ý kiến “đề nghị Chủ dự án thực hiện nghiêm túc biện pháp gây ô nhiễm.” và kết quả là có 8 xã trên 39 xã được tham vấn đồng ý với tư vấn, kết quả là nguyên văn được ghi vào giấy trắng mực đen ĐTM, nếu đúng như vậy thì đây là một sự thiếu trung thực, lập lờ mà xã hội không thể nào chấp nhận được. Không những không trung thực mà là vô trách nhiệm một cách thô bạo.

Dù với lý do nào, trong một bản báo cáo ĐTM với “đề nghị Chủ dự án thực hiện nghiêm túc biện pháp gây ô nhiễm” vẫn có đó khiến người ta không khỏi nghi ngờ về hậu ý của những người lập báo cáo, của chủ đầu tư và cả những người phê duyệt đầu tư dự án ấy. Nhìn chung, mục tham vấn cộng đồng viết rất sơ sài nhưng lại để lộ sai sót nghiêm trọng và gần như vô nghĩa thay vì tìm kiếm ý kiến phản biện đa chiều của cộng đồng cư dân vùng dự án ngõ hầu làm do dự án tốt hơn lên.

Theo ý kiến các chuyên gia thì: “Tất cả những kịch bản dự báo trong chương 3 của báo cáo ĐTM hoàn toàn mang tính lý thuyết, không viện dẫn bất kỳ một công trình điển hình thành công nào tại Việt Nam và thế giới. Nghiên cứu báo cáo ĐTM cho thấy rằng nhóm tư vấn đã bỏ qua những bài học nhãn tiền về sự thất bại đầy hối tiếc và không thể đảo ngược về mặt tự nhiên của những công trình thuỷ lợi trước như dự án Ngọt hoá Bán đảo Cà Mau và Công trình Cống đập Ba Lai đã được đề cập ở trên. Do vậy, có thể kết luận rằng những đánh giá của báo cáo ĐTM đưa ra không có biện pháp ngừa tránh vết xe đưa đồng bằng thêm trầm mình vào ô nhiễm, không đủ cơ sở khoa học và không thể tin cậy.

Với một báo cáo ĐTM còn nhiều thiếu sót như thế thì không thể quyết định gì cả để khởi công một “Công trình Thế kỷ” có khả năng huỷ hoại cả một hệ sinh thái mong manh không chỉ của bán đảo Cà Mau và trên toàn hệ sinh thái của ĐBSCL, ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống sản xuất sinh kế của hàng triệu cư dân trong vùng quy hoạch, trong khi còn bao nhiêu vấn đề kỹ thuật chưa có giải pháp rốt ráo.

Một hệ sinh thái khi đã bị huỷ hoại thì rất khó sửa chữa và không thể đảo ngược.

Hình 11: Sơ đồ dự án hệ thống cống đập chắn mặn trên Sông Cái Lớn- Sông Cái Bé, sẽ tác động trên 1/4 diện tích toàn ĐBSCL và ảnh hưởng tới đời sống hàng triệu cư dân trong vùng. Nguồn: Ánh Sáng và Cuộc Sống

NHỮNG CHUYÊN GIA ĐỘC LẬP NÓI GÌ VỀ CLCB?

Hình 12: trên từ trái, GS Võ Tòng Xuân, GS Nguyễn Ngọc Trân; dưới từ trái, TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, ThS Nguyễn Hữu Thiện, những tiếng nói trí tuệ hai thế hệ từ Đồng Bằng Sông Cửu Long, với chiều hướng thiên về giải pháp phi công trình / non-structural adaptation measures cho ngót 18 triệu cư dân Miền Tây Nam Bộ. Nguồn: internet

Để có một cái nhìn thực tế nhất về dự án CLCB, tác giả bài viết này tìm đến những chuyên gia nông học, môi trường học, sinh thái học của ĐBSCL. Họ là những chuyên gia không những được ghi nhận trong nước mà còn trên bình diện quốc tế vì những đóng góp cho khoa học và cuộc sống. Quan trọng hơn hết, đa số họ là những cư dân sinh ra và lớn lên từ ĐBSCL, cuộc sống của họ gắn liền với vùng đất này khiến họ am hiểu ĐBSCL như đường chỉ tay của chính họ.

