Khoa học như người mù sờ voi

Tân tổng thống Biden tuyên bố rằng chánh sách về đại dịch covid-19 sẽ do khoa học dẫn đường. Lời tuyên bố này làm cho giới khoa học thở phào sau những năm tháng ‘sóng gió’ dưới thời TT Trump. Tuy nhiên, khoa học covid-19 thì còn rất rất nhiều bất định, và chúng ta chỉ như ‘người mù sờ voi’ thôi.  Dựa vào khoa học là cần thiết, nhưng lệ thuộc 100% vào khoa học nhứt thời là nguy hiểm và chẳng khác gì thoái thác vai trò lãnh đạo.

Nhiều người ngoài khoa học thường nhìn khoa học bằng cái nhìn xác định (deterministic). Tức là, theo họ cái gì mà giới khoa học báo cáo trên các tập san khoa học đều chính xác, chắc chắn, thậm chí là chân lí. Khoa học nói phải đứng cách nhau 1.5 mét mới là an toàn và giảm lây nhiễm, và chúng ta cần phải làm như thế. Khoa học nói đeo khẩu trang giảm lây nhiễm, và chúng ta nên đeo khẩu trang. Khoa học nói thuốc hydroxychlroquine có hiệu quả cứu người bị nhiễm covid-19, và thế là công chúng ùn ùn đi mua hydroxychlroquine. Khoa học nói vaccine có hiệu quả giảm 95% ca nhiễm covid-19 và thế là công chúng tin ngay.

Khoa học không chắc chắn

Cái nhìn khoa học = chắc chắn = chính xác đó thật ra là một sai lầm. Tôi đi đến kết luận này vì đã chứng kiến rất nhiều sai lầm trong khoa học. Những câu chuyện về sai lầm thì nhiều lắm, kể cả chuyện thay thế hormone (HRT) là một ca tiêu biểu. Có thời HRT được xem như thần dược, nhưng vài năm sau đó khi người ta làm nghiên cứu RCT thì mới biết nó có tác hại nhiều hơn là lợi ích. Trong thời đại dịch, chỉ 1 năm (nếu tính từ tháng 1/2020 khi TT Trump tuyên bố tình trạng khẩn cấp) mà đã có hơn 20,000 nghiên cứu khoa học! Theo nhiều chuyên gia, 99% những nghiên cứu đó đều chỉ làm cho có, chớ chẳng đóng góp gì cho y văn. Đa số là sai: sai về phương pháp luận, sai về đo lường, sai về cách phân tích, sai về cách diễn giải. Ngay cả những kết quả đúng vẫn có những bất định. Gs Richard Feynman nói rất đúng: trong khoa học, chúng ta không bao giờ biết mình đúng một cách tuyệt đối, chúng ta chỉ có thể chắc chắn là chúng ta sai.

Những bất định trong kết quả nghiên cứu khoa học có thể đo lường được. Bởi vì một nghiên cứu dựa vào một mẫu bệnh nhân (có thể mẫu đó bao gồm 30,000 người hay 300 người), và kết quả chỉ được tính toán trên mẫu đó. Nếu nghiên cứu được lặp lại ở một mẫu khác, cho dùng cùng phương pháp đo lường và phân tích, thì kết quả có giống y chang như nghiên cứu đầu? Câu trả lời là KHÔNG. Kết quả của nghiên cứu 2 có thể thấp hơn hay cao hơn nghiên cứu đầu. Do đó, các nhà khoa học phải tưởng tượng ví dụ như nếu mình làm 100 nghiên cứu về hiệu quả của vaccine, và mỗi nghiên cứu có 30,000 người, thì kết quả của 100 nghiên cứu đó sẽ dao động ra sao? Các nhà nghiên cứu có phương pháp thống kê giúp họ trả lời câu hỏi đó.

Chẳng hạn như hiệu quả của vaccine Oxford/AstraZeneca, công chúng chỉ nghe các quan chức y tế và chuyên gia bệnh truyền nhiễm rằng vaccine có hiệu quả 62% [1]. Từ bộ trưởng y tế, giáo sư y khoa, bác sĩ chuyên khoa cao cấp, kí giả, v.v. ai ai cũng đề cập đến con số 62%. Tuy nhiên, trong thực tế họ không để ý đến tác giả của công trình nghiên cứu báo cáo rằng tính trung bình thì hiệu quả là 62%, nhưng trong thực tế nó có thể dao động từ 41% đến 76%. Các bạn sẽ hỏi, “Ô, vậy hiệu quả thật là bao nhiêu?” Câu trả lời là không ai biết, kể cả tác giả bài báo cũng không biết. Họ chỉ có thể biết là nó dao động trong khoảng 41% đến 76%. Đó là một sự bất định mà ít ai trong công chúng để ý hay hiểu. Tất cả những gì mà chúng ta đang tuân thủ trong mùa dịch (như đeo khẩu trang, đứng cách nhau 1.5 mét, v.v.) cũng đều dựa vào một khoa học yếu ớt như thế.

Nhà cứu khoa học có thể ví von như là kẻ mù sờ voi trong câu chuyện cổ tích [2]. Người thì sờ được cái lưng và nghĩ nó giống cái đòn xóc; kẻ sờ được cái tai bèn suy đoán rằng nó giống cái quạt; lại có người sờ được cái đầu thì nghĩ nó như tảng đá. Chẳng có ai đúng, vì mỗi người chỉ sờ một cơ phận mà thôi. Tương tự, khoa học cũng chỉ ‘sờ’ được một mối liên quan và suy luận từ đó, nên xác suất sai sót rất cao.

May be a cartoon of text that says 'It'sa Fan! It's a Spear! It's a Wall! It's a Rope! It's a Snake! It'sa Tree!'

Dương tính giả và âm tính giả

Sự bất định của khoa học nó không phải chỉ hiện diện trong một nghiên cứu, mà cần phải có cái nhìn toàn cục. Đa số nghiên cứu y khoa (tôi chỉ giới hạn trong y khoa) đều có mục tiêu tìm mối liên quan giữa yếu tố X và bệnh Y. Yếu tố X có thể là quá cân, hút thuốc lá, dùng bia rượu, dinh dưỡng, vận động thể lực, gen, môi trường, v.v.  Trong thực tế, có hàng triệu yếu tố nguy cơ (nếu tính cả gen). Còn bệnh thì có thể rất rất nhiều, có thể lên đến 100,000 bệnh. Chỉ tính riêng các bệnh hiếm (rare) thì con số đã có chừng 10,000 bệnh! Do đó, giới khoa học có nhiều lựa chọn nghiên cứu: người thì nghiên cứu về biến thể gen A với bệnh tiểu đường, kẻ khác thì tập trung vào biến thể gen A và bệnh đột quị, người kia thì biến thể gen B và ung thư, v.v. Ngày nay, nhà khoa học có trong tay 1 triệu biến thể gen để khai thác. Đến đây thì các bạn đã thấy một thế giới cho nhà khoa học. Nếu có 1 triệu yếu tố nguy cơ và 100,000 bệnh thì số nghiên cứu y khoa có thể lên đến 100,000 triệu nghiên cứu!

Bao nhiêu nghiên cứu trong sô 100,000 triệu nghiên cứu là sai? Thật ra có 2 cái sai. Chúng ta quay lại bảng 2×2 trong cái note trước để hiểu vấn đề. Có thể kết quả nghiên cứu là ‘dương tính’ nhưng trong thực tế thì không có mối liên quan gì giữa X và Y. Đó là sai sót loại I, còn gọi là ‘dương tính giả‘. Có thể kết quả nghiên cứu là ‘âm tính’ nhưng trong thực tế thì có mối liên quan giữaX và Y. Đó là sai sót loại II, còn gọi là ‘âm tính giả‘. Bất cứ nghiên cứu nào cũng có ‘nguy cơ’ phạm phải 2 sai sót đó.

Không có cách gì loại bỏ 2 sai sót đó. Chỉ có cách giảm thiểu sai sót. Cách giảm thiểu sai sót đơn giản nhứt là nghiên cứu trên cỡ mẫu lớn sao cho sai sót loại I chỉ 5% thôi, và sai sót loại II chỉ 20%. Giới khoa học sợ sai sót dương tính giả hơn là sai sót âm tính giả, nên chỉ chấp nhận dương tính giả 5%, còn âm tính giả thì có thể chấp nhận cao hơn. Nói cách khác, cứ mỗi lần nhà khoa học kiểm định một giả thuyết (bất cứ giả thuyết nào), xác suất họ có kết quả dương tính giả thường là 5%. Nói cách khác, cứ 100 lần kiểm định hay 100 nghiên cứu thì sẽ có chừng 5 nghiên cứu cho ra kết quả sai (hay dương tính giả).

Mỗi nghiên cứu có xác suất dương tính giả 5% có nghĩa rằng xác suất đúng là 95%.  Do đó, nếu họ kiểm định 100 giả thuyết, thì xác suất đúng cả 100 lần là 0.006 (hay 0.6%). Nói cách khác, nếu họ kiểm định 100 giả thuyết, thì xác suất gần 100% (chính xác là 0.994) sẽ có một phát hiện hay khám phá ‘dỏm’ / sai.

Trị số P và trị số q

Thước đo để định lượng sai sót trong nghiên cứu khoa học là trị số P (hay ‘P-value’). Trị số này do nhà thống kê học và di truyền học thiên tài phát kiến vào đầu thế kỉ 20. Có thể nói không ngoa rằng trị số P là một ý tưởng cách mạng trong khoa học. Thế nhưng rất rất nhiều người không hiểu trị số P, nên diễn giải sai. Thông thường, đa số giới khoa học diễn giải rằng nếu một mối liên quan có trị số P = 0.02 có nghĩa là xác suất sai sót dương tính giả là 2%, và suy ra xác suất đúng là 98%. Nhưng rất tiếc cách hiểu rất phổ biến đó sai. Trị số P = 0.02 có nghĩa là nếu trong thực tế không có mối liên quan giữa X và Y, xác suất mà nhà khoa học quan sát được dữ liệu như hiện nay (hay dữ liệu cao/thấp hơn hiện nay) là 2%. Nó (trị số P) không trả lời câu hỏi mà chúng ta cần biết: xác suất có mối liên quan là bao nhiêu?

Ý nghĩa của trị số P cũng giống như trong phiên toà (phương Tây). Thoạt đầu, bị cáo phải được giả định là vô tội (khoa học: giả thuyết là không có mối liên quan giữa X và Y). Sau đó, công tố viên phải thu thập chứng cớ để chứng minh bị cáo có tội (khoa học: làm thí nghiệm để thu thập dữ liệu). Sau khi có dữ liệu và giả dụ rằng dữ liệu thuyết phục, công tố viên sẽ nói nếu bị cáo vô tội thì dữ liệu này không thể xảy ra, nhưng dữ liệu đã xảy ra nên bị cáo có tội (khoa học: nếu X và Y độc lập như theo giả thuyết thì dữ liệu r phải bằng 0, nhưng thí nghiệm cho thấy r = 0.9, nên phải bác bỏ giả thuyết). Đó chính là ý nghĩa của trị số P.

Trị số P có rất nhiều vấn đề. Vấn đề thứ nhứt là khó hiểu và có khi phi logic. Vấn đề lớn nhứt là nếu kiểm định nhiều giả thuyết (hay nhiều nghiên cứu) thì nó có thể cho ra kết quả dương tính giả. Do đó, vài năm gần đây, giới khoa học nghĩ ra một số cách để giảm thiểu những sai sót trong kết luận dựa vào trị số P. Những cách thức phổ biến nhứt và được áp dụng nhiều nhứt trong nghiên cứu qui mô lớn bao gồm:

  • false discovery rate (FDR, tỉ lệ dương tính giả) do Benjamini và Hochberg đề xướng;
  • trị số q do John Storey đề xướng. Vì dụ trị số q = 2% có nghĩa dễ hiểu là 2% các kết quả có ý nghĩa thống kê là sai (dương tính giả);
  • local FDR (hay lFDR) do Brad Efron đề xướng. lFDR thuộc trường phái Bayes, và phản ảnh xác suất giả thuyết vô hiệu đúng.

Trong các cách thức trên, local FDR là có ý nghĩa thực tế nhứt. Local FDR trả lời câu hỏi: nếu tôi quan sát mối liên quan với trị số P = 0.04 (tức có ý nghĩa thống kê) thì xác suất không có mối liên quan là bao nhiêu? Câu trả lời tuỳ thuộc vào bao nhiêu kiểm định giả thuyết trong nghiên cứu. Nếu nghiên cứu kiểm định 15 giả thuyết thì lFDR = 0.41, có nghĩa là tuy kết quả có ý nghĩa thống kê, nhưng xác suất không có mối liên quan lên đến 41%. Chúng ta muốn xác suất này (lFDR) càng thấp, như 0.0001, càng tốt.  

Do đó, một kết quả ‘có ý nghĩa thống kê’ chưa đủ mạnh để nói rằng nhà khoa học đúng.  Rất nhiều nhà khoa học trong dịch tễ học không nhận thức được điều này (nên sai sót quá nhiều trong dịch tễ học), nhưng giới nghiên cứu về di truyền thì đã ‘thấm’ từ lâu.

