Đọc sách "Người xưa cảnh tỉnh"

Người xưa cảnh tỉnh” (1) là một quyển sách thuộc vào nhóm sách ‘học làm người’ thời nay. Nhưng học để tránh thói xấu (chứ không học cái hay). Hai soạn giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh mượn những lời nhận xét của người xưa về những thói hư tật xấu để cảnh tỉnh người Việt ngày nay. Đó là một cuốn sách không hẳn dễ đọc, nhưng khi đã đọc thì khó buông được, bởi vì hình như người đọc có thể tìm thấy hình bóng mình hay những người chung quanh trong từng câu chữ trong sách.

Những sách cảnh tỉnh, vạch ra những thói hư tật xấu của một dân tộc không phải là mới, nhưng mới với Việt Nam. Người Mĩ đã có “The Ugly American“. Người Úc có “The Ugly Australian“. Người Nhật cũng có một cuốn sách tương tự (do một đại sứ Nhật viết). Gần chúng ta hơn, người Hoa cũng đã có một cuốn sách như thế. Thật vậy, đúng 20 năm trước, tác giả Bá Dương (Bo Yang) đã làm cho cả thế giới và cộng đồng người Hoa xôn xao khi ông cho xuất bản cuốn sách ‘Người Hoa Xấu Xí’ (Xú Lậu Đích Trung Hoa Nhân). Trong sách, Bá Dương (người Hoa sống ở Đài Loan) liệt kê và phê phán không khoan nhượng những nét văn hóa, những thói quen, những hủ tục ‘xấu xa’ của người Hoa. Ông không có một chữ nào để viết về những nét văn hóa ‘đẹp’ của Trung Hoa. Cuốn sách được bán rất chạy, và trở thành đề tài bàn luận của hầu hết các tầng lớp xã hội, từ giới bình dân đến trí thức. Cuốn sách được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề ‘The Ugly Chinaman and the Crisis of Chinese Culture‘ (và đã tái bản 3 lần), được xem là ‘cẩm nang’ của người phương Tây để hiểu biết hơn người Hoa.

Tác giả Trần Văn Chánh (ảnh: Tuổi Trẻ)

Nhưng người Việt thì chưa có một cuốn sách hoàn chỉnh như những cuốn ‘ugly’ đề cập trên đây; có lẽ cuốn ‘Người xưa cảnh tỉnh’ là gần nhứt. Tuy chưa có, nhưng các học giả Việt Nam trong quá khứ đã nhiều lần nói lên những tính xấu của người Việt. Họ viết ra những điều đó trong nhiều dịp và bối cảnh khác nhau, có khi rất cá nhân, nhưng nói chung là rất rải rác và rời rạc. Chúng ta chưa có một tổng luận có hệ thống về thói xấu của người Việt.

Sách là một loại ‘anthology’ hay tập hợp những đoạn văn của các học giả Việt viết về tính cách và thói quen của người Việt. Đó là những học giả sống vào thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20 như Nguyễn Trường Tộ, Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Trọng Kim, Phan Khôi, Nguyễn Văn Huyên, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Tất Tố, Ngô ĐứcKế, Đào Duy Anh, Hoàng Đạo, Hoàng Cao Khải, Nguyễn Trọng Thuật, Phạm Quỳnh, Dương Bá Trạc, v.v. Họ viết ra những nhận xét đó trong các bài báo và khảo luận văn hóa. Thời gian họ viết ra trong những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, khi nền báo chí học thuật Việt Nam bắt đầu khởi sắc. Những nhận xét đó được viết bằng thể văn có khi là học thuật, có khi là ngôn ngữ thô, nhưng nhiều khi là châm chọc.

Sách gồm 2 phần: phần đầu là sưu tập những câu nói của các học giả, và phần hai là tổng luận. Phần I được sưu tập bởi tác giả Vương Trí Nhàn (Hà Nội). Phần II được viết bởi tác giả Trần Văn Chánh (Sài Gòn). Phần đầu, Vương Trí Nhàn có công sưu tập đến 260 câu nói của các học giả. Ông sắp xếp các phát biểu đó dưới 13 tiểu mục: ăn ở, cư trú và mối liên hệ với thiên nhiên; tệ nạn xã hội; dân trí và ý thức xã hội; giáo dục; giao lưu tiếp xúc; tìm tòi học hỏi và tiếp nhận người nước ngoài; làm ăn buôn bán; nói năng, suy nghĩ, lễ nghi, phong tục; quan hệ giữa người với người; tổ chức quản lí làng xã; tổng quát về người Việt; trí thức quan lại; và văn hóa nghệ thuật và học thuật. Phần tóm tắt có thể xem dưới đây (2). Như có thể thấy, đó là một danh sách dài những thói hư tật xấu của người Việt.

Có thể xem cấu trúc quyển sách như là một tiểu luận mang tính học thuật định tính. Phần đầu là những dữ liệu (hay nói ‘chứng cứ’ cũng được), và phần hai là diễn giải những dữ liệu đó và đặt chúng vào bối cảnh hiện tại. Do đó, đọc phần đầu thì có thể hơi nhàm vì dữ liệu (260 câu trích dẫn), nhưng đọc phần hai thì thấy thú vị hơn vì người đọc sẽ hiểu những dữ liệu đó có ý nghĩa gì, và biết được những cách nhìn của tác giả. Bài tổng luận (tác giả gọi là ‘tổng thuật’) bắt đầu bằng một trường hợp liên quan đến một tiếp viên của Vietnam Airlines bị tạm giam ở Nhật vì nghi ngờ xách lậu hàng ăn trộm về Việt Nam, và tác giả Trần Văn Chánh bàn về những thói quen không mấy hay ho của người Việt. Tác giả trích lại nhận xét của học giả Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược về người Việt: ‘Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác.’ Tác giả cho rằng nhận xét đó khá đúng với tâm tánh của người Việt (dĩ nhiên là nói chung), dù nhiều người không muốn nhìn nhận điều đó. Tác giả Vương Trí Nhàn đi đến nhận xét rằng ‘Thói xấu lớn nhất của người Việt là rất sợ nói về thói xấu của mình.’

Cũng như sách của Bá Dương, quyển ‘Người xưa cảnh tỉnh’ không có một lời nói nào tốt về người Việt, đơn giản vì đó không phải là mục tiêu của sách. Mục tiêu là mượn lời nói của người xưa để cảnh tỉnh người Việt thời nay. Người Việt thời nay, bên cạnh những nét văn hóa hay, còn có rất rất nhiều thói quen và quán tính chỉ có thể mô tả bằng một cụm từ: khó hòa nhập với thế giới văn minh.

Đó là những thói quen và quán tính mà tác giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh đề cập đến trong sách. Sách còn có những trích dẫn mà nếu đối chiếu lại ngày nay cũng khá thời sự tính, như nền giáo dục giết chết nhân cách (Đào Duy Anh) và nền giáo dục bị thương mại hóa (Thái Phỉ). Những thói như loanh quanh chỉ những ăn uống (nhận xét của Phan Kế Bính), mê muội hưởng lạc (Nguyễn Trường Tộ), mê tín gây lãng phí, ăn uống chơi bời bên cạnh nỗi đau của người khác (Phan Kế Bính), thạo sử người hơn sử mình (Hoàng Cao Khải), học đòi làm dáng sống sượng (Nguyễn Văn Vĩnh), chỉ biết học cái bề ngoài (Phạm Quỳnh), hiếu danh đến mất tự trọng (Phạm Quỳnh), chỉ trích và châm chọc (Lương Đức Thiệp), hay nghi ngờ và hại nhau trong công việc (Phan Bội Châu), khinh miệt cá nhân (Hoài Thanh), mưu danh bằng cách hạ nhục kẻ khác (Hoa Bằng), v.v. tất cả đều dễ dàng nhận ra trong xã hội ngày nay.

Một câu hỏi đặt ra là những thói xấu vừa đề cập có phải là ‘văn hóa’. Nếu lí giải rằng cái nền văn hóa Việt Nam là nguyên nhân của những thói hư tật xấu đó có vẻ đơn giản hóa vấn đề, bởi vì người Việt ở nước ngoài có vẻ có ít thói xấu như thế so với người trong nước, và ngay cả ở trong nước cũng có sự khác biệt lớn về lề thói ứng xử giữa người miền Bắc và miền Nam trước 1975, hay sau và trước 1975. Tức là có một yếu tố khác, hơn là văn hóa, có thể giải thích tại sao những cái mà tác giả gọi là ‘thói hư tật xấu’ của người Việt. Tôi nghĩ rằng đó là thể chế chính trị – xã hội. Khi nói ‘thể chế’, tôi muốn nói đến cái tiếng Anh gọi là ‘institution’, chứ không hẳn là chế độ chính trị. Nhưng dĩ nhiên, có người sẽ nói chế độ đẻ ra thể chế văn hóa, nên người ta cũng có lí do qui về chế độ.

Có nhiều nghiên cứu cho thấy người Á châu, kể cả người Việt, ít tin tưởng vào người lạ hơn là người Âu châu. Có lẽ vì văn hóa Á Đông phân biệt tương đối rạch ròi giữa Trong Nhóm và Ngoài Nhóm. Người Trong Nhóm dễ tin hơn người Ngoài Nhóm. Và, có người chỉ ra rằng các tập đoàn kinh tế người Hoa thường do người trong gia đình nắm quyền điều hành, còn các tập đoàn kinh tế Âu Mĩ thì ít có ‘thể chế gia đình trị’ đó, và do đó có thể giải thích tại sao nhiều tập đoàn kinh tế Á châu khó vươn ra ‘biển lớn’. Riêng trường hợp Việt Nam, mới có một cuộc điều tra xã hội cho thấy có khoảng 23% là người ta tin tưởng lẫn nhau, và có đến 80% người trả lời sẵn sàng lợi dụng người khác để hưởng lợi cho mình, nói lên một xã hội bị sứt mẻ niềm tin nghiêm trọng. Với một xã hội như thế thì chúng ta khó kì vọng gì lành mạnh và tươi sáng cho tương lai, cũng giống như bên Tàu, dù kinh tế có phát triển đây đó nhưng thế giới vẫn xem người Hoa là một loại hạng hai.

