Hướng tới Ngày Nước Thế Giới 2020 với chủ đề nước và biến đổi khí hậu một ĐBSCL ô nhiễm giữa mùa hạn

LGT: Ngày 22/3 hàng năm được Liên Hợp Quốc qui định là Ngày Nước Thế Giới (World Water Day) nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nước — không chỉ trong sự sống — mà còn liên quan đến văn hóa. Chúng ta là dân tộc thuộc văn hóa sông nước. Văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một ca tiêu biểu của văn hóa sông nước. Sống trong môi trường sông nước có khi chúng ta không thấy nước là quan trọng. Nhưng mấy năm gần đây, cư dân ở ĐBSCL bắt đầu nhận ra rằng hình như khu vực đồng bằng này có vấn đề về nước. Nhận ra như vậy, nhưng ít người dân biết được cội nguồn của tình trạng thiếu nước (và xâm nhập mặn) từ đâu. Bài viết dưới đây của Bs Ngô Thế Vinh sẽ giải thích tại sao, và có lẽ chúng ta sẽ không ngạc nhiên về thủ phạm: các con đập ở thượng nguồn thuộc Tàu. Có lẽ sau khi đọc xong bài này, một vài người lại than rằng cách nhìn của Bs Ngô Thế Vinh là ‘cực đoan’, nhưng sự thật thì vẫn là sự thật: Những con đập của Tàu là nguyên nhân số 1 làm cho người dân ĐBSCL khốn đốn. NVT

—–

Hướng tới Ngày Nước Thế Giới 2020 với chủ đề nước và biến đổi khí hậu một ĐBSCL ô nhiễm giữa mùa hạn mặn

Water, water, everywhere,

Nor any drop to drink

Nước, nước, khắp nơi,

Không có giọt nước uống

[Samuel Taylor Coleridge 1772-1834]

Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

NGÔ THẾ VINH

HẠN MẶN VÀ Ô NHIỄM 13 TỈNH MIỀN TÂY

Trên một chuyến phà lớn từ Đại Ngãi qua Cù lao Dung, sóng đánh tung toé, khách như cảm thấy được vị mặn bám đọng trên môi. Thấy nước khắp nơi nhưng là nước mặn đã xâm nhập vào khắp các ngả sông rạch và người dân thì đang lao đao lùng kiếm tìm mua từng lu nước ngọt để uống. Rồi còn phải kể tới những cánh đồng lúa cháy và các vườn cây trái thối rễ do đất bị nhiễm mặn khiến nhiều nông gia mất trắng tay.

Người bạn đồng hành đứng bên, anh dạy Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên Đại học Cần Thơ, nói với tôi: “Kể cả có lũ ngọt đổ về, nước hết mặn cũng không uống được vì dòng sông quá ô nhiễm”. Do chất thải kỹ nghệ từ các nhà máy ven sông, do phân bón hoá học từ đồng ruộng tràn ra, và tệ hại hơn nữa là rác rưởi từ các khu gia cư.

Đó là tình cảnh của ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng.

Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.

NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI 2020

Không thể tách rời vấn đề Nước và Biến đổi Khí hậu toàn cầu. Đó cũng là quan điểm của Liên Hiệp Quốc, khi chọn chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu” cho Ngày Nước Thế giới 22/ 03/ 2020 năm nay.

Trước những tình huống cực đoan và biến đổi bất thường về khí hậu có thể làm gia tăng biến thiên chu kỳ nước – water cycle, khiến rất khó mà tiên đoán được về nguồn nước có thể sử dụng – water availability, với những ảnh hưởng trên phẩm chất nước, cả trên tính đa dạng sinh học / biodiversity, và đe doạ sự phát triển bền vững trên nhiều lưu vực của các con sông.

Dân số toàn cầu từ 7.2 tỷ năm 2015 đến nay 2020 – theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, đã vượt qua con số 7.7 tỷ người. Tăng dân số cũng có nghĩa là gia tăng nhu cầu nước, kéo theo gia tăng nhu cầu năng lượng để bơm nước, vận chuyển và xử lý nước – water treatment. Tận dụng nguồn nước cũng dẫn tới sự suy thoái các hồ chứa carbon thiên nhiên – carbon sinks từ các vùng đất đầm lầy.

Tăng cường mối quan tâm về nước để đáp ứng nhu cầu nước ngày một gia tăng trong tương lai; điều ấy đòi hỏi phải có những quyết định mạnh mẽ, làm cách nào để phân chia các nguồn tài nguyên nước – allocate water resources, thích nghi với biến đổi khí hậu giữa những tranh chấp sử dụng nguồn nước giữa các địa phương và các quốc gia.

Một ví dụ điển hình: con sông Mekong dài hơn 4800 km chảy qua 7 quốc gia [Tây Tạng*, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam] giữa mùa khô hạn, đang bị tận lực khai thác bởi chuỗi những con đập thủy điện thượng nguồn, và làm cách nào để chia sẻ và sử dụng công bằng nguồn nước từ con sông Mekong đang là một “tranh chấp nóng” diễn ra hiện nay. Khi mà Cambodia và Việt Nam là hai quốc gia cuối nguồn đang chịu những hậu quả tích luỹ nặng nề nhất: một Biển Hồ như trái tim của Cambodia đang thiếu nước, một ĐBSCL chịu hạn mặn chưa bao giờ khốc liệt như thế. Chưa kể tới khả năng nước lớn Trung Quốc sử dụng con sông Lancang-Mekong như một thứ vũ khí trong cuộc chiến tranh môi sinh – ecological warfare trừng phạt Việt Nam và các nước hạ lưu khác.

[* Tây Tạng nơi phát nguồn con sông Mekong, về phương diện địa dư chính trị, bấy lâu người viết vẫn ghi nhận như một quốc gia cho dù đang bị Trung Quốc xâm chiếm.]

Chính sách đối phó với biến đổi khí hậu không chỉ trên quy mô quốc gia mà cho toàn lưu vực với mọi hoạch định cần theo một phương cách tích hợp – integrated approach, đối với nhu cầu sử dụng và quản lý nguồn nước.

Để phát triển và xây dựng một tương lai bền vững, cách làm ăn cũ bấy lâu với những quy hoạch thuỷ lợi không hiệu quả; do đó từ nay mọi phương cách quản lý nước cần được phân tích kỹ lưỡng qua lăng kính biến đổi khí hậu – through a climate change lens. Chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa để cải tiến và cập nhật những dữ liệu thuỷ học – hydrological data, qua các học viện, qua các chính phủ, qua giáo dục, cùng nhau chia sẻ mọi kiến thức, để có được khả năng tiên lượng và đối phó với những rủi ro khan hiếm nước như hiện nay và chắc chắn sẽ trầm trọng hơn nhiều trong tương lai.

Mọi chính sách cần bảo đảm tính đại diện rộng rãi các thành phần tham gia, với thay đổi tác phong ứng xử, tạo được sự tin cậy giữa nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự và lãnh vực tư nhân.

Những kế hoạch thích ứng cần có chiến lược nêu rõ mục tiêu – targeted strategies, ưu tiên trợ giúp các cộng đồng cư dân lợi tức thấp – họ là nhóm người chịu tác động, dễ bị tổn thương và thiệt hại nhiều nhất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. (1)

GIỚI THIỆU DRAGON MEKONG

DRAGON là chữ viết tắt của Delta* Research And Global Observation Network / Mạng lưới Nghiên cứu Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu. DRAGON nhằm mục đích thiết lập một hệ thống thông tin toàn cầu, tăng cường quan hệ hợp tác và cùng chia sẻ kinh nghiệm lâu dài giữa các vùng châu thổ trên thế giới.

[Ghi chú: Delta* thay vì quen gọi là đồng bằng, nay được gọi là châu thổ do được hình thành từ phù sa của các con sông bồi đắp.]

Ủy ban Liên Chính Phủ về Biến đổi Khí hậu / Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) do Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological) và Chương trình Môi sinh Liên Hiệp Quốc (United Nations Environment Programme), bao gồm 195 quốc gia thành viên. Theo IPCC hiện có khoảng 300 triệu cư dân sống trong 40 vùng châu thổ / Deltas trên toàn cầu. Các vùng châu thổ là nơi được phù sa các con sông bồi đắp và IPCC đã đưa ra nhận định: “Những vùng châu thổ đó rất dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, do nước biển dâng, do biến đổi dòng chảy, đồng thời với những chấn động qua quá trình sử dụng đất đai, do chính con người gây ra trong lưu vực / catchment area.”

Từ năm 2007, IPCC đưa ra cảnh báo thêm: 13 vùng châu thổ lớn trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng do hậu quả của Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng, trong đó có hai vùng châu thổ sông Mekong Việt Nam và châu thổ sông Mississippi Hoa Kỳ được xếp là vùng dễ bị tổn thương ở mức độ rất cao.

Do tính tương đồng và tầm quan trọng về an ninh lương thực, kinh tế, xã hội và văn hóa của hai vùng châu thổ Mekong và Mississippi, ngày 21 tháng 11 năm 2008, Đại học Cần Thơ kết hợp với Cơ Quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ – US Geographical Survey (USGS) và Trung tâm nghiên cứu Đất ngập nước quốc gia – National Wetlands Research Center Hoa Kỳ (NWRC) đã tổ chức lễ thành lập Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Mekong với tên viết tắt tiếng Anh là DRAGON Institute Mekong, thuộc Mạng DRAGON toàn cầu, có cơ sở tại Đại học Cần Thơ, ĐBSCL. (4)

Hình 1_ Logo Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu Mekong – Đại học Cần Thơ. DRAGON là chữ viết tắt của Delta Research And Global Observation Network – Mạng lưới Nghiên cứu Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu, được thiết lập từ 2008, đến nay là 12 năm, có thể xem như một Viện Nghiên cứu của Đại học Cần Thơ. (4)

Hình 2_ Đoàn khảo sát môi sinh ĐBSCL chụp hình trước cơ sở đầu tiên của Viện Nghiên Cứu Biến đổi Khí hậu / DRAGON – Mekong Institute, từ trái: TS Dương Văn Ni (Khoa Môi trường và Tài Nguyên Thiên nhiên ĐHCT), TS Lê Phát Quới (Viện Tài Nguyên Môi Trường ĐHQG Tp. HCM), Ngô Thế Vinh, TS Lê Anh Tuấn (Viện Nghiên cứu Biến Đổi Khí hậu ĐHCT), KS Phạm Phan Long (Hội Sinh Thái Việt), Th.S Nguyễn Hữu Thiện (Chuyên gia Đất Ngập nước / Wetlands), BS Nguyễn Văn Hưng. [tư liệu Ngô Thế Vinh 2017]

Xem ra, ngoài nét tương đồng giữa 2 vùng: châu thổ Louisiana sông Mississippi – Vịnh Mexico và châu thổ Mekong sông Mekong – Biển Đông trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thì riêng ĐBSCL hiện đang phải đương đầu với những thử thách khó khăn hơn nhiều. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây sự khác biệt quan trọng giữa hai dòng sông: (1) Độ dốc thượng nguồn sông Mekong cao hơn gấp 12 lần sông Mississippi, nên có một tiềm năng thuỷ điện vô cùng hấp dẫn mà sông Mississippi không có được; (2) Với 40 con đập cũ trên sông Mississippi phần lớn được xây từ thập niên 1930, không sao có thể sánh được với chuỗi đập khổng lồ trên sông Lancang-Mekong Vân Nam và các con đập dòng chính ở Lào; (3) Sông Mississippi chỉ chảy trong lãnh thổ Hoa Kỳ, trong khi sông Mekong chảy qua 7 quốc gia: Tây Tạng, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam với những mâu thuẫn về quyền lợi rất gay gắt. (3)

Hình 3_ Hình chụp cơ sở mới của DRAGON Mekong Institute, với các thành viên tham dự Khoá Tập huấn Báo chí về “Biến đổi Khí hậu và Năng lượng Bền vững” tổ chức từ ngày 22 tới 24 tháng 8, 2019, trong Dự án Mạng lưới Báo chí Địa cầu / Earth Journalism Network. [nguồn: CRUS.Vietnam, Aug 2019]

DRAGON Institute-Mekong-CTU sẽ là điểm nối kết các hoạt động nghiên cứu, giáo dục và chuyển giao kiến thức khoa học đến các nhà lãnh đạo, quản lý và cộng đồng các cấp từ địa phương, quốc gia tới các vùng châu thổ khác trên thế giới nhằm mục đích nâng cao năng lực thích nghi của cư dân đối với thiên tai; phát triển bền vững kinh tế và xã hội, đồng thời bảo tồn các hệ sinh thái thiên nhiên.

Từ khi được thành lập, Viện Biến đổi Khí hậu DRAGON-Mekong đã được nhiều tổ chức trong và ngoài nước đến trao đổi, đề xuất các hướng hợp tác. Với vai trò là một trung tâm dẫn đầu của ĐBSCL, Đại học Cần Thơ và Viện DRAGON-Mekong đang có các bước đi tiên phong trong nghiên cứu các vấn đề liên quan tới Biến đổi Khí hậu với một kế hoạch hành động trước mặt và lâu dài. (4)

DỰ BÁO MEKONG / FORECAST MEKONG

Qua Sáng kiến Hạ lưu Sông Mekong – Lower Mekong Initiative 2020 được khởi xướng từ 2009 do ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton cùng với các ngoại trưởng 4 quốc gia Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam nhằm tăng cường cam kết của Mỹ đối với các quốc gia hạ lưu sông Mekong trong các lãnh vực môi trường, y tế, giáo dục và hạ tầng cơ sở.

Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS chuyên nghiên cứu các vùng châu thổ, đã liên kết / partnership với Viện DRAGON – Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu áp dụng kinh nghiệm từ sông Mississippi với chuyên môn về Mô hình Khoa học-Trái đất [Earth-science modeling] sẽ hỗ trợ cho các quốc gia Mekong phương cách lượng giá biến đổi khí hậu và hoạt động của con người có thể ảnh hưởng trên hệ sinh thái và an ninh lương thực trong lưu vực sông Mekong.

KHOÁ TẬP HUẤN DỰ BÁO MEKONG

Trong ba ngày 9-10-11 tháng 12 năm 2009 cùng với viện DRAGON Đại học Cần Thơ, Việt Nam, Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS và Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã cùng bảo trợ cho một khoá tập huấn / workshop nhan đề: “Tìm hiểu mối hiểm nguy / risk và đặc tính dễ tổn thương/ vulnerability của các hệ sinh thái nước ngập / Wetlands Ecosystems nơi hai vùng châu thổ Mekong và Mississippi do Biến đổi Khí hậu và Nước biển dâng.”

Hình 4_ Cho dù cách nhau 12 múi giờ, hai vùng châu thổ Mekong (trái) và Mississippi (phải), có những điểm tương đồng về sinh cảnh môi trường, kinh tế xã hội và văn hoá. [Mô hình chụp từ vệ tinh của Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS ] (2)

Chương trình Dự báo Mekong được USGS thực hiện, không chỉ với ĐH Cần Thơ mà là một kết hợp mở rộng với các chính phủ địa phương và các Đại học trong lưu vực sông Mekong. Khoá tập huấn này là một phần của dự án có tên “Dự báo Mekong – Forecast Mekong,” một kết hợp dữ kiện hỗ tương, tạo mô hình / modeling, và hệ thống biểu đồ / visualization system nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý tài nguyên / resources managers, và công chúng am hiểu và tiên liệu được các tác động do biến đổi khí hậu và triển khai những dự án phát triển trong lưu vực sông Mekong. (2)

Khoá tập huấn quy tụ được hơn 75 thành viên tham dự, đã cùng xác định những thiếu sót về thông tin liên hệ tới vùng châu thổ Mekong / ĐBSCL và Biến đổi Khí hậu. Những thành viên tham dự bao gồm các nhà khoa học, các viên chức chính phủ từ các quốc gia Cambodia, Lào, Việt Nam, Thái Lan và cả Trung Quốc; đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ và các tổ chức NGOs phi chính phủ và dĩ nhiên với các chuyên gia USGS. Nhiều vấn đề khoa học quan trọng được đặt ra, bao gồm phẩm chất nước, lượng phù sa / sedimentation, những ảnh hưởng của các đập thuỷ điện trên sự đa dạng sinh học / biodiversity, an ninh lương thực, sự thích nghi với biến đổi khí hậu qua thời gian và mức nghiêm trọng của các mùa lũ lụt / seasonal floods, và ảnh hưởng trên sản lượng cá.

Những bước tiếp theo sẽ là các cuộc nghiên cứu phối hợp của USGS với các nhà khoa học trong lưu vực Mekong, nhằm cung cấp chuyên môn kỹ thuật để tạo thuận các bước thu thập phân tích và tích hợp dữ kiện / data analysis & integration, theo dõi môi trường / environmental monitoring, với các dụng cụ biểu đồ khoa học / science-visualization tools. Các thành viên tham dự cũng đã xác định nhu cầu được huấn luyện và chuyển giao kỹ thuật, cùng với ước muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn và chặt chẽ hơn với USGS.

Dự án Dự Báo Mekong / The Forecast Mekong project cũng sẽ giúp xây dựng nền móng cho các hoạt động trong tương lai qua tăng cường mối liên hệ giữa các nhà khoa học, các tổ chức trong lưu vực Mekong qua các cuộc nghiên cứu chung.

DRAGON đã xây dựng được một cộng đồng quốc tế giữa các nhà khoa học và quản lý tài nguyên nhằm chia sẻ những dữ kiện giữa các vùng châu thổ lớn và những con sông thế giới. Những cuộc nghiên cứu đối chiếu / comparative studies là cần thiết để hiểu biết và tiên liệu được hậu quả của biến đổi khí hậu trên các dự án xây dựng, sử dụng đất đai, biến đổi về thuỷ học và những ảnh hưởng khác do con người gây ra trên các hệ sinh thái vốn mong manh và dễ bị tổn thương.

Bằng triển khai những mô hình đối chiếu / comparative models và với các dụng cụ biểu đồ / visualization tools, mục đích của mạng lưới DRAGON là trợ giúp thông tin cho những quyết định chính sách công / public policy decisions có ảnh hưởng tới hệ sinh thái và các cộng đồng cư dân sống trong các vùng châu thổ.

Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ [USGS] đem tới những hiểu biết khoa học rộng rãi từ châu thổ sông Mississippi tới một vùng châu thổ tương đồng, cách xa nửa vòng trái đất đó là châu thổ sông Mekong [ĐBSCL].

Khoá tập huấn này là một phần của dự án có tên “Dự báo Mekong – Forecast Mekong,” một kết hợp dữ kiện hỗ tương, tạo mô hình / modeling, và hệ thống biểu đồ / visualization system nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách / policy makers, các nhà quản lý tài nguyên / resources managers, và công chúng am hiểu và tiên liệu được các tác động do biến đổi khí hậu và triển khai những dự án trong lưu vực sông Mekong. (2)

Chương trình này được thực hiện bởi USGS kết hợp với các chính phủ địa phương và các Đại học trong lưu vực Mekong, Chương trình Dự Báo Mekong / Mekong Forecast sẽ cung cấp một dụng cụ rất giá trị để nhận rõ những hậu quả của Biến đối Khí hậu và cách quản lý dòng sông / river management.

Những bước tiếp theo sẽ là các cuộc nghiên cứu phối hợp của USGS với các nhà khoa học trong lưu vực Mekong, nhằm cung cấp chuyên môn kỹ thuật / technical expertise để tạo thuận các bước phân tích và tích hợp dữ kiện / data analysis & integration, hướng dẫn theo dõi môi trường / environmental monitoring, với những dụng cụ biểu đồ khoa học / science-visualization tools. Các thành viên tham dự cũng đã xác định nhu cầu được huấn luyện / training và chuyển giao kỹ thuật / technological transfer, cùng với ước muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn và chặt chẽ hơn với USGS.

Dự án Dự Báo Mekong / The Forecast Mekong project cũng sẽ giúp xây dựng nền móng cho các hoạt động trong tương lai qua tăng cường mối liên hệ giữa các nhà khoa học, các tổ chức trong lưu vực Mekong qua các cuộc nghiên cứu chung và chia sẻ các dữ kiện / data sharing.

Hình 5_ Một ĐBSCL đã và đang bị tổn thương do những nguyên nhân: (1) do các con đập thượng nguồn, (2) do nạo vét cát dưới lòng sông, (3) do nước biển dâng, (4) do ô nhiễm sông rạch, (5) còn phải kể tới những dự án sai lầm ngăn mặn phá huỷ sự cân bằng hệ sinh thái mong manh của vùng châu thổ sông Mekong. Tính tới 2020, đã có 11 con đập dòng chính khổng lồ của Trung Quốc trên khúc sông Lancang-Mekong thượng nguồn; có thêm 2 con đập dòng chính của Lào (Xayaburi và Don Sahong) đã hoạt động từ 2019. Dự án Luang Prabang 1460 MW, sẽ là con đập dòng chính lớn nhất trên sông Mekong của Lào và điều rất nghịch lý là do Việt Nam làm chủ đầu tư, dự trù có thể được khởi công sớm trong năm nay. [International River 2004, do Ngô Thế Vinh cập nhật 2020].

Một ví dụ điển hình, USGS với kinh nghiệm về Trận Bão nhiệt đới Katrina 2005 của thế kỷ trên vùng châu thổ Mississippi với tổn thất 1800 nhân mạng, đã để lại những hậu quả tàn phá lớn nhất trong lịch sử thiên tai của Hoa Kỳ thiệt hại vật chất lên tới 125 tỷ USD, đã cho thấy nhu cầu cấp thiết chia sẻ thông tin và các dữ kiện với các vùng châu thổ trên toàn cầu.

DRAGON đã tạo ra một cộng đồng quốc tế giữa các nhà khoa học và quản lý tài nguyên nhằm chia sẻ những dữ kiện giữa các vùng châu thổ lớn và những con sông thế giới. Những cuộc nghiên cứu đối chiếu comparative studies là cần thiết để hiểu biết và tiên liệu được hậu quả của biến đổi khí hậu trên các dự án xây dựng, sử dụng đất đai, biến đổi về thuỷ học và những ảnh hưởng khác do con người gây ra trên các hệ sinh thái vốn mong manh và rất dễ bị tổn thương.

Bằng triển khai những mô hình đối chiếu / comparative models cùng với các dụng cụ biểu đồ / visualization tools, mục đích của mạng lưới DRAGON là trợ giúp thông tin cho những hoạch định chính sách / public policy decisions có ảnh hưởng tới hệ sinh thái và các cộng đồng cư dân sống trong các vùng châu thổ trên hành tinh này.

Hình 6_ĐBSCL với những cánh đồng bị khô nứt – sa mạc hoá / desertification, do trận hạn hán khốc liệt năm 2016. (trên) [VN Express 3/11/2016]; Dự báo Mekong: trận hạn hán và nhiễm mặn 2020 sẽ trầm trọng hơn năm 2016. Mekong Delta barbecue / ĐBSCL bị nướng do khô hạn. (dưới) [tranh biếm hoạ của Babui, tặng Ngô Thế Vinh]

NƯỚC QUANH TA: GIẢI PHÁP DO THÁI

Khan hiếm nước là một thực trạng đang diễn ra ở những mức độ khác nhau trên toàn hành tinh này. Từ tiểu bang Vàng California giàu có tới các nước nghèo khó của lục địa Phi châu. Khủng hoảng thiếu nước sạch nơi châu thổ Mekong cũng nằm trong bối cảnh toàn cầu ấy.

Đất lún, mặt bằng châu thổ Mekong thấp hơn mặt biển, có bài học từ một đất nước Hoà Lan Vùng Đất Thấp vẫn cứ tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ.

Thiếu nước ngọt: nước uống và nước tưới cho hoa màu, có bài học từ một đất nước Do Thái mọc lên giữa sa mạc với đủ loại hoa màu xanh tươi.

Nước được khai thác từ nhiều nguồn, (1) từ giếng tới tầng nước ngầm, (2) từ nước biển khử mặn, (3) từ nguồn nước thải được thanh lọc tái sinh, (4) chiết xuất nước từ độ ẩm trong không khí…

Ưu tiên giải quyết vấn đề nước là một quốc sách của Do Thái ngay từ ngày lập quốc. Bằng trí tuệ sáng tạo và khoa học kỹ thuật từ một sa mạc khô hạn, ngày nay Do Thái đã có đủ nước cho mọi nhu cầu gia dụng, canh nông và kỹ nghệ. Nhưng trên hết, vẫn là ý thức tiết kiệm nước của toàn dân – được giáo dục ngay từ bậc tiểu học qua mọi cấp trong mọi lãnh vực sinh hoạt.

Không chỉ như vậy, họ còn biết sử dụng tối ưu các nguồn nước có được, tới mức còn dư nước viện trợ cho các quốc gia láng giềng thù nghịch và cả chuyển giao kỹ thuật giải quyết vấn đề thiếu nước ra thế giới như một quyền lực mềm trong ngoại giao. Kinh nghiệm Do Thái đã giúp nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, kể cả quốc gia tiên tiến như Mỹ để giải quyết vấn nạn thiếu nước.

Hình 7_ Nông gia Do Thái đã tiết kiệm được rất nhiều nước trong canh tác; một ví dụ nhỏ, bằng cách tưới nhỏ giọt / drip irrigation thay cho kỹ thuật tưới cổ điển tưới bằng vòi phun hay nước ngập đồng. Tưới ngay gốc giảm được lượng nước bốc hơi, cây lớn mạnh hơn và năng suất cũng cao hơn, thêm vào đó cách bón cây nhỏ giọt còn tránh được lượng nitrogen tràn vào các nguồn nước và cả giảm thiểu được lượng hoá chất trên vùng canh tác. [Let There Be Water. Seth M. Siegel 2017] (9)

ĐBSCL SẼ VẪN MÃI XANH TƯƠI

Rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu, câu thuộc nằm lòng ấy đã có từ một nền giáo dục Quốc văn Giáo khoa thư từ buổi thiếu thời qua nhiều thế hệ. Và nay thì thực sự không còn nữa và cũng đừng tiếp tục gieo vào đầu óc trẻ thơ châu châm ngôn lỗi thời ấy.

Kể từ sau 1975, những khu rừng nguyên sinh bị tàn phá. Biển bị đầu độc không còn cá. Đất bị sa mạc hoá và xói mòn. Mọi nguồn tài nguyên bị tận lực khai thác tới cạn kiệt. Cho đến cả một ngụm nước sạch để uống và một bầu không khí trong lành để thở rồi cũng trở thành điều mơ ước. Những điều cơ bản ấy cũng chính là quyền con người / human rights.

Với những công trình phát triển tự huỷ, và sắp tới đây, con đập thuỷ điện Luang Prabang lớn nhất của Lào do Việt Nam đầu tư, rõ ràng Việt Nam đang chọn những bước đi liều lĩnh trên những tảng băng mỏng – walks on thin ice, với tiêu chuẩn nước đôi – double standards, và cũng từ nay Việt Nam sẽ chẳng thể còn một tiếng nói chính nghĩa và thuyết phục nào đối với cộng đồng 70 triệu cư dân sống trong lưu vực sông Mekong và trước cả thế giới.

Với tầm nhìn của thiên niên kỷ thứ ba, duy trì từng hệ sinh thái phong phú của hành tinh này cũng là bảo vệ một nền văn minh rất đa dạng và lâu đời của con sông Mekong, mà không có mối lợi lộc ngắn hạn nào có thể vội vàng đem ra đánh đổi. Và cũng đã hơn một lần, trong hơn hai thập niên qua, người viết luôn luôn nhắc tới một vấn đề rất cốt lõi: “Môi sinh và Dân chủ” sẽ mãi mãi là bộ đôi không thể tách rời / Inseparable Duo.

THAY CHO LỜI KẾT

Nhân Ngày Nước Thế Giới 22 tháng 3 năm nay 2020, với chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu”, trước tình cảnh một ĐBSCL đang ngày một suy thoái, người viết gửi tới các bạn trẻ cùng với 20 triệu cư dân 13 tỉnh Miền Tây trích dẫn câu nói của Oded Distel, một chuyên gia về nước của Do Thái: “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước”. (9) Nước theo cái nghĩa là “nguồn nước sạch” có thể sử dụng được. Oded Distel muốn nhấn mạnh tới sự chọn lựa đâu là bước ưu tiên trong phát triển.

NGÔ THẾ VINH

California 21.02.2020

[Miền Tây, Cù Lao Dung 2017]

THAM KHẢO:

1/ UN-Water Policy Brief on Climate Change and Water, 12 July 2019

https://www.unwater.org/publications/un-water-policy-brief-on-climate-change-and-water/

2/ A Different Delta Force – USGS and U.S. Department of State Assist in the Mekong Delta, By Gabrielle B. Bodin, March 2010 [revised Feb. 2013]

3/ The Mekong and Mississippi Sister-River Partnership, Similarities and Differences. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 01.15.2011

4/ Research Institute for Climate Change (DRAGON institute – Mekong)

https://dragon.ctu.edu.vn/

5/ Thăm Khu Nhà Máy Xử lý Nước Thải và Hệ thống Bổ sung Tầng Nước Ngầm tại Quận Cam. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 23.03 – 24.07.2017 6/ From A Mekong Delta Threatened by Salinization to the Carlsbad Desalination Plant. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 01.2020

7/ Promising way to make fresh water for family use, 1.5 gallons per hour for each square meter of solar collecting area.

http://news.mit.edu/2020/passive-solar-powered-water-desalination-0207

8/ Creating Drinking Water from Air. Watergen Technology from Israel.

https://www.watergen.com

9/ Let There Be Water. Israel’s Solution for a Water-Starved World. Seth M. Siegel. Thomas Dunne Books. An imprint of St. Martin’s Press 2017.

Hướng tới Ngày Nước Thế Giới 2020 với chủ đề nước và biến đổi khí hậu một ĐBSCL ô nhiễm giữa mùa hạn mặn

LGT: Ngày 22/3 hàng năm được Liên Hợp Quốc qui định là Ngày Nước Thế Giới (World Water Day) nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nước — không chỉ trong sự sống — mà còn liên quan đến văn hóa. Chúng ta là dân tộc thuộc văn hóa sông nước. Văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một ca tiêu biểu của văn hóa sông nước. Sống trong môi trường sông nước có khi chúng ta không thấy nước là quan trọng. Nhưng mấy năm gần đây, cư dân ở ĐBSCL bắt đầu nhận ra rằng hình như khu vực đồng bằng này có vấn đề về nước. Nhận ra như vậy, nhưng ít người dân biết được cội nguồn của tình trạng thiếu nước (và xâm nhập mặn) từ đâu. Bài viết dưới đây của Bs Ngô Thế Vinh sẽ giải thích tại sao, và có lẽ chúng ta sẽ không ngạc nhiên về thủ phạm: các con đập ở thượng nguồn thuộc Tàu. Có lẽ sau khi đọc xong bài này, một vài người lại than rằng cách nhìn của Bs Ngô Thế Vinh là ‘cực đoan’, nhưng sự thật thì vẫn là sự thật: Những con đập của Tàu là nguyên nhân số 1 làm cho người dân ĐBSCL khốn đốn. NVT

—–

Hướng tới Ngày Nước Thế Giới 2020 với chủ đề nước và biến đổi khí hậu một ĐBSCL ô nhiễm giữa mùa hạn mặn

Water, water, everywhere,

Nor any drop to drink

Nước, nước, khắp nơi,

Không có giọt nước uống

[Samuel Taylor Coleridge 1772-1834]

Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

NGÔ THẾ VINH

HẠN MẶN VÀ Ô NHIỄM 13 TỈNH MIỀN TÂY

Trên một chuyến phà lớn từ Đại Ngãi qua Cù lao Dung, sóng đánh tung toé, khách như cảm thấy được vị mặn bám đọng trên môi. Thấy nước khắp nơi nhưng là nước mặn đã xâm nhập vào khắp các ngả sông rạch và người dân thì đang lao đao lùng kiếm tìm mua từng lu nước ngọt để uống. Rồi còn phải kể tới những cánh đồng lúa cháy và các vườn cây trái thối rễ do đất bị nhiễm mặn khiến nhiều nông gia mất trắng tay.

Người bạn đồng hành đứng bên, anh dạy Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên Đại học Cần Thơ, nói với tôi: “Kể cả có lũ ngọt đổ về, nước hết mặn cũng không uống được vì dòng sông quá ô nhiễm”. Do chất thải kỹ nghệ từ các nhà máy ven sông, do phân bón hoá học từ đồng ruộng tràn ra, và tệ hại hơn nữa là rác rưởi từ các khu gia cư.

Đó là tình cảnh của ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng.

Với tầm nhìn qua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.

NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI 2020

Không thể tách rời vấn đề Nước và Biến đổi Khí hậu toàn cầu. Đó cũng là quan điểm của Liên Hiệp Quốc, khi chọn chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu” cho Ngày Nước Thế giới 22/ 03/ 2020 năm nay.

Trước những tình huống cực đoan và biến đổi bất thường về khí hậu có thể làm gia tăng biến thiên chu kỳ nước – water cycle, khiến rất khó mà tiên đoán được về nguồn nước có thể sử dụng – water availability, với những ảnh hưởng trên phẩm chất nước, cả trên tính đa dạng sinh học / biodiversity, và đe doạ sự phát triển bền vững trên nhiều lưu vực của các con sông.

Dân số toàn cầu từ 7.2 tỷ năm 2015 đến nay 2020 – theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, đã vượt qua con số 7.7 tỷ người. Tăng dân số cũng có nghĩa là gia tăng nhu cầu nước, kéo theo gia tăng nhu cầu năng lượng để bơm nước, vận chuyển và xử lý nước – water treatment. Tận dụng nguồn nước cũng dẫn tới sự suy thoái các hồ chứa carbon thiên nhiên – carbon sinks từ các vùng đất đầm lầy.

Tăng cường mối quan tâm về nước để đáp ứng nhu cầu nước ngày một gia tăng trong tương lai; điều ấy đòi hỏi phải có những quyết định mạnh mẽ, làm cách nào để phân chia các nguồn tài nguyên nước – allocate water resources, thích nghi với biến đổi khí hậu giữa những tranh chấp sử dụng nguồn nước giữa các địa phương và các quốc gia.

Một ví dụ điển hình: con sông Mekong dài hơn 4800 km chảy qua 7 quốc gia [Tây Tạng*, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam] giữa mùa khô hạn, đang bị tận lực khai thác bởi chuỗi những con đập thủy điện thượng nguồn, và làm cách nào để chia sẻ và sử dụng công bằng nguồn nước từ con sông Mekong đang là một “tranh chấp nóng” diễn ra hiện nay. Khi mà Cambodia và Việt Nam là hai quốc gia cuối nguồn đang chịu những hậu quả tích luỹ nặng nề nhất: một Biển Hồ như trái tim của Cambodia đang thiếu nước, một ĐBSCL chịu hạn mặn chưa bao giờ khốc liệt như thế. Chưa kể tới khả năng nước lớn Trung Quốc sử dụng con sông Lancang-Mekong như một thứ vũ khí trong cuộc chiến tranh môi sinh – ecological warfare trừng phạt Việt Nam và các nước hạ lưu khác.

[* Tây Tạng nơi phát nguồn con sông Mekong, về phương diện địa dư chính trị, bấy lâu người viết vẫn ghi nhận như một quốc gia cho dù đang bị Trung Quốc xâm chiếm.]

Chính sách đối phó với biến đổi khí hậu không chỉ trên quy mô quốc gia mà cho toàn lưu vực với mọi hoạch định cần theo một phương cách tích hợp – integrated approach, đối với nhu cầu sử dụng và quản lý nguồn nước.

Để phát triển và xây dựng một tương lai bền vững, cách làm ăn cũ bấy lâu với những quy hoạch thuỷ lợi không hiệu quả; do đó từ nay mọi phương cách quản lý nước cần được phân tích kỹ lưỡng qua lăng kính biến đổi khí hậu – through a climate change lens. Chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa để cải tiến và cập nhật những dữ liệu thuỷ học – hydrological data, qua các học viện, qua các chính phủ, qua giáo dục, cùng nhau chia sẻ mọi kiến thức, để có được khả năng tiên lượng và đối phó với những rủi ro khan hiếm nước như hiện nay và chắc chắn sẽ trầm trọng hơn nhiều trong tương lai.

Mọi chính sách cần bảo đảm tính đại diện rộng rãi các thành phần tham gia, với thay đổi tác phong ứng xử, tạo được sự tin cậy giữa nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự và lãnh vực tư nhân.