Tóm lại, bất cứ kết quả nghiên cứu khoa học nào cũng mang tính bất định. Bất định ở đây hiểu theo nghĩa kết quả đó có thể sai, nhưng cũng có thể đúng, và nhà khoa học không bao giờ dám nói chắc chắn. Trong khoa học Covid-19 sự bất định càng cao, và chúng ta phải rất dè dặt với những chuyên gia nói như đinh đóng cột. Giáo sư George Davey Smith từng viết rằng những chuyên gia nào phát biểu càng khẳng định về covid-19, thì chúng ta càng ít tin vào chuyên gia đó (The more certain someone is about covid-19, the less you should trust them) [3].

Do đó, khi nghe ông Biden nói để cho khoa học dẫn đường trong chánh sách covid-19 tôi cảm thấy ‘mixed feeling’. Tôi nghĩ rằng những chánh sách có ảnh hưởng đến nhiều triệu người không nên lệ thuộc chỉ vào khoa học, mà còn phải cân nhắc đến tình hình thực tế và kinh tế nữa. Không phải ngẫu nhiên mà phe bảo thủ trong chánh phủ Trump (như Peter Navarro) không đồng ý với những khuyến cáo của giới khoa học (như A. Fauci).

Quay lại ý tưởng khoa học như người mù sờ voi, tôi lại trích dẫn Richard Feynman nữa như là một lời kết: Khi bạn biết nhiều hơn, bạn biết mình không biết nhiều hơn! Những gì bạn biết là trong cái vòng tròn, và bạn không biết những gì ngoài cái vòng tròn. Chu vi cái vòng tròn là cái bạn biết rằng mình không biết. Khi bạn có nhiều kiến thức hơn, cái vòng tròn cũng lớn hơn và chu vi của nó cũng rộng hơn.

No photo description available.
Feynman: Khi bạn biết nhiều hơn, bạn biết mình không biết nhiều hơn! Những gì bạn biết là trong cái vòng tròn, và bạn không biết những gì ngoài cái vòng tròn. Chu vi cái vòng tròn là cái bạn biết rằng mình không biết. Khi bạn có nhiều kiến thức hơn, cái vòng tròn cũng lớn hơn và chu vi của nó cũng rộng hơn (The more you know, the more you know what you don’t know! What you know is inside a circle, what you don’t know is outside of it. The circumference is what you know you don’t know. As your knowledge grows, the circle grows and the circumference expands.) Bài học là đừng nên đánh giá cái gì hay ai nếu mình chưa biết người đó.

_____

TB: Nói xa không qua nói gần, cái note này chỉ nhằm giới thiệu bài giảng mới nhứt về FDR, q-value, local FDR, v.v. trên kênh youtube của tôi:

[1] https://7news.com.au/sunrise/on-the-show/calls-for-australias-rollout-of-oxford-astrazeneca-covid-vaccine-to-be-paused-over-efficacy-concerns-c-1945573

[2] Trong Kinh Niết Bàn và Kinh Trường A Hàm có kể câu chuyện người mù sờ voi như sau: 

Ngày xưa có một ông vua sai đại thần dắt đền một con voi, cho một bọn người mù sờ xem. Sau đó vua hỏi: “Các ông đã biết voi chưa?”

– Biết rồi! Bọn người mù đáp.

– Thế voi như thế nào?

– Voi xem ra như cái đòn xóc. Người sờ ngà voi bảo.

– Voi như cái quạt. Người sờ tai nói.

– Voi như tảng đá. Người sờ đầu voi đáp.

Người sờ vòi lại bảo: “Voi giống như cái chày”.

– Voi giống như cái hộp gỗ. Người sờ mắt voi nói.

– Không phải. Voi như cái giường. Người sờ lưng voi khẳng định.

– Theo tôi con voi như cái thùng to. Người sờ bụng voi kêu lên.

– Đừng cãi nhau nữa, con voi như sợi dây thừng. Người sờ đuôi xác nhận.

Nhà vua nghe bọn người mù tranh cãi nhau, cảm khái nói:

Người mù đều rất đông

Tranh nhau nói sự thật

Voi vốn chỉ một thân

Thị phi lại bất đồng.

[3] https://www.bmj.com/content/371/bmj.m3979

“Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”: trào lưu lấy tên tiếng Anh

Hôm nọ tôi đọc một bài rất thú vị về phong trào các nghệ sĩ trẻ trong nước sửa mặt mũi giống người Nam Hàn và lấy nghệ danh tiếng Anh, tiếng Hàn. Đây là câu chuyện tương đối tế nhị, và ở đây tôi chỉ muốn chia sẻ vài suy nghĩ mà tôi đã viết xuống từ những 10 năm trước và cập nhựt phần tham khảo.

Khi tôi mới sang Úc, suýt tí nữa tôi có tên Tây. Dạo đó, tôi mới xin được việc làm trong nhà bếp của bệnh viện, và đồng nghiệp tôi than phiền rằng cái tên “Tuan” khó đọc quá. Họ đặt cho tôi cái tên “Tom”, có lẽ nghĩ gần với “Tuan”, và thế là cả nhà bếp ai cũng gọi tôi là “Tom”. Còn tôi thì hay đùa với bạn bè là “Tao có tên mới là Tôm”, ai cũng cười ngất. Nhưng cái tên đó chỉ tồn tại trong thời gian tôi làm ở nhà bếp bệnh viện, vì sau này có việc làm khác tôi lại quay về cái tên Ba Má đặt cho.

Thật ra, người đặt tên cho tôi lúc mới sanh là cậu Tư tôi. Lúc đó, cậu Tư là công chức trong làng và có tiếng là người ‘hay chữ‘, nên cậu nghĩ ra nhiều cái tên đẹp cho con cháu. Mấy đứa em họ tôi (tức con của cậu Tư) đứa nào cũng có tên rất đẹp. Sau này, tôi ‘nối nghiệp’ cậu Tư và đặt tên cho con cháu. Một đứa cháu nội của cậu Tư tôi đặt là Khuê (vì thích chữ ‘Khuê Các’). Một đứa cháu khác tôi đặt tên là Annabelle (lấy tên của một công nương Tây Ban Nha), nhưng tên tiếng Việt là Phương Thảo. Khi nó lên trung học và đại học ai cũng nói tên Annabelle là đẹp :).

Tại sao người Việt ở nước ngoài lấy tên địa phương?

Tôi đi đến một ‘công thức’ đặt tên cho con cháu là: tên chánh (first name) thì lấy tên tiếng Anh, còn tên đệm (middle name) là tiếng Việt. Tên chánh chỉ được dùng khi đi học hay làm việc, còn tên đệm là tên trong gia đình hay để cho bà con bên Việt Nam gọi. Tôi nghĩ cái công thức này đáp ứng được cả hai yêu cầu: vừa giữ cái gốc Việt vừa hội nhập vào xã hội mới.

Hội nhập chính là lí do số 1 mà người Việt ở nước ngoài lấy tên địa phương (tiếng Anh) để có một cách ‘căn cước’ cá nhân. Con cháu mình sanh ra ở đây, nơi quê hương của nó, nên có cái tên địa phương là rất bình thường. Tiếng Anh của chúng nó — từ cách dùng chữ đến giọng nói — y như người địa phương, nên lấy tên địa phương là điều đương nhiên. Khi chúng đi học, cái tên tiếng Anh rất quan trọng vì đó là một ‘căn cước’ (identity) để chúng dễ hoà nhập vào môi trường học đường và dễ được ghi nhận.

Tên tiếng Anh cũng có thể xem là một cách để ‘cọ xát’ với văn hoá địa phương. Người mình có câu ‘từng nào cọp nấy’, con cháu mình sống trong xã hội toàn người với tên tiếng Anh, mà chúng có một cái tên tiếng Việt thì chúng dễ bị xa lánh và có thể dẫn đến mặc cảm. Do đó, một cái tên tiếng Anh là điều rất cần thiết để chúng thấy mình là người của ‘bộ lạc’ và qua đó thấy tự tin hơn trong giao tiếp xã hội. Đó là lí do số 2.

‘Anh hoá’ tên cho con cháu còn giúp chúng nó có cơ may thăng tiếng trong xã hội mới. Xã hội Úc hay Mĩ có tình trạng thiên kiến (không hẳn là kì thị chủng tộc) ngầm. Đã có nhiều nghiên cứu xã hội cho thấy người Á châu lấy tên gốc Hoa thì cơ may tìm việc thấp hơn người có tên tiếng Anh. Chẳng hạn như một nghiên cứu của ĐH Quốc gia Úc chỉ ra rằng để được cơ hội phỏng vấn cho một công việc như người gốc Anh/Úc, ứng viên với tên tiếng Hoa phải nộp 68% hơn người gốc Anh, trong khi ứng viên với tên Ý chỉ cần nộp 12% hơn [1]. tiếng Anh có cơ may kiếm việc tốt hơn, và khi có việc thì cơ may thăng tiếng của họ cũng tốt hơn (so với người lấy tên cúng cơm). Đó là lí do số 3.

Sống trong xã hội phương Tây, đối với người thuộc thế hệ 1 như tôi thì lấy tên tiếng Anh không quá quan trọng và cũng chẳng cần thiết. Cái accent tiếng Anh của mình không thể nào như người địa phương mà lấy tên tiếng Anh thì rất … kì. Vả lại, nếu họ tôn trọng mình thì họ phải học cách phát âm, cho dù là phát âm sai. Trong các hội nghị quốc tế, hầu như ai cũng đọc tên tôi sai, và đa số họ đọc “Dr Nguyen” thành “Dr Niêu Gần” (giống như tên Nugent trong tiếng Anh! Có lần tôi không biết họ gọi ai, nên vẫn ngồi một chỗ, nhưng anh bên cạnh tôi nói ‘Họ gọi anh kìa’ thì tôi mới nhớ ‘Niêu-Gần’. 🙂

Giới trẻ trong nước và tên nước ngoài

Hôm nọ, tôi đọc trên blog của RFA về trào lưu giới nghệ sĩ trẻ trong nước lấy tên Tây [2]. Bài rất thú vị và thỉnh thoảng làm cho người đọc cười thoải mái. Hoá ra, đây là đề tài mà báo chí trong nước cũng đã bàn đến vài lần [3-5]. Vì không theo dõi giới văn nghệ trẻ trong nước nên tôi rất kinh ngạc khi thấy họ lấy những nghệ danh rất ngộ nghĩnh. Tôi thấy có 3 cách họ lấy nghệ danh: (a) giữ tên tiếng Việt nhưng độc lập với tên khai sanh; (b) lấy tên tiếng Anh và tiếng Việt; và (c) lấy tên toàn tiếng Anh.

Xu hướng 1 bao gồm những người như Trần Thị Thanh Nhàn thành ‘Lý Nhã Kỳ’, Trần Thị Thuý Loan thành ‘Bảo Thy’, Mai Hồng Ngọc thành ‘Đông Nhi’, Nguyễn Thị Nhàn thành ‘Khánh My’, hay Phan Kim Huê thành ‘Nhật Kim Anh’. Chú ý là tên gốc của họ cũng đẹp, nhưng nghệ danh thì có vẻ độc lập với tên gốc. Ngoại trừ ‘Lý Nhã Kỳ’ nghe qua có vẻ người Hoa, còn các nghệ danh khác thì nghe qua có vẻ ‘sang’ hơn tên gốc.

Xu hướng 2 là lấy tên nửa Tây nửa Ta. Chẳng hạn như Hoà Minzy (tên thật là Nguyễn Thị Hoà) và Elly Trần (Nguyễn Kim Hồng). Những cái tên như Minzy và Elly xem ra rất bình thường trong tiếng Anh, nhưng khi đi chung với tên tiếng Việt thì làm những nghệ danh đó trở nên đặc thù.

Xu hướng 3 là lấy toàn tên Tây. Nhóm này có vẻ hơi nhiều, bao gồm Lilly Luta, Orange, Kimmese, Trunky, Erik, v.v. Có người/nhóm còn lấy tên tiếng Hàn hay Hoa như  Soobin, Kim Jo Jo, Jum, Link Lee, Mr Siro, v.v. Thú thiệt là thoạt đầu nghe qua, tôi cứ tưởng họ là người nước ngoài chơi nhạc ở Việt Nam, ai ngờ tất cả đều là Việt 100%! Càng ngạc nhiên hơn khi biết những người này có tên tiếng Việt rất chân chấc như Nguyễn Thị Lượm (Lilly Luta) hay Khương Hoàng Mỹ (Orange).

Trào lưu đặt tên nước ngoài đã xuất hiện ở bên Nam Hàn và Tàu từ thập niên 1970s [6] và rộ nở từ 1980s khi Tàu ‘mở cửa’ hoà nhập cùng thế giới tự do. Có lẽ giới trẻ Việt Nam chỉ bắt chước theo họ (Tàu) mà thôi. Không kể Hồng Kông nơi mà đa số người Hoa lấy tên tiếng Anh vì sự hiện diện của người Anh, mà ngay cả Trung Hoa lục địa người ta cũng hay lấy tên tiếng Anh. Ở bên Tàu, cũng có nghiên cứu tranh luận về vấn đề này [7], thậm cả luận án tiến sĩ bên Mĩ [8]. Những người lấy tên tiếng Anh cho rằng người nước ngoài dễ nhớ những cái tên ‘Tây’, và họ chỉ dùng cho người nước ngoài chớ không phải trong nước. Những người khác thì cho rằng lấy tên nước ngoài là một cách mượn căn cước tính (borrowed identity) và những cái tên đó như là ‘tên đệm’ (buffer) có thể giúp ích cho việc giao tiếp với người nước ngoài [7].