‘Người xưa cảnh tỉnh’ có thể làm cho nhiều người cau có, thậm chí giận dữ, bởi vì tác giả chỉ nêu lên những thói xấu của người Việt. Nhưng nếu có những nhận xét giận dữ và phản ứng hằn học với quyển sách thì điều đó chỉ thêm minh chứng về tính xấu của người Việt mà thôi. Tuy quyển sách chưa phải là một quyển ‘Người Việt Xấu Xí’ (chứ chưa chắc ‘xấu xa’) như cuốn của Bá Dương, vì tác giả chỉ ‘mượn’ người xưa, chứ chưa trực diện tấn công như Bá Dương. Tuy nhiên, những lời của người xưa và lí giải trong sách cũng đáng để chúng ta tham khảo.

Nhưng mục tiêu của tác giả là cảnh tỉnh người thời nay. Cảnh tỉnh để tự sửa mình. Khi được hỏi người Việt nên bắt đầu từ đâu để tự sửa mình, tác giả nghĩ đến giáo dục và luật pháp. Tôi nghĩ đó có lẽ cũng là câu trả lời nhiều người nghĩ đến, nhưng chưa đủ. Giáo dục và luật pháp chịu sự chi phối nặng nề của thể chế chính trị, cho nên tôi nghĩ cái gốc và cũng là nơi khởi đầu chỉnh sửa chính là thể chế. Ngoài thể chế, tôi nghĩ vai trò của tôn giáo độc lập cũng vô cùng quan trọng. Có rất nhiều nghiên cứu tâm lí xã hội ở phương Tây cho thấy mối liên hệ dương tính giữa đạo đức xã hội, đạo đức cá nhân và mức độ hoạt động độc lập của tôn giáo. Do đó, cảnh tỉnh là ở cấp độ cá nhân, dù rất quan trọng, nhưng vẫn cần phải có sự tác động của ‘hệ thống’ thể chế và tôn giáo.

‘Người xưa cảnh tỉnh’ cũng có thể ví như là một tấm gương. Tấm gương đó có tác dụng phản chiếu để mỗi chúng ta nhìn thấy những tì vết tâm lí của chính mình mỗi ngày. Tôi nghĩ cuốn sách xứng đáng có mặt trong tủ sách của mỗi gia đình người Việt. Tác giả Bá Dương đã qua đời năm 2008, và trước ngày qua đời ông nhận định rằng cuốn sách ‘Người Trung Hoa Xấu Xí’ của ông đã giúp cho người Hoa tốt hơn. Chúng ta cũng hi vọng rằng quyền ‘Người xưa cảnh tỉnh’ của hai tác giả Vương Trí Nhàn và Trần Văn Chánh cũng có tác động tích cực như thế cho người Việt trong tương lai.

====

(1) Sách “Người xưa cảnh tỉnh: thói hư tật xấu của người Việt trong con mắt các nhà trí thức nửa đầu thế kỉ 20” của hai tác giả Vương Trí Nhàn (sưu tầm) và Trần Văn Chánh (luận giải), do Nxb Tổng Hợp ấn hành năm 2018. Sách dày 284 trang, khổ nhỏ, giá bán 90,000 đồng.

(2) Tóm tắt trong sách về những thói hư tật xấu của người Việt:

1. Người Việt và ý thức công dân ý thức xã hội (Phần 1):

Bảo thủ, dựa dẫm, cầu an; Tri túc và hiếu cổ; Cái gì cũng đổ tại trời; Ma quỷ sống lẫn với người hèn yếu; Ý thức quốc gia thức tỉnh quá chậm; Khi bàn chuyện quốc gia chỉ ham hư danh; Làm ra vẻ yêu nước để mưu lợi riêng; Lo việc nước theo lối tự tư tự lợi; Tư tưởng gia nô; Kém óc hợp quần; Một vài thói tục đã thành di truyền (một là học để làm quan, hai là làm quan ăn lót, ba là a dua người quyền quý, bốn là trọng xác thịt…); Sợ tự do, cam chịu làm nô lệ; Chưa trưởng thành trên phương diện công dân; Các hội nghề nghiệp yếu ớt ọp ẹp; Sinh hoạt hội đoàn dễ bị làm hỏng; Theo sự chi phối của quan niệm hư vô.

2. Người Việt và ý thức công dân ý thức xã hội (Phần 2):

Có độc lập cũng cướp đoạt của cải và chém giết nhau đến chết; Dân trí thấp kém… (hay nghi kỵ lẫn nhau, không làm nên việc gì cả…); Tôn sùng những điều xa hoa vô ích, bỏ bễ những sự nghiệp đáng làm; Chỉ biết lợi mình mà không biết hợp quần; Thương tiếc của riêng, không tưởng đến việc ích chung; Biết có thân mình nhà mình mà không biết có nước; Dễ ỷ lại; Trong việc nước cũng ai mạnh thì theo, bỏ hết liêm sỉ; Rên rỉ than vãn mỗi khi gặp khó; Không có chí viễn du; Xa lạ với chuyện phiêu lưu; Căn tính nô lệ, run sợ trước cái mới; Không thiết việc đời; Chống đối tự phát (như nhà nước đòi sơn thì dân chặt cây đi, nhà nước đòi vải lụa thì dân phá khung dệt, đòi gỗ thì dân quăng búa rìu, đòi tôm cá thì dân xé lưới…); Đi đâu cũng lo quay về làng; Ngoài làng xã không biết gì đến nước nhà đến thế giới; Tình yêu làng nước cản trở tiến bộ; Ương ngạnh, hoài nghi, khó dìu dắt.

3. Người Việt qua cách nói năng cười cợt

Không còn lễ nghĩa liêm sỉ; Những câu chửi rủa quá quắt; Tây không ra Tây, Tàu không ra Tàu, ta không ra ta; Thiên về những cái tầm thường thô bỉ; Tật huyền hồ sáo hủ (chỉ sự ăn nói lời nói linh tinh, trống rỗng, giả tạo…); Gì cũng cười (trong tiếng cười ẩn chứa nhiều ý xấu…); Tiếng cười vô duyên; Nói bừa nói bãi, tủi nhục cho cả nòi giống; Hay cãi nhau, thích kiện tụng; Chỉ trích và châm chọc.

4. Thói hư tật xấu người Việt trong làm ăn buôn bán

Thiếu cái gan làm giàu; Không lo xa, dễ thỏa mãn; Ăn xổi ở thì, chưa lo làm đã lo phá; Không biết chấn hưng thực nghiệp; Đồng tiền không dùng để sinh lợi; Những người thợ bất đắc dĩ; Buôn bán lòng vòng trong phạm vi hẹp; Không có nghề nào đạt tới trình độ chuyên nghiệp; Không chịu học buôn học bán; Khéo tay mà trí không khôn; Không ai chuyên nhất việc gì; Làm hàng bán hàng đều kém; Tài trí thua kém; Thời gian phí phạm cách sống làm điệu làm dáng; Quan niệm về kinh tế quá cổ lỗ; Giữa chủ và thợ không tìm được hình thức cộng tác thích hợp; Những cái gia truyền dần dần mất đi; Ngủ yên trên danh vọng; Bôi bác, giả dối, chỉ cầu rẻ; Người làm nghề không ngóc đầu lên được; Không biết thích ứng với xã hội hiện đại.

5. Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người

Nhắm mắt bắt chước điều không hay của cổ nhân và ngại thay đổi; Dễ học cái dở; Học thuật hủ bại; Học để kiếm gạo; Học để làm quan; Học đòi vặt vãnh bỏ qua chuyện lớn; Nặng tính hiếu kỳ; Thần trí bạc nhược, thiếu óc tự lập; Như cái cây bị “cớm”; Con ma cử nghiệp giết chết sự học; Có khoa cử mà không có sự 22 nghiệp; Giáo dục hiện đại bị thương mại hóa; Thiếu niên hư hỏng; Đỗ đạt là xong, không còn cầu học; Một nền giáo dục giết chết nhân cách; Không có một nhà tư tưởng, không có người khao khát tìm đạo lý mới.

6. Việc tìm tòi học hỏi và nền giáo dục của người Việt (2)

Khi học thuật kém cỏi lòng người sinh ra phù phiếm, phong tục trở nên bại hoại; Nói láo nói linh; Không học nên thiếu tư cách làm người; Cái hay của người đến mình trở thành cái dở; Học không biết cách, luật pháp hồ đồ, cương thường giả dối; Không học được cách tư duy hợp lý; Không có học thuyết của mình (xưa nay ta chỉ có mấy lối học của Tàu truyền sang…); Việc bắt chước dễ dãi thường gây nhiễu loạn; Mô phỏng lâu ngày quên cả sáng tạo; Mình lại rẻ mình, bản thân tự làm hỏng; Tình nghĩa thầy trò bị hiểu sai lệch và bị lợi dụng; Chỉ lo nuôi không lo dạy; Sẽ có lúc mất hết đạo lý? (song song với vấn đề nghèo khổ, còn phải giải quyết vấn đề giáo dục…); Không chú trọng học thuật sẽ thành dân tộc bỏ đi.

7. Thị hiếu nhỏ mọn và chất bi thương sầu cảm trong văn chương

Thị hiếu tầm thường; Văn chương phù phiếm, toàn giọng bi thương; Đằng sau thói quen đẽo gọt là sự nhu nhược; Chỉ giỏi về văn thù ứng; Tưởng thật mà hóa dối; Khinh miệt cá nhân; Không tìm thấy bản sắc; Phê bình nghĩa là nịnh nọt; Nhắm mắt bắt chước cốt kiếm lợi; “Tiểu thuyết của phường coi cổng” (những cuốn tiểu thuyết hay nhất của ta bây giờ, già lắm chỉ bằng những cuốn tiểu thuyết của phường coi cổng bên Pháp mà thôi!…); Nhiều trò quảng cáo bỉ ổi; Những nhạc điệu rời rạc, ẻo lả; Nặng tính trang sức mà thiếu sức sống (nghệ thuật Việt Nam thường bị bó buộc trong lề lối cổ…); Kiếp người bấp bênh văn chương sầu não.