Những kế hoạch thích ứng cần có chiến lược nêu rõ mục tiêu – targeted strategies, ưu tiên trợ giúp các cộng đồng cư dân lợi tức thấp – họ là nhóm người chịu tác động, dễ bị tổn thương và thiệt hại nhiều nhất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. (1)

GIỚI THIỆU DRAGON MEKONG

DRAGON là chữ viết tắt của Delta* Research And Global Observation Network / Mạng lưới Nghiên cứu Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu. DRAGON nhằm mục đích thiết lập một hệ thống thông tin toàn cầu, tăng cường quan hệ hợp tác và cùng chia sẻ kinh nghiệm lâu dài giữa các vùng châu thổ trên thế giới.

[Ghi chú: Delta* thay vì quen gọi là đồng bằng, nay được gọi là châu thổ do được hình thành từ phù sa của các con sông bồi đắp.]

Ủy ban Liên Chính Phủ về Biến đổi Khí hậu / Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) do Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological) và Chương trình Môi sinh Liên Hiệp Quốc (United Nations Environment Programme), bao gồm 195 quốc gia thành viên. Theo IPCC hiện có khoảng 300 triệu cư dân sống trong 40 vùng châu thổ / Deltas trên toàn cầu. Các vùng châu thổ là nơi được phù sa các con sông bồi đắp và IPCC đã đưa ra nhận định: “Những vùng châu thổ đó rất dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, do nước biển dâng, do biến đổi dòng chảy, đồng thời với những chấn động qua quá trình sử dụng đất đai, do chính con người gây ra trong lưu vực / catchment area.”

Từ năm 2007, IPCC đưa ra cảnh báo thêm: 13 vùng châu thổ lớn trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng do hậu quả của Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng, trong đó có hai vùng châu thổ sông Mekong Việt Nam và châu thổ sông Mississippi Hoa Kỳ được xếp là vùng dễ bị tổn thương ở mức độ rất cao.

Do tính tương đồng và tầm quan trọng về an ninh lương thực, kinh tế, xã hội và văn hóa của hai vùng châu thổ Mekong và Mississippi, ngày 21 tháng 11 năm 2008, Đại học Cần Thơ kết hợp với Cơ Quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ – US Geographical Survey (USGS) và Trung tâm nghiên cứu Đất ngập nước quốc gia – National Wetlands Research Center Hoa Kỳ (NWRC) đã tổ chức lễ thành lập Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Mekong với tên viết tắt tiếng Anh là DRAGON Institute Mekong, thuộc Mạng DRAGON toàn cầu, có cơ sở tại Đại học Cần Thơ, ĐBSCL. (4)

Hình 1_ Logo Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu Mekong – Đại học Cần Thơ. DRAGON là chữ viết tắt của Delta Research And Global Observation Network – Mạng lưới Nghiên cứu Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu, được thiết lập từ 2008, đến nay là 12 năm, có thể xem như một Viện Nghiên cứu của Đại học Cần Thơ. (4)

Hình 2_ Đoàn khảo sát môi sinh ĐBSCL chụp hình trước cơ sở đầu tiên của Viện Nghiên Cứu Biến đổi Khí hậu / DRAGON – Mekong Institute, từ trái: TS Dương Văn Ni (Khoa Môi trường và Tài Nguyên Thiên nhiên ĐHCT), TS Lê Phát Quới (Viện Tài Nguyên Môi Trường ĐHQG Tp. HCM), Ngô Thế Vinh, TS Lê Anh Tuấn (Viện Nghiên cứu Biến Đổi Khí hậu ĐHCT), KS Phạm Phan Long (Hội Sinh Thái Việt), Th.S Nguyễn Hữu Thiện (Chuyên gia Đất Ngập nước / Wetlands), BS Nguyễn Văn Hưng. [tư liệu Ngô Thế Vinh 2017]

Xem ra, ngoài nét tương đồng giữa 2 vùng: châu thổ Louisiana sông Mississippi – Vịnh Mexico và châu thổ Mekong sông Mekong – Biển Đông trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thì riêng ĐBSCL hiện đang phải đương đầu với những thử thách khó khăn hơn nhiều. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây sự khác biệt quan trọng giữa hai dòng sông: (1) Độ dốc thượng nguồn sông Mekong cao hơn gấp 12 lần sông Mississippi, nên có một tiềm năng thuỷ điện vô cùng hấp dẫn mà sông Mississippi không có được; (2) Với 40 con đập cũ trên sông Mississippi phần lớn được xây từ thập niên 1930, không sao có thể sánh được với chuỗi đập khổng lồ trên sông Lancang-Mekong Vân Nam và các con đập dòng chính ở Lào; (3) Sông Mississippi chỉ chảy trong lãnh thổ Hoa Kỳ, trong khi sông Mekong chảy qua 7 quốc gia: Tây Tạng, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam với những mâu thuẫn về quyền lợi rất gay gắt. (3)

Hình 3_ Hình chụp cơ sở mới của DRAGON Mekong Institute, với các thành viên tham dự Khoá Tập huấn Báo chí về “Biến đổi Khí hậu và Năng lượng Bền vững” tổ chức từ ngày 22 tới 24 tháng 8, 2019, trong Dự án Mạng lưới Báo chí Địa cầu / Earth Journalism Network. [nguồn: CRUS.Vietnam, Aug 2019]

DRAGON Institute-Mekong-CTU sẽ là điểm nối kết các hoạt động nghiên cứu, giáo dục và chuyển giao kiến thức khoa học đến các nhà lãnh đạo, quản lý và cộng đồng các cấp từ địa phương, quốc gia tới các vùng châu thổ khác trên thế giới nhằm mục đích nâng cao năng lực thích nghi của cư dân đối với thiên tai; phát triển bền vững kinh tế và xã hội, đồng thời bảo tồn các hệ sinh thái thiên nhiên.

Từ khi được thành lập, Viện Biến đổi Khí hậu DRAGON-Mekong đã được nhiều tổ chức trong và ngoài nước đến trao đổi, đề xuất các hướng hợp tác. Với vai trò là một trung tâm dẫn đầu của ĐBSCL, Đại học Cần Thơ và Viện DRAGON-Mekong đang có các bước đi tiên phong trong nghiên cứu các vấn đề liên quan tới Biến đổi Khí hậu với một kế hoạch hành động trước mặt và lâu dài. (4)

DỰ BÁO MEKONG / FORECAST MEKONG

Qua Sáng kiến Hạ lưu Sông Mekong – Lower Mekong Initiative 2020 được khởi xướng từ 2009 do ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton cùng với các ngoại trưởng 4 quốc gia Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam nhằm tăng cường cam kết của Mỹ đối với các quốc gia hạ lưu sông Mekong trong các lãnh vực môi trường, y tế, giáo dục và hạ tầng cơ sở.

Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS chuyên nghiên cứu các vùng châu thổ, đã liên kết / partnership với Viện DRAGON – Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu áp dụng kinh nghiệm từ sông Mississippi với chuyên môn về Mô hình Khoa học-Trái đất [Earth-science modeling] sẽ hỗ trợ cho các quốc gia Mekong phương cách lượng giá biến đổi khí hậu và hoạt động của con người có thể ảnh hưởng trên hệ sinh thái và an ninh lương thực trong lưu vực sông Mekong.

KHOÁ TẬP HUẤN DỰ BÁO MEKONG

Trong ba ngày 9-10-11 tháng 12 năm 2009 cùng với viện DRAGON Đại học Cần Thơ, Việt Nam, Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS và Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã cùng bảo trợ cho một khoá tập huấn / workshop nhan đề: “Tìm hiểu mối hiểm nguy / risk và đặc tính dễ tổn thương/ vulnerability của các hệ sinh thái nước ngập / Wetlands Ecosystems nơi hai vùng châu thổ Mekong và Mississippi do Biến đổi Khí hậu và Nước biển dâng.”

Hình 4_ Cho dù cách nhau 12 múi giờ, hai vùng châu thổ Mekong (trái) và Mississippi (phải), có những điểm tương đồng về sinh cảnh môi trường, kinh tế xã hội và văn hoá. [Mô hình chụp từ vệ tinh của Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS ] (2)

Chương trình Dự báo Mekong được USGS thực hiện, không chỉ với ĐH Cần Thơ mà là một kết hợp mở rộng với các chính phủ địa phương và các Đại học trong lưu vực sông Mekong. Khoá tập huấn này là một phần của dự án có tên “Dự báo Mekong – Forecast Mekong,” một kết hợp dữ kiện hỗ tương, tạo mô hình / modeling, và hệ thống biểu đồ / visualization system nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý tài nguyên / resources managers, và công chúng am hiểu và tiên liệu được các tác động do biến đổi khí hậu và triển khai những dự án phát triển trong lưu vực sông Mekong. (2)

Khoá tập huấn quy tụ được hơn 75 thành viên tham dự, đã cùng xác định những thiếu sót về thông tin liên hệ tới vùng châu thổ Mekong / ĐBSCL và Biến đổi Khí hậu. Những thành viên tham dự bao gồm các nhà khoa học, các viên chức chính phủ từ các quốc gia Cambodia, Lào, Việt Nam, Thái Lan và cả Trung Quốc; đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ và các tổ chức NGOs phi chính phủ và dĩ nhiên với các chuyên gia USGS. Nhiều vấn đề khoa học quan trọng được đặt ra, bao gồm phẩm chất nước, lượng phù sa / sedimentation, những ảnh hưởng của các đập thuỷ điện trên sự đa dạng sinh học / biodiversity, an ninh lương thực, sự thích nghi với biến đổi khí hậu qua thời gian và mức nghiêm trọng của các mùa lũ lụt / seasonal floods, và ảnh hưởng trên sản lượng cá.

Những bước tiếp theo sẽ là các cuộc nghiên cứu phối hợp của USGS với các nhà khoa học trong lưu vực Mekong, nhằm cung cấp chuyên môn kỹ thuật để tạo thuận các bước thu thập phân tích và tích hợp dữ kiện / data analysis & integration, theo dõi môi trường / environmental monitoring, với các dụng cụ biểu đồ khoa học / science-visualization tools. Các thành viên tham dự cũng đã xác định nhu cầu được huấn luyện và chuyển giao kỹ thuật, cùng với ước muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn và chặt chẽ hơn với USGS.

Dự án Dự Báo Mekong / The Forecast Mekong project cũng sẽ giúp xây dựng nền móng cho các hoạt động trong tương lai qua tăng cường mối liên hệ giữa các nhà khoa học, các tổ chức trong lưu vực Mekong qua các cuộc nghiên cứu chung.

DRAGON đã xây dựng được một cộng đồng quốc tế giữa các nhà khoa học và quản lý tài nguyên nhằm chia sẻ những dữ kiện giữa các vùng châu thổ lớn và những con sông thế giới. Những cuộc nghiên cứu đối chiếu / comparative studies là cần thiết để hiểu biết và tiên liệu được hậu quả của biến đổi khí hậu trên các dự án xây dựng, sử dụng đất đai, biến đổi về thuỷ học và những ảnh hưởng khác do con người gây ra trên các hệ sinh thái vốn mong manh và dễ bị tổn thương.

Bằng triển khai những mô hình đối chiếu / comparative models và với các dụng cụ biểu đồ / visualization tools, mục đích của mạng lưới DRAGON là trợ giúp thông tin cho những quyết định chính sách công / public policy decisions có ảnh hưởng tới hệ sinh thái và các cộng đồng cư dân sống trong các vùng châu thổ.

Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ [USGS] đem tới những hiểu biết khoa học rộng rãi từ châu thổ sông Mississippi tới một vùng châu thổ tương đồng, cách xa nửa vòng trái đất đó là châu thổ sông Mekong [ĐBSCL].

Khoá tập huấn này là một phần của dự án có tên “Dự báo Mekong – Forecast Mekong,” một kết hợp dữ kiện hỗ tương, tạo mô hình / modeling, và hệ thống biểu đồ / visualization system nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách / policy makers, các nhà quản lý tài nguyên / resources managers, và công chúng am hiểu và tiên liệu được các tác động do biến đổi khí hậu và triển khai những dự án trong lưu vực sông Mekong. (2)

Chương trình này được thực hiện bởi USGS kết hợp với các chính phủ địa phương và các Đại học trong lưu vực Mekong, Chương trình Dự Báo Mekong / Mekong Forecast sẽ cung cấp một dụng cụ rất giá trị để nhận rõ những hậu quả của Biến đối Khí hậu và cách quản lý dòng sông / river management.

Những bước tiếp theo sẽ là các cuộc nghiên cứu phối hợp của USGS với các nhà khoa học trong lưu vực Mekong, nhằm cung cấp chuyên môn kỹ thuật / technical expertise để tạo thuận các bước phân tích và tích hợp dữ kiện / data analysis & integration, hướng dẫn theo dõi môi trường / environmental monitoring, với những dụng cụ biểu đồ khoa học / science-visualization tools. Các thành viên tham dự cũng đã xác định nhu cầu được huấn luyện / training và chuyển giao kỹ thuật / technological transfer, cùng với ước muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn và chặt chẽ hơn với USGS.

Dự án Dự Báo Mekong / The Forecast Mekong project cũng sẽ giúp xây dựng nền móng cho các hoạt động trong tương lai qua tăng cường mối liên hệ giữa các nhà khoa học, các tổ chức trong lưu vực Mekong qua các cuộc nghiên cứu chung và chia sẻ các dữ kiện / data sharing.

Hình 5_ Một ĐBSCL đã và đang bị tổn thương do những nguyên nhân: (1) do các con đập thượng nguồn, (2) do nạo vét cát dưới lòng sông, (3) do nước biển dâng, (4) do ô nhiễm sông rạch, (5) còn phải kể tới những dự án sai lầm ngăn mặn phá huỷ sự cân bằng hệ sinh thái mong manh của vùng châu thổ sông Mekong. Tính tới 2020, đã có 11 con đập dòng chính khổng lồ của Trung Quốc trên khúc sông Lancang-Mekong thượng nguồn; có thêm 2 con đập dòng chính của Lào (Xayaburi và Don Sahong) đã hoạt động từ 2019. Dự án Luang Prabang 1460 MW, sẽ là con đập dòng chính lớn nhất trên sông Mekong của Lào và điều rất nghịch lý là do Việt Nam làm chủ đầu tư, dự trù có thể được khởi công sớm trong năm nay. [International River 2004, do Ngô Thế Vinh cập nhật 2020].

Một ví dụ điển hình, USGS với kinh nghiệm về Trận Bão nhiệt đới Katrina 2005 của thế kỷ trên vùng châu thổ Mississippi với tổn thất 1800 nhân mạng, đã để lại những hậu quả tàn phá lớn nhất trong lịch sử thiên tai của Hoa Kỳ thiệt hại vật chất lên tới 125 tỷ USD, đã cho thấy nhu cầu cấp thiết chia sẻ thông tin và các dữ kiện với các vùng châu thổ trên toàn cầu.

DRAGON đã tạo ra một cộng đồng quốc tế giữa các nhà khoa học và quản lý tài nguyên nhằm chia sẻ những dữ kiện giữa các vùng châu thổ lớn và những con sông thế giới. Những cuộc nghiên cứu đối chiếu comparative studies là cần thiết để hiểu biết và tiên liệu được hậu quả của biến đổi khí hậu trên các dự án xây dựng, sử dụng đất đai, biến đổi về thuỷ học và những ảnh hưởng khác do con người gây ra trên các hệ sinh thái vốn mong manh và rất dễ bị tổn thương.

Bằng triển khai những mô hình đối chiếu / comparative models cùng với các dụng cụ biểu đồ / visualization tools, mục đích của mạng lưới DRAGON là trợ giúp thông tin cho những hoạch định chính sách / public policy decisions có ảnh hưởng tới hệ sinh thái và các cộng đồng cư dân sống trong các vùng châu thổ trên hành tinh này.

Hình 6_ĐBSCL với những cánh đồng bị khô nứt – sa mạc hoá / desertification, do trận hạn hán khốc liệt năm 2016. (trên) [VN Express 3/11/2016]; Dự báo Mekong: trận hạn hán và nhiễm mặn 2020 sẽ trầm trọng hơn năm 2016. Mekong Delta barbecue / ĐBSCL bị nướng do khô hạn. (dưới) [tranh biếm hoạ của Babui, tặng Ngô Thế Vinh]

NƯỚC QUANH TA: GIẢI PHÁP DO THÁI

Khan hiếm nước là một thực trạng đang diễn ra ở những mức độ khác nhau trên toàn hành tinh này. Từ tiểu bang Vàng California giàu có tới các nước nghèo khó của lục địa Phi châu. Khủng hoảng thiếu nước sạch nơi châu thổ Mekong cũng nằm trong bối cảnh toàn cầu ấy.

Đất lún, mặt bằng châu thổ Mekong thấp hơn mặt biển, có bài học từ một đất nước Hoà Lan Vùng Đất Thấp vẫn cứ tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ.

Thiếu nước ngọt: nước uống và nước tưới cho hoa màu, có bài học từ một đất nước Do Thái mọc lên giữa sa mạc với đủ loại hoa màu xanh tươi.

Nước được khai thác từ nhiều nguồn, (1) từ giếng tới tầng nước ngầm, (2) từ nước biển khử mặn, (3) từ nguồn nước thải được thanh lọc tái sinh, (4) chiết xuất nước từ độ ẩm trong không khí…

Ưu tiên giải quyết vấn đề nước là một quốc sách của Do Thái ngay từ ngày lập quốc. Bằng trí tuệ sáng tạo và khoa học kỹ thuật từ một sa mạc khô hạn, ngày nay Do Thái đã có đủ nước cho mọi nhu cầu gia dụng, canh nông và kỹ nghệ. Nhưng trên hết, vẫn là ý thức tiết kiệm nước của toàn dân – được giáo dục ngay từ bậc tiểu học qua mọi cấp trong mọi lãnh vực sinh hoạt.

Không chỉ như vậy, họ còn biết sử dụng tối ưu các nguồn nước có được, tới mức còn dư nước viện trợ cho các quốc gia láng giềng thù nghịch và cả chuyển giao kỹ thuật giải quyết vấn đề thiếu nước ra thế giới như một quyền lực mềm trong ngoại giao. Kinh nghiệm Do Thái đã giúp nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, kể cả quốc gia tiên tiến như Mỹ để giải quyết vấn nạn thiếu nước.