Ý kiến GS Võ Tòng Xuân:

PHÁT BIỂU CỦA GS VÕ TÒNG XUÂN 16.09.2018 QUA MỘT EMAIL TRAO ĐỔI CÁ NHÂN

NGÔ THẾ VINH VIẾT:

Tôi và nhóm Bạn Cửu Long bên này đang rất quan tâm tới Dự án Cái Lớn Cái Bé mà tôi nhớ là trước đây, theo GS Võ Tòng Xuân và các nhà nghiên cứu độc lập, thì những dự án chặn mặn sẽ phá vỡ đi dòng chảy tự nhiên vốn có, gây ra nhiều hệ lụy khôn lường, nhất là về môi trường… Trong tình thân, đề nghị Anh Xuân đưa ra một nhận định có tính cập nhật/ Upto Date, và chi tiết hơn/ more specific về dự án Cái Lớn Cái Bé để tôi có thể quote một tiếng nói có uy tín và rất có trọng lượng trong một bài đang viết, trong khi mà các nhóm lợi ích đang khuynh loát tiếng nói của những nhà khoa học chân chính…

GS VÕ TÒNG XUÂN TRẢ LỜI:

Tôi biết anh rất tâm tư mỗi khi nói đến ĐBSCL. Qua 40 năm tôi mới đạt thêm một thắng lợi về mặt Khoa học và Kiến Tạo Xã Hội bằng một xoay chuyển chính sách nhà nước, nhưng phải nói ngay rằng, đây mới chỉ là bước đầu được Thủ Tướng chấp thuận đưa vào nghị quyết, nhưng phải cần một thời gian nữa mới có thay đổi thật sự, các Bộ, Ban, Ngành mới chấp hành chủ trương. Cho nên tôi xin trình bày với anh một cách tóm tắt như thế này:

Từ khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhất trí với đề nghị mà tôi đã từng nêu 28 năm nay sau khi Việt Nam trở lại vị trí nhóm 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Nghị Quyết 120 NQ-CP của Chính phủ đã được ban hành vào tháng 11/2017. Đây là một nghị quyết lịch sử của nông nghiệp ĐBSCL, vì nó gỡ trói người nông dân thoát khỏi vòng kim cô phải sản xuất lúa muôn đời để cho cán bộ nhà nước hoàn thành chỉ tiêu pháp lệnh về sản lượng lúa, mặc kệ nông dân phải chịu giá rẻ bèo của sản phẩm thặng dư quá lớn này. Bây giờ chính sách phát triển thủy lợi của Việt Nam phải được chuyển đổi theo sự chuyển hướng của nông nghiệp, không thể theo mục tiêu cũ để tiếp tục tăng sản lượng lúa thông qua thâm canh nông nghiệp mà phải theo mục tiêu cải thiện sinh kế của nông dân thông qua đa dạng hóa cây trồng và canh tác tổng hợp.

Nhưng rất tiếc các nhóm lợi ích vẫn bám mục tiêu đầu tiên đòi hỏi phải xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn, xây dựng cống đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước ngọt quí hiếm từ sông Hậu xa tít để tiếp tục bắt dân trồng lúa, như Dự án sông Cái Lớn – Cái Bé (CLCB). Nhóm lợi ích luôn có thế lực mạnh, để được duyệt dự án thì họ mới có ăn, mặc kệ dân trồng lúa cứ nghèo.

Các nhà khoa học chân chính đã đưa ý kiến đề nghị dừng dự án CLCB, với những lập luận bác bỏ các lý do cần phải thực hiện dự án. Nhưng lý do quan trọng mà các nhà phản biện nói rất ít là dưới ánh sáng của NQ120 của Chánh phủ, lương thực không còn là mục tiêu chính mà nhà nước đã bắt buộc mọi người thực hiện bằng mọi giá bất kể tổn phí. Thời thế bây giờ không như trước nữa. Chúng ta dư thừa quá nhiều lúa gạo. Với kỹ thuật lúa gạo của chúng ta ngày nay, chỉ trong vòng 3 tháng là chúng ta có gặt vụ lúa mới. Tại sao những người trong nhóm lợi ích chỉ nghĩ là phải ngăn mặn để có thể tiếp tục trồng lúa mà không thấy những người chuyên trồng lúa cả 40 năm nay vẫn khổ vì lợi tức từ lúa quá thấp? Nhóm lợi tức này muốn những người trồng lúa của nước ta chịu nghèo khổ vĩnh viễn hay sao?

Mặt khác những người chỉ chủ trương trồng lúa-lúa-lúa quả là những người không biết cách làm ăn gì khác ngoài cây lúa. Họ càng chủ trương chỉ trồng lương thực càng bộc lộ sự yếu kém trình độ học thức của họ. Hãy tưởng tượng nếu Malaixia hoặc Singapo chỉ chủ trương sản xuất lương thực thì chắc họ không đứng hàng đầu quốc gia giàu có nhất ASEAN. Hoặc xa xa bên kia trời tây, nếu Thụy Sĩ cũng chủ trương tự túc lương thực thì chắc họ không bao giờ đứng đầu bảng các quốc gia giàu có của châu Âu.