8. Quan hệ giữa người với người: tham lam ích kỷ cạnh tranh nhỏ nhặt

Không ai hết lòng với ai; Tham lợi dẫn đến vô cảm; Không biết hợp quần; Ích kỷ và khôn vặt; Chỉ biết cạnh tranh trong những việc tầm thường, lặt vặt; Vừa không thiết chuyện gì, vừa xét nét nhỏ nhặt; Lợi dụng đạo nghĩa kiếm lợi; Danh dự bị hiểu sai lạc và mang ra mua bán; Trông nhau để … yên tâm trục lợi; Cách sống của kẻ cùng đường; Mưu danh bằng cách hạ nhục kẻ khác; Chỉ biết lo thân.

9. Bẻ quẹo những chuẩn mực đạo lý nhân bản

Lêu lổng qua ngày, mất hết tự trọng; Trông đợi quá nhiều ở sự may rủi; Thiếu tận tâm, tránh khó tìm dễ; Xấu làm tốt dốt làm thông; Không biết tôn trọng cả lợi ích công cộng lẫn lợi ích cá nhân; Những ham muốn tầm thường; Giả dối thịnh hành, không biết nhìn ra sự thật; Giải thích sai các giá trị (hỏi trọng gì, ắt là võng lọng cân đai; hỏi quý ai, tất là ông cả bà lớn; hỏi cái gì là sang, tất là xe ngựa lâu đài ngọc ngà gấm vóc…); Đạo lý ngược đời; Trung dung theo nghĩa nửa vời, trung dung cốt để ngu dân (“Trung dung thật là một cái thuyết lôi thôi, mà xã hội ta chịu lấy cái ảnh hưởng trung dung ấy mà hóa ra một cái xã hội ương ương dở dở, trắng không ra trắng đen không ra đen…”); An nhẫn lẫn với đê hèn nhục nhã; Lười biếng và hay nói hão…

10. Giả dối, lừa lọc, kiêu ngạo, hiếu danh

Không biết giữ chữ tín; Hiếu danh đến mất tự trọng; Bệnh giả dối quá nặng; Sợ mang tiếng chứ không phải sợ cái xấu; Chỉ giỏi diễn trò trước mặt mọi người; Kiêu ngạo, hợm hĩnh, 23 theo đuổi những cái hão huyền; Khiêm nhường giả, kiêu căng thật; Hay tự ái và thích chơi trội; Tinh thần voi nan (những con voi to lớn lắm, có đủ chân đủ vòi, nhưng nó ở trong bằng nan ở ngoài bằng giấy…); Học đòi, làm dáng.

11. Nếp tư duy đơn sơ tùy tiện

Kém óc khoa học; Óc tồn cổ; Quá vụ thực trong tư duy; Điều hòa với nghĩa… chắp vá bừa bãi; Áp đặt chuyên chế mọi nơi mọi chỗ; Gọt chân cho vừa giày; Chỉ suy nghĩ bằng khuôn sáo; Không chịu được những tìm tòi phá cách; Bỏ cũ theo mới một cách nông nổi; Thói quen cam chịu; Dễ dãi thô thiển thế nào cũng xong; Tùy tiện thay đổi, chỉ cốt có lợi.”

Nghiên cứu về ý thức xã hội Nam – Bắc

Tác giả Kiyohisa Shibai có làm một nghiên cứu rất thú vị về sự khác biệt về ý thức và giá trị xã hội (social consciousness and values) giữa hai miền Nam và Bắc (1). Công trình được công bố trên Behaviormetrika vào năm 2015. Kết quả nghiên cứu hơi bất ngờ, nhưng củng cố cho những cảm nhận bình dân của người dân hai miền.

Tác giả làm nghiên cứu trên hai nhóm tình nguyện viên miền Nam (575 người) và Bắc (425). Tác giả chia thành 4 nhóm nhỏ: (A) nhóm miền Bắc, dưới 50 tuổi, lớn lên sau chiến tranh; (B) nhóm miền Bắc, 50 tuổi trở lên, lớn lên trong thời chiến tranh; (C) nhóm miền Nam, dưới 50 tuổi, lớn lên sau chiến tranh trong chế độ XHCN; và (D) nhóm miền Nam, 50 tuổi trở lên, lớn lên trong 2 chế độ VNCH và XHCN. Tác giả dùng bộ câu hỏi với những câu hỏi liên quan đến 3 khía cạnh xã hội – chính trị, quan hệ quốc tế, và kinh tế.

Kết quả thì có nhiều, nhưng có thể tóm tắt vài dữ liệu chính như sau:

1. Về giúp đỡ lẫn nhau, một yếu tố rất quan trọng trong quan hệ xã hội: 68% nhóm miền Bắc trả lời rằng họ “cố gắng giúp đỡ” (try to be helpful), thấp hơn tỉ lệ trong nhóm miền Nam (72%).

2. Về sự công bằng (people’s fairness): Trong nhóm miền Bắc tỉ lệ lợi trả lời sẵn sàng lợi dụng người khác là 88%, cao hơn nhóm miền Nam (72%). Ngược lại, tỉ lệ “cố gắng công bằng” với người ở nhóm miền Bắc là 12%, chỉ bằng phân nửa nhóm miền Nam (28%).

3. Về sự tin tưởng lẫn nhau (interpersonal trust): khi được hỏi có thể tin tưởng người chung quanh (can be trusted), chỉ có 18% nhóm miền Bắc trả lời là yes, thấp hơn nhóm miền Nam (27%).

4. Về ý thức chính trị: Khi được hỏi về ý thức chính trị (như tự do ngôn luận, xã hội dân sự), chỉ có 24% nhóm miền Bắc cho rằng ý thức chính trị là quan trọng, nhưng tỉ lệ này ở người miền Nam thì lên đến 47%.

5. Khi được hỏi Mĩ là “Country for friendship” (quốc gia để kết bạn) thì 23% nhóm miền Bắc đồng ý, còn nhóm miền Nam là 35%. Khi hỏi Nga có đáng kết bạn thì tỉ lệ ở nhóm miền Bắc là 20%, cao gấp hai lần nhóm miền Nam (11%). Riêng câu hỏi Tàu có đáng kết bạn thì miền Bắc vẫn thích Tàu hơn miền Nam (5% miền Bắc và 4% miền Nam).

6. Khi được hỏi ‘giả tưởng’ rằng nếu được tái sinh, thì muốn sinh ở quốc gia nào. Kết quả cho thấy 11.7% nhóm miền Bắc chọn Mĩ, và tỉ lệ này là 12% trong nhóm miền Nam (không khác nhau). Thú vị là 12% nhóm miền Bắc chọn Nga, nhưng chỉ có 8% nhóm miền Nam chọn Nga. Thú vị hơn là 28% nhóm miền Bắc chọn Nam Hàn, nhưng chỉ 13% nhóm miền Nam chọn nước này. Chỉ có 7% nhóm miền Bắc chọn Úc để “tái sinh”, nhưng tỉ lệ này ở nhóm miền Nam là 12%.

Tác giả không thấy khác biệt đáng kể giữa hai thế hệ lớn lên trước và sau 1975. Như vậy, thế hệ có vẻ không ảnh hưởng gì đến nhận thức xã hội và quan hệ quốc tế.

Khó đánh giá giá trị khoa học của nghiên cứu này, vì tôi chưa thấy bộ câu hỏi và tiêu chuẩn chọn người tham gia nghiên cứu. Tuy nhiên, cách thức mà tác giả phân tích chưa trả lời được những câu hỏi về liên quan giữa cái mà tác giả gọi là “exposure to communism” và nhận thức xã hội. Vì đây là một nghiên cứu quan sát nên chúng ta không nói gì về nguyên nhân – hệ quả được. Thật ra, nơi bài báo được công bố (behaviormetrika) cũng nói lên phần nào phẩm chất khoa học chưa cao. Nhưng đối với tình hình Việt Nam, nơi mà người ta lấy cái cớ “chia rẽ vùng miền” để tránh né vấn đề, thì đây là một đóng góp có ý nghĩa và quan trọng, vì nó giúp chúng ta — người Việt — hiểu về mình tốt hơn.

Tóm lại, những kết quả trên cho thấy rõ ràng là có sự khác biệt về nhận thức và giá trị xã hội giữa hai miền Nam Bắc. Kết quả cho thấy người miền Nam quan tâm nhiều đến chính trị – xã hội hơn người miền Bắc. Người miền Nam tôn trọng người khác hơn, chuộng sự công bằng hơn, tin tưởng nhau hơn, và có xu hướng giúp đỡ người hơn người miền Bắc. Trong quan hệ ngoại giao, người miền Nam chuộng Mĩ hơn người miền Bắc, nhưng người miền Bắc thích Nga hơn người miền Nam. Kết quả cho thấy xã hội Việt Nam bị sứt mẻ niềm tin nghiêm trọng, và người ta sống chỉ muốn lợi dụng lẫn nhau hơn là giữ sự công bằng. Những kết quả này không nhất quán với nhận định “cơ đồ đất nước” chưa có bao giờ đẹp như hôm nay.