Quay lại trường hợp một số người trong giới trẻ Việt Nam lấy nghệ danh tiếng Anh, câu hỏi là lí do gì. Tôi không rõ tại sao họ lấy tên nước ngoài trong khi hoạt động ở trong nước. Chưa có nghiên cứu xã hội nào để giúp chúng ta hiểu hiện tượng này. Báo chí Việt Nam thì có khi chê họ là ‘sính ngoại’, còn họ thì cho rằng lấy tên nước ngoài là để gây chú ý [3].

Nhưng cũng có người phản bác rằng cái tên không làm nên người nghệ sĩ, mà phẩm chất tác phẩm mới là quan trọng. Nhiều nghệ sĩ nổi tiếng trước 1975 khi ra nước ngoài vẫn giữ nghệ danh tiếng Việt: Khánh Ly, Lệ Thu, Thái Thanh, Thái Châu, Chế Linh, v.v. Ngay cả danh ca Bạch Yến khi xuất hiện trong chương trình Ed Sullivan và Bob Hope, bà vẫn giữ tên tiếng Việt và người MC phải cố gắng đọc cho được. Bà còn dí dỏm giải thích ‘Bạch Yến’ có nghĩa là gì nữa [9]. Các bạn thử xem qua video clip [9] để thấy Bạch Yến ứng xử tuyệt vời như thế nào về cái nghệ danh của chị ấy.

Ở Úc tôi có danh hài gốc Việt, nhưng anh ta không lấy tên tiếng Anh mà vẫn giữ cái tên ba má đặt cho: Anh Do (hay Đỗ Anh). Nhưng tên của con anh thì đều có tên tiếng Anh.

Tóm lại, tôi thấy nhu cầu đặt tên tiếng Anh của người Việt ở nước ngoài là chánh đáng vì 3 lí do nêu trên (hội nhập, văn hoá, và thăng tiến trong sự nghiệp). Nhưng ở trong nước thì động cơ đặt tên nước ngoài (Anh, Hoa, Hàn) không mấy rõ ràng, rất có thể là làm sang hay tự làm mới, hay là một sự thần phục trước nền văn hoá nước ngoài? Hình như người Nhựt rất ít khi nào lấy tên nước ngoài (?)

Nói chuyện đổi tên tôi nhớ ngay đến vở cải lương kinh điển ‘Nửa đời hương phấn’. Đó là vở cải lương tâm lí xã hội lấy biết bao nước mắt của người xem từ thập niên 1960 cho đến nay. Trong tuồng cải lương, soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng viết về câu chuyện tình ngang trái và éo le của một cô gái quê có cái tên The rất mộc mạc. Điều tôi chú ý là khi cô ấy thành phố tìm việc làm, cô đổi tên là Hương. Trong một đoạn, soạn giả cho ông Sáu (ba của The) mắng The:

Tại sao mày lên Sài Gòn mày có thêm cái tên Hương? Tên The ba má đặt cho con nó quê mùa xấu xí lắm phải không con? Mày liệng bỏ tên The chẳng khác nào mày liệng bỏ một quãng đời trong sạch của mày.

Năm 1936, thi sĩ lừng danh Nguyễn Bính sáng tác bài thơ ‘Chân quê’, trong đó có hai câu rất hay: Hôm qua em đi tỉnh về / Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều. Bài thơ nghe nói được sáng tác lúc Nguyễn Bính chưa đầy 20 tuổi và được trao giải thưởng về thơ thời đó. Bài thơ sau này được nhạc sĩ Song Ngọc phổ thành nhạc rất hay. Những câu trong đó như là những lời độc thoại mang tính quan sát (Nào đâu cái áo tứ thân / Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen), nhưng cũng là một cách nhắc nhở, có phần trách móc, các cô gái quê tự đánh mất cái hồn quê của mình khi ra thị thành.

May be an image of 4 people
Vở tuồng cải lương nổi tiếng ‘Nửa đời hương phấn’

Tôi có cảm giác rằng người Việt ở nước ngoài cũng giống như ông Sáu trong vở cải lương hay Nguyễn Bính trong ‘Chân quê’, tức là họ trân trọng cái gốc Việt và văn hoá Việt hơn là người Việt ở trong nước.

_______

[1] https://crawford.anu.edu.au/news-events/news/104/job-hunt-success-all-name

[2] https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/can-you-find-a-vn-celebrity-on-tv-01172021110631.html

[3] https://thanhnien.vn/van-hoa/ro-mot-nghe-si-viet-mang-ten-ngoai-818887.html

[4] https://cuoi.tuoitre.vn/giai-tri/bat-ngo-voi-loat-nghe-danh-va-ten-that-cua-sao-viet-khong-lien-quan-den-nhau-2020082260315917.html

[5] https://www.yan.vn/giat-minh-ten-that-dang-sau-nghe-danh-keu-nhu-chuong-cua-sao-viet-122512.html

[6] https://theculturetrip.com/asia/china/articles/chinese-people-western-names

[7] https://www.dw.com/en/why-some-chinese-speakers-also-use-western-names/a-18966907

[8] https://www.dw.com/en/why-some-chinese-speakers-also-use-western-names/a-18966907

[9] https://www.youtube.com/watch?v=7FyjB_Fp9lo

Vĩnh biệt Harry Genant

Hôm nay nghe tin một đồng nghiệp bên Mĩ, Giáo sư Harry Genant, mới qua đời ngày 16/1/2021 [1]. Ông thọ 79 tuổi. Ông là một scholar và một gentleman, một tấm gương về cách ứng xử với đàn em. Tôi có vài kỉ niệm với ông và rất mến mộ ông.

May be an image of 1 person

Nếu các bạn học về hay làm trong chuyên ngành loãng xương thì chắc nghe đến tên ông, vì ông là người sáng chế ra cách chẩn đoán gãy xương cột sống (Genant Classification of Vertebral Fracture) [2] mà nhiều người sử dụng cho đến ngày nay.

Tôi gặp Harry lần đầu vào giữa thập niên 1990s khi tôi ghé thăm và làm việc (nói đúng ra là học) trong nhóm SOF của Giáo sư S. Cummings thuộc UCSF (San Francisco). Hồi đó, Harry có một nhóm nghiên cứu bên cạnh, nên hễ có seminar là có mặt Harry trong đó. Lúc nào cũng lịch sự, vận áo veston và cà vạt, và lúc nào cũng hỏi những câu hỏi nhẹ nhàng. Lúc nào cũng khen đồng nghiệp. Ông không hề tỏ ra ‘ta đây’ hay trịch thượng như các giáo sư thành danh khác. Sau này, chính ông là người giới thiệu tôi vào ban biên tập của Osteoporosis International, và tôi phục vụ ở đó gần 10 năm trời.

Sau này, cứ mỗi hội nghị ASBMR ở Mĩ là tôi gặp ông, vẫn veston và cà vạt. Điều thú vị là cả hai chúng tôi lúc nào cũng ở trong cùng một session, có lẽ vì cùng hướng nghiên cứu. Bất cứ khi nào tôi hỏi diễn giả câu hỏi, ông đều đến bên tôi sau đó và nói ‘That is a smart question, Tuan.’ Tôi biết đó chỉ là câu nói động viên thôi.

Có lần tôi và ông được giao nhiệm vụ chủ trì (co-chair) một phiên họp trong hội nghị ASBMR, tôi quen tánh người châu Á, kính trọng người lớn tuổi hơn và đàn anh, nên nhường cho ông nói lời khai mạc. Nhưng ông vỗ vai tôi nói: “Anh nói lời khai mạc, tôi hỗ trợ anh.” Harry là người như vậy: lúc nào cũng lịch sự và nhường đàn em.

Theo lí lịch trích ngang này thì thoạt đầu ông muốn làm phi hành gia, nhưng một cơ duyên nào đó ông trở thành bác sĩ. Ông tốt nghiệp bác sĩ năm 1967 từ Northwestern University, làm nội trú ở Chicago và trở thành Assistant Professor ở đó. Năm 1974 ông được UCSF bổ nhiệm làm sếp radiology, và sau này thành Full Professor. Trong sự nghiệp dài, Harry công bố hơn 600 bài báo khoa học, biên tập hơn 40 cuốn sách, và viết 300 chương sách. Đó là một gia tài đồ sộ.

Riêng tôi thì nhớ đến cái hệ thống phân loại gãy xương cột sống của Harry, và dựa vào đó mà có nghiên cứu ở Việt Nam [3-4]. Cần nói thêm rằng theo nghiên cứu của chúng tôi [3] ở Việt Nam, cứ 4 phụ nữ sau mãn kinh thì có 1 người gãy xương đốt sống mà họ không hay biết (vì gãy xương này thường không có triệu chứng). Gãy xương đốt sống làm cho người ta bị gãy xương khác và chết sớm, nên không thể xem thường được.

Mấy năm gần đây, nhiều người trong ‘bộ lạc’ dần dần ra đi. Quan sát cách họ ra đi mà nghĩ lại cuộc đời thật ngắn ngủi. Mới ngày nào gặp Harry trong hội nghị mà nay ông ấy đã ra đi! Sự ngắn ngủi của cuộc đời dạy cho chúng ta bài học “Hãy tử tế với nhau” như Giáo sư Harry Genant đã từng tử tế với đồng nghiệp và đàn em.

__________

[1] https://radiology.ucsf.edu/blog/harry-k-genant-md-1942-2021

[2] https://radiopaedia.org/articles/genant-classification-of-vertebral-fractures

[3] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/19376279

[4] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/23132647

TB: Sẵn đây xin báo các bạn là tôi mới upload bài giảng số 5 về loãng xương trên youtube. Bài này bàn về chỉ số T và chẩn đoán loãng xương mà có lẽ nhiều bạn chưa biết câu chuyện khoa học đằng sau của ngưỡng -2.5. Link: https://www.youtube.com/watch?v=dCBRjxv90yc

Tân tổng thống Joe Biden

Chỉ còn non 20 giờ nữa thì ông Joe Biden sẽ tuyên thệ nhậm chức tổng thống Hoa Kì. Nhân dịp này, chúng ta thử đọc qua vài con số về cuộc bầu cử vừa qua, và cuộc đời và sự nghiệp của tân tổng thống.  

Số phiếu bầu và số hạt

Nước Mĩ có 328.2 triệu dân (số liệu 2019) sống ở 50 tiểu bang và 14 vùng lãnh thổ (territories). Năm 2020, có 159,633,396 công dân Mĩ đi bầu [1], trong số này số phiếu cho 2 ứng viên như sau:

  • Biden: 81,283,098, chiếm 51% tổng số phiếu bầu;
  • Trump: 74,222,958, chiếm 46.5%.

Nước Mĩ có 3006 hạt (county), nhưng số phiếu đếm được báo cáo là 2974 (tôi không hiểu số còn lại thì sao). Số hạt mà mỗi ứng viên đắc cử là như sau [2]:

  • Biden thắng 477 hạt, chiếm khoảng 16% tổng số hạt;
  • Trump thắng 2497 hạt còn lại, chiếm 84%.

Thắng nhiều hạt hơn không có nghĩa là mâu thuẫn với số phiếu. Lí do là dân số ở các hạt thường rất khác nhau. Các hạt ở thành phố lớn có nhiều dân hơn các hạt ở vùng nông thôn. Thật vậy, Trump thắng ở vùng nông thôn nhưng thua Biden ở các thành phố. Những hạt Biden thắng cử thường là ở thành phố và có thu nhập cao hơn những hạt Trump thắng cử. Theo tính toán của Brooking Institution, tổng số hạt Trump thắng cử có tỉ trọng GDP quốc gia chỉ 29%.

Trong kì bầu cử 2020, Trump thua Biden khoảng 7 triệu phiếu phổ thông, nhưng thắng ở 84% hạt trong số 3006 hạt trên nước Mĩ.

Do đó, khi ông Trump tuyên bố rằng phe Cộng Hoà thắng ‘giòn dã’ thì có 2 cách hiểu. Cách hiểu thứ nhứt là ông … xạo (vì ông kém hơn Biden 7.06 triệu phiếu). Cách hiểu thứ hai là quả thật ông ấy thắng dòn dã  ở 84% các hạt trên nước Mĩ. Kẻ ghét và người thương ông Trump có thể dùng con số nào cho phù hợp với thiên kiến của mình.

Cuộc đời và sự nghiệp của Joe Biden

Chúng ta biết rằng người thay thế ông Trump là ông Joe Biden. Chúng ta thử tìm hiểu một chút về cuộc đời và sự nghiệp của ông tân tổng thống xem sao.

Joseph Robinette Biden Jr. sanh ngày 20/11/1942 ở hạt Scranton, bang Pennsylvania. Năm nay ông đã 79 tuổi. Ông cho biết ông là người gốc Ái Nhĩ Lan, nơi mà họ “Biden” còn được viết là “Bidon” vào thế kỉ 12.

Thân phụ ông là Joseph Robinette Biden Sr và thân mẫu là Catherine, cả hai đều theo đạo Công Giáo. Ông là con trai trưởng của gia đình. Ông có một người em gái tên là Valerie và 2 em trai Francus và Hames. Má ông là người gốc Ái Nhĩ Lan, nhưng Ba ông có gốc Anh và Pháp.