Mặt khác, các chuyên gia thủy lợi nước ta dư sức biến những cơ sở vật chất thủy lợi hiện có của vùng ngập sâu của Đồng Bằng Sông Cửu Long cho cây trồng phi lúa, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản nước lợ ở ven biển vùng. Quí vị không nên chạy theo đuôi các nhà quản lý chỉ biết có cây lúa, mà nên giúp dân có điều kiện sản xuất cây trồng khác, hoặc vật nuôi có giá trị cao, để họ sớm làm giàu. Vấn đề kế tiếp là gắn kết với các doanh nghiệp tài giỏi, có đầu ra ổn định để tiêu thụ sản phẩm của nông dân. [Hết trích dẫn trao đổi cá nhân giữa GS Võ Tòng Xuân và Ngô Thế Vinh, qua một eMail 16.09.2018]

Tưởng cũng cần nên nói thêm: GS Võ Tòng Xuân được biết đến như một nhà nông học suốt một đời lăn lộn với cây lúa nơi ĐBSCL từ trước 1975 cho tới nay, ông được các nhà nông học Tây phương gọi tên là Dr. Rice / TS Lúa Gạo, do công lao hướng dẫn nông dân Miền Tây phát triển đại trà cây lúa Thần Nông HYV / High Yield Variety trên khắp ĐBSCL, đưa Việt Nam lên hàng thứ hai xuất cảng gạo [chỉ có sau Thái Lan] đi khắp thế giới. Nhưng cũng chính ông, từ 28 năm nay đã rất can đảm và thức thời yêu cầu chuyển đổi canh tác, gỡ trói người nông dân thoát khỏi vòng kim cô phải sản xuất lúa muôn đời với giá rẻ bèo do thặng dư quá lớn này. Ông là một trong những tiếng nói uy tín và rất có trọng lượng cho sự ra đời của Nghị Quyết 120 NQ-CP của Chính phủ đã được ban hành vào tháng 11/2017.

Ý kiến GS Nguyễn Ngọc Trân:

Là một thành viên lâu năm Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ quốc gia qua nhiều nhiệm kỳ chính phủ, ông là người Miền Tây được sinh ra trên một cù lao nằm giữa Sông Tiền huyện Chợ Mới tỉnh An Giang, ông có những công trình nghiên cứu về Sông Mekong và ĐBSCL qua những “Điều tra Cơ bản Tổng hợp vùng ĐBSCL”.

Đối với với công trình CLCB, GS Nguyễn Ngọc Trân nêu câu hỏi:

Chúng ta đã triển khai dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau, dự án cống đập Ba Lai Bến Tre đến nay tại sao không thành công? Trước khi triển khai các dự án mới phải trả lời câu hỏi vì sao các dự án cũ không thành công.” Nhưng vẫn không có câu trả lời từ Bộ NN & PTNT.

Cũng vẫn GS Nguyễn Ngọc Trân nhận định: “thiếu nước ngọt chỉ là hiện tượng, phải tìm nguyên nhân đúng thì mới có giải pháp đúng”.

Chúng ta đang sống trên một vùng mà hệ sinh thái rất đa dạng nhưng chúng ta đang đơn giản nó. Từ rất nhiều sản vật tự nhiên chúng ta gom lại chỉ còn cây lúa và con tôm. Ta đang nghèo hóa môi trường và hệ sinh thái của chúng ta. Dựa trên tinh thần Nghị quyết 120, tôi cho rằng cần cân nhắc thật kỹ, khách quan và khoa học. Nên có hội thảo về biện pháp phi công trình trước khi đưa ra quyết định cho một giải pháp công trình”.

Nội dung của báo cáo chủ yếu là đánh giá tác động lên môi trường của việc chuẩn bị và triển khai thực hiện dự án. Còn những chương khác hầu hết là từ “cắt và dán” (copy & paste) từ các báo cáo Nghiên cứu khả thi / NCKT.

Trong khi đó, chúng tôi chờ đợi báo cáo đánh giá tác động lên môi trường nếu dự án hoàn thành và đi vào vận hành. Bởi có như vậy việc thẩm định dự án (BC NCKT) mới mang đầy đủ ý nghĩa trước khi dự án được phê duyệt để thực hiện.