===

(1) Nghiên cứu này nằm trong một cuộc điều tra xã hội “Asia Pacific Values Survey” do một nhóm nghiên cứu bên Nhật thực hiện tại Nhật, Mĩ, Bắc Kinh, Thượng Hải, Hồng Kong, Đài Loan, Nam Hàn, Singapore, Úc, Ấn Độ, và Việt Nam. Tôi đang tìm cách xin số liệu của họ để phân tích thêm. Trích vài kết quả qua các bảng dữ liệu dưới đây.

https://www.jstage.jst.go.jp/article/bhmk/42/2/42_167/_pdf

Câu hỏi về giúp đỡ lẫn nhau, công bằng với người, và tin tưởng lẫn nhau. Kết quả hơi ‘depressive’, vì có đến 80% người trả lời sẵn sàng lợi dụng người khác, và chỉ có 20% là cô gắng công bằng. Chỉ có 23% là tin tưởng lẫn nhau, nói lên một xã hội bị sứt mẻ niềm tin.

Khác biệt về ý thức chính trị giữa miền Nam và Bắc. Chỉ có 24% người miền Bắc cho rằng ý thức chính trị là quan trọng hay rất quan trọng, nhưng trong Nam con số này lên đến 50%! Hồi nào đến giờ, chúng ta vẫn nghĩ người Bắc quan tâm đến chính trị hơn người Nam, nhưng kết quả này cho thấy ngược lại!

Quốc gia kết bạn. Khoảng 1/5 người miền Bắc thích kết bạn với Nga, và con số này cao gấp 2 lần tỉ lệ ở miền Nam. Đáng chú ý là trong nhóm trẻ ở miền Bắc, có đến 6% chọn Tàu là quốc gia bạn bè, trong khi đó ở miền Nam con số này chỉ 0.3%. Nhưng ở nhóm ‘già’ (trên 50 tuổi) thì tỉ lệ chọn Tàu ở miền Nam cao hơn miền Bắc!

Năm Kỉ Hợi đọc lại "Trại Súc Vật" (Animal Farm)

Trại Súc Vật (Animal Farm) là một tác phẩm bất hủ của văn hào George Orwell, xuất bản lần đầu năm 1945. Tác phẩm được sáng tác theo phong cách truyện ngụ ngôn, mô tả một cuộc cách mạng ở nông trại Manor của ông Jones. Cuộc cách mạng chống lại ông Jones do các con heo lãnh đạo, nhưng những gì xảy ra sau đó cho thấy chính các con heo này trở thành độc đoán và hủ bại. Những câu chuyện, những mẫu đối thoại, những vai trò của các con heo trong Trại Súc Vật rất giống với những gì diễn ra ở các quốc gia theo thể chế toàn trị, và chính điều này làm cho tác phẩm trở nên kinh điển.

Những “nhân vật”

Các ‘nhân vật’ trong Trại súc vật là những con heo. Dẫn đầu là con heo già thuộc hàng thủ lãnh tên Old Major, nó được mọi con vật khác trong trại kính nể vì sống lâu và có những ý tưởng đáng để các con vật khác học hỏi và tôn xưng làm lãnh tụ. Kế đến là con heo trẻ tên là Snowball, được xem là một con vật ‘trí thức’, có khả năng làm kinh tế. Đáng chú ý nhất là con heo Napoleon, con heo này còn trẻ, đầu óc mưu mô, xảo quyệt, có xu hướng bạo lực, và sau này trở thành một lãnh tụ độc tài. Bên cạnh con heo Napoleon là con heo Squealer có thân hình mập mạp, chuyên nghề tuyên truyền, nói trắng thành đen, đen thành trắng, sau này trở thành một cánh tay đắc lực cho heo Napoleon.

Ngoài những con heo đóng vai trò lãnh đạo trên, trại Manor còn có những con vật khác chỉ đóng vai trò ‘thường dân’ hoặc tay sai và bị lợi dụng. Boxer là một con ngựa, suốt năm này sang năm khác, chỉ biết lao động, chứ không suy nghĩ gì cả. Ngoài ra, còn có con ngựa cái tên Clover, ít nói và hay thắc mắc, nhưng không dám nói ra. Con ngựa Mollie thì chỉ thích được khen và nghe lời đường mật, dễ bị chiêu dụ cho làm những việc vớ vẩn. Ngoài 3 con ngựa, truyện còn có con lừa Benjamin, con quạ Moses, 3 con chó Blubell, Jessie,Pincher. Ba con chó này sinh ra 9 con chó khác và sau này làm vệ sĩ cho heo Napoleon.

Cuộc cách mạng

Câu chuyện mở đầu bằng một buổi họp các con vật để heo già Old Major thuyết trình về tình hình hiện tại. Bằng một giọng nói trầm ấm, lên xuống đúng điệu, chậm nhưng rõ ràng, Old Major thôi miên các con vật về tình hình ông chủ Jones là một kẻ say xỉn, bóc lột các con vật để làm giàu bản thân, trong khi đó các con vật từ heo đến gà phải hi sinh làm thịt trứng cho y, các con vật khác như ngựa thì lao động tối ngày trong đói khát và đau khổ. Tình hình quá ư là bất bình đẳng. Old Major kêu gọi một cuộc cách mạng. Để tỏ tình đoàn kết, Old Major đề nghị các con vật nên gọi với nhau bằng danh từ “Đồng chí” (comrade). Tất cả các đồng chí phải bình đẳng với nhau. Các đồng chí phải nhận ra rằng con người đi 2 chân là kẻ thù. Nói xong bài diễn văn, Old Major lăn ra chết trước sự ngỡ ngàng và thương tiếc của các đồng chí trẻ hơn.

Sau khi heo Old Major qua đời, các heo đàn em phát triển ý tưởng của Old Major thành Chủ nghĩa Súc vật (Animalism). Chủ nghĩa Súc vật kêu gọi cách mạng bằng phương tiện bạo lực. Trong khi đó, lão Jones càng ngày càng sa đà vào cuộc sống bê tha, rượu chè, không chăm sóc trang trại như trước kia, và bắt đầu hành hạ súc vật. Lợi dụng tình hình đó và trang bị cho mình bằng một chủ nghĩa, các con vật nổi dậy làm cách mạng và đuổi lão Jones khỏi nông trại. Cuộc cách mạng thành công. Các con vật, thật ra là các con heo, trở thành chủ nhân mới của nông trại Manor, chúng đổi trên trại thành Animal Farm — Trại súc vật. Heo Napoleon nghiễm nhiên trở thành một lãnh đạo tối cao.

Sau khi đổi tên nông trại thành Animal Farm, các con heo lãnh đạo đặt ra 7 qui định đạo đức mới. Bảy qui định dạy rằng kẻ nào đi 2 chân là kẻ thù; kẻ đi 4 chân là bạn; các con vật không được mặc quần áo, không được ngủ trên giường, không được uống rượu; tất cả các con vật đều bình đẳng, và các con vật không giết lẫn nhau. ‘Chính phủ heo’ mới cho thành lập trường học để dạy dỗ các thế hệ heo nối nghiệp.

Trong ‘Chính phủ heo’, heo Squealer trở thành một nhà tuyên giáo xuất sắc. Squealer thuyết phục các con vật khác rằng các con heo lãnh đạo sống có đạo đức và luôn luôn có những quyết định sáng suốt, chí công vô tư. Bằng cách dùng các con số thống kê giả tạo Squealer thuyết phụ rằng các con heo có tư cách độc quyền sử dụng tài nguyên, có tư cách lãnh đạo nông trại. Các con heo duy trì vai trò lãnh đạo mà các ‘thần dân’ không hề có ý kiến. Heo Squealer tạo ra một kẻ thù tiềm ẩn là ông Jones, nó nói rằng một ngày nào đó ông Jones sẽ quay lại, và do đó tất cả phải cảnh giác.

Squealer dùng tuyên truyền để tẩy não các con vật khác, nói có thành không, không thành có, làm cho sự thật bị lu mờ. Chẳng hạn như khi con ngựa Boxer vì lao động cực nhọc nên chết, Squealer tuyên truyền rằng Boxer đã được các bác sĩ thú y tận tình cứu chữa, nhưng không qua khỏi và đã qua đời yên lành trong bệnh viện. Thật ra, Boxer được chở đến lò sát sinh, có thể là bán thịt! Khi Boxer chết, các con heo tổ chức tiệc giả bộ vinh danh Boxer, nhưng thật ra là lợi dụng dịp để ăn no nê và uống rượu … Whisky!

Học làm … người

Theo thời gian, heo Napoleon thu tóm quyền lực, tống khứ heo [kinh tế gia] Snowball ra khỏi ban lãnh đạo, và trở nên một kẻ độc tài hung dữ. ‘Chính phủ’ heo ra mặt đàn áp các con vật khác, bóc lột lao động của chúng, cắt giảm lượng đồ ăn của các con vật ‘thần dân’. Khi thần dân lên tiếng phàn nàn là bị đàn áp khốc liệt ngay. Có những con vật như 4 con heo nhỏ, một con gà và một con ngỗng bị các con chó xử tử ngay sau khi bản án được tuyên bố, làm cho các con vật khác khiếp đảm. Khi con heo kinh tế Snowball đề nghị công nghiệp hóa sản xuất để giảm sự cực khổ của các con vật, heo Napoleon cho mấy con chó ra hăm dọa và đuổi đi mất khỏi nông trại. Một không khí khủng bố bao trùm lên nông trại, và các con vật khác chỉ biết lầm lũi, cuối đầu làm thân trâu ngựa cho heo. Đi đâu các con heo lãnh đạo cũng đeo roi để thị uy. Các con heo trở nên mập mạp hơn, giàu sang hơn, vì hưởng đặc quyền đặc lợi. Chúng sửa khẩu hiệu tất cả các con vật đều bình đẳng thành “tất cả các con vật đều bình đẳng, nhưng vài con vật bình đẳng hơn.”

Để củng cố sự cai trị, ‘Chính phủ heo’ ban phát bổng lộc cho những con vật trung thành. Những con chó có công đánh đuổi những con vật ‘phản động’ được gắn huy chương ‘Anh hùng bậc I’ và ‘Anh hùng bậc II’. Những con heo lãnh đạo bây giờ yêu cầu mọi người phải gọi chúng bằng danh xưng mới như ‘Lãnh tụ của chúng ta, đồng chí Napoleon’. Hệ thống tuyên truyền của Squealer ra lệnh cho các con vật làm thơ ca tụng Napoleon, và dạy rằng dưới sự ‘lãnh đạo anh minh’ của heo Napoleon, nông trại Animal Farm đã phát triển ngoạn mục.