Gia đình ông không hẳn là giàu có, vì ngay sau khi sanh Biden thì gia đình gặp khó khăn về tài chánh nên ông phải sống với ông bà ngoại nhiều năm. Sau đó, gia đình dời về Delaware, và Ba ông tìm được việc làm như là một người bán xe hơi cũ.

Con đường học vấn của ông tương đối suôn sẻ. Ông theo học trung học ở Archmere Academy (Claymont) và ông chỉ nổi tiếng là học sinh chơi đá banh giỏi và làm sếp lớp. Ông theo học tại Đại học Delaware và tốt nghiệp cử nhân (với major về sử và chánh trị) năm 1965. Ba năm sau (1968) ông tốt nghiệp cử nhân luật từ ĐH Syracuse ở New York. Thành tích học của ông được mô tả là trung bình, điểm C (hạng 506 trong số 688 sinh viên).

Sau khi tốt nghiệp trường luật Syracuse, ông làm việc như là một luật sư, nhưng sau đó thì tham gia hoạt động chánh trị.  Ông phục vụ trong hội đồng hạt New Castle từ 1970 đến 1972. Năm 1972 ở tuổi 29 ông đắc cử vào thượng viện Mĩ, và trở thành thượng nghị sĩ thứ 5 trẻ nhứt trong lịch sử Hoa Kì. Ông liên tục đắc cử 6 lần sau đó và trở thành thượng nghị sĩ lâu năm nhứt của Delaware.

Sự nghiệp thượng nghị sĩ của Biden tập trung vào những việc đối ngoại và pháp lí. Ông là chủ tịch uỷ ban đối ngoại nhiệm kì 2001–2003 và 2007–2009. Ông cũng không để lại dấu ấn gì nổi bật trong vai trò đó. Ngoài vai trò thượng nghị sĩ, Biden cón là một giáo sư kiêm nhiệm (Adjunct Professor) của trường Wilmington từ 1991–2008.

Năm 2008, ông định ra ứng cử tổng thống, nhưng Obama có nhiều phiếu hơn nên ông trở thành ứng viên phó tổng thống cho Obama. Tháng 11/2008, liên danh Obama – Biden đánh bại McCain – Palin, và Biden chính thức trở thành phó tổng thống Mĩ. Năm 2012, ông cùng Obama đắc cử lần hai, sau khi đánh bại liên danh Rommey – Ryan.

Trong vai trò phó tổng thống, ông chủ yếu là một nhà quản trị và phụ tá cho Obama. Biden rất thân với Obama. Obama hay đề cập đến Biden là “My brother” (anh tôi). Trước khi rời nhiệm sở, ngày 12/1/2017 Obama tặng Biden huân chương “Presidential Medal of Freedom” (mà trước đây ít trao cho ai).

Về gia đình, ông đã qua 2 cuộc hôn nhân và có 4 người con. Năm 1966 (23 tuổi) sau khi tốt nghiệp đại học, ông thành hôn với Neilia Hunter, và hai người có 3 con: Beau, Hunter, và Amy. Năm 1972, chỉ một tháng sau khi đắc cử thượng nghị sĩ, Neila và con gái 1 tháng tuổi Amy bị tai nạn xa và qua đời. Hai người con trai của ông là Beau và Hunter cũng bị thương nặng trong tai nạn đó. Beau sau này trở thành người đứng đầu ngành tư pháp (Attorney General) của bang Delaware, nhưng anh qua đời năm 2015 vì bệnh ung thư não.

Năm 1977, ông thành hôn với Jill Jacobs qua sự giới thiệu của Francus Biden (là em trai của Joe Biden). Trước đó (1970), bà đã thành hôn với Bill Stevenson, một ngôi sao đá banh, nhưng hai người li thân từ năm 1974. Bà và Joe Biden có một người con gái tên là Ashley, nay là một nhân viên xã hội.

Jill Biden xuất thân từ một gia đình có thể nói là ‘lao động’ (thân phụ là nhân viên ngân hàng), nhưng bà học giỏi hơn ông chồng Biden. Thời trung học Jill giỏi về tiếng Anh. Khi lên đại học, bà chọn học tiếng Anh nhưng có thời gian làm … người mẫu. Bà tốt nghiệp cử nhân từ ĐH Delaware năm 1975, và sau này trở thành giáo viên dạy tiếng Anh ở một số trường cao đẳng cộng đồng. Hai năm sau tốt nghiệp, bà thành hôn với Joe Biden, nhưng vẫn tiếp tục giảng dạy và học sau đại học. Năm 2007, ở tuổi 55, bà tốt nghiệp tiến sĩ về giáo dục từ ĐH Delaware. Từ năm 2009 bà được bổ nhiệm làm giáo sư Anh văn của trường cao đẳng cộng đồng Northern Virginia. Ngoài ra, bà còn là người sáng lập Quĩ y tế có tên là Biden Breast Health.

Image may contain: 2 people, people standing, suit and closeup
Joe Biden (sanh năm 1943, 78 tuổi) và phu nhân Jill Biden (sanh năm 1951, 70 tuổi). Hình của NBC.

Công bằng mà nói, cuộc đời và sự nghiệp của tân tổng thống Mĩ không có gì nổi bật như các tổng thống tiền nhiệm. Ông lớn lên trong một gia đình trung bình, đi học, tham chánh, và trở thành tổng thống. Thành tích học tập của ông xem ra dưới trung bình. Thành tích hoạt động chánh trường có vẻ lu mờ. Cho đến nay, chúng ta biết ông quan tâm đến ô nhiễm môi trường, nhưng biết rất ít về quan điểm và tầm nhìn của ông về China hay thế giới.

Ngoài chánh trị ra hình như ông không có hoạt động nào khác. Tính đến nay, ông đã hoạt động trong chánh trường gần nửa thế kỉ, kể cả 36 năm trong vai trò thượng nghị sĩ. Do đó, có thể nói ông chuyên làm nghề chánh trị theo kiểu sự nghiệp (career). Có thể nói ông là một chánh trị gia chuyên nghiệp (professional politician) — hiểu theo cả 2 nghĩa tích cực và tiêu cực.

Về ông Trump

Rất nhiều điều chúng ta không biết về Trump, vì có quá nhiều thông tin giả về ông ấy. Ngay cả cuốn sách của cháu gái ông ấy viết về gia đình Trump cũng khó tin được vì chẳng có chứng cớ gì cả, nhưng được những người ghét ông ấy khai thác triệt để. Sự khai thác của họ làm cho câu nói của ông tổ tuyên truyền Đức Quốc Xã Joseph Goebbels (một lời nói dối lặp lại nhiều lần sẽ thành sự thật) nó đúng như thế nào.

Mấy tuần nay, tôi đọc cuốn “Speaking for Myself” của Sarah Hackabee (cựu thư kí báo chí Toà Bạch Cung) và thấy tác giả cho chúng ta một cái nhìn trong cuộc về ông Trump. Trái lại với những cách nói bạt mạng, những phát biểu mà báo chí trích dẫn là khinh thường phụ nữ, cuốn sách này cho chúng ta thấy một khía cạnh khác của Trump: đó là một người tinh tế, hào hoa phong nhã, trọng phụ nữ, và sẵn sàng đấu tay đôi với những ai khinh thường nhân viên của ông ấy. Cuốn sách của Hackebee cho thấy một Trump có vẻ tình cảm và nhân hậu hơn những gì báo chí mô tả.

Nếu các bạn từng sống ở vùng Trung Tây nước Mĩ, bạn sẽ thấy Trump là hiện thân của người Mĩ trung bình (average American), hiểu theo nghĩa bình dân, thô kệch, đơn giản, sẵn sàng đấu tranh, và không tin vào giới trí thức. Thành ra, những gì phe cánh tả ghét Trump cũng chính là những gì họ ghét Mĩ. Dĩ nhiên, không phải người phe cánh tả nào cũng ghét Mĩ. Nhưng những kẻ ghét cái vụng về, cái tâm thế sẵn sàng cãi lộn, cái thẳng thừng, sự hoài nghi giới trí thức, sự ưa chuộng đơn giản. Trump không đóng kịch, có thể nói những câu chữ huỵch toẹt mà người có học như ông không thể nói ra vì sợ đánh giá là ‘không trí thức’.

Tệ nhứt là ông ấy chẳng có ý thức hệ nào cả, mà chỉ muốn làm được việc (get the job done) và đó chính là tâm thế của người Mĩ trung bình. Nói Trump bình dân hoá cái chức vị tổng thống Hoa Kì cũng đúng, nhưng nói Trump đem cái ghế tổng thống đến gần dân thì cũng đúng. Kẻ thù lớn nhứt của Trump chẳng ai khác hơn là ông ấy.

Trump còn là biểu tượng và là tiếng nói giận dữ của những người Mĩ bị bỏ quên và thiệt thòi trong thời toàn cầu hoá. Những người này là dân nông thôn, và có lẽ điều này giải thích tại sao ông ấy thu hút nhiều phiếu từ nông dân.

Nay thì Trump sắp rời chánh trường. Các sử gia sẽ bận rộn đánh giá những thành tựu và thất bại của Trump. Trump có nhiều thành tựu nhưng báo chí không cho chúng ta biết, hay cho biết một cách méo mó. Trump cũng có nhiều thất bại, và chúng ta biết quá nhiều vì nhờ báo chí ghét ông ấy. Hiện nay, theo thăm dò ý kiến của NBC thì Trump tuy bị chê bai như thế nhưng vẫn có 43% cử tri đánh giá ông một cách tích cực [3]. Con số 74 triệu cử tri bầu cho ông trong lần bầu cử này sẽ là một khó khăn cho cái ‘mandate’ của ông Biden trong 4 năm tới.

Trump đã làm cho chánh trị vừa thú vị vừa hào hứng. Và, sự ra đi của ông sẽ để lại một khoảng trống trong đời sống truyền thông. Qua Trump chúng ta biết được hơn về quan điểm và hành vi của những trạm truyền thông danh tiếng như NYTimes, WP, CNN, NBC, v.v. Họ sẽ không có đối tượng để họ thoá mạ và chửi bới mỗi ngày. Người dân sẽ ít đọc báo hơn và ít xem đài truyền hình hơn. Chúng ta cũng đã hiểu tại sao ngày xưa ông Thiệu và ông Kỳ không ưa họ.

Cũng qua Trump chúng ta biết hơn thái độ của các ‘bigtech’ như Twitter, Facebook, Amazon (và hiểu/thông cảm tại sao China không bao giờ muốn lệ thuộc vào họ). Người Úc cũng hiểu tại sao ông thủ tướng Úc bực mình với twitter. Chúng ta cũng thấy rõ bộ mặt ‘evil’ và ‘double standard’ (tiêu chuẩn kép) của họ. Nếu một ngày nào đó, những bigtech nào bị sụp đổ thì chúng ta cũng thản nhiên và xem đó như là một ‘karma’, một tiến triển theo định luật Vô Thường.

Qua Trump và những người Việt ủng hộ / chống ông ấy, chúng ta cũng biết rõ hơn về nhân cách, quan điểm, thái độ và cách hành xử của những người Việt gọi là ‘đấu tranh’ vì tự do ngôn luận và tiến bộ xã hội cho Việt Nam. Chúng ta sẽ thấy cái nhìn nhị phân theo kiểu trắng/đen của họ (toàn có học) nó đơn giản và nguy hiểm như thế nào. Có nhiều người nổi tiếng trong nước đã có tuổi, có vẻ có học kha khá (‘sĩ’, ‘sư’) mà viết và nói rất hồ đồ, đầy định kiến, thậm chí có khi tục tĩu! Qua Trump và những người này, chúng ta mới thấm câu nói của Tản Đà: “Dân hai lăm triệu ai người lớn. Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con.”

______

[1] https://www.cfr.org/blog/2020-election-numbers

[2] https://www.usatoday.com/story/news/factcheck/2020/12/23/fact-check-biden-won-most-populous-counties-despite-winning-fewer/3992000001

[3] https://www.nbcnews.com/politics/meet-the-press/poll-trump-approval-remains-stable-republicans-unmoved-after-capitol-violence-n1254457

Nguy cơ tử vong sau khi tiêm vaccine ở Na Uy có quá cao?

Tôi suy nghĩ về 33 ca tử vong sau khi được tiêm vaccine ở Na Uy (và 10 ca ở Đức). Hôm qua, con số là 30, nay tăng thêm 3 ca (chưa kể 10 ca tử vong ở Đức). Sự gia tăng này làm cho nhiều người trong cộng đồng và giới báo chí rất quan tâm. Nhưng cần phải bình tâm suy nghĩ và đánh giá cho khách quan. Với những dữ liệu có được tôi nghĩ nguy cơ tử vong sau khi tiêm vaccine chỉ bằng 1/10 so với nguy cơ ở những người không tiêm vaccine.

Image may contain: one or more people

Cách khách quan nhứt là chúng ta quay lại bảng 2×2 mà tôi bàn trong một cái note trước đây. Chúng ta so sánh nguy cơ tử vong ở những người được tiêm vaccine và những người không tiêm vaccine.

Theo các giới chức y tế, Na Uy đã tiêm chủng vaccine Pfizer cho 42,000 người (tuyệt đại đa số là cư dân viện dưỡng lão). Trong số này có 33 người chết sau khi được tiêm. Họ còn nói rằng nguy cơ tử vong dưới 1 phần ngàn (“well under 1 out of 1000”) [1]. Trước đây thì họ nói nguy cơ tử vong là 0.04% [2]. Nhưng họ ‘quên’ nói rằng đây là nguy cơ tử vong trong MỘT TUẦN. Chúng ta thử tính chính xác nguy cơ tử vong 1 tuần ở người được tiêm vaccine:p1 = 33 / 42000 = 0.00078.