Hình 7_ Nông gia Do Thái đã tiết kiệm được rất nhiều nước trong canh tác; một ví dụ nhỏ, bằng cách tưới nhỏ giọt / drip irrigation thay cho kỹ thuật tưới cổ điển tưới bằng vòi phun hay nước ngập đồng. Tưới ngay gốc giảm được lượng nước bốc hơi, cây lớn mạnh hơn và năng suất cũng cao hơn, thêm vào đó cách bón cây nhỏ giọt còn tránh được lượng nitrogen tràn vào các nguồn nước và cả giảm thiểu được lượng hoá chất trên vùng canh tác. [Let There Be Water. Seth M. Siegel 2017] (9)

ĐBSCL SẼ VẪN MÃI XANH TƯƠI

Rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu, câu thuộc nằm lòng ấy đã có từ một nền giáo dục Quốc văn Giáo khoa thư từ buổi thiếu thời qua nhiều thế hệ. Và nay thì thực sự không còn nữa và cũng đừng tiếp tục gieo vào đầu óc trẻ thơ châu châm ngôn lỗi thời ấy.

Kể từ sau 1975, những khu rừng nguyên sinh bị tàn phá. Biển bị đầu độc không còn cá. Đất bị sa mạc hoá và xói mòn. Mọi nguồn tài nguyên bị tận lực khai thác tới cạn kiệt. Cho đến cả một ngụm nước sạch để uống và một bầu không khí trong lành để thở rồi cũng trở thành điều mơ ước. Những điều cơ bản ấy cũng chính là quyền con người / human rights.

Với những công trình phát triển tự huỷ, và sắp tới đây, con đập thuỷ điện Luang Prabang lớn nhất của Lào do Việt Nam đầu tư, rõ ràng Việt Nam đang chọn những bước đi liều lĩnh trên những tảng băng mỏng – walks on thin ice, với tiêu chuẩn nước đôi – double standards, và cũng từ nay Việt Nam sẽ chẳng thể còn một tiếng nói chính nghĩa và thuyết phục nào đối với cộng đồng 70 triệu cư dân sống trong lưu vực sông Mekong và trước cả thế giới.

Với tầm nhìn của thiên niên kỷ thứ ba, duy trì từng hệ sinh thái phong phú của hành tinh này cũng là bảo vệ một nền văn minh rất đa dạng và lâu đời của con sông Mekong, mà không có mối lợi lộc ngắn hạn nào có thể vội vàng đem ra đánh đổi. Và cũng đã hơn một lần, trong hơn hai thập niên qua, người viết luôn luôn nhắc tới một vấn đề rất cốt lõi: “Môi sinh và Dân chủ” sẽ mãi mãi là bộ đôi không thể tách rời / Inseparable Duo.

THAY CHO LỜI KẾT

Nhân Ngày Nước Thế Giới 22 tháng 3 năm nay 2020, với chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu”, trước tình cảnh một ĐBSCL đang ngày một suy thoái, người viết gửi tới các bạn trẻ cùng với 20 triệu cư dân 13 tỉnh Miền Tây trích dẫn câu nói của Oded Distel, một chuyên gia về nước của Do Thái: “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước”. (9) Nước theo cái nghĩa là “nguồn nước sạch” có thể sử dụng được. Oded Distel muốn nhấn mạnh tới sự chọn lựa đâu là bước ưu tiên trong phát triển.

NGÔ THẾ VINH

California 21.02.2020

[Miền Tây, Cù Lao Dung 2017]

THAM KHẢO:

1/ UN-Water Policy Brief on Climate Change and Water, 12 July 2019

https://www.unwater.org/publications/un-water-policy-brief-on-climate-change-and-water/

2/ A Different Delta Force – USGS and U.S. Department of State Assist in the Mekong Delta, By Gabrielle B. Bodin, March 2010 [revised Feb. 2013]

3/ The Mekong and Mississippi Sister-River Partnership, Similarities and Differences. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 01.15.2011

4/ Research Institute for Climate Change (DRAGON institute – Mekong)

https://dragon.ctu.edu.vn/

5/ Thăm Khu Nhà Máy Xử lý Nước Thải và Hệ thống Bổ sung Tầng Nước Ngầm tại Quận Cam. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 23.03 – 24.07.2017 6/ From A Mekong Delta Threatened by Salinization to the Carlsbad Desalination Plant. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 01.2020

7/ Promising way to make fresh water for family use, 1.5 gallons per hour for each square meter of solar collecting area.

http://news.mit.edu/2020/passive-solar-powered-water-desalination-0207

8/ Creating Drinking Water from Air. Watergen Technology from Israel.

https://www.watergen.com

9/ Let There Be Water. Israel’s Solution for a Water-Starved World. Seth M. Siegel. Thomas Dunne Books. An imprint of St. Martin’s Press 2017.

Hòa thượng Thích Quảng Độ (1928 – 2020): Chân tu và trí thức

Phải dành một ngày quên đi chuyện covid-19 để tưởng nhớ đến một người rất quan trọng: Hòa thượng Thích Quảng Độ (1). Thầy mới qua đời ở chùa Từ Hiếu (Sài Gòn) hôm thứ Bảy 22/2/2020, thọ 93 tuổi. Vậy là thêm một học giả lừng danh của thế hệ vàng Phật Giáo Việt Nam đã về bên kia thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp Phật học của Thầy Quảng Độ có thể gói gọn trong 2 chữ: cống hiến và đấu tranh. Cống hiến trong vai trò một bậc chân tu, và đấu tranh bất bạo động trong vai trò của một trí thức dấn thân.

Hòa thượng Thích Quảng Độ. Hình có lẽ chụp lúc bị lưu đày ở Thái Bình

Hai hoà thuợng nổi danh cùng thời về cõi vĩnh hằng, nhưng phản ứng của báo chí (và Nhà nước) thì rất khác. Năm ngoái, khi Hòa thượng Thích Trí Quang qua đời, báo chí Nhà nước đồng loạt đưa tin, kèm theo những bài viết phân ưu đặc sắc. Năm nay, khi Hoà thượng Thích Quảng Độ viên tịch, chẳng có báo chí Nhà nước nào đưa tin! Thật ra, báo Tuổi Trẻ có đưa tin, thế nhưng chẳng hiểu vì sao mà bản tin và bài viết đã bị rút khỏi mạng trực tuyến. Thái độ ứng xử của báo chí (hay đúng hơn là của Nhà nước) làm cho người quan sát phải tự hỏi: tại sao. Lí do sâu xa có lẽ liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của hai vị hoà thượng rất ư khác nhau.

Có lẽ nói không ngoa rằng Hoà thượng Trí Quang có nhiều hoạt động được nhà cầm quyền đương thời có cảm tình, có khi cả ưu ái. Nhưng Hoà thượng Quảng Độ thì hình như không được nhà cầm quyền có cảm tình. Mỗi người một cách và đóng góp. Tôi thì nghĩ cuộc đời và sự nghiệp của Thầy có thể tóm lược trong hai chữ: cống hiến và đấu tranh. Cống hiến cho Phật học như là một học giả và đấu tranh cho sự độc lập của Phật giáo như là một trí thức dấn thân.

Đóng góp cho Phật học

Một hôm, chừng 10 năm trước, tôi lang thang ở khu bán sách cũ trên đường Cộng Hòa cũ thì ‘gặp’ Hòa thượng Thích Quảng Độ. Tôi miên man đọc cuốn sách ‘Đại thừa Phật giáo tư tưởng luận’, lật lại trang đầu thì thấy tên dịch giả ‘Thích Quảng Độ’! Và, nhà xuất bản Lá Bối. Tôi thầm thán phục Thầy. Hồi nào đến giờ tôi chỉ biết Thầy là người đấu tranh cho Phật giáo, chớ chưa biết ông còn là một học giả. Thấy tôi có vẻ say sưa với cuốn sách, chị chủ tiệm sách nhìn tôi với ánh mắt thân thiện và hỏi ‘Anh mua cuốn đó hông, tui bớt giá cho. Sách loại này giờ hiếm lắm.’ Mà, hiếm thật, vì sách xuất bản từ trước 1975 thì hoặc là đã bị thiêu đốt hoặc cấm lưu truyền hoặc in lại nhỏ giọt. Dĩ nhiên là tôi mua sách và trả y giá. Chẳng những mua cuốn đó, tôi còn ‘tậu’ luôn cuốn ‘Truyện cổ Phật giáo’ và ‘Dưới mái chùa hoang’ cũng qua biên giải của Thầy Quảng Độ. Thế là cái tên của thầy trở thành ‘radar’ ngưỡng mộ của tôi.

Cuốn ‘Đại thừa Phật Giáo tư tưởng luận’ do Hòa thượng Quảng Độ biên dịch.

Trước 1975, Thầy Quảng Độ nổi tiếng là một hoà thượng – học giả. Thầy từng được bầu làm Tổng thư kí Viện Hoá Đạo (của Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt) vào năm 1965. Thầy cũng từng là giảng viên môn Triết học Đông Phương và Tư tưởng Phật Giáo ở Đại học Vạn Hạnh (nay không còn nữa). Thời đó, ĐH Vạn Hạnh, đại học tư thục đầu tiên của miền Nam, qui tụ nhiều học giả nổi tiếng (ngoài Thầy Quảng Độ) còn có những người như Thích Nhất Hạnh, Thích Minh Châu, Lê Mạnh Thát (Thích Trí Siêu), Thích Nữ Trí Hải, Hồ Hữu Tường, và Đoàn Viết Hoạt. Tuy tồn tại chỉ trên dưới 10 năm (1964 – 1975), nhưng ĐH Vạn Hạnh đã có những đóng góp quan trọng cho văn hoá – giáo dục miền Nam. Ban Tu Thư của ĐH Vạn Hạnh đã có công biên dịch nhiều sách quan trọng về Phật Giáo, trong đó có những tác phẩm của Thầy Quảng Độ.

Có thể xếp Hoà thượng Thích Quảng Độ trong nhóm các học giả Phật Giáo trong thời ‘vàng son’ như Thích Minh Châu, Thích Huyền Quang, Thích Trí Siêu, Thích Tuệ Sỹ. Đó là một thế hệ học giả có thực học và thực tài, uyên bác, và đã để lại những công trình học thuật có giá trị cho tới ngày nay. Một trong những tác phẩm Thầy Quảng Độ để lại cho đời là bộ sách “Phật Quang Đại Từ điển” gồm 9 tập với hàng vạn trang sách, được xuất bản năm 2014.

Bộ sách “Phật Quang Đại Từ điển” do Hòa thượng Quảng Độ biên dịch, xuất bản năm 2014

Bộ sách “Phật Quang Đại Từ điển” có một lịch sử li kì, vì được viết trong nhà tù, nhưng biên soạn lại sau khi ra tù. Trong một cuộc trả lời phỏng vấn của RFA, Thầy Quảng Độ tiết lộ rằng năm 1995 trước khi vào tù, Thầy có yêu cầu quản giáo cho thầy tiếp tục soạn bộ Phật Quang từ điển trong nhà tù Ba Sao (ngoài Bắc). Nhưng thay vì đem bộ từ điển vào tù để dịch, quản giáo chỉ cho Thầy … giấy trắng. Thầy kể:

“Giấy mỗi lần họ phát cho mình một tập, họ đánh số vào đó mỗi một tập 80 trang. Thế rồi họ phát cho một cây bút. Thế rồi họ đề ngoài cái trang bìa ngoài cùng là ông cán bộ nào mà trực nhật ngày đó. Thế hết tập đó thì mình mới trả để họ giao tập mới, Bút cũng thế, viết hết mực thì phải trả quản bút hết mực cho họ, họ mới cho bút mới. Đấy, họ kiểm soát như thế đấy.Kiểm soát thế cũng tốt bởi vì tôi có công việc làm.”

Trong điều kiện nhà tù như vậy mà Thầy cho ra một bộ từ điển cả cả chục ngàn trang! Sức làm việc và trí tuệ thuộc hạng siêu. Đến ngày 2/9/1998, Thầy được trả tự do, nhưng bộ từ điển Thầy biên dịch thì ban quản giáo nhà tù giữ lại; họ yêu cầu Thầy phải làm đơn xin, nhưng Thầy nói không, vì cho rằng thật vô lí khi mình đi xin cái của mình! Thế rồi, sau khi ra tù, Thầy soạn lại bộ từ điển. Thầy thuật lại rằng:

“Tôi về tôi bỏ ra 2 năm trời tôi làm lại, tôi không xin ai hết. Xin nó phải hợp lý cơ. Như mình đói mình đi xin ăn, người ta cho, mình cảm ơn. Còn ở đây là của mình mà họ giữ chứ mình có gửi đâu!”

Tính chung, Thầy Quảng Độ đã biên dịch 13 bộ/quyển sách về Phật Giáo. Ngoài ra, Thầy còn để lại 2 tập thơ viết trong tù và lưu đày.

Đấu tranh cho Phật giáo

Sau 1975, một số học giả / tu sĩ Phật Giáo lừng danh đều có chung số phận: đi tù. Họ đi tù vì đấu tranh cho một hệ Phật Giáo độc lập với Nhà nước. Trước năm 1975, Giáo hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt (GHPGVNTN) là tổ chức hoằng pháp có uy tín vì qui tụ những học giả nổi tiếng và có những hoạt động tôn giáo – xã hội tích cực (như ĐH Vạn Hạnh và các trung tâm giáo dục, đoàn thể xã hội). Sau 1985, nhà cầm quyền muốn GHPGVNTN phải nhập với Giáo hội Phật giáo Việt Nam (không có chữ ‘thống nhứt’) dưới sự quản lí của Nhà nước. Nhưng các thầy trong GHPGVNTN không chấp nhận chủ trương đó. Họ phải trả giá tù đày cho sự phản kháng đó.

Thầy Tuệ Sỹ và thầy Trí Siêu từng bị bắt và tuyên án tử hình vào năm 1984. Nhưng sau khi được chánh phủ một số quốc gia Âu Mĩ can thiệp, hai thầy được trả tự do ngày 31/8/1998 (sau 14 năn bị giam trong nhà tù). Cá nhân tôi dù chưa một lần hạnh ngộ, nhưng rất ngưỡng mộ hai thầy vì kiến văn cũng như Phật học, và càng kính trọng hơn về nhân cách bình thản trước bản án tử hình.

Thầy Quảng Độ cũng đi tù, thậm chí còn bị tù đày dài hơn các học giả khác. Năm 1977, Thầy bị bắt giam vì không chấp nhận sự kiểm soát của Nhà nước đối với giáo sự Phật giáo. Năm 1982 Thầy và mẹ bị đày về Thái Bình, mãi đến 1992 Thầy vào Nam. Vào Nam, năm 1995, Thầy Quảng Độ lại bị bắt và tuyên án phạt 5 năm tù giam và 5 năm quản chế tại gia, nhưng đến năm 1998 thì được đặc xá. Theo RFA, một trong những điều kiện Thầy Quảng Độ được đặc xá là Thầy phải đi Mĩ, nhưng Thầy nhứt định không đi. Năm 2018 Thầy lại bị buộc phải về Thái Bình, nhưng trong cùng năm Thầy lại quay về Sài Gòn và trú ngụ tại chùa Từ Hiếu cho đến ngày qua đời. Có thể nói cuộc đời của Thầy Quảng Độ sau 1975 là rất ư ‘sóng gió’ trong việc đòi sự độc lập cho Phật Giáo Việt Nam.

Phật giáo thế hệ ‘vàng’ và Phật giáo ngày nay

Thầy Quảng Độ là thuộc thế hệ vàng của Phật giáo Việt Nam. Thế hệ đó góp phần định hình một nền văn hóa Phật giáo ở miền Nam, và dấn thân vì đạo và đời. Tất cả họ đều là những bậc chân tu và trí thức. Thế hệ đó giờ càng ít hơn, vì đã có quá nhiều người qua đời hay đang ở tuổi ‘xưa nay hiếm’, và khó có người thay thế. Ngày nay, nhiều khi người ta không phân biệt được ai là tu sĩ và ai là cán bộ. Lại còn có sự lẫn lộn (hay áp đặt) thần tượng thành Phật. Ngày nay, nhiều tu sĩ có bằng tiến sĩ và những chức danh rộn ràng, nhưng đóng góp của họ cho đạo pháp và Phật học thì lại là một câu hỏi lớn.

Sự ra đi của Thầy Quảng Độ có lẽ chẳng làm cho nhà cầm quyền bận tâm, nhưng những Phật tử chân chánh phải suy nghĩ. Suy nghĩ về tương lai của Phật giáo Việt Nam. Nếu nhìn vào những ngôi chùa hoành tráng và những lễ hội được các quan chức viếng thăm, người ta có thể nghĩ rằng Phật giáo Việt Nam đang phát triển tốt. Có lẽ bề mặt là vậy, nhưng nó che đậy những thoái hoá đằng sau. Thời buổi mà đồng tiền và chánh trị thống trị, nhiều tu sĩ đã bị tha hoá về đạo đức, tranh giành quyền lực, và quên đi sứ mệnh của Phật giáo: giác ngộ và diệt khổ cho chúng sanh. Có người cho là thời ‘mạt pháp’, cũng không quá xa với thực tế.

Phật giáo Việt Nam khởi đầu từ miền Bắc nhưng cũng suy thoái từ miền Bắc. Có thể nói sự suy thoái bắt đầu từ 1945 trở đi, và đặc biệt là sau Cải cách ruộng đất. Ngày nay, Phật giáo có khi như là một hệ thống doanh nghiệp có mô hình tổ chức như một … đảng. Năm nào tôi cũng có dịp ra Hà Nội và lưu trú gần trụ sở của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên đường Quán Sứ. Đi ngang đó thấy những chiếc xe sang trọng và xa xỉ (trong nước gọi là ‘siêu xe’) mang biển màu xanh, là biết ngay có sự nhập nhằng giữa thế quyền và Phật pháp. Rồi vô số những bản tin về các vị tu sĩ và hành xử của họ chỉ làm cho Phật tử ngao ngán và tự hỏi có phải thời mạt pháp đã đến. Rất có thể. Rất cần một thế hệ như thế hệ của Thầy Quảng Độ thì may ra mới khôi phục được Phật giáo Việt Nam.