Khi quyền lực đã được củng cố vững vàng, heo Napoleon bắt đầu tha hóa. Nó vi phạm những qui định do nó đặt ra lúc ban đầu. Cùng với các con heo lãnh đạo khác, heo Napoleon tập ngủ trên giường. Chúng uống sữa, ăn đồ ngon, ăn chơi phè phỡn. Chúng học những thói quen của ông Jones như uống rượu, và kinh ngạc hơn là chúng tập đi bằng 2 chân! Chúng cho rằng đi bằng 2 chân là … quí phái. Đáng ngạc nhiên hơn, các con heo lãnh đạo bắt đầu quay về cái thời của ông Jones. Chúng không cho gọi nhau là “Đồng chí” nữa. Chúng trả lại tên nông trại là Manor Farm (tức bỏ tên Animal Farm).

Những bài học

Phải nói George Orwell là một thiên tài, một nhà tiên tri. Ông nhìn thấy trước một cuộc cách mạng cả mấy mươi năm, và đã tạo ra những con vật nhân cách hóa tuyệt vời. Chẳng hiểu sao ông chọn mấy con heo làm con vật lãnh đạo, có lẽ vì ông cũng nghĩ heo là loài vật thông minh và là loài vật xã hội (social animal)? Tác phẩm Animal Farm đã được dịch sang tiếng Việt và xuất bản vài năm trước.

Đọc qua tác phẩm và chỉ cần một chút quan sát, ai cũng có thể liên tưởng những câu chuyện trong tác phẩm với tình hình thực tế ở các nước làm cách mạng. Khởi đầu là một nhân vật có khả năng thuyết phục người dân về những bất công của chế độ hiện hành; kế đến là làm cách mạng hay đảo chính bằng bạo lực; cách mạng thành công, họ đặt ra những tiêu chuẩn đạo đức cách mạng mới; họ dùng tuyên truyền để nhồi sọ người dân; theo thời gian họ trở nên độc đoán, chuyên quyền, sa đọa; khi họ giàu lên, họ quay về những giá trị tiền cách mạng từng làm cái cớ để họ tiến hành ‘cách mạng’. Đúng một vòng tròn.

George Orwell chắc đã quan sát chế độ Soviet, nên mới tạo ra được những cơ quan, những nhân vật được nhân cách hoá đến những danh xưng đặc trưng Soviet. Những danh xưng kiểu như “Lãnh tụ anh minh” và huy chương “Anh hùng” đúng là sản phẩm tuyên truyền thời Soviet. Con heo Napoleon với bản chất hung dữ và bạo động chính là tượng trưng cho Stalin. Bầy chó là hiện thân của bộ máy công an, có nhiệm vụ bảo vệ heo lãnh tụ Napoleon và đàn áp bất cứ ai dám thách thức lãnh tụ. Con heo Snowball dù có tài kinh bang tế thế và là một khai quốc công thần nhưng khi đã dám thách thức quyền lực của heo Napoleon là bị cho ‘lưu vong’ ngay.

Một con heo đóng vai trò quan trọng cho ‘Chính phủ heo’ là heo Squealer, nó hiện thân của hệ thống tuyên truyền tẩy não bằng dối trá và nhồi sọ. Heo Squealer tận dụng những thủ thuật nguỵ biện để tấn công những con vật bất đồng ý kiến với ‘lãnh tụ anh minh’. Những xảo thuật như tấn công cá nhân và ‘name calling’ được sử dụng triệt để. Squealer rất thành công gieo vào đầu mấy con gà và bò về công lao của heo Napoleon. Đẻ được trứng, uống được nước ngọt, tất cả đều nhờ ơn của “lãnh tụ anh minh” heo Napoleon.

Trại Súc Vật còn mô tả những thành phần xã hội có học nhưng thích được khen (như con ngựa Mollie), những kẻ biết chuyện nhưng im lặng như con ngựa Clover, và những kẻ chỉ nhắm mắt làm tay sai như ngựa Boxer. Trong xã hội do mấy con heo lãnh đạo, bạo lực và tuyên truyền được vận dụng tối đa; một cái là phương tiện trấn áp, và một cái là tẩy não để các ‘thần dân’ không còn phân biệt được đâu là thật và đâu là giả. Ai bất đồng ý kiến với chúng được cho cái nhãn ‘kẻ thù của nhân dân’ và phải bị triệt tiêu. Cách cai trị hà khắc này đến nay vẫn còn được áp dụng ở một số nước. Trại Súc Vật đúng là một kiệt tác phản ảnh một cách sâu sắc những mâu thuẫn trong các xã hội toàn trị, và cũng là một lời nhắc nhở rằng “Quyền lực làm cho con người tha hóa. Quyền lực tuyệt đối dẫn đến tha hóa tuyệt đối.”

—-

Có thể xem phim Animal Farm phụ đề tiếng Việt ở đây:

Distinguished Professorship of Ton Duc Thang University

I am honored to have been awarded the title of ‘Distinguished Professor’ of Ton Duc Thang University (TDTU). I have been associated with the University for more than 5 years in various roles and capacities. I am an academic advisor of the University. I chair the University’s Committee for Appointment and Promotion. I co-direct the Bone and Muscle Research Lab that runs the Vietnam Osteoporosis Study (VOS). Over the years, I have made some substantive contributions to the growth of TDTU.

About 5 years ago, I was asked to chair a retreat for the University, and in that retreat we set out a strategic plan for the growth of the University. A series of plans were initiated to take TDTU to the national standing. And, I am pleased to say that although the University is still young (20 years of age), it has spectacularly developed over past 5 years. In terms of scientific research and output, TDTU is now ranked #2 university in Vietnam. We have now approximately 200 lecturers from overseas institutions. We have established standards and criteria for appointment and promotion of academic staff. Based on these criteria, the University has promoted/appointed more than 10 assistant professors, 3 associate professors, and 2 full professors. However, we still have a lot to do in the next few years to maintain the continuing and sustainable growth. To me, a university has three key missions: knowledge generation through research, knowledge transfer through teaching, and cultural center. I strongly believe that TDTU will achieve the three missions, and will contribute to the modernization of Vietnam.

The ceremony of conferring the title Distinguished Professor

Source: http://www.tdtu.edu.vn/en/news/2018-12/ton-duc-thang-university-awards-the-title-of-distinguished-professor-to-professor-nguyen-van-tuan

Nguồn gốc heo trên thế giới: Đông Nam Á

Nhân dịp năm con heo (Kỉ Hợi 2019), chúng ta ta bàn qua nguồn gốc của nó. Rất ít người biết rằng có thể (tất cả) các giống heo trên thế giới được thuần hóa ở Đông Nam Á vào khoảng 10,000 năm trước đây. Đây là một trong những phát hiện rất quan trọng, vì nó hàm ý nói rằng Đông Nam Á là một trung tâm văn minh nông nghiệp trên thế giới.

Heo là con vật thông minh

Heo là con vật có một mối liên hệ lâu đời nhất với con người, không chỉ đối với người Á châu mà còn cả Âu châu. Đối với người Việt Nam và Trung Quốc, heo gần gũi đến độ được nhân cách hóa qua nhân vật hư cấu nửa người nửa heo Trư Bát Giới, một vị thần trên Thiên đình, trong truyện nổi tiếng Tây du kí. Đối với người theo đạo Ấn Độ giáo, thần Visnu có hình dạng con heo, chuyên hành hiệp cứu độ chúng sinh. Đối với các dân tộc sống tại các đảo ngoài lục địa Đông Nam Á, heo còn là biểu tượng của sự giàu có, là quà cưới cho cô dâu, và có khi còn là đơn vị hàng hóa quan trọng trong thương trường.

Ở các bán đảo Thái Bình Dương, loại heo không lông Kapia có địa vị như con người có danh xưng, được mặc áo nghiêm chỉnh, và mặt còn được trang điểm. Heo thường được dùng làm con vật để tế thần, vì người ta tin rằng heo có linh hồn. Ở Âu châu thời cổ đại, heo là con vật được nữ thần Demeter (thần sinh sản trong truyền thuyết Hi Lạp) ưa thích, và do đó heo còn là con vật biểu tượng cho sự thịnh vượng, trù phú. Người thổ dân da đỏ ở Mĩ cũng xem heo là biểu tượng của sự thịnh vượng và may mắn. Ở Đức, tham dự vào buổi tiệc có thịt heo vào đêm Noel có ý nghĩa ngăn ngừa ma quỉ và đem lại thịnh vượng, tiền tài cho năm mới [1].

Dù được xem là biểu tượng của sự may mắn và trù phú như thế, con heo trong dân gian Việt Nam mang nhiều hình tượng tiêu cực. Nói đến heo là ngừơi ta nói đến tính lười biếng (lười như heo), ham ăn, bẩn thỉu, và ngu (ngu như heo), v.v. Nhưng đứng trên phương diện sinh học mà nói, heo không ngu; trái lại, heo rất thông minh, dễ dạy, và thân thiện.

Thật ra, heo được xem là con vật có mức độ thông minh hàng thứ 4 (sau khỉ, dolphin, và voi). Heo thông minh hơn chó. Trong một thí nghiệm vào thập niên 1990s, các nhà nghiên cứu dạy cho heo cách dùng cursor trên màn hình máy tính. Chúng họ những việc này rất nhanh, chẳng kém gì khỉ. Chúng có thể di chuyển cursor trên màn hình bằng miệng, và có thể phân biệt cursor với những chữ ngoáy trên màn hình. Heo còn là con vật xã hội, vì chúng có thể học hỏi lẫn nhau và làm việc chung với nhau. Khác với các động vật khác, heo có khả năng biểu lộ thấu cảm và lòng trắc ẩn. Heo có thể cảm nhận được khi người đối xử tử tế hay không tử tế với chúng. Do đó, trái với những nhận xét chủ quan và tiêu cực, heo là con vật thông minh và dễ mến.