Thế còn nguy cơ ở người không tiêm vaccine thì sao? Một cách tốt nhứt là xem xét qua y văn về nguy cơ tử vong ở các viện dưỡng lão bên Na Uy. May mắn thay, đã có một nghiên cứu về vấn đề này [3], và trong nghiên cứu này, họ theo dõi 690 người ở viện dưỡng lão suốt 3 năm trời để ghi nhận nguy cơ tử vong. Kết quả cho thấy nguy cơ tử vong trong 6 tháng đầu là 17%. Nếu nguy cơ tử vong phân bố đồng đều theo thời gian thì nguy cơ tử vong 1 tuần là:

p1 = 33 / 42000 = 0.00078.

Thế còn nguy cơ ở người không tiêm vaccine thì sao? Một cách tốt nhứt là xem xét qua y văn về nguy cơ tử vong ở các viện dưỡng lão bên Na Uy. May mắn thay, đã có một nghiên cứu về vấn đề này [3], và trong nghiên cứu này, họ theo dõi 690 người ở viện dưỡng lão suốt 3 năm trời để ghi nhận nguy cơ tử vong. Kết quả cho thấy nguy cơ tử vong trong 6 tháng đầu là 17%. Nếu nguy cơ tử vong phân bố đồng đều theo thời gian thì nguy cơ tử vong 1 tuần là:

p2 = 0.17 / 26.07 tuần = 0.0065

Nguy cơ này thấp hơn một chút so với nguy cơ tử vong trong cộng đồng người 80 tuổi. Theo lifetable của Na Uy [4], người 80 tuổi có nguy cơ tử vong trong 1 tuần là 0.0075, cao hơn 10 lần so với nguy cơ ở người tiêm vaccine.

Như vậy, so sánh giữa p1 và p2, chúng ta thấy nguy cơ tử vong sau khi tiêm vaccine thấp hơn nhiều, chỉ bằng 1/10 nguy cơ tử vong ở những người trong viện dưỡng lão không tiêm vaccine. Rất tiếc là giới báo chí và ngay cả giới chức y tế không biết đến những con số này, nên họ làm cho cộng đồng quá quan tâm.

Tóm lại, so sánh khách quan cho thấy nguy cơ tử vong sau khi tiêm vaccine tuy nhìn vào con số tuyệt đối (33 người) thì có vẻ cao, nhưng so sánh với nguy cơ tử vong ‘bình thường’, thì rất thấp. Giới chức y tế Na Uy có lí khi nói rằng họ chưa cảm thấy báo động về biến cố 33 người chết sau khi tiêm vaccine, vì lợi ích vẫn cao hơn nhiều so với tác hại.

Một cách đánh giá khác là dùng khái niệm ‘vi tử’ (micromort) cũng cho ra kết quả như trên:

https://tuanvnguyen.medium.com/is-the-mortality-after-vaccination-in-norway-a-concern-e04f86755395

____

[1] https://www.theage.com.au/world/europe/norway-finds-no-direct-link-between-elderly-deaths-and-vaccine-20210119-p56v3c.html

[2] https://www.euronews.com/2021/01/15/norway-adjusts-advice-for-elderly-and-frail-people-after-covid-19-vaccine-deaths

[3] https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0203480#pone-0203480-t002

[4] https://www.ssb.no/en/statbank/table/07902/tableViewLayout1

Thiên kiến một chiều (‘my side bias’)

Chúng ta, không ít thì nhiều, có thói quen nhìn sự việc một chiều. Thiên kiến này (có khi còn gọi là ‘my side bias’) dẫn đến nhiều kết luận sai.

Hôm nọ, trong một buổi tán gẫu trên bàn cà phê, tôi nghe được một câu chuyện về sự thần kì của một dược thảo trong việc điều trị ung thư. Chuyện là một người bạn bị ung thư mà bác sĩ báo cho biết là giai đoạn cuối (tức chờ chết), rồi anh ấy về Việt Nam thăm bà con, bạn bè, coi như là chuyến đi sau cùng về quê. Anh đi nhiều nơi, và lên Tây Nguyên, rồi nhờ một người quen giới thiệu một loại cây cỏ có hiệu quả điều trị ung thư. Trong lúc tuyệt vọng, anh dùng loại dược thảo đó, và may mắn thay anh hết bệnh. Về Úc, thậm chí bác sĩ khám anh còn ngạc nhiên! Anh đã nghỉ hưu và vẫn sống cho đến ngày nay và vẫn bù khú với bạn bè.

Đó là một câu chuyện đẹp. Có lẽ đa số chúng ta đều đã nghe qua những câu chuyện như vậy. Nhiều người mắc bệnh hiểm nghèo, chờ chết, rồi nhân một tình cờ được dùng một loại dược thảo hay nước hay ‘can thiệp’ nào đó (như tế bào gốc, di truyền trị liệu) mà hết bệnh. Những câu chuyện đó có thật, chớ không phải bịa ra. Đó cũng là những câu chuyện làm cơ sở cho nhiều quảng bá về hiệu quả của ‘thực phẩm chức năng’ trong cộng đồng.

Nhưng tôi sợ là niềm tin vào những câu chuyện đó là hậu quả của tâm lí có tên là thiên kiến một chiều, mà thuật ngữ tiếng Anh gọi là ‘my side bias’ và ‘one-sided reference bias’. Theo tôi biết, trong tâm lí học, ‘my side bias’ được định nghĩa là xu hướng đánh giá chứng cớ hay tạo ra chứng cớ nhằm xác định thiên kiến của mình. Định nghĩa này rất giống với định nghĩa của ‘one sided bias’ trong dịch tễ học: xu hướng trích dẫn dữ liệu chỉ để yểm trợ cho thiên kiến của tác giả. Thiên kiến này rất phổ biến, và có thể nói là tất cả chúng ta đều có. Do đó, chúng ta cần phải tìm hiểu thêm để tự mình chỉnh sửa.

Nhìn sự việc qua bảng 2×2

Một người thầy cũ của tôi (giáo sư AW) từng nói rằng sự việc trên thế giới có thể tóm tắt bằng bảng dữ liệu 2 dòng và 2 cột, mà tiếng Anh gọi là ‘2×2 table’. Chúng ta tạm gọi là bảng 2×2 cho gọn và tiện. Dân dịch tễ học thì chắc chẳng ai còn xa lạ gì với bảng 2×2, nhưng ít khi nào chúng ta khái quát hoá và ứng dụng nó trong các tình huống xã hội.

Câu chuyện dược thảo và ung thư ở trên cũng có thể thể hiện bằng bảng 2×2. Chúng ta thử tưởng tượng 4 tình huống:

• Tình huống 1: người dùng dược thảo và hết bệnh;
• Tình huống 2: người dùng dược thảo nhưng không hết bệnh;
• Tình huống 3: người không dùng dược thảo nhưng hết bệnh; và
• Tình huống 4: người không dùng dược thảo và không hết bệnh.

Chúng ta có thể tóm tắt 4 tình huống trên thành bảng 2×2 như sau. Trong bảng này, các ô ‘a’, ‘b’, ‘c’, và ‘d‘ thể hiện số người trong một thí nghiệm tưởng tượng. Theo đó, a là số người dùng dược thảo và hết bệnh (có hiệu quả); b là số người dùng dược thảo nhưng bệnh vẫn không hết (không có hiệu quả); c là những người tuy không dùng dược thảo mà vẫn hết bệnh; và d là những người không dùng dược thảo và bệnh vẫn còn.

Những câu chuyện về dược thảo và bệnh tật mà chúng ta nghe chỉ nằm ở a. Nói cách khác, chúng ta chỉ nghe những câu chuyện thành công, những câu chuyện về sự hiệu nghiệm của dược thảo. Chúng ta không (hay ít) nghe đến ô b, tức những câu chuyện về dùng dược thảo mà bệnh vẫn không dứt. Chúng ta cũng không nghe đến những người không dùng dược thảo mà bệnh vẫn hết. Có thể bệnh nhân cảm thấy xấu hổ không muốn nói ra rằng mình đã thử dược thảo mà chưa hết bệnh. Nói tóm lại, những gì chúng ta nghe chỉ … một chiều.

Nghe một chiều thì có khả năng sai sót rất cao. Quay lại bảng 2×2 trên, giả dụ như chúng ta có 100 người trong cộng đồng, và phân bố như sau. Trong cộng đồng đó, có 10 người dùng dược thảo và 90 người không dùng. Sau khi lắng nghe 100 câu chuyện, chúng ta có một ‘bức tranh’ như sau: trong số 10 người dùng dược thảo, có 2 người hết bệnh; trong số 90 người không dùng, có 30 người hết bệnh.

Như vậy, xác suất hết bệnh trong nhóm dùng dược thảo là 20%, nhưng trong nhóm không dùng dược thảo thì 33%. Nhưng trong thực tế chúng ta chỉ nghe 2 người hết bệnh, chớ ít khi nào nghe 8 người không hết bệnh. Chúng ta càng không biết những người không dùng dược thảo nhưng hết bệnh (có thể do sự đột biến ngẫu nhiên của tế bào ung thư có lợi cho bệnh nhân). Nhưng bởi vì chúng ta chỉ nghe 1 chiều, nên kết luận về hiệu quả của dược thảo có thể sai.

Tuy nhiên, bảng 2×2 trên đây chỉ là … tưởng tượng. Chúng ta chưa có nghiên cứu nào như thế cho các lại dược thảo. Vì vậy, cuối cùng thì chúng ta cũng chỉ là nghe câu chuyện như thể hiện trong tế bào a của bảng 2×2. Bài học dĩ nhiên là những câu chuyện tuyệt vời như thế, nếu không có dữ liệu nghiên cứu nghiêm chỉnh, không nói lên được gì về hiệu quả của dược thảo. Tương tự, chúng ta chưa có nghiên cứu nghiêm chỉnh để biết những can thiệp như tế bào gốc (stem cell) có thể trị dứt bệnh ung thư, tiểu đường, thoái hoá khớp, v.v. Những ý kiến cá nhân thì không đáng tin cậy.

Bảng 2×2 trên đây dùng dược thảo và bệnh lí để minh hoạ cho thiên kiến một chiều, nhưng trong thực tế chúng ta có thể nghĩ ra rất nhiều tình huống khác. Chẳng hạn như mối liên quan giữa giá trị của chiếc nhẫn cưới và li dị, giữa bằng tiến sĩ và tài năng, thậm chí … giữa báo chí và ông Trump. Chẳng hạn như thay vì dùng/không dùng dược thảo, chúng ta có giá trị chiếc nhẫn trên/dưới 10 ngàn USD; và thay vì bệnh lí yes/no chúng ta có li dị / không li dị. Để đánh giá đúng Trump, chúng ta cũng có thể lập bảng 2×2 với 2 dòng là báo chí lề trái, lề phải; và 2 cột là nói xấu Trump và nói tốt về Trump. Hiện nay thì chúng ta chỉ thấy ô ‘a‘ trong bảng 2×2 về Trump thôi. Nhìn sự việc qua bảng 2×2 giúp chúng ta bớt thiên kiến một chiều và đi đến kết luận chính xác hơn.

“Tiếng hát bay trên thành phố bâng khuâng” Lệ Thu qua đời

Lệ Thu, người ca sĩ mà tôi mến mộ nhứt, đã qua đời cách đây khoảng 1 giờ ở California, thọ 78 tuổi. Theo báo chí và giới nghệ sĩ bên California thì bà bị nhiễm virus Vũ Hán vài tuần trước và đã nằm viện thở máy hơn 1 tuần. Sự ra đi của Lệ Thu để lại một khoảng trống âm thanh trong bầu trời âm nhạc Việt Nam.

Danh ca Lệ Thu qua đời - VnExpress Giải trí
Ca sĩ Lệ Thu

Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sanh ngày 16/7/1943 tại Hải Phòng. Bà cùng thân mẫu di cư vàoNam năm 1953. Bà bắt đầu sự nghiệp ca hát từ năm 1959 tại phòng trà Bồng Lai ở Sài Gòn. Trong một lần trả lời phỏng vấn, bà cho biết nghệ danh ‘Lệ Thu’ là bà tự đặt nhằm giấu gia đình để đi ca hát.

Lệ Thu trở thành một ca sĩ bậc nhứt của miền Nam Việt Nam. Khi nghĩ lại những ca sĩ nổi tiếng thời đó chuyên ca dòng nhạc tình, tôi nghĩ ngay đến Thái Thanh, Lệ Thu và Khánh Ly là hai người nổi tiếng nhứt. Không nói ra thì ai cũng biết ca khúc làm bà nổi tiếng nhứt là “Nước mắt mùa thu” của Phạm Duy. Tôi đọc đâu đó thì biết rằng ca khúc đó do Phạm Duy viết cho bà.