Thầy Quảng Độ đã tạ thế (hay ‘chuyển nghiệp’) sau hơn 90 năm ở trọ cõi trần. Trong thời gian 90 năm đó, dù với những sóng gió và dao động lịch sử, Thầy vẫn cống hiến cho cả đời và đạo pháp đúng với vai trò của một bậc chân tu và một trí thức dấn thân.

===

(1) Theo tiểu sử, Thầy sinh ngày 27/11/1928 ở xã Nam Thanh, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình. Tên khai sanh là Đặng Phúc Tuệ. Chẳng biết thầy vào Nam năm nào, nhưng sự nghiệp Phật pháp của Thầy lừng danh ở miền Nam.

(2) Xin chia sẻ một bài thơ của Thầy Quảng Độ viết có lẽ khi còn bị lưu đày ở Thái Bình:

CHIỀU ĐÔNG

Nghe lòng xa vắng những chiều đông

Nhìn nước mênh mông khắp mặt đồng


Bát ngát núi xa mờ bóng cọp


Thăm thẳm trời cao bặt cánh hồng

Bao độ cà tan cà nở nụ

Mấy mùa lúa rụng lúa đơm bông


Năm tháng mỏi mòn đầu đã bạc


Còn chút lòng son gởi núi sông

My first blog entry for 2020: busy times

This post is my first blog entry for 2020, and it is not really about science. I have been away on a holiday trip during Dec 2019 and Jan 2020. Actually it was a working holiday. I also celebrated Lunar New Year with my family in southern Vietnam. The plan was to have a great time in Cambodia and Vietnam, but as the saying goes ‘man proposes, God disposes’, I ended up being busy throughout the trip.

After attending my nephew’s wedding in Rach Gia (my hometown), I returned to Saigon to conduct a 3-day workshop for more than 70 people at Banking University. I introduced the R language to students and researchers there. I was so happy to see many new friends in economics research.

Workshop at Banking Academy @ Hanoi.

Then, I attended the award conferring ceremony at Ton Duc Thang University (27/12/2019). I chair the University’s Awards and Prizes Committee. This year, the Committee selected 3 outstanding researchers for 3 awards: Lifetime Achievement, Rising Star, and Women in Science. The winners were Professor Timon Rabczuk of Bauhaus Weimar University (Germany), Professor Anderson Ho Cheung Shum of the University of Hong Kong, and Professir Sibel Aysil Ozkan of Ankara University (Tukey).

I went to Hanoi to attend the doctoral defence ceremony at Hanoi University of Pharmacy (31/12/2019). One of my students, Van Pham, defended her thesis on the cost-effectiveness analysis of osteoporosis treatment. This work has been going on for almost 6 years, and I am so happy to see that she had been conferred the degree of PhD.

From left to right: me, my student Van Hanh N. Pham, and Professor Binh T. Nguyen.

While in Hanoi, I was invited to give a one-day lecture at the Military Hospital 108. The Hospital is a premier medical institution in Vietnam. The lecture was attended by more than 100 military doctors and healthcare professionals. I was amazed at the development of the hospital; it has totally been transformed from a rather ‘poor’ hospital into a world-class institution. The Hospital is a house to many brilliant scientists who have done great research.

Back to Saigon, I conducted a one-day workshop in evidence-based medicine at Nguyen Tri Phuong hospital. I was so pleased to see more than 150 doctors and professionals in the workshop. In this occasion, I introduced my recently republished book titled “Evidence-based Medicine” to colleagues. The book has a brandnew makeup. It covers basic ideas of EBM such as PICOT framework, identification and evaluation of published literature, and basic biostat concepts in medicine. To date, this is the only book in EBM in Vietnam. In the past, the book has been well received by the medical community in Vietnam, with more than 5000 copies sold.

Then, back to Ton Duc Thang University, I had been busy with the 6-day training program (5/1 to 10/1/2020) on multi-level modelling and time-series analysis. I was so pleased to see 100 participants in the training program. They have learned new and important methods for handling complex scientific data.

One of the things that made me happy during this trip was the success of two CME programs in osteoporosis. Last year, I oraganized a CME course in Saigon for more than 200 doctors. This year, I wanted to bring the program to regional cities. The first one was hosted by Kien Giang Hospital on 12/1 for more than 100 doctors in the Mekong Delta region. The second CME program was hosted by the University of Danang on 16/1 for ~100 doctors mainly from central Vietnam. I would like to take this opportunity to thank all lecturers: A/Professor Le Anh Thu, Dr. Tang Ha Nam Anh, Dr. Vo Xuan Son, Dr. Ho Pham Thuc Lan, Dr. Doan Cong Minh, and Dr. Mai Duy Linh for their excellent lectures.

Then, I went to Hanoi again! This time, I was invited to conduct a 3-day workshop on data analysis for about 70 researchers and postgraduate students of the Banking Academy of Vietnam. This program was not planned, but it turned out to be one of my best engagements in the trip. All (I mean ‘all’) participants in the workshop were sooo studious and enthusiastic in learning new things. They want me back, and I will surely be back. Thank a million to A/Prof Pham Hoang Anh and Banking Academy’s friends for your great hospitality during my stay in Hanoi.

After the Banking Academy workshop I went home in Kien Giang for celebrating the Lunar New Year. So, in total, I had spent 21 days in various seminars, workshops, CME courses, and training programs. Finally, I had had 5 days of free-from-work and enjoyed the New Year. (Well, not really free, because I still had to handle manuscripts for our JBMR). I was absolutely delightful to meet many members of my extended family of 4 generations during the Lunar New Year of the Rat.

Workshop on Mixed-Effects Models at Ton Duc Thang University

Cuộc tàn sát chuột vĩ đại ở Hà Nội

Mấy tuần trước khi còn ở dưới quê, tôi đọc được một câu chuyện về cuộc tàn sát chuột diễn ra ở Hà Nội vào đầu thế kỉ 20, và đã ghi lại để chia sẻ. Nhưng vì diễn tiến về trận dịch COVID-19 làm lôi cuốn quá, nên tôi quên. Nhân dịp Năm Con Chuột và cũng là lúc trận dịch đang diễn ra, tôi sẽ hầu các bạn câu chuyện về chiến dịch tàn sát chuột ở Hà Nội vào đầu thế kỉ 20, nhưng sự thất bại của chiến dịch để lại ‘di sản’ đến ngày nay về dịch bệnh (và cũng nói lên một phần tính cách của người Việt).

Học giả Michael G. Vann (Đại học Santa Clara, California) có xuất bản một công trình nghiên cứu mang tính sử, cung cấp nhiều chi tiết thú vị về những nỗ lực của người Pháp trong việc xây dựng và ‘văn minh hóa’ Hà Nội. Bài báo có tựa đề ‘Of Rats, Rice, and Race: The Great Hanoi Rat Massacre, an Episode in French Colonial History’ (French Colonial History, Vol 4, 2003) (1). Câu chuyện để lại nhiều suy nghĩ và bài học về người Việt cho người đọc.

Image result for Paul Doumer

Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1857 – 1932), người đã hiện đại hóa Hà Nội. Nguồn: http://www.atlasobscura.com

Cái Toilet

Nói đến những di sản của người Pháp để lại Việt Nam, người ta nghĩ ngay đến các công trình mang tính cơ sở vật chất. Đó là hệ thống phân chia địa lí, là hệ thống hành chánh, hệ thống giáo dục, những khu đô thị từ Bắc chí Nam, những quốc lộ và hương lộ, và không thể nào không kể đến những công trình kiến trúc duyên dáng (cầu cống, tòa nhà) mà chúng ta vẫn chiêm ngưỡng ngày nay. Nhưng ít ai chú ý rằng người Pháp còn để lại một di sản rất thực tế và vô cùng quan trọng: cái cầu tiêu (toilet).

Năm 1897, Paul Doumer, sau một thời gian làm Bộ trưởng Tài chánh không mấy sáng giá, được bổ nhiệm chức Toàn quyền Đông Dương. Dĩ nhiên, ‘Đông Dương’ lúc đó bao gồm Việt Nam, Lào, và Campuchea. Doumer chọn Hà Nội làm thủ đô của Đông Dương. Ngay từ lúc đặt chân đến Hà Nội, Doumer đã nghĩ ngay đến việc hiện đại hóa khu đô thị này. Ý tưởng là sẽ biến khu thị tứ này thành một thành phố hiện đại, văn minh, một Paris của phương Đông.

Image result for Đại lộ Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền) Hà Nội

Đại lộ Paul Bert (nay là phố Tràng Tiền) Hà Nội, vào đầu thế kỉ 20. Nguồn: http://www.atlasobscura.com

Ông cho xây dựng hàng loạt tòa nhà, cầu, đường. Một khu đô thị mới dành cho người Pháp, gọi là ‘quartier européen’, được hình thành. Khu này tọa lạc ngay bên cạnh khu 36 phố phường cũ và dơ bẩn. Hà Nội thời đó, dưới cái nhìn của người Pháp, là một nơi nhiều ao hồ, đường xá thì chủ yếu là đường đất, mỗi khi mưa xuống trở nên lầy lội, còn nhà cửa thì chủ yếu là những mái tranh lụp xụp, tồi tàn. Khu ‘quartier européen’ có đường xá rộng, cây xanh, và những villa màu trắng, đẹp và rộng rãi. Dĩ nhiên, villa là phải có toilet theo kiểu Tây. Cái toilet thời đó được xem là biểu tượng của sự sạch sẽ và văn minh phương Tây.

Mà, toilet thì phải có hệ thống cống rãnh tốt. Do đó, một trong những việc đầu tiên Doumer bắt tay vào làm là xây dựng hệ thống cống dưới lòng đất để giải quyết chất thải. Kết quả là một hệ thống cống dài hơn 14 km được xây dựng.

Nhưng hệ thống cống này cũng chính là cơ hội tuyệt vời cho chuột sinh sôi nẩy nở. Chuột sống trong các ống cống nhiều đến nỗi các quan chức thuộc địa Pháp phải quan tâm, bởi vì họ không muốn có những người khách không được mời vào thành phố. Vả lại, chuột là là mầm mống của bệnh tật, có thể gây đạ dịch rất nguy hiểm.

bai-hoc-tu-cuoc-tham-sat-chuot-o-ha-noi-dau-the-ky-20-2

Con chuột làm đau đầu các quan chức thuộc địa Pháp và họ phải phát động một chiến dịch săn diệt chuột vĩ đại vào đầu thế kỉ 21. Ảnh: http://www.atlasobscura.com

Chiến dịch săn diệt chuột

Họ nghĩ ra một cách diệt chuột rất thực tế là mướn người địa phương đi săn chuột. Người địa phương dĩ nhiên là người Việt. Đó là một công việc vô cùng khó nhọc, vì người săn chuột phải đi trong ống cống, với đủ thứ chất thải, phân người, xú uế, và phải đương đầu với những động vật nguy hiểm như rắn, rết. Nhưng vì được trả tiền, nên nhiều người nghèo sẵn sàng ‘đầu quân’ đi săn diệt chuột.

Chiến dịch săn diệt chuột được phát động vào mùa xuân năm 1902. Thoạt đầu, chiến lược này khá thành công. Tuần đầu tiên (26/4 đến 1/5/1902), số chuột được bắt là 7,985 con. Càng tham gia chiến dịch, các ‘quân sĩ’ săn diệt chuột càng có kinh nghiệm, hoàn thiện phương pháp, và năng suất của họ tăng rõ rệt. Từ tháng 6 trở đi, mỗi ngày họ bắt và tiêu diệt hơn 10,000 con chuột. Ngày 12/6/1903, ‘đội quân’ săn diệt chuột báo cáo đã tiêu diệt 20,114 con chuột.

Nhưng đội quân săn chuột bắt đầu không hài lòng. Họ nghĩ rằng số tiền được trả không tương xứng với môi trường làm việc phức tạp, công sức bỏ ra và những hiểm nguy họ phải đối phó. Tháng 7/1902, Bác sĩ Serez báo cáo với cấp trên rằng ông đang gặp vấn đề với người địa phương trong chiến dịch diệt chuột. Người Việt bắt đầu … đình công. Họ đòi tăng ‘lương’. Thế là nhà cầm quyền thuộc địa phải trả 2 cent cho mỗi con chuột bị giết. Dù vậy, các ‘chiến sĩ’ diệt chuột vẫn không hài lòng. Đến năm 1904, nhà cầm quyền tăng ‘lương’ lên 4 cent cho mỗi con chuột bị giết.

Thế nhưng dù thành công như vậy, dân số của chuột vẫn hơn số người đi săn lùng chúng. Để mở rộng chiến dịch tàn sát chuột, nhà cầm quyền không cần xem bằng chứng có chuột chết, mà chỉ cần bằng chứng cái đuôi chuột là cũng được trả tiền công. Lúc đó, vì số chuột bị giết nhiều quá, nên nhà cầm quyền không muốn xử lí xác chuột nữa mà giao cho người địa phương làm gì thì làm, và họ chỉ cần xem cái đuôi chuột như là bằng chứng để trả tiền công.

Nhưng nhà cầm quyền thuộc địa nhanh chóng nhận ra rằng chiến dịch đang thất bại. Trong lúc nhà cầm quyền treo giải diệt chuột, thì người địa phương cũng có cách moi tiền các nhà thuộc địa. Họ đem đến hàng ngàn đuôi chuột mỗi ngày để nhận tiền. Các viên chức Pháp khi đi tuần tra thấy những đoàn chuột không đuôi chạy quanh đường phố! Họ nhanh chóng nhận ra mánh khóe của những người Việt được đánh giá là rất giỏi trong việc săn diệt chuột. Mánh khóe đó là gian lận: những người này chỉ bắt chuột, cắt lấy đuôi, và thả chúng ngoài đường, chớ không diệt chuột. Họ thậm chí còn nuôi chuột để lấy đuôi cải thiện thu nhập, và sẵn sàng để cho chuột chạy đầy đường.

Các nhà chức trách thuộc địa bắt đầu chán nản với người Việt. Họ nghĩ rằng họ muốn làm sạch thành phố, muốn đem ánh sáng văn minh đến thành phố, nhưng họ bị lừa một cách có hệ thống. Hậu quả là dân số chuột càng ngày càng tăng, chớ không hề giảm. Thế là nhà cầm quyền thuộc địa chấm dứt chiến dịch săn diệt chuột. Chiến dịch đó đã hoàn toàn thất bại.

Dịch bệnh bộc phát

Trong thời gian đầu cai trị Đông Dương, các giới chức thực dân hầu như không biết gì về những bệnh vùng nhiệt đới. Trước những trận dịch đậu mùa, tiêu chảy, sốt xuất huyết, giang mai, v.v. họ chẳng biết làm gì hơn là dựng lên những hàng rào ngăn cách giữa người bản xứ và các quan chức thực dân.

Image result for Phố Hàng Mắm (Hà Nội) vào đầu thế kỉ 20. Ảnh: www.atlasobscura.com

Phố Hàng Mắm (Hà Nội) vào đầu thế kỉ 20. Ảnh: http://www.atlasobscura.com

Năm 1903, dịch hạch bộc phát ở Hà Nội. Đó cũng là năm mà Toàn quyền Paul Doumer muốn tổ chức một cuộc triển lãm (International Colonial Exposition) ở Hà Nội, vì ông muốn dùng dịp này để phô trương Hà Nội là thành phố văn minh, vệ sinh, một chiến thắng của chánh sách y tế công cộng. Nhiều hàng hóa và cargo khắp nơi trên thế giới đổ về Hà Nội, và đây lại thêm gánh nặng dịch bệnh cho Hà Nội vì những con chuột ngoại quốc đem theo mầm mống dịch bệnh đi theo những cargo hàng hóa. Quả thật, lúc đó dịch hạch đã lây nhiễm cho 159 người; trong số này 110 tử vong. Đa số nạn nhân là người Việt. Chỉ có 6 người Pháp bị nhiễm, và trong số này 2 người chết. Con số tử vong ở người Việt chắc chắn cao hơn, vì gia đình giấu diếm do sợ nhà cầm quyền đến kiểm tra và can thiệp.

Dịch hạch vẫn diễn ra trong những năm sau đó. Năm 1906, sự bộc phát của dịch hạch ở miền Bắc làm ảnh hưởng đến kinh tế. Rất nhiều người dân miền quê di tản lên Hà Nội, vô gia cư, ăn xin đầy các đường phố. Từ năm 1906 đến 1908, giới chức y tế thuộc địa ghi nhận 263 ca tử vong vì dịch hạch. Nhà cầm quyền bèn cho kiểm soát vệ sinh kĩ hơn ở khu 36 phố phường, và họ đã thành công giảm số ca dịch hạch, nhưng bệnh này vẫn là một nỗi ám ảnh họ trong những năm sau đó vì người địa phương không có thói quen vệ sinh cá nhân như nhà cầm quyền mong muốn.

Vấn nạn chuột vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay ở Hà Nội. Có lẽ vì do sự thất bại trong chiến dịch săn diệt chuột vào đầu thế kỉ 20, nên chuột vẫn sinh sôi nẩy nở ngay trong lòng thành phố Hà Nội. Chuột có mặt khắp nơi, từ thư viện, viện bảo tàng, đến nhà hàng và ngay tại đại sảnh của khách sạn. Chuyện kể rằng vào năm 1954, khi các nhà nghiên cứu mở catalogue tìm sách, họ phải cẩn thận vì đó là nơi trú ngụ của chuột, còn trong phòng đọc sách của thư viện thì các chú chuột cũng bận rộn đi lại như chỗ không người! Năm 1998, nhà cầm quyền Việt Nam đóng cửa các quán ăn bán thịt ‘tiểu hổ’ (mèo) vì nghĩ rằng dân số mèo giảm thì chuột sẽ hoành hành đồng lúa. Mặc dù có báo cáo là đã tiêu diệt được 55 triệu con chuột, nhưng chuột vẫn sống phây phây và gây phiền nhiễu cho dân chúng.

Nhìn lại

Năm 1902 Paul Doumer trở về Pháp, và sau này (1925) ông lại được bổ nhiệm chức Bộ trưởng Tài chánh. Năm 1931 ông được bầu làm Tổng thống Pháp. Tháng 5/1932, ông bị một người di dân gốc Nga mắc bệnh tâm thần bắn chết trong ngày hội sách ở khách sạn Hôtel Salomon de Rothschild. Khi về Pháp, ông được chào đón như một anh hùng vì những thành tựu nổi bậc chỉ trong một thời gian ngắn (5 năm) ở Đông Dương. Ông viết sách mô tả những việc làm ở Đông Dương và những thành công trong việc xây dựng cơ sở vật chất, chương trình thuế, nhưng ông không nhắc đến chiến dịch tàn sát chuột ở Hà Nội.