Có lẽ vì tính dễ mến mà heo có mối liên hệ gần gũi với con người hơn các con vật như chuột, trâu, cọp, v.v. Thuở sinh thời, cựu thủ tướng Anh từng tuyên bố “con chó ngước lên nhìn chúng ta, con mèo thì nhìn xuống chúng ta, còn con heo thì ngang hàng với chúng ta”. Có lẽ đúng như thế. Trong ba con vật cuối cùng của 12 địa chi (gà, chó và heo), heo là con vật có thể nói đã từng song hành với con người trong suốt quãng đường dài tiến hóa.

Quê hương của heo: Đông Nam Á

Nhưng trong bối cảnh và môi trường nào đã dẫn đến mối liên hệ mật thiết giữa người và heo như ngày nay. Tất cả các loài heo ngày nay có nguồn gốc từ heo rừng. Nhưng chúng được thuần hóa từ hồi nào và ở đâu? Đây là những câu hỏi quan trọng, vì thuần hóa cây cối và thú vật rừng là một phát triển rất quan trọng trong lịch sử tiến hóa và văn minh của con người. Thuần hóa là yếu tố khởi động và thúc đẩy văn minh, có ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô, cấu trúc, và phân bố của dân số trên thế giới. Thuần hóa động vật hoang dã là một phần quan trọng trong sự thay đổi hành vi và cách sống của con người, chuyển biến từ cuộc sống hái lượm và săn bắt sang cuộc sống canh tác nông nghiệp và ổn định. Cuộc sống nông nghiệp có lẽ bắt đầu từ thời Pleisteocene (tức khoảng 12 đến 14 ngàn năm về trước) và cuộc sống này có lẽ do hệ quả của tình trạng bất định thời tiết, suy giảm về số động vật rừng làm mồi, và sự bành trướng các cộng đồng ổn định.

Trong quá khứ (trước khi công nghệ sinh học ra đời), các nhà khảo cổ học dựa vào những di chỉ khảo cổ học (chủ yếu là xương xọ) được khai quật từ nhiều vùng khác nhau để đặt giả thuyết và tìm câu trả lời cho những câu hỏi trên. Theo các di chỉ này, heo được thuần hóa vào khoảng 9000 năm về trước ở vùng mà ngày nay thuộc miền Đông Thổ Nhĩ Kì [2]. Ngoài ra, cũng có các di chỉ khảo cổ học cho thấy (hay được diễn dịch) là heo cũng từng được thuần hóa vào khoảng thời gian này tại Trung Quốc ngày nay [3].

Nhưng vài thập niên gần đây, với sự phát triển của di truyền học và sinh học phân tử, giới khoa học đã có một phương tiện mới, chính xác hơn, và đáng tin cậy hơn để truy tìm nguồn gốc heo. Phương tiện đó chính là gen, hay nói chính xác hơn là DNA. Cũng như trong người, đơn vị cấu trúc cơ bản của heo là DNA. Khác với con người có 23 nhiễm sắc thể, heo chỉ có 20 nhiễm sắc thể. Vì đặc tính di truyền của DNA, qua phân tích sự phân bố và đồng dạng của các chuỗi DNA giữa các giống heo, các nhà khoa học có thể truy tìm chính xác nguồn gốc của heo.

Một nghiên cứu qui mô nhất từ trước đến nay về nguồn gốc heo được tiến hành với sự hợp tác giữa các nhà di truyền học Mĩ và Thụy Điển. Qua phân tích xu hướng phân bố và đồng dạng DNA của các giống heo (700 con) trên thế giới, các nhà nghiên cứu đi đến kết luận rằng tổ tiên của heo ngày nay chính là heo rừng, và quê hương của heo rừng nguyên thủy này chính là vùng Đông Nam Á ngày nay [4]. Sau khi được thuần hóa ở Đông Nam Á, heo tản mát theo con người đến các vùng Âu Á (Eurasia), vượt biển đến Âu châu, và ra các bán đảo Thái Bình Dương [4]. Sau khi tản mát ra khỏi Đông Nam Á, heo được tiếp tục thuần hóa nhiều lần ở nhiều vùng tại Trung Quốc, vùng cận đông, và Âu châu [4].

Một nghiên cứu di truyền mới nhất qua phân tích DNA các giống heo thuộc các hải đảo Thái Bình Dương và đặc biệt là heo không lông thuộc đảo Vanuatu, các nhà nghiên cứu Úc và Mĩ khẳng định rằng heo tại các hải đảo này cũng xuất phát và được thuần hóa từ lục địa Đông Nam Á (đặc biệt là từ Việt Nam) khoảng 3000 năm trước đây [5]. Sau đó, chúng theo con người “di dân” ra khỏi lục địa và đến các hải đảo như Vanuatu và Ryukyu. Ngoài ra, các giống heo tại các hải đảo này cũng có “hồ sơ” DNA rất giống với heo ở Âu châu.

Năm 2012, một nhóm nghiên cứu Âu Á trong Dự Án “International Swine Genome Sequencing Consortium” công bố một nghiên cứu qui mô nhất từ trước đến nay về giải mã gen của heo [6]. Các nhà nghiên cứu so sánh hệ gen của loài heo Duroc với heo Sus crofa (heo gia cầm) và 10 giống heo rừng khác từ Âu châu sang Á châu. Họ còn so sánh hệ gen của heo với các loài vật khác như người, chuột, chó, ngựa và bò. Nhóm nghiên cứu đi đến kết luận rằng ‘tổ tiên’ của các giống heo gia cầm ngày nay xuất phát từ heo rừng, và chúng xuất hiện ở Đông Nam Á chừng 3 triệu năm trước, rồi sau đó theo người ‘di cư’ sang các vùng Âu Á [6].

Dấu tích văn minh nông nghiệp

Trước đây vài năm, cũng qua phân tích DNA, các nhà khoa học khẳng định rằng gà và chó trên thế giới ngày nay có nguồn gốc từ Đông Nam Á. Heo, gà, trâu, v.v. là các con vật thuộc nền văn minh nông nghiệp. Các bằng chứng mới này càng phù hợp với giả thiết rằng nền nông nghiệp và quê hương nguyên thủy của cây lúa nước là ở chung quanh vùng Đông Dương – Mã Lai – Miến Điện (chứ không phải Trung Quốc, nơi mà bằng chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử). Văn minh Hòa Bình là nền văn minh nông nghiệp đầu tiên trên thế giới, khoảng 15.000 năm trước dương lịch [7]. Vài ngàn năm trước Công nguyên, cư dân Đông Nam Á đã đưa cây lúa đến vùng Đông Á và Tây Á, những nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch. Nhận xét này cũng hợp lí bởi vì với khí hậu nhiệt đới Đông Nam Á là môi trường thuận lợi cho việc canh tác nông nghiệp.

Như vậy có thể suy luận rằng trước khi tiếp xúc và chịu ảnh hưởng hai nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, vùng Đông Nam Á đã hình thành một nền văn hóa lúa nước, và cư dân cổ ở đây (dân Bách Việt) đã phát triển một nền văn minh nông nghiệp lúa nước, trong đó có cả văn minh châu thổ sông Hồng, hay văn minh Đông Sơn. Theo Trần Quốc Vượng, chính nghề trồng lúa nước (một ngành nghề đòi hỏi người dân phải nắm vững và thích nghi với thời tiết, môi trường sông nước) đã dẫn người cư dân cổ Đông Nam Á sáng tạo ra lịch dùng 12 con vật gần gụi với nền văn minh lúa nước làm biểu tượng. Do đó, có khả năng lịch 12 con giáp có nguồn gốc từ Đông Nam Á, chứ không phải từ Trung Hoa [8]. Có thể qua giao lưu văn hóa, người Trung Hoa cổ đã vay mượn lịch Đông Nam Á và cải tiến lại. Do đó, 12 con vật trong lịch của Ta không giống với 12 con vật trong lịch của Trung Hoa (thử, ngưu, hổ, miêu, long, xà, mã, dương, hầu, kê, khuyển, trư).

Tất cả những bằng chứng này cho thấy Đông Nam Á có thể là một cái nôi văn minh nông nghiệp đầu tiên của con người [9], và cư dân tại đây rất có thể là những người phát minh ra kĩ thuật trồng lúa nước, chăn nuôi, và truyền các kĩ thuật này lên phía Bắc (tức miền Nam Trung Quốc ngày nay). Phát hiện mới nhất về quê hương Đông Nam Á của loài gà da cầm cho chúng ta thêm một cơ sở để suy luận rằng trong quá trình định cư và phát triển nông nghiệp, người Đông Nam Á cổ đã thuần dưỡng giống gà rừng, và từ đây giống gà này được truyền bá đến miền Nam Trung Quốc, và từ Trung Quốc “di cư” sang Âu châu. Những phát hiện này, cộng với những di chỉ khảo cổ học và di truyền học mới nhất củng cố thêm cho giả thuyết Đông Nam Á là một trung tâm văn minh nông nghiệp cổ xưa nhất của thế giới [10].

Tham khảo:

[1] A. McElroy và P K Townsend. Medical Anthropology. Colorado: Wadsworth 1996.

[2] J. Epstein, M Bichard, trong cuốn “Evolution of Domesticated Animals” do I L Mason biên soạn. Longman, New York, 1984, trang 145-162.

[3] G Giuffra, et al. The origin of domestic pig: independent domestication and subsequent intrpgression. Genetics 2000; 154:1785-1791.

[4] G Larson, et al. Worldwide phylogeography of wild boar reveals multiple centers of pig domestication. Science 11/3/2005; 307:1618-1621.