Nhưng ngoài Phạm Duy, Trường Sa với ‘Xin Còn Gọi Tên Nhau‘, Trịnh Công Sơn với ‘Chiếc Lá Thu Phai‘ đều là viết cho Lệ Thu! Thích nhứt là bài của Trường Sa:

Tiếng hát bay trên hàng phố bâng khuâng

Chiều đong đưa những bước chân đau mòn

Chợt nghe mùa thu bay trên trời không

Còn ai giữa mênh mông đời mình

Nỗi đau mù lấp trên tuổi thơ…

Trong một lần trả lời phỏng vấn, Nhạc sĩ Trường Sa nói: “Chúng tôi quen biết nhau từ bài Mùa Thu Trong Mưa. Sau khi bài được thâu dĩa với tiếng hát Lệ Thu, tôi đã bàng hoàng xúc động trước giọng ca này, và tôi đã ao ước sẽ tiếp tục viết cho giọng hát Lệ Thu. Tôi đã thực hiện điều ước này bằng ca khúc Xin Còn Gọi Tên Nhau, Rồi Mai Tôi Đưa Em… tiếp theo nữa là Sầu Muộn, Còn Mãi Xa Người, Một Mai Em Đi, Nụ Cười Tím, Như Hoa Rồi Tàn… Lệ Thu đã chắp cánh cho một số ca khúc của tôi bay xa đến tận hôm nay. Trong thâm tâm, tôi không bao giờ quên sự nhiệt tình của Lệ Thu và để đáp lại sự nhiệt tình đó, từ lâu tôi đã đồng ý cho Lệ Thu sử dụng bài nào cô ấy muốn mà không bị ràng buộc điều kiện nào. Tôi quý Lệ Thu bằng tấm chân tình nghệ sĩ thật chính đáng và trong sáng, trước sau như một…” [1]

Danh đi với tài. Trong một lần trả lời phỏng vấn của Jimmy Nhựt Hà, bà tiết lộ rằng với một hợp đồng ca cho phòng trà, bà trở thành khá giàu có. Ngày 30/4/1975 Lệ Thu đã ra đến phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Mĩ, nhưng bà quyết định quay về để chăm sóc cho mẹ già ở Việt Nam. Năm 1979 nhờ sự giúp đỡ của chồng cũ của ca sĩ Khánh Ly, Lệ Thu vượt biên đến Pulau Bidong (Mã Lai) và định cư ở Mĩ từ 1980 đến nay. Thời gian ở Mĩ, Lệ Thu vẫn ca hát và vẫn là một danh ca số 1 của làng nhạc hải ngoại.

Tôi tự xem mình là người yêu nhạc Việt Nam. Và, người làm cho tôi yêu nhạc Việt và tiếng Việt chính là ca sĩ Lệ Thu. Thời thanh niên thuộc thập niên 1970s, là sinh viên, tôi say mê tiếng hát Lệ Thu qua những ca khúc trữ tình và đẹp của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Trường Sa, Từ Công Phụng, v.v. Lệ Thu trình diễn ca khúc nào cũng rất tự nhiên nhưng trang trọng; Lê Thu biểu lộ cảm xúc của ca khúc nhưng không làm dáng; Lệ Thu ngân nga và nhả chữ vừa đúng mà không ‘khoe’ giọng. Quả thật ngày nay rất khó có một tiếng hát như Lệ Thu. Gọi là “tiếng hát để đời” hay “tiếng hát huyền thoại” là đúng chớ không có gì quá đáng.

Cá nhân tôi từ ngày còn ở Việt Nam đến khi ra nước ngoài cho đến nay, lúc nào tôi cũng thu thập tất cả các tape nhạc và CD nhạc Lệ Thu. Hơn 40 năm ở nước ngoài tôi chỉ đi nghe nhạc 2 lần, chỉ vì 2 lần đó có Lệ Thu hát ‘live’. Ngày nghe tin Lệ Thu qua đời tôi nghe lại tất cả những tape nhạc và CD cũ kĩ đó như để tưởng nhớ đến một giọng ca mà mình trưởng thành theo năm tháng. Nay thì Lệ Thu đã đi về cõi vĩnh hằng. Nói như Trịnh Công Sơn là “Vắng một người thế giới trở nên hoang vu“, vắng tiếng hát Lệ Thu trên bầu trời nhạc Việt làm cho nhiều người, kể cả tôi, hụt hẫng. Xin có đôi dòng chia sẻ và chia buồn đến gia đình người ca sĩ đã làm cho tôi yêu nhạc Việt!

PS: Các bạn mến mộ Danh ca Lệ Thu có thể vào đường link dưới đây để lại suy tưởng hay cảm nhận của mình:

https://www.forevermissed.com/casilethu/about

___

[1] https://nhacxua.vn/hoan-canh-sang-tac-xin-con-goi-ten-nhau-nhac-si-truong-sa-pho-van-hoang-vu-tu-luc-em-di

Loạt bài phỏng vấn Lệ Thu do Jimmy Nhựt Hà thực hiện:

Phần I

Phần II:

Phần III:

Hiệu quả của vaccine có cao?

Mấy hôm nay tôi theo dõi cuộc tranh luận ở Úc về hiệu quả của vaccine do AstraZeneca và Pfizer bào chế. Một số chuyên gia cho rằng hiệu quả vaccine không đủ cao để đạt miễn dịch cộng đồng, nhưng một số chuyên khác thì cho rằng hiệu quả như báo cáo là được. Tuy nhiên, dữ liệu ‘ngầm’ cho thấy có thể hiệu quả của vaccine không cao như con số 95% đã được báo cáo.

Vaccine của Oxford/AstraZeneca

Úc đang chuẩn bị triển khai tiêm vaccine trong cộng đồng và vaccine của ĐH Oxford/AstraZeneca được chọn. Lí do là vì vaccine này có thể sản xuất ngay tại Úc mà không cần phải nhập khẩu. Thế nhưng một nhóm chuyên gia bệnh truyền nhiễm và miễn dịch học (thuộc hiệp hội miễn dịch học của Úc) chất vấn hiệu quả của vaccine. Họ cho rằng với hiệu quả như báo cáo (62%) là không đủ cao để đạt miễn dịch cộng đồng [1]. Họ đề nghị không nên triển khai vaccine đại trà trong cộng đồng.

Tuy nhiên, các chuyên gia cố vấn cho chánh phủ Úc thì cho rằng hiệu quả như vậy là tốt rồi, và có thể triển khai đại trà. Những người này nói rằng hiệu quả 62% tốt hơn nhiều so với hiệu quả của đeo khẩu trang (chỉ 15-20%), và kêu gọi mọi người nên tin vào các cố vấn của chánh phủ vì họ được … tuyển chọn cẩn thận. (Cách nói ‘hãy tin chúng tôi’ làm giới khoa học mỉm cười). Có vẻ như chánh phủ đã quyết định là sẽ triển khai tiêm vaccine vào vài tuần tới, cho dù có phản đối từ giới khoa học.

Thật ra, tôi nghĩ con số 62% là hơi đơn giản. Đó là con số ước tính từ một nhóm tình nguyện viên được tiêm 2 liều đầy đủ, và tính trung bình thì vaccine efficacy (VE) là 62% (xem bảng số liệu). Nếu tính cả nhóm được tiêm đúng liều và nhóm được tiêm sai liều trong nghiên cứu, thì VE là 70%. Do đó, tuỳ vào cách họ chọn nhóm nào.

Nhưng vấn đề là những con số 62% (hay 70%) là số trung bình. Số trung bình nó dao động theo mẫu nghiên cứu, và do đó kết quả có thể cao hơn hay thấp hơn trong thực tế. Chẳng hạn như VE trung bình là 62%, nhưng khoảng tin cậy 95% thì dao động từ 41% đến 76% (xem bảng số liệu) [2]. Như các bạn thấy, các chuyên gia này chỉ nói đến con số trung bình, mà không hề xem xét đến sự bất định!

No photo description available.
Hiệu quả của vaccine Oxford/AstraZeneca: Kết quả nghiên cứu RCT (Lancet) cho thấy hiệu quả dao động từ 62% đến 90% (cột sau cùng). Các chuyên gia miễn dịch học cho rằng hiệu quả 62% là chưa đủ thuyết phục, nhưng các chuyên gia khác lại nghĩ rằng 62% là hơn hiệu quả đeo khẩu trang (15-20%).

Tôi bình luận về chuyện này ở đây (tiếng Anh):

https://tuanvnguyen.medium.com/vaccine-efficacy-beyond-the-average-bf72ffc3e138

Vaccine của Pfizer / Biontech

Tuy nhiên, điều tôi mới đọc được về hiệu quả của vaccine của Biontech rất đáng suy nghĩ. Chúng ta biết rằng vài tuần trước Pfizer công bố kết quả nghiên cứu RCT quan trọng cho thấy vaccine BNT162b2 có hiệu quả VE = 95%, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 90% đến 98% [3]. Rất cao. Và, đa số những người trong y khoa đều thấy đó là một tin mừng lớn trong việc kiểm soát dịch Vũ Hán. Tôi cũng nghĩ hiệu quả cao như vậy thì không còn nghi ngờ gì nữa [4].

No photo description available.
Hiệu quả của vaccine Pfizer/BionTech: Kết quả báo cáo trên NEJM là 95% (cột sau cùng). Nhưng con số này dựa vào 170 ca nhiễm đã được xác định bởi PCR. Trong thực tế còn có 3410 ca NGHI bị nhiễm nhưng chưa xác định bởi PCR, mà bài báo trên NEJM không báo cáo. Nếu tính số ca NGHI bị nhiễm, thì hiệu quả của vaccine là 18%, chớ không phải là 95%.

Nhưng đến khi Pfizer nộp tất cả dữ liệu và kết quả phân tích cho FDA thì một chuyên gia [5] nhìn ra một ‘bức tranh’ khác. Để hiểu vấn đề, tôi xin trình bày một chút chi tiết và bối cảnh của công trình nghiên cứu:

  • Nghiên cứu có 2 nhóm tình nguyện viên: 18198 người được tiêm vaccine và 18325 người thuộc nhóm chứng;
  • Trong thời gian theo dõi, có 170 người (8 người trong nhóm vaccine và 162 người trong nhóm chứng) bị nhiễm virus. Đây là những ca nhiễm đã được xác nhận bằng phân tích PCR, chuẩn vàng để chẩn đoán nhiễm virus. Từ hai kết quả này, các tác giả ước tính được VE = 95%.

Những ca nghi ngờ nhiễm

Tuy nhiên, trong bài báo trên New England Journal of Medicine (NEJM), các tác giả báo cáo KHÔNG đầy đủ. Nhưng bên cạnh con số 170 đó, còn có những ca “suspected covid-19“, tức nghi ngờ nhiễm. Đây là những ca có triệu chứng, nhưng chưa được xác nhận bằng PCR.

Có bao nhiêu ca nghi ngờ nhiễm? Theo báo cáo cho FDA thì có đến 1594 ca trong nhóm vaccine và 1816 ca trong nhóm chứng! Tức là tổng số có đến 3410 người bị nghi nhiễm, nhiều hơn gấp 20 lần con số được xác nhận nhiễm.

Ảnh hưởng của các ca nghi ngờ này đến hiệu quả vaccine ra sao? Nếu con số nghi nhiễm này được cộng với con số 170 thì, hiệu quả của vaccine bây giờ là chỉ còn 18%.

VE = 1 – ((8+1594) / 18198) / ((162+1816)/18325) = 18%.

Chỉ 18%. Không phải 95%.

Phân tích chọn lọc

Ngoài ra, bài báo trên NEJM cũng không giải thích tại sao họ loại bỏ 371 ca được đánh giá là vi phạm protocol nghiên cứu. Vấn đề là trong số này, đa số (311) thuộc nhóm vaccine và chỉ có 60 thuộc nhóm chứng. Cách loại bỏ này làm cho hiệu quả vaccine có vẻ cao.

Tôi không hiểu tại sao tác giả không phân tích theo phương án ITT (tức bao gồm cả những ca không theo đúng protocol hay bỏ cuộc) như tất cả nghiên cứu RCT đều làm. Cách loại bỏ này làm cho ước số hiệu quả của vaccine bị sai lệch.

Tóm lại, con số 95% về hiệu quả của vaccine (Pfizer / Biontech) có thể không chính xác như báo cáo trong bài báo trên NEJM. Những vấn đề mà Peter Doshi (phó biên tập của BMJ) nêu lên rất đáng để tìm hiểu thêm. Hi vọng rằng nhóm tác giả sẽ có cơ hội giải thích và chúng ta biết rõ hơn về hiệu quả của vaccine. Có nhiều chuyên gia đề nghị phải có chuyên gia độc lập phân tích lại dữ liệu.

Điều đáng nói là họ báo cáo các số ca nghi nhiễm cho FDA, nhưng không báo cáo trên bái báo khoa học! Đôi khi chúng ta không nên quá tin vào dữ liệu của các công ti, vì họ có nhiều ‘conflict of interest’.

____

[1] https://7news.com.au/sunrise/on-the-show/calls-for-australias-rollout-of-oxford-astrazeneca-covid-vaccine-to-be-paused-over-efficacy-concerns-c-1945573

[2] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)32661-1/fulltext

[3] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa2034577

[4] https://tuanvnguyen.medium.com/a-bayesian-interpretation-of-pfizer-vaccine-efficacy-fa2dcd195fd9

[5] https://blogs.bmj.com/bmj/2021/01/04/peter-doshi-pfizer-and-modernas-95-effective-vaccines-we-need-more-details-and-the-raw-data


Qui luật phổ quát của sự thành công

Sự thành công là điều ai cũng mong muốn, và cũng là đề tài của rất nhiều đầu sách loại ‘học làm người’. Trong cuốn sách “The Formula”, tác giả Albert-László Barabási (là một giáo sư về khoa học mạng — network science) cung cấp cho chúng ta nhiều bài học thú vị và 5 qui luật của thành công. Cái note này chia sẻ với các bạn 5 qui luật đó, với hi vọng giúp các bạn định hình lại chính mình.