Vẫn theo quan điểm của GS Nguyễn Ngọc Trân: “Không nên đắp đập để ngăn mặn, lợ. Cần có nhìn nhận đúng đắn để tránh những quan niệm sai lầm về tác động của biến đổi khí hậu, dẫn đến việc định hướng các biện pháp ứng phó không phù hợp và không hiệu quả. Cụ thể, ở đây là dự án về thủy lợi trên sông Cái Lớn và Cái Bé rất dễ gây ô nhiễm môi trường cho cả vùng ĐBSCL do không có sự trao đổi dòng chảy với bên ngoài. Các tỉnh vùng ven biển cũng nên xem nước mặn, lợ là một dạng nguồn tài nguyên lợi thế và không nên đắp đập để ngăn lại.” (3)

Ý kiến TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Biến đổi Khí hậu ĐH Cần Thơ:

Đáng tiếc thay, hàng chục năm gần đây, với tư duy đẩy mạnh sản xuất lương thực, chủ yếu là lúa, không coi nước mặn cũng là tài nguyên nên đã hình thành nhiều dự án “nghịch thiên” như “đắp đập chặn dòng”, “ngăn mặn giữ ngọt”. Hàng ngàn tỉ đồng đổ ra để làm các công trình bê tông như cống, đập, kè cọc nhằm chặn dòng sông ngay trước cửa biển… Các dòng sông bị đóng kín sau mùa mưa để giữ lại nước ngọt khiến thủy triều từ biển không vào nội đồng được: nhiều mảng cây rừng ven biển bị suy kiệt mà chết dần, sạt lở ven biển gia tăng. Còn phía trong đồng thì dòng sông biến thành các hồ chứa, nước bị cầm tù khiến nhanh chóng bị ô nhiễm, hôi thối. Lục bình và nhiều loại tảo lục phát triển, ghe tàu đi lại rất khó khăn, chậm chạp và tốn kém. Nhiều nơi nông dân buộc phải dùng thuốc độc hóa học để tiêu diệt lục bình khiến ô nhiễm sông rạch thêm trầm trọng… Nhiều bài học thực tế cho thấy, từ ngàn đời nay, thiên nhiên đã vốn tạo cho sông nước, đất đai, cây trồng, con người những mối ràng buộc hài hòa và quan hệ có tính hữu cơ. Việc đưa công trình làm đảo lộn quy luật của tạo hóa có thể tạo ra một số lợi nhuận nào đó, mang tính ngắn hạn nhưng về dài hạn, cái hại về môi trường, sinh thái, xã hội ngày càng lớn và dần dần vượt cao hơn cái lợi, khi đó kinh tế nông nghiệp cũng dần dần xuống dốc… (4)

Ý kiến TS Dương Văn Ni, người có hơn 30 năm kinh nghiệm giảng dạy Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên ĐH Cần Thơ:

Phát biểu tại hội nghị về dự án Thuỷ lợi CLCB giai đoạn 1 tổ chức Kiên Giang ngày 07.09.2018, TS Dương Văn Ni cho rằng đối với vùng Bán đảo Cà Mau, hai sản phẩm chủ lực của vùng là lúa và tôm, nhưng đây lại là hai đối tượng mâu thuẫn với nhau về nguồn nước. “Con tôm cần độ mặn trên 4 phần ngàn, còn cây lúa dưới 4 phần ngàn. Nước thải ruộng tôm làm chết lúa và nước thải ruộng lúa có nhiều thuốc sâu cũng làm chết tôm”, ông dẫn chứng.

Theo TS Dương Văn Ni, vào năm 1990, ông mang một bộ giống lúa cao sản của Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) trình diễn tại huyện Đầm Dơi (Cà Mau). Lúc đó, người dân, chính quyền rất hào hứng chuyện đào kênh đắp đê để giữ ngọt. Thế nhưng, 4 năm sau, chính những người dân đi đắp đê đó lại đi phá đê để nuôi tôm.

“Tôi nói để thấy cái vấn đề ở khu vực này thiếu đa dạng cây trồng vật nuôi, chứ không phải mâu thuẫn mặn ngọt”, ông cho biết.

“Nếu không nhìn ra vấn đề của vùng là thiếu đa dạng cây trồng vật nuôi, thì vùng này sẽ mãi loay hoay với các công trình. Khi đó, chính quyền địa phương với trách nhiệm được nhà nước giao giữ gìn công trình xã hội sẽ xem người dân như những người phá hoại, trong khi người dân nhìn chính quyền như là người cản trở cơ hội làm giàu của họ. (4)

Ý kiến ThS Nguyễn Hữu Thiện, người sinh ra và lớn lên từ ĐBSCL, tốt nghiệp ĐH Wisconsin Hoa Kỳ, chuyên gia độc lập về Sinh thái

Với nhiều năm trăn trở với hệ sinh thái ĐBSCL, phát biểu tại buổi tham vấn ý kiến chuyên gia về xây dựng dự án thủy lợi CLCB được tổ chức tại TP Cần Thơ ngày 28.05.2018, ông Nguyễn Hữu Thiện đã nhấn mạnh rằng, việc đầu tư xây dựng hệ thống thủy lợi này là không cần thiết.