[5] J K Lum, et al. Recent Southeast Asian domestication and Lapita disperal of sacred male pseudohermaphroditic “tuskers” and hairless pigs of Vanuatu. Proc Natl Acad Sci USA 2006; 103:17190-17195.

[6] Groenen et al Analyses of pig genomes provide insight into porcine demography and evolution. Nature 2012;491:393-398.

[7] Chesnov Ja. V. Dân tộc học lịch sử các nước Đông Nam Á. 1976. (Trích dẫn theo Trần Ngọc Thêm, “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2001.

[8] Trần Quốc Vượng. Văn hóa Việt Nam: Tìm tòi và suy ngẫm. Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc và Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật. Hà Nội, 2000.

[9] Su B, et al. Y-chromosome evidence for a northward migration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age. Am J Hum Genet 1999; 65:1718-1724

[10] Trong cuốn Agriculture; origin and dispersal, Giáo sư C. O. Sauer viết: “…Tôi đã chứng minh rằng những động vật gia cầm được thuần dưỡng đầu tiên ở Đông Nam Á, và đây chính là trung tâm nông nghiệp quan trọng của thế giới”.

37 năm chông chênh

Nhìn tờ lịch trên iPhone mới nhận ra hôm nay là ngày 26/1! Với nhiều người, cái mốc thời gian quan trọng là ngày sinh nhật, nhưng với tôi đó là ngày 26/1, ngày tôi đặt chân đến Úc châu bắt đầu một cuộc đời mới. Thắm thoát mà tôi đã xa quê 38 năm, trong đó 37 năm ở Úc.

Trại tị nạn Songkhla (Thái Lan) vào thập niên 1980 có thể chứa cả 10 ngàn người!

Trong lịch sử kim cổ VN, chưa bao giờ có một cuộc di tản vĩ đại như thời thập niên 1980s. Không ai biết chính xác con số người vượt biển và vượt biên, nhưng ước lượng có hơn 300 ngàn người. Thê thảm hơn, có cả 200 ngàn người vùi thây dưới biển trong hành trình tìm tự do. Làn sóng vượt biển cho ra đời một danh từ mới trong tiếng Anh: “boat people” hay “thuyền nhân.” Ấy vậy mà giới trẻ ngày nay không hề biết về một chương sử buồn đó. Giới sử gia cung đình không muốn nói đến, nhà cầm quyền chỉ muốn quên đi.

Nhưng “boat people” thì không thể quên. Không thể quên một thời u ám nhất của miền Nam, thời mà dân gian ví von rằng nếu cái cột đèn biết đi nó cũng đi. Từ một đất nước thừa gạo ăn và đủ áo mặc, người miền Nam đột nhiên thiếu gạo ăn và phải xếp hàng để mua được vài mét vải! Có một chiếc xe Honda, sở hữu một cái Seiko quèn cũng trở thành đề tài cho kiểm điểm. Không ai thấy an toàn. Bạn bè hôm nay có thể là kẻ tố giác mình ngày mai. Có thể nói thời đó là một không khí ngột ngạt, hắc ám, khủng bố bao trùm khắp miền Nam. Đó cũng là lúc khởi đầu cho một cuộc đổi đời còn đau cho đến ngày hôm nay.

Hôm nọ ở Hà Nội, tôi chỉ bộ đồ thời trang trên người của một cô và nói “em may mắn được mặc đẹp …” Em ấy không hiểu tại sao và hỏi “Sao cơ?” Tôi mới giải thích là ngày xưa, chỉ cách đây 30 năm thôi, cái phong cách lịch thiệp của em được xem là “tiểu tư sản” và cái nhãn hiệu đó đồng nghĩa với “có tội”. Em ấy kinh ngạc như nghe chuyện cổ tích. Ngày đó, người bạn tôi tên Phi Phụng chỉ vì mặc áo dài mà được gán cái nhãn “tiểu tư sản” và bị đày đoạ đến nỗi cô ấy bỏ nước ra đi. Cái thời mà sự ấu trĩ lên ngôi, cái dốt ngự trị, và nghi kị và khủng bố là phương tiện của người cầm quyền. Không biết thời đó ở miền Bắc ra sao, nhưng tôi đoán chắc chẳng khá hơn.

(Sau này tôi sốc khi biết rằng giữa lúc người dân tuyệt vọng đi tìm tự do ở nước ngoài, thì có những đoàn “Việt kiều yêu nước” về Hà Nội! Không biết họ được chào đón ra sao, nhưng trong số những người về đó, có vài người thay đổi quan điểm 180 độ. Tôi không rõ họ có biết có hàng trăm ngàn đồng hương bỏ nước ra đi và hàng trăm ngàn ngưởi bỏ mạng trên biển trong lúc họ hân hoan về “xây dựng quê hương.”)

Ba mươi bảy năm trước, khi đặt chân đến Úc (hay một nước thứ ba) chẳng ai nghĩ đến ngày về quê. “Một lần đi là một lần vĩnh biệt / một lần đi là mãi mãi chia phôi”, đó là tâm trạng của những người gọi là “boat people”. Ra đi trong buồn bã, tuyệt vọng, chỉ mong được sống sót là may lắm rồi, chứ không dám mơ gì cao xa. Biết bao nhiêu ca khúc mô tả cái tâm trạng của “người di tản buồn” thời đó đã đi vào tâm khảm tôi: “Chiều nay có một người di tản buồn / Nhìn xa xăm về quê hương rất xa / Chợt nghe tên Việt Nam ôi thiết tha / Và dâng dâng lệ vương mắt nhạt nhoà.” Rồi thời gian cũng làm nguôi ngoai những vết thương lòng, mọi người lao vào làm việc để tồn tại trong xã hội mới và … gửi quà về quê hương. “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá / Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay / Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may / Mẹ may hộ con tim gan quá đoạ đầy.”

Có những khoảnh khắc làm mình khóc … tự nhiên. Nhớ có lần, trong một chuyến công tác bên Âu châu, tôi phải ở qua đêm ở Bangkok, đứng trên tầng 25 của khách sạn Montien nhìn về phía Việt Nam mà rơi nước mắt. Chỉ 1 giờ bay là về tới quê rồi, nhưng không thể …

Phải đến 1999 tôi mới về thăm nhà lần đầu. Thời đó, tuy đã “đổi mới” và “mở cửa”, nhưng không khí vẫn còn hắc ám lắm. Đi đâu cũng phải trình báo địa phương. Đủ thứ giấy tờ rườm rà, thiếu là rất phiền phức. Giá cả dành cho Việt kiều khác/cao hơn giá dành cho người trong nước. Tham nhũng, hối lộ ở hải quan là qui luật. Cơ sở vật chất và đường xá vô cùng tồi tệ. Người ta chỉ về thăm người thân rồi vội vã ra đi, chứ chẳng ai nghĩ đến sống ở trong nước. Tôi cũng thế, lần đầu về thăm ba má chỉ đúng 10 ngày và lại lên đường về Úc cứ như là … chạy trốn!

Nhưng tình hình xã hội và chính trị Việt Nam càng ngày càng “dễ thở” hơn trong những năm sau đó. Thủ tục đi lại cũng đơn giản hơn. Từ thời giấy tờ rườm rà và nhũng nhiễu ở hải quan, ngày nay người khách đến Việt Nam chẳng cần giấy tờ khai báo (như vào Úc và Mĩ) và hải quan cũng ít nhũng nhiễu bà con hơn. Việc đi về Việt Nam ngày nay đối với đa số người Việt ở Úc có thể nói là quá tiện. (Tôi nói “đa số”, vì vẫn còn một số ít không được về Việt Nam dù họ rất muốn). Người ta có thể “sáng ăn phở Sydney, chiều ăn mì ở Sài Gòn”. Ôi, một sự thay đổi đến chóng mặt! Nhìn lại và nhìn chung, tôi thấy Việt Nam như một đoàn tàu mới ra khỏi cái hầm tăm tối và mới nhìn thấy ánh sáng. Đất nước khá hơn thì có đấy, nhưng nhìn kĩ thì là một đất nước lệ thuộc. Lệ thuộc từ thể chế, kinh tế, đến khoa học kĩ thuật. Một đất nước như thế rất cần sự đóng góp của những người con trong và ngoài nước, nhưng trong thực tế thì muốn đóng góp cũng không đơn giản như suy nghĩ.

Cá nhân tôi cũng thay đổi, từ những năm mà vài năm mới về VN một lần thì nay tôi có khi về VN cả 6 lần một năm (2018)! Về nhiều, nhưng ở chẳng bao nhiêu, có khi chỉ 3 ngày! Cơ duyên tôi về Việt Nam lần đầu là qua công ti MSD mời nói về loãng xương ở khách sạn Windsor (không nhớ năm nào), nhưng đó là một buổi ‘debut’ rất thành công, và qua đó làm quen với rất nhiều bạn bè. Người quan trọng nhất là chị Thy Khuê (tôi gặp trong một nhà sách, chị ấy đang tìm mua cuốn “Địa đàng ở phương Đông” mà tôi viết lời giới thiệu), và thế là chương trình “summer workshop” ở trường y ra đời. Các workshop đó đã giúp nhiều bạn sau này đi học tiến sĩ trong và ngoài nước. Rồi thời cơ đưa đẩy, tôi có dịp đi nói chuyện khắp nước, từ Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Nha Trang, Đà Nẵng, Sài Gòn, Trà Vinh, An Giang, Bến Tre đến Kiên Giang quê tôi. Ngày nay, tôi có diễm phúc là đi đến đâu cũng đều có bạn bè hay người ta biết đến. Có khi điều làm tôi ấm lòng là có anh tài xế xe ôm cũng nhận ra tôi! Từ một người ra đi và không nghĩ ngày trở lại, nay tôi thành người … trong nước.