Trong phần cuối của bài viết, Michael Vann mỉa mai rằng một mặt người Pháp đã có những thành tựu lừng danh trong việc hiện đại hóa Việt Nam, nhưng cùng lúc hệ thống thuộc địa đó cũng ‘sản sinh’ ra những thế lực và cá nhân có khả năng lật đổ chế độ do người Pháp kiểm soát. Hệ thống giáo dục Pháp đã đào tạo một Võ Nguyên Giáp, người mà sau này trở thành một đối thủ lợi hại của Pháp. Chánh sách kinh tế mà người Pháp áp dụng ở Việt Nam đã hình thành một giai tầng trung lưu sau này cạnh tranh với các lợi ích của Pháp. Chiến dịch vĩ đại diệt chuột ở Hà Nội cũng cho thấy những mầm mống dẫn đến sự thất bại của cách cai trị của người Pháp ở Việt Nam. Sự thất bại đó được gieo trồng bằng sứ mệnh khai hóa trên một vùng phù sa đầy lạc quan.

Qua bài nghiên cứu của Vann, chúng ta có thể thấy ngay từ đầu thế kỉ 20, người Việt đã khá nhanh nhạy, có khả năng tổ chức ‘công đoàn’ và đình công đòi tăng lương. Nhưng chiến dịch săn diệt chuột cũng tiết lộ được tánh xấu của một số người Việt vào thời đó. Có lẽ vì những thói xấu đó mà nhà cầm quyền thuộc địa đã có những biện pháp và chánh sách mà ngày nay có thể hiểu là ‘không tin tưởng nhau’. Cái tâm lí ‘không tin tưởng nhau’ giữa người trị và bị trị vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, nên dẫn đến những thủ tục rườm rà và mang tính hành hạ.

===

(1) http://freakonomics.com/media/vannrathunt.pdf

Giao thoa thi ca và âm nhạc: kí ức Sài Gòn

Tôi trân trọng giới thiệu một người bạn của tôi, Nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên, và chương trình sinh hoạt văn nghệ đặc sắc của anh ở Sài Gòn. Chương trình có tên là ‘Giao thoa thi ca và âm nhạc’ diễn ra vào một ngày đầu tháng 1/2020, nhưng hôm đó tôi dự 2 hội nghị khoa học nên không tham dự được. Tiếc ghê! Nhưng buổi sinh hoạt văn nghệ được tường thuật bằng video và tôi xin post lại ở đây như là một cách giới thiệu.

Tiến sĩ Nguyễn Lê Tuyên là một nhạc sĩ thuộc nhóm ‘xưa nay hiếm’. Hiếm là vì anh chuyên về nhạc dân tộc nhưng mang tính hàn lâm, vừa là một nhà nghiên cứu và giảng viên âm nhạc. Anh tốt nghiệp tiến sĩ âm nhạc từ Đại học Quốc gia Australia — đại học số 1 của Úc và ‘top 50’ trên thế giới. Anh có công giới thiệu âm nhạc dân tộc Việt Nam đến Úc, và đã từng trình diễn một số chương trình. Ngoài đời, anh là người nho nhã, nhiệt tình, và lúc nào cũng trăn trở về quê hương. Anh có một trang blog cá nhân ở đây: https://nguyenletuyen.wordpress.com.

NVT

===

https://nguoidothi.net.vn/giao-thoa-thi-ca-va-am-nhac-ky-uc-cua-mot-sai-gon-tho-mong-22101.html

“Giao thoa thi ca và âm nhạc”: ký ức của một Sài Gòn thơ mộng

Chương trình “Giao thoa thi ca và âm nhạc” lấy cảm hứng từ ký ức lãng mạn siêu thực của một Sài Gòn thơ mộng độc đáo, sẽ diễn ra tại Salon Saigon (6D Ngô Thời Nhiệm, Quận 3, TP.HCM) vào lúc 19 giờ tối ngày 15.1.2020.

12 sáng tác nghệ thuật gồm các bài thơ của nhà thơ Hạnh Ngộ và các bản nhạc của soạn giả Nguyễn Lê Tuyên, với sự tham gia trình diễn của các nghệ sĩ piano trẻ đến từ Nhạc viện TP.HCM.

Trao đổi với Người Đô Thị, nhạc sĩ Nguyễn Lê Tuyên cho biết, những tác phẩm sáng tạo mới này được lấy chất liệu từ những thứ dung dị, bình thường trong đời sống hàng ngày của Sài Gòn, từ góc phố thân quen, những hàng cây xanh rợp bóng mát, những tiếng lá khô gió thổi bay trên đường, những cơn mưa bất chợt, dòng người xuôi ngược, những tiếng rao hàng rong, những con hẻm, những giao lộ, hay là ánh mắt nụ cười vô tình lướt qua nhau của những người xa lạ gặp gỡ ở Sài Gòn.

Nhà soạn nhạc Nguyễn Lê Tuyên và nhà thơ Hạnh Ngộ. Ảnh: TL


Đối với các sử gia, lịch sử của một thành phố được ghi chép bằng chữ viết, các công trình khảo cổ; đối với nhiếp ảnh gia, lịch sử được ghi bằng hình ảnh; đối với họa sĩ, kiến trúc sư lịch sử được ghi dấu bằng các tác phẩm hội họa, điêu khắc… Và với vai trò của nhà soạn nhạc, nhà thơ, lịch sử được viết bằng nốt nhạc và lời thơ.

Đây là điều mà mà cả nhà thơ Hạnh Ngộ và nhạc sĩ Lê Tuyên cùng tâm đắc: “Lời thơ ý nhạc chứa đựng những vết tích của quá khứ cùng những giấc mơ và khát vọng của hiện tại và tương lai. Đây là sự kết tinh của âm thanh, màu sắc, hình ảnh, của những sinh hoạt bình dị ở Sài Gòn, lồng ghép vào những bản piano được sáng tác theo phong cách cổ điển”.

Sự giao thoa của lời thơ và những nốt nhạc lấy cảm hứng về Sài Gòn mang thông điệp sâu hơn tên gọi của chương trình, nhạc sĩ Lê Tuyên chia sẻ.

Đối với những khán giả thuộc thế hệ đi trước, các tác phẩm sẽ đưa người nghe về một Sài Gòn trong quá khứ, níu kéo những kỷ niệm rất xa giờ có thể đã trở thành ảo ảnh và không còn tìm thấy hôm nay. Và cả một Sài Gòn tưởng đã thuộc về quá khứ nhưng vẫn tiếp nối đến hiện tại với bao thay đổi ngoài sự mong muốn của những người hoài cổ, và họ đang phải lãng mạn hóa thực tại, dù đó là điều rất khó chấp nhận, để tiếp tục yêu thành phố này hơn.

Còn với những người yêu Sài Gòn thuộc thế hệ thiên niên kỷ, những tác phẩm như là món quà từ quá khứ mà những người từng sống, cảm nhận về Sài Gòn nhiều thập niên trước mang tặng cho thế hệ sau, tạo cảm hứng cho thế hệ trẻ tự tin sáng tác các tác phẩm âm nhạc mang đậm tính lịch sử về một thành phố thân yêu nơi mình từng sống.

Salon Saigon – nơi diễn ra chương trình “Giao thoa thi ca và âm nhạc” là tòa nhà gia đình đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge Jr từng ở trong nhiệm kỳ tại Việt Nam (1963-1967). Ảnh: TL


Nhà thơ Hạnh Ngộ, sinh năm 1980, là hội viên hội Nhà văn TP.HCM và cũng là nhà biên kịch của nhiều phim truyền hình. Các tập thơ của chị đã được xuất bản gồm: Vang vọng (2004), Rơi ngược (2008), Nắng từ những ngón chân (2010), Thơ tình với Sài Gòn (2014) và Lặng soi (2019).

Nhạc sĩ Lê Tuyên, nhà soạn nhạc người Úc gốc Việt, Giảng viên Đại học quốc gia Australia và Uỷ viên ban sáng tạo nghệ thuật của Bộ Giáo dục New South Wales, cho biết sáu bản nhạc cho đàn piano đã từng được giáo sư về sáng tác Diana Blom trình diễn trong buổi ra mắt đầu tiên tại Playhouse Theatre, Western Sydney University Australia hôm 27.11.2019.

Chương trình đặc biệt này diễn ra tại một tòa nhà mang tính lịch sử của thành phố – Salon Saigon, cái tên được lấy từ ý tưởng liên quan đến sự tụ hội, tập trung lại một nơi từng nở rộ ở Pháp vào những năm thuộc thế kỷ 17-18. Tòa nhà là nơi mà gia đình đại sứ Mỹ Henry Cabot Lodge Jr từng ở trong nhiệm kỳ tại Việt Nam (1963-1967).

Hiện nơi này có chức năng không gian dành cho các sáng tác đương đại, như các triển lãm, trình diễn, hội thảo, chiếu phim hay các chương trình giáo dục, cũng như các bộ sưu tập liên quan đến văn hóa Việt Nam.

Chọn Salon Saigon làm không gian trình diễn “Giao thoa thi ca và âm nhạc”, những người thực hiện mong muốn mang đến cho người thưởng thức những món quà trọn vẹn về âm thanh, không gian, và lời thơ đậm chất Sài Gòn.

Kim Dung

 

Tình trạng bất định trong sự nghiệp khoa học: Sao trông giáo sư âu lo thế?

Trong cái nhìn của công chúng, những nhà khoa học đạt tới vị trí giáo sư là những người nhàn hạ ngồi trong tháp ngà, thỉnh thoảng đưa ra những ý kiến chẳng ăn nhập gì với thực tế. Nhưng trong thực tế ở các nước phương Tây, hầu hết những giáo sư đều rất vất vả và sự nghiệp của họ rất ư là chông chênh, bất định. Bài này của tôi trên Tuổi Trẻ chỉ để nói lên lời nói của người trong cuộc.

—-

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20191217/tinh-trang-bat-dinh-trong-su-nghiep-khoa-hoc-sao-trong-giao-su-au-lo-the/1549776.html

Thông thường, công chúng khi nhìn vào giới khoa học thường hình dung đó là một nhóm người khá lạ thường. Họ có vẻ lập dị, có thể bỏ cả đời để theo đuổi một vấn đề rất nhỏ nào đó chẳng có liên quan gì đến thực tế. Họ cũng viết bài báo, nhưng chẳng mấy người hiểu họ viết gì vì những từ ngữ có vẻ bí hiểm, xa rời thực tế. Thần thái thì lúc nào cũng có vẻ đăm chiêu suy nghĩ về một vấn đề nào đó mà người đối diện không rõ. Ngay cả cách họ ăn mặc trong labo cũng khác thường, chẳng khác gì thầy cúng sắp làm phận sự. Tóm lại, trong cái nhìn của công chúng, giới khoa học là những người bất bình thường.

Chẳng những bất thường mà còn có phần … vô dụng. Vô dụng vì họ nói năng bằng những chữ mang tính không chắc chắn (như ‘có thể’, ‘có lẽ’, ‘khả năng’). Họ nghiên cứu thì lệ thuộc vào tiền thuế của người dân, nhưng người dân – qua cái nhìn kinh tế – thì chẳng hưởng lợi ích bao nhiêu từ họ

Tuy nhiên, thần thái đăm chiêu và tính cách hơi bất thường đó có thể hiểu được, nếu công chúng chịu khó đi vào thế giới của hoạt động khoa học và lắng nghe tâm tư của họ. Bài này giúp bạn đọc “xâm nhập”’ vào thế giới riêng tư đó để giúp công chúng và giới khoa học cảm thông nhau hơn.

Nỗi niềm biết tỏ cùng ai

Ít ai biết rằng đằng sau những người làm nghiên cứu khoa học là vô số “nỗi niềm biết tỏ cùng ai”. Kể ra những nỗi niềm này thì cần đến một cuốn sách, nhưng ngắn gọn và trên hết là nhà khoa học thường phải đối diện với một tương lai bất định. Hôm nay mình còn tồn tại, được mời mọc đi đây đi đó, được bay xa và bay cao; ngày mai sẽ ra sao lại rất khó đoán được, vì tất cả phụ thuộc vào nguồn tài trợ. Mà, tài trợ thì càng không thể đoán trước được. Cái tương lai bất định và nỗi ám ảnh chông chênh đó đeo đuổi nhà khoa học từ lúc mới bước chân vào sự nghiệp nghiên cứu cho đến những ngày cuối sự nghiệp, thậm chí cuối đời.

Sau khi xong chương trình tiến sĩ, đa số nghiên cứu sinh phải tìm một vị trí hậu tiến sĩ (postdoc). Theo thống kê của Royal Society (Viện hàn lâm khoa học Anh), chỉ có 30% người tốt nghiệp tiến sĩ tìm được một vị trí hậu tiến sĩ. Và, chỉ có 10% hậu tiến sĩ còn tồn tại trong hệ thống nghiên cứu khoa học. Hơn thế nữa, chỉ có 3,5% trong số tốt nghiệp tiến sĩ tìm được việc làm nghiên cứu khoa học trong các đại học.

Tìm được vị trí hậu tiến sĩ không dễ chút nào, vì số vị trí thì ít mà số ứng viên thì nhiều. Các labo có tiếng chỉ tuyển nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ dựa vào công trình khoa học đã công bố. Không phải dựa vào là số lượng bài báo, mà là phẩm chất khoa học của bài báo và tập san. Một hay 2 bài trên các tập san lừng danh như Science và Nature vẫn chưa đủ. Đối với đa số đại học, có bài được xếp vào nhóm được trích dẫn cao (highly cited) cũng chưa đủ để đảm bảo một vị trí hậu tiến sĩ. Còn các labo khác thì ít ai chịu đọc lí lịch khoa học của ứng viên nếu không có ít nhất 5 bài trên tập san top trong chuyên ngành. Ngay cả tìm được một vị trí thì thời gian cũng chỉ 5 năm là tối đa, chớ không có cố định.

Từ hậu tiến sĩ đến chức vụ giáo sư đại học cũng là một con đường dài và gian nan. Chỉ có 0,45% (tức khoảng 5 người trên 1000) sau này trở thành giáo sư thực thụ. Số người thành giáo sư thực thụ và có labo độc lập lại còn hiếm hơn nữa. Thời gian từ khi tốt nghiệp tiến sĩ đến khi được bổ nhiệm giáo sư trung bình là 20 năm. Nhưng dù đã đạt được chức vụ giáo sư, ở rất nhiều đại học và viện nghiên cứu họ cũng không “an toàn”.

Chức vụ giáo sư thường có nhiệm kì chỉ 5 năm. Còn các nhà khoa học trong các viện nghiên cứu thì thời gian hợp đồng chỉ 1 năm. Sau 5 năm (hay 1 năm), họ phải chứng minh đã làm “được việc” để được tái bổ nhiệm. Không ít giáo sư không được tái bổ nhiệm, và tương lai thất nghiệp (hay nghỉ hưu sớm) là một viễn cảnh rất thật. Đó chính là lí do tại sao rất nhiều giáo sư thường có vẻ lo âu và … bất bình thường.

Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu

Tình trạng bất định trong khoa học ngày nay bắt nguồn từ vấn đề tài trợ cho nghiên cứu khoa học (thuật ngữ khoa học gọi là ‘grant’) mà tôi cần giải thích thêm. Nghiên cứu khoa học bắt đầu từ grant. Có grant thì mới có tiền. Có tiền thì mới mướn nhân viên cộng sự. Có nhân viên cộng sự thì mới thực hiện được nghiên cứu. Có nghiên cứu thì mới có bài báo khoa học. Có bài báo khoa học thì mới được hội nghị mời diễn thuyết. Có bài báo khoa học và có diễn giảng thì người ta mới tài trợ grant cho nghiên cứu. Do đó, vòng tròn nghiên cứu khoa học bắt đầu bằng cái grant, nhưng kết thúc cũng là … grant!

Có nhiều loại grant: tài trợ cho một công trình/ý tưởng nghiên cứu; tài trợ cho một chương trình nghiên cứu; tài trợ cho cơ sở vật chất; tài trợ cho cá nhân nhà khoa học (fellowship), v.v.

Fellowship là quan trọng nhất, vì qua đó mà nhà khoa học có lương bổng để tồn tại [thường là] 5 năm. Khi nhà khoa học tồn tại thì mới xin các grant khác, hay theo cách nói của người Việt là an cư rồi mới lạc nghiệp.

Nhưng thành công trong grant thì chẳng những rất cạnh tranh (trong số 2000 người đệ đơn chỉ có chừng 100 người được) mà nhiều khi kết quả gần như là một trò chơi xổ số. Ngay cả những khôi nguyên Nobel cũng không thể đoán được mình sẽ có grant trong năm tới hay không.

Nhiều nhà khoa học cấp cao mỗi năm phải bỏ ra rất nhiều thì giờ chỉ để viết grant. Có người nói rằng gần 70% thời gian của họ là chỉ để nghĩ ra ý tưởng mới và viết grant xin tài trợ. Nhưng tính trung bình, tôi nghĩ con số là khoảng 40-50%.

Do đó, trái với suy nghĩ của công chúng là giới khoa học chỉ ngồi trên tháp ngà suy nghĩ chuyện đâu đâu, trong thực tế họ bỏ ra rất nhiều thì giờ để viết. Không phải chỉ viết bài báo khoa học, mà phần lớn là viết grant xin tài trợ! Viết rất nhiều, nhưng tài trợ thì chẳng bao nhiêu. Như một bài hát là “Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu”.

Tiền khủng phải chi cho xuất bản và hội nghị

Ngay cả khi có may mắn nhận tài trợ thì lại phải chi cho rất nhiều khoản chi khác trong công bố khoa học và hội nghị mà người ngoài không thấy. Giáo sư Kathryn Rudy (nhà sử học Canada) liệt kê 7 khoản chi cho công tác phí, chi phí mua bản quyền bài báo hay hình, chi phí công bố sách, chi phí công bố bài báo khoa học, v.v.