Phân tích 4 luận điểm trong bản báo cáo đánh giá tác động môi trường ĐTM của Dự án CLCB, ông Thiện khẳng định là tính cần thiết và cấp bách phải đầu tư dự án CLCB là không có tính thuyết phục, vẫn theo ông Thiện:

Luận điểm (1) được nêu ra xuất phát tình trạng khô hạn của mùa khô năm 2016. Thế nhưng, theo ông Thiện, đây là một sự kiện cực đoan 90 năm mới có một lần, không phải là xu hướng chung của ĐBSCL, nên không thể căn cứ vào yếu tố cực đoan đó để khẳng định cần thiết phải đầu tư dự án nêu trên.

Luận điểm (2) được viện dẫn là nguy cơ nước biển dâng. Ông Thiện cho rằng, đây là luận điểm thiếu căn cứ, không đúng với thực tế của ĐBSCL, tức khả năng nước biển dâng đến năm 2100 chỉ khoảng 53 cm, chứ không phải là 1 mét như những kịch bản được đưa ra trước đó.

“Vì vậy, đừng lấy chuyện nước biển dâng đề “hù dọa”, ông nói và cho biết sụt lún đất mới là vấn đề đáng lo hơn do sử dụng nước ngầm vì sông ngòi bị hủy hoại, trong khi lượng phân bón, thuốc trừ sâu sử dụng quá nhiều cho nền nông nghiệp và do đắp đập.

Luận điểm (3) được đưa ra để xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé khi nói ĐBSCL gánh trọng trách đảm bảo an ninh lương thực, theo ông Thiện là không đúng vì nói năm khô hạn 2016 nói rằng an ninh lương thực bị đe dọa, nhưng năm đó Việt Nam vẫn xuất khẩu hơn 4,8 triệu tấn gạo, còn dư cả chục triệu tấn lúa, thì rõ ràng an ninh lương thực không hề bị đe dọa.

Luận điểm (4) được đưa ra khi nói nguy cơ cạn kiệt nguồn nước ngọt ở ĐBSCL do tác động của thượng nguồn. Ông Thiện cho rằng đập thủy điện không làm hết nước, mà chỉ có tác động đến phù sa và thủy sản.

Cũng theo ông Thiện, việc xây dựng hệ thống thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé có thể đẩy quy hoạch tích hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu Tư (KH&ĐT) rơi vào thế “thất thủ chiến lược” nhằm hướng tới phát triển theo hướng “thuận thiên”, theo tinh thần Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng biến đổi khí hậu. (7)

Ý kiến KS Phạm Phan Long, PE từ Viet Ecology Foundation

Chúng tôi chia sẻ với dân cư ĐBSCL và cả nước mối quan ngại của chúng tôi về dự án Thủy lợi ngăn mặn trên sông Cái Lớn và Cái Bé với lời kêu gọi lập tức huỷ bỏ hay ít nhất ngừng ngay dự án này để có thời gian đánh giá thận trọng hơn, rút kinh nghiệm từ những công trình thuỷ lợi tốn kém đầy hối tiếc trước đây đã liên tiếp gây ra thảm trạng trên đồng bằng này.Những công trình trước cũng đều có những mục đích viết ra hay như thế nhưng toàn thất bại sau những thành quả nhất thời.

Công trình ngọt hoá bán đảo Cà Mau đã gây tranh chấp gay gắt ngọt mặn và phải phá bỏ. Công trình cống ngăn mặn Ba Lai đã không ngọt hoá mà khiến sông Ba Lai ngưng chảy biến thành hồ, tích lũy ô nhiễm và nước còn mặn hơn xưa. Công trình đê bao Đồng Tháp Mười, Tứ Giác Long Xuyên không những làm cho hai lòng chảo bị tù đọng ô nhiễm mà còn làm mất hai vùng trũng chứa nước ngọt thiên nhiên hằng năm cung cấp bù đắp nước ngọt cho đồng bằng trong mùa khô.

Những công trình đó khiến đồng bằng cho dù vẫn bao phủ bằng mặt nước mênh mông nhưng không còn nước sạch có thể sinh hoạt hay canh tác được. Dân phải tận dụng nguồn nước ngầm khiến đất lún nhanh gấp chục lần biển dâng do biến đổi khí hậu. Những kinh nghiệm xót xa này không hề được Bộ NN & PTNT rút tỉa, rõ ràng vấn nạn lớn trên toàn đồng bằng hiện nay là ô nhiễm nguồn nước chính vì các công trình thủy lợi hoạch định phi lý đã gây ra. Ô nhiễm phải được xem là vấn nạn lớn mà mọi công trình phải phải bảo đảm không cho xảy ra. Công trình Cái Lớn Cái Bé sẽ đẩy ĐBSCL lao sâu hơn vào ao tù thảm trạng ô nhiễm không khác những công trình thuỷ hại trước đây nhưng với một quy mô lớn hơn.