Thế nhưng tôi vẫn thấy mình chông chênh. Ở ngoài, dù mang quốc tịch Úc, nhưng người Úc vẫn xem tôi là “gốc Việt.” Còn ở Việt Nam quê mình, thì người ta xem tôi là “yếu tố nước ngoài” (chẳng biết hàm ý tích cực hay tiêu cực). Sự chông chênh của tôi giống như câu chuyện về hai căn cước tính của một người tị nạn trong cuốn tiểu thuyết Ru của Kim Thuý. Một căn cước tinh thần là Việt Nam, và một căn cước pháp lí là Úc. Người tị nạn đó dù mang cái căn cước tính Úc, sống trong xã hội mới theo phương Tây, nhưng cái căn cước tinh thần vẫn là một người Việt.

Cho đến nay, sau 44 năm thống nhất, người Việt vẫn bỏ nước ra đi, với con số ~100,000 mỗi năm! Nhưng họ là immigrant chứ không phải refugee. Tôi thấy nhà văn Nguyễn Thanh Việt rất có lí khi anh ấy phân biệt người tị nạn (refugee) khác với người di cư (immigrant). Người tị nạn là người tuyệt vọng, vô quốc tịch, không có tài sản, và họ bị “bứng” khỏi quê hương qua một biến động lịch sử. Người di cư có quốc tịch, họ có tài sản, và họ ra đi một cách tự nguyện. Người tị nạn do đó thường mang trong mình những chấn thương tinh thần. Người tị nạn lúc nào cũng bị ám ảnh bởi căn cước tính của mình. Người tị nạn sống giữa hai thế giới: Một bên là quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn; một bên là quê hương tạm dung. Họ bị giằng xé tâm tư, một bên là kí ức của quê hương đầy biến động và đau khổ, một bên là đất nước tạm dung giàu có nhưng chưa chắc là thoải mái. Do đó, người tị nạn đã xa rời quê hương, nhưng trong tâm tưởng họ chưa bao giờ rời quê hương. Họ ở đây, nơi tạm dung, mà không phải ở đây. Họ thành đạt về kinh tế, họ có thể có địa vị trong xã hội nơi tạm dung, nhưng cái tâm của họ thì vẫn còn chông chênh. Trong “họ” có tôi.

“Thân phận và hào quang”

Nhân dịp về quê tôi có thì giờ giải khuây bằng cuốn sách “Thân phận và hào quang” của tác giả Hoàng Nguyên Vũ. Cuốn sách là hợp tuyển những bài phỏng vấn về thân phận của các ca nghệ sĩ danh tiếng ở hải ngoại và trong nước. Đọc xong cuốn sách tôi chợt thấy mình gần gũi hơn và cảm thông cho các ca sĩ mà tôi hằng tâm đắc và mến mộ bấy lâu nay.

Tựa đề sách tóm tắt nội dung tổng quát của tập sách. Cuốn sách viết về thân phận của những nghệ sĩ, nhưng chúng ta vẫn có thể tìm thấy hình bóng mình và gia đình mình thấp thoáng ẩn hiện trong những câu chuyện. Những câu chuyện về tình duyên trắc trở và gian dở của đa số ca sĩ, những cơ duyên họ đến với âm nhạc, những thăng trầm trong cuộc sống trước và sau 1975. Các bạn yêu “nhạc vàng”, nhạc bolero, hay mến mộ những tiếng hát lừng lẫy một thời trước 1975 sẽ tìm thấy nhiều thông tin thú vị từ cuốn sách này.

Đa số những ca sĩ được đề cập trong “Thân phận và hào quang” là những tiếng hát (hay kịch) tôi đã quen biết vài chục năm qua (trước 1975). Đó là Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Hoạ Mi, Bạch Yến, Duy Quang, Lê Uyên Phương, Kim Anh, Tuấn Vũ, Giao Linh, Phương Thanh, Thanh Hà, Khánh Hà, Tuấn Ngọc, Quang Minh & Hồng Đào. Những câu chuyện qua chính lời tâm sự của họ giúp cho tôi thấu hiểu hơn tiếng hát và tác phẩm của họ.

Những câu chuyện trong sách qua chính đương sự nói ra còn giúp bạch hoá hoặc minh oan những lời đồn đại của giới “báo chí lá cải.” Chẳng hạn như những lời đồn đại về xung đột tình cảm giữa hai danh ca Khánh Ly và Lệ Thu được chính Khánh Ly xác định rõ ràng. (Tuy nhiên, đọc chương viết về Lệ Thu, tôi có cảm giác danh ca này vẫn còn cáo buộc ca sĩ L là người thứ ba đã làm cho chị ấy tức giận đến điên dại. Tôi tự hỏi “L” là ai? Có lẽ câu hỏi không cần thiết). Chẳng hạn như những lời đồn ác ý về “Hoạ Mi bỏ chồng” là hoàn toàn không đúng; ngược lại, chị ấy là người sống tử tế với chồng. Tôi nghĩ đóng góp “giải oan” của cuốn sách là một điểm rất đáng khen.

Tập phỏng vấn còn cho độc giả hiểu và thấu cảm những nỗi đau thầm kín cùng những góc khuất của các ca sĩ mà chúng ta chỉ thấy qua sân khấu. Đằng sau ánh đèn sân khấu là những cuộc đời đầy khó khăn, trắc trở thời niên thiếu, có khi là những bạo hành kinh hoàng. Độc giả sẽ rơi nước mắt khi đọc câu chuyện đời của ca sĩ Randy lớn lên trong một gia đình nghèo ở Quảng Nam suốt ngày bị đánh đập, để rồi bị bán cho một gia đình người Hoa trước khi đi định cư ở Mĩ theo diện con lai. Thanh Hà bị mẹ ruột ruồng bỏ là một vết thương lòng đối với người ca sĩ có khuôn mặt Madonna. Chẳng hạn như Tuấn Vũ có thời làm ra tiền như nước và bị bạn bè lừa gạt cướp cả triệu USD. Chẳng hạn như Duy Quang khổ vì vợ lâm vào đường đỏ đen làm tổn thất hàng triệu USD. Hay như câu chuyện đời của ca sĩ Kim Anh (nổi tiếng với “Mùa thu lá bay”) bị một tai nạn xe hơi kinh hoàng và nghiện ngập sau đó, để rồi phải 5-7 năm nay mới làm lại cuộc đời. Những câu chuyện về cuộc sống cơ cực của họ nhưng cũng nói lên cái xấu, cái ác tồn tại bên cạnh cái thiện ở người Việt.

Hầu hết những ca sĩ được phỏng vấn đều trải qua ít nhất là 2 hay 3 lần đổ vỡ hôn nhân. Thanh Tuyền vượt biên với 3 con nhỏ để tìm người chồng đã bỏ rơi mẹ con chị, và cuối cùng tìm được một “mạnh thường quân” khác. Câu chuyện của Thanh Tuyền thật là cảm động. Khánh Ly, Lệ Thu, Duy Quang, Thanh Tuyền, Kim Anh, v.v. đều đau khổ vì những đổ vỡ đó, và họ thốt lên lời tâm sự qua tiếng ca và âm nhạc.

Sau 1975, nhiều ca sĩ danh tiếng ở miền Nam đi định cư ở nước ngoài, chủ yếu là Mĩ. Cuốn sách này cung cấp cho độc giả biết cuộc sống của họ ra sao ở nơi tạm dung mà sau này ai cũng xem là quê hương thứ hai. Thanh Tuyền phải đi làm trong một hãng xưởng để nuôi con. Hoạ Mi ngày nào nổi tiếng trên làn sóng radio và truyền hình giờ phải vui với công việc bán bánh kẹp ở Paris. Họ không hề mặc cảm với công việc mới sau cuộc đổi đời. Họ vui vẻ quên đi ánh hào quang sân khấu để làm lại cuộc đời. Họ là những chứng nhân lịch sử về một giai đoạn lịch sử sau 1975 bị bỏ quên trong sách vở.

Theo tôi thấy, đây có lẽ là cuốn sách đầu tiên đề cập đến những chữ như “vượt biên” và “tị nạn” vốn rất xa lạ với giới trẻ ngày nay ở trong nước. Điều này cũng dễ hiểu, vì những ca sĩ như Khánh Ly, Lệ Thu, Thanh Tuyền, Tuấn Vũ, v.v. đều là những “thuyền nhân” sau biến động lịch sử 1975. Tôi đọc sách và tìm lại những địa danh quen thuộc ở Mã Lai và Thái Lan, và hồi tưởng lại những ngày trong các trại tị nạn đó. Ghi nhận những hiện tượng như “vượt biên” và “tị nạn” là một điểm son của người biên tập.

Cuốn sách đến với tôi rất tình cờ và như là một cơ duyên. Tôi lang thang trong nhà sách và đi ngang cuốn sách hai lần nhưng không chọn nó. Lí do là vì một phần trang bìa có nhiều hình ảnh quá (và tôi xem là “hoa hoè”), và một phần là thành kiến loại sách moi móc (khai thác) đời tư của nghệ sĩ để kiếm tiền. Nhưng chẳng hiểu sao và do động cơ nào đó, tôi mở cuốn sách đọc thử và đọc ngẫu nhiên vài câu chuyện. Đọc mới thấy thành kiến của tôi sai. Cuốn sách là một tập câu chuyện nghiêm túc, nội dung phong phú, giọng văn đầy chất nghệ sĩ và nhân văn. Thế là tôi “sa ngã” và cuốn sách trở thành người bạn văn trên đường về quê và trong hai ngày ở quê.

Mỗi người Việt lớn lên trong thời chiến tranh là một lịch sử. Ở Việt Nam trong thời chiến, chúng ta không có cuộc sống “smooth” như người phương Tây. Con đường sự nghiệp của chúng ta ngoằn ngoèo, khúc khuỷu, gian truân, mà những người trẻ lớn lên trong thời bình không thể nào hiểu được. “Thân phận và hào quang” là những mảnh ghép mang tính sử liệu cá nhân đó. Qua những mảnh ghép đó, giới trẻ sẽ thấu cảm hơn những nghệ sĩ thế hệ trước và con đường họ đã trải qua như thế nào trong một giai đoạn đầy biến động sau 1975.