Image may contain: text that says 'Albert-László Barabási + Formula The The Science Behind Why People Succeed or Fail 'This is not just an important but an imperative project' NASSIM NICHOLAS TALEB, AUTHOR OF THE BLACK SWAN'
Sách “The Formula” của Gs Albert-László Barabási đề ra 5 qui luật của thành công:

Qui luật 1: Sản phẩm hay thành tích quyết định sự thành công, nhưng nếu phẩm chất của thành tích không thể đo lường được, thì mạng quan hệ là yếu tố quyết định sự thành công. Qui luật 2: Thành tích có giới hạn, nhưng thành công thì vô hạn. Qui luật 3: Thành công là hiện tượng gắn bó. Qui luật 4: Thành công của nhóm cần phải có sự đa dạng và cân đối, nhưng một cá nhân sẽ nhận công trạng cho cả nhóm. Qui luật 5: Thành công chỉ đến với người kiên trì. 

Thành công là gì?

Trước hết chúng ta cần phải có một định nghĩa về khái niệm ‘thành công’. Trong Khoa học Thành công (Science of Success) người ta phân biệt giữa ‘performance‘ và ‘success‘. Rất khó dịch chữ performance sang tiếng Việt trong ngữ cảnh chúng ta đang bàn, nhưng một cách ngắn gọn: performance là việc mà chúng ta làm. Đó là bức tranh bạn sáng tác, là cuốn tiểu thuyết bạn viết, là công trình nghiên cứu khoa học bạn công bố, là bệnh lí bạn điều trị. Nói tóm lại, performance là sản phẩm’ bạn làm ra, là thành tích của bạn.

Còn success hay ‘thành công’ dùng để chỉ tầm ảnh hưởng của sản phẩm. Bức tranh bạn sáng tác có viện bảo tàng nào trưng bày không, cuốn sách bạn xuất bản có ai mua đọc, công trình khoa học bạn xuất bản có ai sử dụng trong thực tế, bệnh lí bạn điều trị có được đồng nghiệp công nhận. Do đó, khái niệm ‘thành công’ở đây nên hiểu là tác động của sản phẩm. (Bây giờ tôi mới hiểu tại sao các cơ quan tài trợ khoa học ở Úc đòi hỏi ứng viên phải tự nói về ‘impact’ của mình).

Để thành công, bạn cần có một (hay nhiều) sản phẩm với phẩm chất cao, bạn cần có kĩ năng xuất sắc trong việc làm. Nhưng phẩm chất của sản phẩm và kĩ năng là điều kiện cần, chớ chưa đủ cho thành công. Để thành công, sản phẩm đó phải gây ảnh hưởng trong cộng đồng. Trong “The Formula”, Barabási trình bày hàng loạt trường hợp thú vị để minh chứng cho điểm đó.

Chẳng hạn như trong bóng đá, chúng ta rất dễ đánh giá các cầu thủ qua kĩ năng và các con số thống kê về số lần thắng hay thua, và do đó thành tích của họ rất dễ đo lường. Sự thành công của các cầu thủ bóng đá, do đó, rất dễ đánh giá.

Tuy nhiên, nếu bạn làm trong lãnh vực nghệ thuật, thì đánh giá về thành công rất khó. Một công trình nghệ thuật, như một bức tranh chẳng hạn, chúng ta rất khó có một thước đo khách quan để biết giá trị của nó. Chúng ta có lẽ sẽ hỏi bức tranh này có được trưng bày trong một viện bảo tàng nghệ thuật nổi tiếng hay chỉ là một phòng tranh vô danh nào đó. Chúng ta không có tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá một bức tranh, nếu không biết nơi mà bức tranh được trưng bày. Giá trị của bức tranh phải được đánh giá trong bối cảnh nó ra đời, tác giả và danh tiếng của tác giả.

Thành công là hiện tượng tập thể

Thời Thế chiến thứ Nhứt (1914 – 1918), viên phi công người Đức Manfred von Richthofen (1892 – 1918), còn được biết với nickname là ‘Red Baron’ vì ông cho sơn chiến đấu cơ màu đỏ, được nhiều người biết đến. Ông là một phi công tác chiến dũng cảm và điêu luyện, với thành tích khủng: bắn hạ 80 máy bay của địch và tánh can đảm trong những trận không chiến! Ông là chủ đề của nhiều cuốn sách và phim ảnh Hollywood, và người đời đều biết ông là phi công tác chiến số 1 trong Thế chiến thứ Nhứt.

Phi công người Pháp René Fonck (1894 – 1953) cũng là một phi công tác chiến cùng thời và có thành tích còn ‘khủng’ hơn von Richthofen. Phi công Fonck đã từng bắn hạ 127 chiến đấu cơ của Đức, và cũng gan dạ như von Richthofen. Nhưng Fonck còn hơn ‘đồng nghiệp’ ở chỗ ông có kĩ thuật tác chiến tuyệt vời, và chiến đấu cơ ông lái không hề trầy xước gì trong suốt cuộc chiến. Nhưng sau này rất ít ai biết đến ông.

Tại sao 2 phi công chiến đấu cùng thời gian, cả hai cùng có thành tích ‘khủng’, nhưng một người thì nổi tiếng, còn người khác thì không? Cái khác biệt chánh giữa 2 người là một người có ích cho hệ thống (von Richthofen) còn người khác thì không. Sự thành công của von Richthofen liên quan đến biến cố chánh trị xã hội xảy ra. von Richthofen lúc đó là một ‘đối tượng’ rất cần thiết cho bộ máy tuyên truyền của Đức, họ cần tìm một người ‘anh hùng’ để hun đúc tinh thần yêu nước. Thành ra, von Richthofen là một sản phẩm của tuyên truyền, vì cái mạng xã hội cần ông ấy.

Tình hình cũng giống như ông Phạm Tuân và Eugene Trịnh, cả hai đều là phi hành gia, nhưng ông Phạm Tuân thì được nhiều người Việt biết đến hơn ông Eugene. Ngay cả ở Mĩ, ít người biết đến Eugene Trịnh là phi hành gia gốc Việt (Bạc Liêu). Bài học là nếu không có cộng đồng, cá nhân dù với thành tích tuyệt vời thì vẫn ít được người biết đến.

Nói theo ngôn ngữ của Khoa học Mạng (network science), mỗi chúng ta chỉ là một cái ‘node’ (nút) trong một mạng phức tạp gồm hàng tỉ nodes, và trong mạng lưới đó tất cả chúng ta đều có liên quan hay lệ thuộc lẫn nhau. Do đó, để biết thành tích của một cá nhân có gây tác động, chúng ta cần phải xem xét đến các nodes khác phản ứng trong mạng lưới đó.

Những câu chuyện trên nói lên rằng thành công không phải chỉ nhờ vào thành tích hay công trình hay sản phẩm bạn làm ra, mà là lệ thuộc vào sự đánh giá và công nhận của cộng đồng. Thành công do đó là một hiện tượng mang tính cộng đồng, vì nó liên quan đến cảm nhận của tập thể.

Thành công là hiện tượng gắn bó

Năm 2017 bức tranh nổi tiếng Christ (về Chúa Jesus) được bán với giá 450 triệu USD. Nhưng lần bán trước đó vào năm 2005, bức tranh đó trị giá chỉ … 10,000 USD. Điều gì giải thích cho sự gia tăng giá trị của bức tranh? Trước đó và cho đến năm 2005, người ta nghĩ rằng tác giả của bức tranh là học trò của danh hoạ Leonardo da Vinci, thế nhưng sau này thì qua đánh giá khoa học người ta mới biết tác giả là Leonardo da Vinci. Đó chính là lí do giải thích tại sao bức tranh có giá trị cao như thế.

Image may contain: 1 person
Danh hoạ “Christ” (Chúa Jesus) năm 2005 được đấu giá 10,000 USD, nhưng năm 2017 khi người ta biết tác giả là Leonardo da Vinci thì giá trị lên đến 450 triệu USD.

Bức tranh Mona Lisa được xem là một tác phẩm hoạ nổi tiếng nhứt từ cổ chí kim, nhưng ít ai biết rằng tác phẩm này cũng từng có một thời gian hẳm hiu. Tác phẩm này được trưng bày trong viện bảo tàng Louvre (Pháp) như nhiều tác phẩm khác. Nhưng năm 1911, Mona Lisa bị ăn trộm, và cả thế giới truy tìm thủ phạm, thậm chí có lúc danh hoạ Picasso bị bắt vì nghi ngờ là kẻ tòng phạm, và vậy là bức tranh trở nên nổi tiếng. Các chuyên gia ước tính rằng nếu bức tranh được đem ra đấu giá thì nó có giá trị 1.5 tỉ USD!

Cũng giống như cái đồng hồ hiệu Rolex 6062 của vua Bảo Đại. Tuy giá trị thị trường của cái đồng hồ đó có thể không quá 50,000 USD, nhưng khi người ta biết chủ nhân của nó là vua Bảo Đại thì giá trị của nó lên đến hơn 5 triệu USD vào năm 2017.

Trong Formula, tác giả thuật một trường hợp rất hay để minh hoạ cho qui luật ‘Preferential attachment‘. Bản thảo tác phẩm “The Cuckoo’s Calling” được tác giả tên là Robert Galbraith nộp cho Nhà xuất bản Orion Books bên Anh. Biên tập viên Kate Mills xem qua bản thảo và thấy cũng hay hay, nhưng không đặc sắc, nên bà từ chối kí hợp đồng xuất bản. Tác giả bèn nộp cho một nhà xuất bản khác, và lần này thì tác phẩm được công bố.

Ngay sau khi tác phẩm được công bố, có nhiều lời đồn rằng tác phẩm đó được J. K. Rowling biên tập (Rowling là người nổi tiếng thế giới qua tác phẩm Harry Porter). Thế là tác phẩm trở nên nổi tiếng. Một nhà nghiên cứu dùng thuật toán thống kê so sánh văn phong của Rowling và Galbraith, và phát hiện nhiều điểm rất giống nhau. Hoá ra, tác giả Robert Galbraith — được mô tả là một sĩ quan quân cảnh — chẳng ai khác hơn là bà J. K. Rowling!

Image may contain: one or more people, text that says 'ROBERT GALBRAITH The Number One Bestseller THE CUCKOO'S CALLING STRIKE ASTRIKENOVE NOVEL The work of 1 master storyteller' Daily Telegraph OWL BOOKS'
Tiểu thuyết “The Cuckoo’s Calling” của tác giả Robert Galbraith nhưng kì thực là của bà J. K. Rowling. Qua sự việc, bà Rowling muốn làm một thí nghiệm xã hội để nói lên rằng nếu một người chưa nổi tiếng muốn thành công thì người đó phải làm việc với một người nổi tiếng.

Qua sự việc, bà Rowling muốn làm một thí nghiệm xã hội để nói lên rằng nếu một người chưa nổi tiếng muốn thành công thì người đó phải làm việc với một người nổi tiếng.

Thí nghiệm của Rowling thật ra cũng chứng thực cho một thí nghiệm mà nhà văn Stephen King đã làm trước đó 30 năm. Thời đó, King dùng bút danh “Richard Bachman” để xuất bản tác phẩm. Trong sách, tác giả Bachman được mô tả như là một người đẹp trai ‘phong trần’, từng làm nghề nuôi gà ở bang New Hampshire, và chỉ viết sách vào buổi tối. Cũng như trường hợp của Rowling, tác phẩm mà Stephen King gởi đi dưới bút danh Richard Bach bị loại ngay từ ‘vòng gởi xe’ bởi nhiều nhà xuất bản.

Tuy nhiên, Bach vẫn xuất bản được 4 cuốn tiểu thuyết, với tổng số sách được bán là 40,000 bản. Thế nhưng một người bán sách phát hiện văn phong của Bach rất giống văn phong của King, và khi thông tin này được đưa ra thì sách bán chạy gấp 10 lần trước đây.

Những câu chuyện trên nói lên một qui luật rằng: thành công là hiện tượng gắn bó. Diễn giải theo cách nói của người Việt chúng ta là ‘gần mực thì đen, gần đèn thì sáng’. Đây là qui luật “Preferential Attachment “, người giàu càng giàu hơn (còn gọi là hiệu ứng Matthew trong dịch tễ học). Nếu bạn là người đã đạt được sự danh tiếng trong chuyên ngành, thì bạn có thể sẽ dễ thành công hơn trong tương lai. Nhưng nếu bạn chưa phải là người có danh tiếng, bạn nên liên kết và làm quen với những người danh tiếng.

Người ta có xu hướng nghe những người danh tiếng mà họ biết đến, cho dù những người này có khi nói ra những điều vô duyên. Bài học là nếu bạn chưa phải là người nổi danh nhưng muốn nổi danh thì bạn nên làm việc hay làm quen với những người lừng danh. Bài học này hoàn toàn ứng nghiệm trong khoa học (muốn thành công thì nên đầu quân vào những lab thành công và thầy nổi tiếng), nhưng tôi nghĩ cũng ứng nghiệm cho các lãnh vực khác, kể cả chánh trị.