Một lần nữa, chúng tôi kêu gọi lập tức huỷ bỏ dự án này và thay vì tranh chấp với thiên nhiên nhiên với các công trình cắt sông ngăn biển, hãy khiêm nhường tìm những lời giải thuận thiên nhiên, tìm bền vững tiềm ẩn trong cân bằng sinh thái, tương tác tự nhiên giữa sông với biển, vì người có thể thích nghi sống với lũ, phèn, ngọt, lợ hay mặn nhưng không thể sống với ô nhiễm. Chúng tôi cho rằng nếu chưa kiểm soát ô nhiễm phục hồi phẩm chất nguồn nước và sửa lỗi các công trình trước thì không có lý do gì đầu tư để chuốc thêm thảm trạng chưa yên.

NÓI KHÔNG VỚI DỰ ÁN SÔNG CÁI LỚN – CÁI BÉ

Để thay kết luận, một lần nữa người viết gửi tới TT Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng NN & PTNT Nguyễn Xuân Cường, vẫn câu trích dẫn và cũng là bài học đầu tiên của một sinh viên vào học Y khoa: Primum Non Nocere / First do no harm / Trước hết là không gây hại. Mọi kế hoạch vội vã, thiếu thời gian cho một đánh giá tác động môi trường [ĐTM] có tính khách quan, với tổn phí hàng ngàn tỉ đồng có thể gây hại cho toàn hệ sinh thái vốn đã quá mong manh của một vùng châu thổ mà trước đây đã từng được đánh giá là phong phú và giàu có nhất trên hành tinh này.

Như một nhắc nhở và nhấn mạnh, người viết ghi nhận lại nơi đây một đề nghị cụ thể với Thủ Tướng chánh phủ kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc: hãy cho ngưng ngay Dự án xây hệ thống cống đập Sông Cái Lớn – Sông Cái Bé, hãy dùng ngân sách 3,300 tỷ dự trù cho dự án để thành lập ngay một nhóm nghiên cứu ĐTM độc lập [có thể bao gồm cả các chuyên gia Hoà Lan, họ đã có kinh nghiệm và có công lớn thực hiện một số chương trình khảo sát cơ bản cho ĐBSCL], để đi tìm và phác thảo các giải pháp phi công trình / non-structural adaptation measures để thích nghi và chung sống một cách tối ưu với cả ba vùng sinh thái: ngọt-lợ-mặn của ĐBSCL trong bối cảnh diễn tiến của Biến đổi Khí hậu toàn cầu. Đó mới đích thực là tinh thần Nghị quyết 120 về ĐBSCL [17/11/2017] trong đó Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh theo nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.” (2)

HUỚNG TỚI NHỮNG BIỆN PHÁP PHI CÔNG TRÌNH

Trong 40 năm qua, nhiều biện pháp công trình / structural measures lớn đã được đem ra thử nghiệm trên khắp ĐBSCL như: đắp đê ngăn lũ, xây dựng đê kè để giảm sóng hay chuyển hướng dòng chảy, xây dựng hệ thống cống chăn mặn… Đã chứng tỏ một điều: không thể dùng những biện pháp thô bạo can thiệp vào thiên nhiên, lợi ích nếu có thì rất ngắn hạn trong khi hậu quả tác hại thì lâu dài, rất khó sửa chữa trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL.

Từ những bài học thất bại ấy, các nhà khoa học môi trường đã khiêm tốn hơn khi chọn các giải pháp chung sống với mẹ thiên nhiên / mother nature vốn bao dung nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt.

Trước những nan đề, mặn ngọt, thay đổi khí hậu, nước biển dâng không phải bây giờ mới có nơi ĐBSCL mà nhiều ít đã có từ thuở hoang sơ, và con người từ bao giờ đã biết thích nghi sống hài hoà với thiên nhiên, dần dà nếp sống ấy đã tạo ra một nền văn hoá sông nước, ngay cả khi mà nền khoa học kỹ thuật phát triển, giải pháp chống lại mẹ thiên nhiên / mother nature vẫn là một chọn lựa thiếu khôn ngoan và không cân sức, do đó đã đến lúc các nhà khoa học môi trường thức thời đã có khuynh hướng đi tìm các “biện pháp phi công trình” chung sống và thích nghi với thiên nhiên là chủ yếu.

Thế nào là các biện pháp phi công trình / non-structural adaptation measures: đó là không chọn xây những công trình lớn cố định vĩnh cửu để đối phó với một hệ sinh thái không ngừng chuyển động: tính cố định của các công trình đã chứng tỏ lỗi thời trong một môi trường sống không ngừng đổi thay. Và trong suốt lịch sử phát triển của ĐBSCL, người nông dân và ngư dân vốn đã biết sống thích nghi để vẫn tồn tại và phát triển mà không gây ô nhiễm tổn hại cho môi sinh và vắt kiệtnguồn tài nguyên thiên nhiên.