Trong các khoản chi đó, tôi chú ý đến chi cho xuất bản sách. Bà viết rằng khi nộp bản thảo cuốn sách cho nhà xuất bản, họ đòi ấn phí 36.000 USD trước khi gửi ra ngoài để bình duyệt. Trong khoa học xã hội, xuất bản sách là một trong những tiêu chuẩn để được đề bạt chức vụ giáo sư, mà xuất bản sách với cái giá này thì quả thật là khó khăn cho họ.

Đối với khoa học thực nghiệm như chúng tôi thì xuất bản sách không quan trọng, nhưng chúng tôi phải chi nhiều khoản khác như hội nghị, xuất bản bài báo, lưu trữ dữ liệu. Dự hội nghị rất quan trọng, vì đó là hình thức duy trì sự hiện diện và cái mà giới đại học thường nói là ‘visibility’. Duy trì visibility cho labo nghiên cứu và cho cả viện/trường trên trường quốc tế giúp nâng cao hạng của đại học; do đó, các giáo sư thường phải có mặt trong các hội nghị quan trọng trong chuyên ngành.

Mỗi năm, tôi phải đi dự một số hội nghị quan trọng, thường là 3 hội nghị ở Âu châu, Mĩ, và Úc. Chi phí hội nghị ngày càng đắt đỏ: hơn 20 năm trước, chi phí ghi danh hội nghị ASBMR (khoảng 5000 người) chỉ chừng 150 USD, nhưng ngày nay là 600 USD.

Đi dự hội nghị là phải mua vé máy bay, và một chuyến đi Mĩ giá trung bình là 5000 USD. Ngoài vé máy bay, còn phải đặt phòng khách sạn, và mỗi hội nghị 5 ngày thì tiền phòng cũng xấp xỉ 1000 USD. Như vậy, chỉ 1 hội nghị thì chi phí cũng cỡ 7000 USD. Hội nghị Âu châu cũng có chi phí cỡ đó, nhưng hội nghị ở Úc thì chỉ chừng 2000 USD.

Nhưng đó là chi phí cho 1 cá nhân, chúng tôi còn phải lo chi trả cho thành viên của nhóm. Nếu nhóm có 3 người đi thì chi phí xấp xỉ 15,000 USD cho nước ngoài cộng với 5000 USD cho hội nghị địa phương. Tính trung bình, mỗi năm labo chúng tôi chi gần 20,000 USD chỉ cho hội nghị!

Ngoài chi phí hội nghị, giới khoa học còn phải trả ấn phí xuất bản. Làm nghiên cứu khoa học là phải công bố kết quả nghiên cứu. Ngày nay, công bố khoa học cũng phải trả ấn phí. Nếu tập san chuyên ngành do hiệp hội chuyên môn quản lí thì cái giá là khoảng 1000 USD mỗi bài. Nếu công bố trên các tập san Mở (Open Access) thì có thể dao động từ 1500-5000 USD. Tập san danh tiếng (như Nature, Cell) thì ấn phí (trên 5000 USD một bài) càng cao. Mỗi năm, tính trung bình labo tôi chi ra khoảng 10.000 USD cho xuất bản phí. Tất cả những chi phí đó đều lấy từ các grant tài trợ cho nghiên cứu. Do đó, một lần nữa, vai trò của grant rất ư quan trọng.

Nhà khoa học = nhà ngoại giao + quản lí

Mỗi labo nghiên cứu khoa học ngày nay có thể xem như là một doanh nghiệp nhỏ. Trong cái doanh nghiệp đó, giám đốc là giáo sư hay người đứng đầu labo; vận hành khoa học và thí nghiệm là các hậu tiến sĩ; “công nhân” là các nghiên cứu sinh. Tất cả tiền điện, nước, in ấn, vệ sinh…labo đều phải trả tiền cho viện nghiên cứu hay trường đại học. Một labo nho nhỏ (5 người) thì chi phí này có thể lên đến 20.000 USD. Tất cả các tiền này cũng phải trích từ grant được tài trợ.

Do đó, nhà khoa học ngày nay không chỉ đơn thuần làm nghiên cứu khoa học, mà còn phải … hơn thế nữa. Cái ‘hơn thế nữa’ ở đây bao gồm khả năng quản lí và khả năng ngoại giao. Quản lí cơ sở vật chất, quản lí nhân sự, quản lí ngân sách, quản lí các mối liên hệ là những kĩ năng không thể thiếu được của một nhà khoa học. Quản lí tài chánh càng ngày càng trở thành một kĩ năng vô cùng quan trọng vì nếu làm không tốt thì rất dễ bị … sạt nghiệp. Kĩ năng ngoại giao vô cùng quan trọng, vì nói cho cùng nhà khoa học phải sống trong ‘bộ lạc’, và làm quen với các nhân vật quan trọng trong bộ lạc là kĩ năng sống còn.

Cạnh tranh dữ dội

Hầu hết các nhà khoa học chọn nghiệp nghiên cứu đều đối diện với một tương lai bất định suốt đời. Tình trạng bất định xuất phát từ nguồn tài trợ cho khoa học càng hiếm và cạnh tranh rất cao. Dĩ nhiên, những người có lương từ các đại học thì tình trạng bất định không nghiêm trọng (vì họ có lương ổn định) như các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu độc lập. Nhưng ngay cả các giáo sư đại học cũng thích có fellowship vì có tài trợ đó họ không lệ thuộc vào trường đại học mà còn có ‘prestige’ trong chuyên ngành. Fellowship là một dạng của grant.

Để biết tính cạnh tranh như thế nào, có thể xem qua vài con số về công bố khoa học trong đợt tài trợ fellowship vừa qua của Hội đồng Quốc gia về Y tế và Y khoa Úc (NHMRC). Có 2 loại fellowships chính: loại dành cho các nhà khoa học sau tiến sĩ 10 năm (gọi là EL) và loại dành cho các nhà khoa học cấp phó giáo sư trở lên (tức đã ‘thành danh’).

Để có một fellowship loại EL ứng viên phải có ít nhất 30 bài báo khoa học trong lí lịch và những bài báo này phải có tác động ít nhất là 2 lần so với trung bình. Ứng viên loại ‘thành danh’ phải có ít nhất là 100 bài báo khoa học, và tác động nghiên cứu phải cao ít nhất là 3 lần trên trung bình.

Ba phần tư ứng viên rớt trong giai đoạn đầu tuyển chọn; chỉ có 25% vào vòng ‘chung kết’, và chỉ có 11% trong số vào vòng chung kết đạt được fellowship. Do đó, cường độ cạnh tranh để có grant dạng fellowship rất cao, và giới khoa học gốc Á châu hay nữ thường bị thiệt thòi.

Đấy là những lý do khiến giới khoa học cấp giáo sư nom có vẻ ‘bất thường’, mà lí do đơn giản và gần nhất là họ phải lo đến tương lai mất việc do không có grant – tài trợ. Nhưng bài viết cũng muốn nhắn đến các bạn đang theo học tiến sĩ hay đang làm nghiên cứu hậu tiến sĩ nên lưu tâm đến tình trạng bất định trong sự nghiệp khoa học.

Đã chọn sự nghiệp nghiên cứu thì phải biết trước tình trạng này và chuẩn bị cho sự chông chênh trước mặt. Nói như vậy không có nghĩa là không chọn sự nghiệp nghiên cứu, vì chọn lựa là quyết định cá nhân. Ai cũng muốn thành công trong sự nghiệp, nhưng thành công chỉ đến với những người chọn con đường khó khăn và chông gai, chớ không bao giờ đến với những người lựa chọn con đường trơn tru.

Tỉ lệ tử vong trong dịch Vũ Hán là bao nhiêu?

Câu trả lời ngắn là không biết. Không ai biết. Câu trả lời dài là chủ đề của cái note ngắn này mà tôi xin chia sẻ cùng các bạn quan tâm. Hiện nay, theo báo cáo của nhà cầm quyền Tàu, cứ 100 người bị nhiễm virus corona thì có chừng 2 người tử vong. Đa số những ca tử vong là nam giới, cao tuổi, và có những bệnh đi kèm. Thông tin mới nhứt là khả năng lây nhiễm trong bệnh viện là khá cao (~40%).

So sánh tỉ lệ tử vong liên quan đến nhiễm coronavirus trong 3 trận dịch MERS, SARS và Wuhan. Số liệu tính trên case fatality rate.

𝑻𝒊̉ 𝒍𝒆̣̂ 𝒄𝒂 𝒕𝒖̛̉ 𝒗𝒐𝒏𝒈 (𝒄𝒂𝒔𝒆 𝒇𝒂𝒕𝒂𝒍𝒊𝒕𝒚 𝒓𝒂𝒕𝒆, 𝑪𝑭𝑹)

Theo số liệu của WHO (mà worldmeters chịu khó phân tích), tính đến ngày 6/2, tổng số ca báo cáo bị nhiễm là 31,349. Trong số này, số ca tử vong được báo cáo là 638, tức khoảng 2% trên tổng số ca nhiễm (1). Con số này dĩ nhiên được ước tính trong khoảng thời gian theo dõi, tức đầu tháng 1/2020 đến nay. (Ước tính chính xác phải dùng phương pháp Kaplan Meier và đòi hỏi phải có ngày chẩn đoán, ngày tử vong cho MỖI cá nhân, nhưng dữ liệu này sẽ không bao giờ có được trong qui mô cộng đồng).

Biểu đồ bên trái thể hiện số ca nhiễm virus corona (do nhà cầm quyền Tàu báo cáo). Biểu đồ bên phải là số ca tử vong. Đường màu xanh là số ca tích lũy; đường màu đỏ là số ca phát sinh mỗi ngày. Chú ý số ca nhiễm hàng ngày có vẻ suy giảm trong 4 ngày qua. Nguồn: https://www.worldometers.info/coronavirus

Dĩ nhiên, con số CFR này sẽ thay đổi theo thời gian. Câu hỏi đặt ra là khoảng tin cậy 95% của CRF là bao nhiêu, tức thay đổi trong khoảng nào. Bạn nào thích thống kê thì đây là bài tập có ý nghĩa. Dựa vào phân bố nhị phân (binomial distribution) và phương pháp likelihood ratio test, các bạn có thể tính khoảng tin cậy 95% dao động trong khoảng 1.9% đến 2.2%. Nói cách khác, nếu số liệu báo cáo là đúng, thì chúng ta kì vọng rằng tỉ lệ tử vong có liên quan đến virus corona sẽ dao động trong khoảng 1.9 đến 2.2%.

Nhưng theo worldometers thì tỉ lệ tử vong này khá khác biệt giữa các địa phương. Hiện nay, tuyệt đại đa số ca tử vong xảy ra ở bên Tàu, chủ yếu là tại Vũ Hán, tâm của dịch bệnh lần này. Tỉ lệ tử vong ở Vũ Hán là 4.9%, của tỉnh Hồ Bắc 3.1%, và của cả nước (Tàu) 2.1%. Còn ở các tỉnh thành khác, tỉ lệ tử vong được ghi nhận là 0.16%.

Hai cách đánh giá tỉ lệ 2%

Có thể lí giải con số 2% là thấp hơn thực tế. Bởi vì thời gian ủ bệnh trung bình là 14 ngày, và thời gian trung bình để người bị nhiễm có triệu chứng là 7 ngày, chúng ta có thể lí giải rằng tỉ lệ 2% này thấp hơn thực tế. Nếu giả định thời gian 7 ngày để có triệu chứng, thì tỉ lệ tử vong có thể khoảng 5%.

Nhưng chúng ta cũng có thể lí giải tỉ lệ 2% là cao hơn thực tế. Tỉ lệ tử vong theo định nghĩa của CFR không hẳn là chỉ số lí tưởng để đánh giá mức độ độc hại của virus. Lí do là chúng ta không biết số ca bị nhiễm thật sự là bao nhiêu. Số ca mà nhà cầm quyền báo cáo là số ca nhập viện, và do đó họ có thể làm thống kê. Nhưng cứ 10 người bị nhiễm, thì chỉ có 1 người nhập viện (theo ước tính của nhóm Hồng Kông), nên số bị nhiễm trong thực tế nhiều hơn con số 30,000. Do đó, tỉ lệ tử vong nếu tính dựa trên số bị nhiễm ngoài cộng đồng thì có thể tỉ lệ (CFR) chỉ chừng 0.2% (?)

Chúng ta học từ lịch sử. Năm 2009, khi H1N1 pandemic xảy ra, lúc đầu người ta ước tính tỉ lệ tử vong là 7% (59 tử vong trên 850 ca nghi ngờ bị nhiễm). Nhưng sau đó vài tháng khi dữ liệu trở nên đầy đủ hơn (vì số ca nhẹ không báo cáo), tỉ lệ tử vong được ước tính là 0.1%, tức tương đương với cúm mùa.

𝑨𝒊 𝒄𝒐́ 𝒏𝒈𝒖𝒚 𝒄𝒐̛ 𝒕𝒖̛̉ 𝒗𝒐𝒏𝒈 𝒄𝒂𝒐?

Vẫn theo báo cáo của nhà cầm quyền Tàu và chỉ phân tích dựa trên số người tử vong, thì xu hướng hiện khá rõ như sau.

• Nam giới: 2/3 ca tử vong là nam giới;

• Cao tuổi: 80% các ca tử vong là trên 60 tuổi;

• Có bệnh đi kèm: 3/4 các ca tử vong đã mắc những bệnh như tim mạch, tiểu đường, và một số ung thư.

• Viêm phổi: đặc biệt bệnh nhân có tiền sử viêm phổi có nguy cơ tử vong cao, bất kể có nhiễm hay không nhiễm virus corona.

Một phân tích chi tiết về các yếu tố liên quan đến tử vong của 17 ca bị nhiễm lúc ban đầu (tất cả đều là cư dân Vũ Hán) cho thấy (3):

• Đa số là nam giới (13/17)

• Tuổi trung bình: 75 (range: 48-89)

• Thời gian từ lúc triệu chứng biểu hiện đến chết: 14 ngày (6-41)

• Người càng cao tuổi, thời gian chết càng … nhanh.

Xác suất tử vong tính từ ngày nhiễm 2019nCoV đến chết. Tính trung bình, thời gian từ lúc chẩn đoán đến tử vong là 14 ngày. Số liệu tính trên 17 ca tử vong được báo cáo trong bài báo https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/10.1002/jmv.25689?af=R.

Một điều cần phải nhấn mạnh (và nhiều chuyên gia dịch tễ đã nói nhiều lần): không phải tất cả các ca tử vong là chỉ do coronavirus gây ra. Nói cách khác, coronavirus không hẳn là nguyên nhân của tất cả ca tử vong. Có thể ví von theo kiểu súng ống rằng bệnh đi kèm là ‘lên nòng’ và 2019nCoV là nhân tố bóp cò súng.

Xin giải thích thêm một chút để các bạn hiểu vấn đề. Có nhiều yếu tố dẫn đến cái chết, chớ không phải chỉ 1 yếu tố (3), và do đó rất khó xác định nguyên nhân tử vong. Chẳng hạn như một người cao tuổi bị COPD, và trong khi đi chợ bị vấp té và gãy cổ xương hông (femoral neck fracture — phải viết vậy, chứ nếu không mấy ông orthopedics phàn nàn) và sau đó 2 tuần thì chết, chúng ta không thể nói gãy xương là nguyên nhân của tử vong. Tương tự, chúng ta không thể nói coronavirus là nguyên nhân dẫn đến tử vong của một người khi người đó đang mắc bệnh tim mạch. Ít ai biết rằng đối với nghiên cứu khoa học, những gì bác sĩ viết trên chứng chỉ tử vong không có ý nghĩa khoa học. Do đó, nguyên tắc khoa học chỉ cho phép chúng ta nói “tử vong có liên quan đến coronavirus”, hay nói theo tiếng Anh là “mortality associated with 2019-nCoV” (ai học về cách viết bài báo khoa học chắc chắn đã quen với câu văn này).

𝑵𝒈𝒖𝒚 𝒄𝒐̛ 𝒍𝒂̂𝒚 𝒏𝒉𝒊𝒆̂̃𝒎 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 𝒃𝒆̣̂𝒏𝒉 𝒗𝒊𝒆̣̂𝒏

Một bác sĩ hỏi có nghiên cứu nào về nguy cơ lây nhiễm trong bệnh viện. Câu hỏi rất thiết thực và hay. Câu trả lời là có một nghiên cứu từ Vũ Hán mới công bố trên JAMA ngày hôm nay (4). Nghiên cứu này quan sát 138 bệnh nhân (tuổi trung vị 56).

Kết quả cho thấy trong số 138 bệnh nhân nằm viện thì 57 người (41%) nghi ngờ là nhiễm trong bệnh viện. Trong số 57 người này, 17 người trước đây nhập viện vì lí do khác, và 40 người là y tá và bác sĩ. ­Tỉ lệ tử vong tính chung là 4.3% (n=6). Tác giả kết luận rằng nguy cơ lây nhiễm nCoV2019 [chỉ nghi ngờ] trong bệnh viện là khá cao (41%).

Điều thú vị trong bài báo này là tỉ lệ nhiễm giữa nam và nữ gần 50/50. Nhưng nam thì có nguy cơ chết cao hơn nữ.

𝓣𝓸́𝓶 𝓵𝓪̣𝓲:

Tỉ lệ tử vong tính theo ‘case fatality rate’ hiện nay là 1.9 đến 2.2%, nhưng trong thực tế có thể chỉ bằng 1/10 con số này, hoặc cao hơn khoảng 3%. (Tỉ lệ tử vong trong trận dịch SARS là 10%, MERS 35%).

Coronavirus có liên quan đến – chớ không hẳn là nguyên nhân của — các ca tử vong. Đa số bệnh nhân tử vong là nam giới, cao tuổi và có những bệnh đi kèm.

Yếu tố làm tăng nguy cơ tử vong, ngoài nhiễm coronavirus, là bệnh tiểu đường, tim mạch, và tiền sử viêm phổi.

Ở bệnh viện, tỉ lệ lây nhiễm có thể ~40%, đa số là y bác sĩ. Điều này rất đáng quan tâm cho nhân viên y tế.

===

(1) https://www.worldometers.info/coronavirus

(2) Một báo cáo công bố trên J Med Virology (29/1/2020) thống kê các yếu tố liên quan đến 27 bệnh nhân được chẩn đoán nhiễm coronavirus (tính đến ngày 31/12/2019), tất cả đều là cư dân Vũ Hán. Tuy nhiên, thông tin tương đối đầy đủ chỉ có cho 17 người.