Mấu chốt không phải chỉ ở chỗ bạn biết và giỏi về cái gì, mà còn là bạn biết ai trong cộng đồng.


The Formula” là một cuốn sách hay. Hay là vì tác giả cung cấp những bài học và qui luật mà đa số chúng ta đều có thể cảm nhận hay liên quan. Cách tác giả kể những câu chuyện hết sức hấp dẫn và thú vị. Đọc cuốn sách này các bạn sẽ học được rất nhiều điều (nhưng chưa chắc là đồng ý với tác giả), và những câu chuyện đáng để được mỗi chúng ta suy ngẫm về khái niệm ‘thành công’. Để thành công ngoài kĩ năng và thành tích xuất sắc, bạn cần phải có một cộng đồng (‘bộ lạc’, network) và làm quen hay làm việc với những người đã thành công trong ‘bộ lạc’ đó.

Đọc xong cuốn sách và đối chiếu với triết lí Phật, các bạn có lẽ cũng như tôi sẽ thấy sự thành công nó chỉ là một sản phẩm của Duyên Khởi (cái này lệ thuộc cái kia như đề cập trong network mà tác giả nhắc đến), nó không có thật (Tánh Không), hay nếu có thì mang tính Vô Thường.

Thiên kiến tiêu cực (negativity bias)

Đa số chúng ta đều có một thói quen hơi … xấu: nhìn vào và nhớ nhiều đến những điều tiêu cực hơn là những điều tích cực. Giới tâm lí học có một cái tên cho thói quen này: ‘negativity bias‘ [1] hay ‘thiên kiến tiêu cực‘. Nhưng đằng sau thiên kiến tiêu cực là cả một bầu trời để chúng ta học hỏi và có thể giải thích nhiều hiện tượng xã hội.


Tôi còn nhớ một trong vở kịch do Quang Minh và Hồng Đào thủ diễn rất có ý nghĩa. Trong vở kịch đó, Quang Minh trong vai một nhà tâm lí học trưng bày một tờ giấy trắng có một đóm đen nhỏ, và hỏi Hồng Đào rằng ‘Chị có thấy gì không?’ Hồng Đào trả lời thấy một đốm đen. Hỏi lần nữa, Hồng Đào vẫn khẳng định: chỉ thấy cái đốm đen. Quang Minh mới chỉ ra rằng tờ giấy toàn màu trắng, nhưng chỉ vì có 1 đốm đen làm cho người xem bị lạc hướng.

No photo description available.
“Thí nghiệm” của Quang Minh & Hồng Đào: hỏi khán giả thấy gì trong hình. Tuyệt đại đa số chỉ thấy một đốm đen, nhưng không thấy màu trắng chung quanh.


Bài học ‘morale’ là chúng ta thường chỉ nhìn thấy cái tiêu cực hay cái xấu rất nhỏ, nhưng không nhìn thấy những điểm tích cực chiếm đa số. Vở hài kịch đó là một thí nghiệm có ý nghĩa về thiên kiến tiêu cực.
Chúng ta không chỉ có xu hướng thấy cái tiêu cực, mà còn tin vào điều tiêu cực. Trong bộ phim Pretty Woman (chắc dịch là ‘Tố Nữ’, tôi rất thích) do Julia Roberts thủ diễn trong vai một cô gái có thể xem là giang hồ tên Vivian, có đoạn cô ấy nói với Richard Gere trong vai một anh chàng triệu phú rằng: “The bad stuff is easier to believe. You ever notice that?” (Anh có bao giờ để ý thấy người ta dễ tin vào cái xấu không?)

Nếu nhìn chung quanh và lắng nghe, chúng ta dễ dàng đồng cảm với Vivian. Những kẻ bất lương hay lợi dụng cái tâm lí này để gieo mối hoài nghi về những người họ không thích chỉ bằng một câu nói vu vơ và hoàn toàn vô chứng cớ kiểu như ‘Cô ấy có vấn đề’. Chỉ với câu nói đó làm cho người chung quanh — nếu không tỉnh táo — xa lánh bạn bè mình và thậm chí ân nhân mình.


Thiên kiến tiêu cực


Theo định nghĩa của giới tâm lí học, thiên kiến tiêu cực là xu hướng thèm khát để được nghe và nhớ những thông tin xấu. Những đặc tính chánh của thiên kiến tiêu cực là:

• nhớ những trải nghiệm đau thương hơn là nhớ những thành công;
• kí ức tiêu cực được đề cập đến nhiều hơn là kí ức tích cực;
• nghĩ về những lời nói xấu hơn là những lời khen tặng; và
• phản ứng mạnh mẽ đến những biến cố tiêu cực hơn là biến cố tích cực.


Định nghĩa đơn giản trên thật ra là được đúc kết từ một quá trình nghiên cứu khoa học suốt hơn 50 năm. Những nghiên cứu này cho thấy chúng ta phản ứng đến những chữ tiêu cực nhanh hơn là những chữ hàm ý tích cực. Kết quả của một thí nghiệm tâm lí cho thấy những chữ như “ung thư”, “bom”, “chiến tranh” được người tham gia nghiên cứu (tình nguyện viên) nhớ nhiều hơn và nhanh hơn là những chữ như “trẻ con”, “cười”, “vui vẻ”, mặc dù những chữ tích cực này xuất hiện nhiều lần hơn những chữ tiêu cực.


Trong một thí nghiệm nổi tiếng do Gs Daniel Kahneman thực hiện [2], ông hỏi tình nguyện viên tưởng tượng 2 tình huống: mất 50 USD và có thêm 50 USD. Sau đó, ông đo lường phản ứng cảm xúc của tình nguyện viên. Kết quả cho thấy tình nguyện viên tỏ ra có cảm xúc mạnh mẽ khi mất tiền, nhưng khi có thêm tiền thì họ không có cảm xúc đáng chú ý! Tức là, tuy số tiền mất và có thêm như nhau, nhưng phản ứng sinh học thì thì thiên về mất mát hơn là cái đạt được.


Thiên kiến tiêu cực và phản ứng còn tuỳ thuộc vào giới tính, quan điểm chánh trị và cá tánh. Nhìn chung, nữ giới có vẻ có phản ứng tiêu cực nhiều hơn nam giới. Trước một thông tin xấu, phản ứng của nam thường biểu lộ ra ngoài, nhưng nữ giới thì thường hay bị dằn dặt nội tâm (như buồn bã, trầm cảm). Người thuộc phe bảo thủ có thiên kiến tiêu cực nhiều hơn phe cấp tiến. Người có thói ghen tị và ganh tị thì có nhiều thiên kiến tiêu cực hơn người cởi mở, có lẽ vì họ (người ghen tị) nhìn đâu cũng thấy mình thiếu thốn hơn người khác, nên họ hay soi mói và khai thác những điểm tiêu cực của người khác.

Common Investor Mistake #5 - Negativity Bias
Illustration from common investor

Tại sao chúng ta có thiên kiến tiêu cực?

Câu trả lời nằm ở 3 yếu tố: tâm lí, quá trình tiến hoá, và sinh học.

Theo các nhà tâm lí học giải thích, sở dĩ chúng ta chú ý đến tin xấu là vì nhìn chung chúng ta thấy thế giới này tốt hơn là những gì người khác mô tả. Đa số chúng ta có cuộc sống thoải mái, tốt hơn trung bình, và do đó khi đọc một bản tin tiêu cực thì chúng ta cảm thấy ngạc nhiên và thông tin đó trở nên nổi bật. Nó giống như tờ giấy trắng thể hiện mọi chuyện đều ổn định, nhưng chỉ một cái đốm đen cũng làm cho người ta quên đi màu trắng mà chỉ chú ý vào màu đen nổi bật.


Chúng ta ai chắc cũng chú ý thấy trên truyền thông phương Tây đa số là những tin tiêu cực, tin xấu. Tin về ‘cướp giết hiếp’ được các tờ báo lá cải khai thác tối đa đã đành, tin về xung đột và chiến tranh được các trạm truyền thông lớn rất ưa chuộng. Đối với cá nhân, tin tích cực càng ít (có nhưng hiếm), bởi vì hình như tin tích cực không được quan tâm? Xu hướng này rất đúng với trường hợp ông Trump. Trong suốt 4 năm làm tổng thống, và cả trước đó, các trạm truyền thông lớn và được xem là ‘chánh thống’ hầu như không có một tin gì tích cực về ông ấy. Tin tiêu cực về ông ấy không phải diễn ra hàng ngày, mà phải nói là hàng giờ. Những gì chúng ta đọc trên báo chí rất đúng với châm ngôn “No news is good news” (không có tin nào là tin tốt), hàm ý nói rằng đã là news thì phải có ý nghĩa tiêu cực, còn nếu không có news thì chúng ta có thể giả định rằng mọi việc xảy ra đều … ok.


Một số nhà tâm lí học giải thích rằng do quá trình tiến hoá, chúng ta mang trong người những gen thiên về chú ý đến những khía cạnh tiêu cực trong môi trường có thể gây tác hại đến chúng ta. Vào thời mà tổ tiên chúng ta sống bằng săn bắt và sống trong hang động, xu hướng chú ý đến những tín hiệu hiểm nguy rất quan trọng để duy trì sự sống còn. Đó là một trong những lí do sâu xa tại sao chúng ta hay quan tâm đến những gì tiêu cực hơn là tích cực. Do đó, một số người hay nhạo báng rằng ai có thiên kiến tiêu cực là sống trong thời … tiền sử!


Về mặt sinh học, cảm xúc tiêu cực kích hoạt một vùng não có tên là amygdala, hình trái hạnh. Amygdala [3] có chức năng như là cái đồng hồ báo động trong não bộ chúng ta. Theo giới thần kinh học, amygdala dùng 2/3 các sợi dây thần kinh để tìm những tín hiệu tiêu cực. Một khi tín hiệu tiêu cực được tiếp nhận, nó nhanh chóng được lưu trữ trong kí ức một thời gian dài hơn là những tín hiệu tích cực. Điều này cũng là một phần của sự tiến hoá con người là đi tìm những gì tiêu cực hơn là tích cực.


Phải làm gì để chống thiên kiến tiêu cực?


Một số thí nghiệm tâm lí chỉ ra rằng khi người lương thiện dù chỉ phạm phải một sai lầm nhỏ nhưng họ bị nghi ngờ là kẻ xấu đối với người có thiên kiến tiêu cực. Tuy nhiên, người gian manh thì dù nói điều đúng vẫn được xem là gian manh. Trường hợp ông Trump rất ứng nghiệm với cách đánh giá theo thiên kiến tiêu cực.
Thiên kiến tiêu cực là một thói quen nguy hiểm. Nó nguy hiểm là vì thiên kiến này làm cho chúng mất cân đối trong nhận xét, làm cho sự đánh giá của chúng ta bị lu mờ và thiếu khách quan.


Do đó, câu hỏi quan trọng là làm gì để loại bỏ thiên kiến tiêu cực từ trong não bộ chúng ta? Nhiều chuyên gia cho rằng thiền là một cách hay nhứt để ‘điều trị’ bệnh thiên kiến tiêu cực, vì thiền giúp cho chúng ta tẩy rửa não bộ. Đây không phải chỉ là ý kiến cá nhân, mà thật ra là có nghiên cứu lâm sàng RCT [4] chỉ ra rằng chỉ cần 15 phút thiền mỗi ngày là chúng ta có thể giảm những ám ảnh bởi thông tin tiêu cực.


Một cách khác nữa là thay vì tối ngày đọc những tin tức tiêu cực thì bạn nên tìm đọc một quyển sách hay hay nghe một bản nhạc đẹp. Đọc một cuốn sách hay có hiệu quả rất tuyệt vời, vì nó làm cho chúng ta sống vào cái thế giới của cuốn sách và nghiền ngẫm cuộc đời một cách sáng suốt, và qua đó mà bỏ qua một bên những suy nghĩ và những kí ức tiêu cực.


Ngoài thiền và đọc sách & nghe nhạc, cách tránh hay giảm thiên kiến tiêu cực hay nhứt là dùng ngôn ngữ và cách nói tích cực hơn là tiêu cực. Trong bình duyệt bài báo khoa học, tôi hay cố gắng viết theo hướng tích cực và lúc nào cũng có hiệu quả tốt. Thay vì viết “nghiên cứu này thất bại …”, tôi viết “nghiên cứu này có thể cải tiến nếu chú ý vào …”. Thay vì nói người ta là “Mi đã thua cuộc lần này” thì nên nói “Mi có khả năng làm tốt hơn lần sau”. Những cách nói đó, nếu mỗi chúng ta cố gắng thực hành mỗi ngày, rất có ích cho việc giảm ‘bệnh’ thiên kiến tiêu cực trong xã hội. Câu nói của Trịnh Công Sơn, ‘sống tử tế với nhau’, có thể xem là một liều thuốc tốt để trị thiên kiến tiêu cực vậy.


Bất cứ sự việc nào hay hành động nào cũng có hai mặt, tích cực và tiêu cực, nhưng nếu chúng ta tập theo cách nhìn tích cực và xoá bỏ thiên kiến tiêu cực thì cuộc đời này chắc chắn sẽ tốt đẹp hơn.


[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Negativity_bias
[2] https://journals.sagepub.com/…/10.1177/0956797610381504
[3] https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/25390201
[4] https://journals.sagepub.com/…/10.1177/1948550610396585