Những ví dụ:

_ chưa có nha khí tượng, nhưng qua kinh nghiệm tích luỹ, người nông dân đã biết dự báo thời tiết, nắng mưa khá chính xác và hiệu quả.

_ chưa có nha địa chất, nhưng họ đã biết đánh giá các vùng thổ nhưỡng, để chọn đúng loại cây trồng, không chỉ có cây lúa họ biết đa canh để giữ màu cho đất

_ chưa có nha thuỷ văn, họ đã biết chọn giống, nuôi trồng thuỷ sản phù hợp sinh cảnh: mặn ngọt lợ theo vùng

Với hiện trạng môi trường suy thoái trầm trọng như hiện nay, điều mà nhà nước cần quan tâm giúp họ:

_ giúp họ được sống trở lại với một môi trường không ô nhiễm đang đầu độc họ như hiện nay: mở cửa các cống đập cho các dòng sông được chảy

_ với sông chảy và thuỷ triều là những động lực làm thanh sạch và tẩy rửa môi trường tích luỹ như hiện nay

_ với các nhà máy xây dựng và hoạt động ven sông như nhà máy giấy Lee & Man, các nhà máy điện than đa phần từ TQ phải được giám sát chặt chẽ về xử lý các nguồn nước và chất thải

_ nâng cao ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường: tạo cho họ các tiện dụng gia cư tối thiểu như nhà vệ sinh, nơi xử lý rác thay vì thải hết xuống sông như hiện nay

_ về tổng thể, nên có quy hoạch các khu cư dân hợp lý, thiết lập quỹ dự phòng như một hình thức bảo hiểm của nhà nước để tài trợ khi cư dân bị thiệt hại trong giai đoạn thay đổi khí hậu cực đoan như thời điểm 2016

_ với một môi trường dần dà được tẩy rửa thanh sạch, nguồn nước lênh láng trở lại sử dụng được, giảm nhu cầu khai thác tầng nước ngầm, giảm độ sụt lún mười lần nhanh hơn nước biển dâng như hiện nay.

_ phục hồi nền văn minh “những chiếc lu”, khuyến khích dân chúng dự trữ nguồn nước mưa nước uống dùng cho mùa khô hạn

_ ở một chừng mực nào đó, chúng ta chủ động kiểm soát và cả chấp nhận phần nào tổn thất do biến đổi khí hậu nhưng phải biết nói không những công trình tốn kém và mang tính tự huỷ hoại như hiện nay.

TS Lê Anh Tuấn từ ĐH Cần Thơ đã nói rất rõ về “Giải pháp phi công trình” trong sử dụng tài nguyên ở ĐBSCL với nhấn mạnh là cần diễn dịch khéo léo linh hoạt: đó là những phương cách “mềm” nhờ ưu điểm chi phí rẻ, dễ thực hiện, thiên về bảo vệ, cải thiện môi trường, thuận thiên, bảo tồn tính đa dạng sinh học, mặc dầu phải tốn nhiều thời gian mới thấy hiệu quả của nó.

Tìm ra các sinh kế tương thích với hệ sinh thái và điều kiện tự nhiên: ví dụ mùa mưa trồng lúa, mùa nắng nuôi tôm, nuôi cá nước mặn, nước lợ, tổ chức du lịch sinh thái – tìm hiểu văn hóa bản địa, phát triển khai thác, chế biến các lợi thế cây, con ở từng vùng miền (như trồng sen, chế biến sen, dệt lụa từ sợi sen, … hoặc một số loại cây ưu thế), phát triển năng lượng tái tạo, …

Ưu tiên “phi công trình” không có nghĩa là bài bác “công trình” mà cần có sự phối hợp hài hòa, chỉ phát triển công trình khi nào thật sự cần thiết, nên nghĩ làm các công trình nhỏ trước khi có những cân nhắc công trình lớn hơn.

TS Lê Anh Tuấn thuộc ĐH Cần Thơ đã chọn khu vực lúa-sen-cá-du lịch sinh thái ở Đồng Tháp như một điển hình về giải pháp “phi công trình”, với minh họa rất dễ hiểu với người nông dân:

VẪN NHỮNG DỰ ÁN SAI LẦM TỪ HỆ THỐNG

Hơn 40 năm sau 1975, như một chuỗi sai lầm từ hệ thống, nhà nước CSVN đã thiết lập vội vã nhiều dự án trọng điểm rất tốn kém với tham vọng nhằm “cải tạo” ĐBSCL, đa phần là can thiệp thô bạo gây tác hại trên hệ sinh thái mong manh của cả một vùng châu thổ. Do tính cục bộ, thiếu sót trong Đánh giá Tác động Môi trường Chiến lược [SEA / Strategic Environment Assessment] của toàn ĐBSCL, chỉ với những “nghiên cứu mệnh danh là khoa học” nhưng theo phong cách: làm nhanh ăn nhanh; chủ yếu bị chi phối bởi các nhóm lợi ích các chủ đầu tư, rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra đánh bạc, bất chấp ý kiến của họ, đồng thời trấn áp các phản biện và gạt bỏ mọi khuyến cáo của các chuyên gia kinh nghiệm có thẩm quyền.