(3) Trên phương diện khoa học, định nghĩa ‘chết’ không hề đơn giản, nhưng trong lâm sàng thì người ta xem chết là khi các cơ phận quan trọng cho sự sống ngừng hoạt động, hay nói ngắn gọn cho dễ hiểu là ngưng thở. “Cơ phận quan trọng cho sự sống” ở đây là “an absence of spontaneous respiratory and cardiac functions.”

(4) https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2761044

Tôi và Chương trình “Người Việt Bốn Phương”

Phóng viên cho tôi biết hôm 9/1/2020 vừa qua, đài truyền hình VTC trình chiếu chương trình về … tôi. Chính xác là một chương trình trò chuyện và phóng sự về những việc làm của tôi ở Việt Nam trong chương trình “Người Việt Bốn Phương”. Tôi xin có đôi dòng bị chú để khán giả hiểu thêm …

Một hôm vào khoảng tháng 7/2019, tôi nhận được một tin nhắn (không nhớ của ai) từ ĐH Tôn Đức Thắng rằng đài VTC10 muốn làm một chương trình phóng sự về tôi. Ah không, chính xác là về những việc làm của tôi ở Việt Nam trong suốt hơn 20 năm qua. Nhận được tin nhắn như vậy làm tôi phân vân. Ở Úc thì tôi có xuất hiện trên tivi quốc gia chừng 5 lần, mỗi lần chỉ cao lắm là 1 phút để trả lời phỏng vấn. Còn ở Việt Nam, tôi rất ít xuất hiện trên tivi, mà mỗi lần xuất hiện là tôi không muốn nhìn lại mình. J Nói không thông. Hình ảnh không như mình mong muốn. Nói chuyện mà phải nhìn chung quanh vì có quá nhiều người đang bấm nút ghi hình và theo dõi, làm cho mình kém tự nhiên. Có khi mình nhìn thẳng, mà chẳng hiểu sao chiếu lên màn hình thì mình nhìn xéo. J Nói chung là tôi không phải là người ăn hình trên tivi. Tuy nhiên, chẳng hiểu sao và cơ duyên nào xui khiến mà tôi nói ‘Yes’ với nhã ý của VTC.

Nhận lời rồi đâm ra lo. Lo lắng là chẳng biết phóng viên sẽ hỏi gì. Có lẽ tôi không ngại câu hỏi, mà chỉ ngại những nội dung mà tôi cho là ‘cảm tính’ (kiểu như ‘yêu nước’, ‘quê hương’, ‘hi sinh’, v.v.) vì tôi không thuộc típ người đó. Tôi cũng không thuộc típ người kể công, bởi vì tôi quan niệm rằng mình làm hết mình khi còn sống, làm bất cứ việc gì thấy có lợi cho bà con và đồng nghiệp, còn ai hưởng được những gì mình cống hiến thì đó là chuyện tương lai. Tôi cố gắng chuyển tải ý tưởng đó, nhưng đồng thời tránh kiểu nói ‘thành công’. Tôi thuộc tín đồ của câu châm ngôn ‘làm người hữu dụng hơn là làm người thành công’.

Thế rồi tôi được chuyển cho một phóng viên rất xinh tên là T.T.X. Cô này thật ra chỉ chừng tuổi cháu gái tôi mà thôi, nhưng có lẽ là dân báo chí nên rất khá năng nổ hơn những cô cùng tuổi. Rồi phải liên lạc qua lại khá lâu mới sắp xếp được lịch quay phim. Ngày quay phim được quyết định là thời gian tôi về giảng ở Bịnh viện Chợ Rẫy và dự Hội nghị Đau Thần Kinh do Gs Nguyễn Thi Hùng tổ chức. Lúc đó là tuần đầu của Tháng 8 năm 2019.

Cảnh quay phim xoay quanh 3 nơi: khuôn viên ĐH Tôn Đức Thắng, ĐH Y khoa Phạm Ngọc Thạch, và Bịnh viện Chợ Rẫy. Ở ĐH Tôn Đức Thắng hôm đó là ngày khai mạc Trường học Việt Nam – Phần Lan (VFIS), và tôi là một khách mời (vì tôi là thành viên lãnh đạo của Hội đồng Khoa học và Đào tạo của Đại học). Hội nghị Đau Thần Kinh được tổ chức tại ĐH Phạm Ngọc Thạch. Đó chính là lí do tại sao tôi mặc veston, và chỉ có một bộ thôi J (đi công tác xa mà, nên đâu thoải mái được). Còn tại Bịnh viện Chợ Rẫy thì hôm đó là chương trình CME về phương pháp nghiên cứu cho chừng 170 bác sĩ khắp nước, rất vui. Một số học viên trong lớp được phỏng vấn để họ nhận xét về tôi.

Sau những lần quay phim là phỏng vấn. Phỏng vấn được thực hiện tại Thư viện ĐH Tôn Đức Thắng. Đó là một khung cảnh rất tuyệt vời cho phỏng vấn. Hôm đó, tôi hơi lúng túng vì quá nhiều ánh đèn, các chuyên gia quay phim vây quanh, v.v. làm tôi ‘khớp’. Trong lúc trả lời phỏng vấn tôi nhìn vào ống kính, nhưng bị người quay phim bảo phải nhìn thế này, nhìn thế kia, rồi biểu cảm nữa. Bây giờ tôi mới biết đóng phim là rất khó!

Nhân dịp này, tôi xin chân thành cám ơn các bạn và đồng nghiệp: PGS TS Lê Anh Thư (Chủ tịch Hội Loãng Xương TPHCM); PGS TS Nguyễn Thi Hùng (Chủ tịch Hội Đau TPHCM); TS Thi Ngọc Bảo Dung (ĐH Tôn Đức Thắng, người ‘đạo diễn’ hôm quay tại Trường); GS TS Nguyễn Thời Trung (Phó hiệu trưởng ĐH Tôn Đức Thắng); TS Hà Tấn Đức (Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Cần Thơ); các bạn bác sĩ ở Chợ Rẫy đã sắp xếp việc quay phim, và cám ơn các em bác sĩ trong nhóm nghiên cứu VOS đã giúp đỡ. Trân trọng cám ơn các bạn đã bỏ thì giờ trả lời phỏng vấn và có những chữ đẹp về tôi. Tình cảm của các bạn làm tôi xúc động.

Sau cùng, tôi xin chân thành cám ơn phóng viên Trần T. Xuân đã có nhã ý làm một chương trình về những việc tôi làm và chịu khó đi theo tôi đến những chỗ ‘xa lạ’ để quay phim. Mỗi người có một chương trình để đời, và chương trình này đối với tôi là vậy.

Dự báo 3 viễn cảnh cho dịch Vũ Hán

Một trong những câu hỏi mà nhiều người hay đặt ra là dịch Vũ Hán sẽ … đi về đâu. Trong khi tình trạng dịch vẫn còn bộc phát đây đó, rất khó có câu trả lời. Tuy nhiên, giới khoa học thì hay thích làm dự báo, và dự báo chung là dịch Vũ Hán sẽ tiến triển theo 3 chiều hướng: 1 năm hoành hành; hoặc tàn lụi; hoặc hòa nhập vào các chủng virus hiện hành.Pandemic hay epidemic?

Đánh giá nguy cơ dịch Vũ Hán qua chỉ số “Relative import risk”. Việt Nam có nguy cơ thấp so với Thái Lan, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông.

Nguồn: http://rocs.hu-berlin.de/corona/docs/analysis/importrisk

Nhưng trước hết cần phải xác định thuật ngữ cho đúng. Một số người cho rằng dịch Vũ Hán là ‘pandemic’, nhưng điều này không đúng. Có hai thuật ngữ chánh để mô tả dịch bệnh: epidemic và pandemic. Epidemic dùng để mô tả dịch bệnh xảy ra chủ yếu ở một địa phương và ảnh hưởng nhiều người ở địa phương đó. Còn pandemic là dịch bệnh xảy ra trên bình diện toàn cầu, như trận đại dịch 1918. Hiện nay, dịch Vũ Hán chỉ có thể xem là epidemic mà thôi, vì nó chỉ ảnh hưởng chủ yếu ở một thành phố bên Tàu. Dịch Vũ Hán không (hay chưa) là pandemic.

Chưa có chứng cứ gì để nói rằng Việt Nam đang có epidemic (chứ chưa nói gì đến pandemic). Các chuyên gia Đức dựa vào dữ liệu thực tế cũng cho thấy VN có nguy cơ thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Hồng Kong, Singapore, Hàn Quốc (xem hình). Nhưng trên facebook và phát biểu của vài người trong Chánh phủ thì người ta có cảm giác như Việt Nam đang có epidemic Vũ Hán!

Theo dữ liệu thu thập bởi New York Times thì số ca nhiễm 2019-nCoV nay đã lên đến hơn 14,000 (1). Đa số (99%) là từ Tàu, và chủ yếu là ở Vũ Hán. Điều này có thể giải thích được vì Vũ Hán là trung tâm thương mại lớn và nơi trung chuyển của các hãng hàng không quốc tế. Con số này đã vượt qua con số SARS của 17 năm trước. Nhưng tốc độ tăng trưởng (xem hình) thì nhanh hơn SARS. Sự gia tăng số ca có thể là, ngoài gia tăng thật sự về số ca nhiễm, còn do phương tiện xét nghiệm được cung cấp cho địa phương nhiều hơn. (Cần nói thêm rằng có những xét nghiệm dương tính giả).

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là 2019-nCoV nguy hiểm hơn SARS. Tỉ lệ tử vong liên quan đến 2019-nCoV hiện nay (dù số liệu chưa đầy đủ) chỉ dao động trong khoảng 1.5 – 3% (so với SARS là 16%). Đa số các ca tử vong là nam giới, cao tuổi (trên 70), và có những bệnh lí mãn tính đi kèm như tiểu đường, tim mạch, hô hấp.

Số ca nhiễm 2019-nCoV nay (1/2/2020) đã lên đến hơn 14,000, cao hơn và nhanh hơn dịch SARS trước đây. Đa số (99%) là từ Tàu, và chủ yếu là ở Vũ Hán. Sự gia tăng số ca có thể là, ngoài gia tăng ca bệnh thật sự, còn do phương tiện xét nghiệm được cung cấp cho địa phương nhiều hơn.

Nguồn: https://www.nytimes.com/interactive/2020/world/asia/china-coronavirus-contain.html

Ba viễn cảnh cho 2019-nCoV

Câu hỏi đặt ra là dịch Vũ Hán sẽ tiến triển như thế nào. Giới khoa học nghĩ đến 3 viễn cảnh (2), và tôi tóm tắt dưới đây để chia sẻ cùng các bạn quan tâm:

Viễn cảnh 1: dịch Vũ Hán sẽ được kiểm soát sau 1 năm. Hiện nay, theo báo cáo thì đã có hơn 10,000 ca bị nhiễm (kể cả một số là dương tính giả) siêu vi khuẩn 2019-nCoV, chủ yếu (99%) là bên Tàu. Con số này đã vượt qua số ca bị nhiễm trong trận dịch SARS năm 2003. Theo một dự báo công bố trên Lancet thì số ca nhiễm sẽ lên đến 75,800 người (tính đến ngày 25/1/2020). Chúng ta không bao giờ biết chính xác số ca bị nhiễm, nhưng dự báo là sẽ khoảng 100,000 người.

Dịch bệnh truyền nhiễm sẽ chấm dứt khi nào giới khoa học có vaccine đặc chủng. Nhưng cho đến nay thì thế giới chưa có vaccine cho siêu vi khuẩn 2019-nCoV. Tuy hiện nay đã có vài thử nghiệm vaccine, nhưng cũng phải chờ ít nhứt là 1 năm để vaccine có mặt trên thị trường. Do đó, chỉ còn một biện pháp kiểm soát tốt nhứt là y tế công cộng (public health). Nhiều nước đã triển khai một số biện pháp như khu trú và phong tỏa ổ dịch, tầm soát và phát hiện sớm, hay thậm chí biện pháp mạnh như không tiếp nhận du khách từ Tàu (Úc và Mĩ).

Trước đây, dịch SARS xảy ra vào tháng 2/2003, và các biện pháp can thiệp y tế công cộng được triển khai nhanh chóng. Đến giữa tháng 7/2003 thì đa số các nước tuyên bố là đã dứt dịch, và đến đầu năm 2004 thì SARS coi như chấm dứt. Do đó, với biện pháp y tế công cộng như hiện nay, dịch Vũ Hán có thể sẽ còn với chúng ta cho đến cuối năm 2020.

Tỉ lệ tử vong (trục tung, log scale) và số người bị nhiễm Hiện nay, tỉ lệ tử vong liên quan đến vi khuẩn 2016-nCoV là khoảng 1.5-3%, thấp hơn SARS (16%), nhưng số liệu chưa đầy đủ. Đa số ca tử vong là ở người cao tuổi, nam giới, và có bệnh lí mãn tính đi kèm.

Nguồn: https://www.nytimes.com/interactive/2020/world/asia/china-coronavirus-contain.html

Viễn cảnh 2: 2019-nCoV sẽ ‘mệt’ sau khi lây nhiễm đa số những người có nguy cơ cao. Đó là trường hợp đã xảy ra với dịch Zika 2016, thoạt đầu chúng lây nhiễm rất nhiều người (hơn 35000 ca), nhưng đến khi kí chủ không còn bao nhiêu thì dịch bắt đầu suy giảm. Mặc dù các giới chức y tế cho biết Zika vẫn còn đó, nhưng chúng không còn lan nhiễm như trước đây.

Giới dịch tễ học xem dịch bệnh truyền nhiễm như lửa; mà trong đó virus là ngọn lửa và con người là củi. Đến một lúc nào đó thì ngọn lửa sẽ tàn khi củi không còn nữa. Tương tự, dịch bệnh truyền nhiễm sẽ ‘tàn lụi’ khi virus không tìm thấy người lí tưởng để nhiễm.

Viễn cảnh 3: siêu vi khuẩn 2019-nCoVsẽ trở thành một trong đại gia đình virus thông thường với chúng ta. Giới truyền nhiễm học cho biết siêu vi khuẩn H1N1 trước đây (2009) bùng phát thành một đại dịch (pandemic), nhưng sau một thời gian thì nó trở thành một phần của quần thể virus sống chung với cộng đồng con người. Hiện nay, đã có 4 chủng coronavirus sống chung với cộng đồng con người và gây ra cảm cúm mỗi năm. Mặc dù chúng ta chẳng ai muốn có thêm siêu vi khuẩn corona, nhưng chúng ta cũng khó có thể tiêu diệt chúng hoàn toàn, và có thể chúng ta phải chấp nhận sống chung với một thành viên thứ 5 trong gia đình coronavirus.

Tôi nghĩ viễn cảnh 3 là thực tế nhứt. Nhiễm trùng là hệ quả của sự cạnh tranh vì sinh tồn giữa hai sinh vật: giữa kí sinh vật và kí chủ. Cần nhấn mạnh rằng vi khuẩn là những sinh vật, và vì thế chúng đã, đang và sẽ tồn tại trong môi trường sống và ‘song hành’ cùng chúng ta chừng 3 tỉ năm. Hiện nay, theo Gs Stefan Kaufmann (chuyên gia về vi sinh học), chúng ta sống chung với khoảng 500,000 đến 1 triệu bacteria và 5000 virus species (đa số chúng ta không biết gì về chúng). Ấy vậy mà năm 1969, Bộ trưởng y tế Mĩ, William H. Stewart, tuyên bố rằng “Bây giờ chúng ta có thể nói rằng bệnh truyền nhiễm đã được khống chế hoàn toàn. Đã đến lúc chúng ta đóng sổ căn bệnh này.” Thế nhưng sức mạnh của chọn lọc tự nhiên đã làm cho lời tuyên bố đó trở thành khôi hài! Thực tế phũ phàng là chúng có khả năng thích nghi với bất cứ hóa chất nào mà con người dùng để tiêu diệt chúng. Vấn đề không phải là khử trừ tất cả bacteria và virus từ môi trường (vì điều này hoàn toàn phi thực tế), mà tìm cách giảm thiểu nguy cơ bị nhiễm thấp nhất và sống chung hòa bình với chúng (3).

===

(1) https://www.nytimes.com/interactive/2020/world/asia/china-coronavirus-contain.html

(2) https://www.vox.com/science-and-health/2020/1/31/21115109/coronavirus-outbreak-end-sars-comparison

(3) Phòng chống bệnh truyền nhiễm ở những nước như Việt Nam và Tàu rất khó. Nói thẳng ra, người Việt chúng ta có lối sống kém vệ sinh (nếu so với lối sống của người dân trong các xã hội phương Tây hay Nhật). Ngay cả trong giới y bác sĩ, thói quen rửa tay vẫn chưa hình thành như là một quán tính. Chỉ nhìn qua mấy toilet dành cho công nhân viên trong các bệnh viện là đủ kinh hồn đối với người phương Tây!Trong công chúng, chúng ta chưa có thói quen che chắn khi ho và hắt hơi như người phương Tây. Mà, mỗi cái hắt hơi hay mỗi lần ho, chúng ta ‘phun’ ra môi trường 100,000 mầm mống bệnh (kể cả nhiều siêu vi khuẩn, streptococcus neumoniae, Haemophilus influenzae) và chúng đi trong không khí với tốc độ 160,934 mét/giờ. Vẫn theo các chuyên gia về vi sinh học, con người bị nhiễm các virus gây cảm cúm khi hít vào ít nhứt là 50 giọt (droplets) dịch và chất lỏng có chứa virus. Theo dữ liệu khoa học hiện nay, 2019-nCoV chỉ đi khoảng 1.8 mét từ người bị nhiễm (so với lao phổi và sởi đi đến 30 mét). Nói cách khác, ở VN người ta dễ bị nhiễm lao hơn là 2019-nCoV.

TB: Tôi hay dùng chữ virus là ‘siêu vi khuẩn‘ hay có khi là ‘vi khuẩn‘ (tại tôi), còn bacteria là ‘vi trùng’ (thuật ngữ hay dùng ở miền Nam trước đây), nhưng ở VN ngày nay chẳng hiểu sao người ta dịch bacteria là ‘vi khuẩn’. Hơi lẫn lộn.