Nhưng vẫn không thiếu những nhà hoạt động môi sinh độc lập can đảm và bền bỉ cất lên tiếng nói của lương tri. Họ hướng tới mục tiêu tối hậu là bảo vệ cả một vùng châu thổ với 18 triệu cư dân, nhằm giảm thiểu những tác hại lâu dài trên nguồn tài nguyên của đất nước và của các thế hệ tương lai.

Với Dự án CLCB được mệnh danh là “công trình thế kỷ”, các chuyên gia độc lập đã lên tiếng cạn lẽ rồi, nói chung là tình hình khá bi quan: do cái momentum / xung lực của Dự án CLCB quá lớn, nhóm lợi ích và giới chủ đầu tư thì quá mạnh rất khó mà dừng lại được. Nhưng cũng chính đây mới là bước thử thách giữa “nói và làm” của Chính phủ Kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc. Và nếu như Dự án CLCB vẫn cứ tiến hành, thì Nghị quyết 120/NQ/CP của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu do TT Nguyễn Xuân Phúc ban hành ngày 17.11.2017 hoàn toàn rơi vào thế “thất thủ chiến lược” – nói theo ngôn từ rất tượng hình của nhà nghiên cứu môi trường độc lập Nguyễn Hữu Thiện.

NGÔ THẾ VINH

California 30.09.2018

Tham Khảo:

1/ Dự án Hệ thống Thuỷ lợi Cái Lớn – Cái Bé Giai đoạn 1. Địa điểm xây dựng tỉnh Kiên Giang. Báo cáo đánh giá tác động môi trường. Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bản báo cáo chưa hoàn thiện, chưa được thẩm định phê duyệt).

2/ Đồng Bằng Sông Cửu Long và Những Bước Phát triển Tự Huỷ hoại 1975-2018. Ngô Thế Vinh, Việt Ecology Foundation 04.2018 http://vietecology.org/Article/Article/299

3/ Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé ở Kiên Giang: Đừng làm mất đi lợi thế tài nguyên; NLĐ04/06/18 https://baomoi.com/du-an-thuy-loi-cai-lon-cai-be-o-kien-giang-dung-lam-mat-di-loi-the-tai-nguyen/c/26277343.epi

4/ Lại Cãi nhau với Dự án Thuỷ lợi Cái Lớn – Cái Bé. Trung Chánh, Thời Báo Kinh Tế SaigonOnline, 07.09.2018 https://www.thesaigontimes.vn/278260/lai-cai-nhau-voi-dai-du-an-thuy-loi-cai-lon–cai-be.html

5/ Xin Đừng Bóp Cổ Đất và Nước. Lê Anh Tuấn, Đại Học Cần Thơ, SaigonTimes 14.09.2018 https://www.thesaigontimes.vn/278468/xin-dung-bop-co-dat-va-nuoc-.html

6/ Đánh giá Các Hệ thống Ngăn Mặn Vùng Ven Biên Châu Thổ Cửu Long & Dự án Thuỷ Lợi Sông Cái Lớn – Cái Bé (Bản thảo ngày 06/9/2018) Nhóm nghiên cứu: Lê Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Thiện, Dương Văn Ni, Nguyễn Hồng Tín, Đặng Kiều Nhânhttp://vietecology.org/Article/Article/314

7/ Dự án Cái Lớn-Cái Bé: Lý do Không thể Phê duyệt. GS Nguyễn Ngọc Trân, Đất Việt Diễn Đàn Trí Thức 12.09.2018 http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-cai-lon-cai-be-ly-do-khong-the-phe-duyet-3365429/

8/ Chuyên gia: Không cần thiết phải xây dựng dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé. Thời Báo Kinhtế SaigonOnline, Trung Chánh, 28.05.2018https://www.thesaigontimes.vn/273170/chuyen-gia-khong-can-thiet-phai-xay-dung-du-an-thuy-loi-cai-lon–cai-be-.html

9/ Dự án thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé: Quá nhiều lo ngại. Nguyễn Hữu Thiện, Báo Đất Mới http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/du-an-thuy-loi-cai-lon–cai-be-qua-nhieu-lo-ngai-3365385/