Fellow là gì ?

Mấy hôm nay, có một sự ồn ào chung quanh chữ ‘fellow’, với nhiều ý kiến mà tôi nghĩ là hiểu chưa đủ và lẫn lộn. Điều này dễ hiểu vì ở VN không có chức danh fellow, nên ít ai hiểu bản chất của chức danh này. Có lẽ tôi là một trong những người trong cuộc (vì tôi có chức danh ‘fellow’), nên xin chia sẻ với các bạn ý nghĩa của chữ này.

Tôi hay nói đùa với bạn bè trong các chương trình workshop ở Việt Nam là chức danh fellow diễn giải sang tiếng Việt nó đơn giản và gần gũi lắm. Ở nghĩa đơn giản nhứt, fellow có nghĩa là ‘gã’, ‘thằng cha’ (như ‘He is a nice fellow’ = anh ấy là một gã dễ mến). Chữ fellow còn có nghĩa là ‘đồng chí’ (hiểu theo nghĩa chữ comrade), hay có khi là ‘đồng bào’ (như trong câu ‘My fellow citizens‘ = Hỡi đồng bào của tôi). Đó là vài ý nghĩa của chữ fellow trong tiếng Anh, mà xuất xứ của nó là từ tiếng Anh cổ feolaga’ vốn có nghĩa là đồng loại (one of the same kind’).

Cái nghĩa ‘đồng loại’ đó được lan sang (hay ứng dụng) trong hệ thống khoa bảng và khoa học thuộc thế giới phương Tây. Khi sang thế giới khoa học, chữ fellow được mang một ý nghĩa trịnh trọng hơn: học giả. Thật ra, trong tiếng Anh, chữ scholar cũng là học giả, nhưng hình như chữ này càng ngày càng được xem là … già nua. Dưới đây là ý nghĩa của chức danh fellow trong thế giới khoa học hiện đại:

Nhóm 1: Fellow là thành viên của viện hàn lâm

Ở các nước như Anh và Úc, thành viên của các viện hàn lâm khoa học được quyền dùng danh xưng là fellow. Những người này được bầu, nên có khi người ta dùng danh xưng elected fellow để phân biệt với những thành viên nước ngoài không qua bình bầu. Đây chỉ là chức danh danh dự, không có lương.

Những thành viên này có quyền dùng những danh xưng sau tên họ như Fellow of Royal Society (FRS), Fellow of Australian Academy of Science (FAA), Fellow of Academy of Health and Medical Sciences (FHAMS), v.v. Nhìn vào danh xưng người ta biết họ thuộc đẳng cấp nào trong bậc thang khoa học.

Hình như ở Nga người ta gọi thành viên viện hàn lâm là ‘academician’ (viện sĩ). Chức danh fellow ở Anh, Úc (và Mĩ?) chính là academician.

Nhóm 2: Fellow là thành viên xuất sắc (elite) của hiệp hội khoa học

Ở một số hiệp hội khoa học lớn, fellow là chức danh dành cho những nhà khoa học có đóng góp xuất sắc và quan trọng trong chuyên ngành. Những người này thuộc vào nhóm thiểu số ‘privileged’ (tức lãnh đạo) và có địa vị cao hơn những member (hội viên). Ví dụ như hiệp hội loãng xương Hoa Kì ASBMR hay hiệp hội IEEE mỗi năm bình bầu những hội viên xuất sắc để họ được dùng danh xưng fellow hay ‘elected fellow‘. Đây cũng chỉ là chức danh danh dự, không có lương.

Trong các hiệp hội y khoa ở Úc (gọi là ‘college’) cũng có những bác sĩ có danh xưng là fellow sau khi họ đã qua một chương trình huấn luyện chuyên ngành.

Nhóm 3: Fellow là nhà khoa học độc lập cấp cao

Trong các đại học và viện nghiên cứu (như Howard Hughes, WEHI, Garvan, v.v.) các nhà khoa học cấp cao, những người mà lương bổng và chi phí nghiên cứu của họ do một nhà tài trợ khác tài trợ (chớ không lệ thuộc vào viện hay đại học) được gọi là fellow. Tiền tài trợ cho họ được gọi là fellowship. Những người này có thể đem cái fellowship đó đi bất cứ nơi nào trong nước mà họ thích, nhưng vì đại học rất quí họ nên khi họ có fellowship thì đại học thường cho tiền thêm để giữ chân.

Các fellowship này rất ư là cạnh tranh và danh giá vì thường có giá trị hàng triệu USD và được xem là award (giải thưởng cho cá nhân). Chẳng hạn như ở Úc, chỉ trong ngành y sinh học, mỗi năm có chừng 2000 giáo sư đại học xin fellowship nhưng chỉ có chừng hơn 100 là được tài trợ. Còn trong các ngành khoa học tự nhiên (ở Úc), mỗi năm cũng có hàng ngàn giáo sư xin fellowship và số thành công chỉ có chừng 200. Đây là chức danh theo nhiệm kì, và mỗi nhiệm kì là 5 năm.

Không phải ai có chức danh fellow đều có vị trí như nhau. Trong thực tế, các viện nghiên cứu chia ra nhiều loại fellow: từ Fellow, Senior Fellow, Principal Fellow, và cao nhứt là Senior Principal Fellow hay Australia Fellow (hay tương đương Laureate Fellow). Chỉ cần nhìn vào chức danh là người ta biết vị trí của nhà khoa học ở đẳng cấp nào.

Chức danh fellow trong nhóm này còn có một ‘ứng dụng’ khác trong việc thu hút nhân tài. Chẳng hạn như Chánh phủ Úc muốn thu hút các nhà khoa học tài giỏi gốc Úc ở nước ngoài về nước, nhưng các đại học không có biên chế, thì cách họ làm là tạo ra một chương trình fellowship. Sau đó, họ tổ chức tuyển chọn (hay có khi mời trực tiếp) ứng viên và trao cho họ một fellowship hậu hĩkèm theo chức danh fellow để về Úc làm việc. Đây cũng chính là cách mà nhà cầm quyền Trung Cộng sử dụng để thu hút nhân tài từ phương Tây.

Nhóm 4: Fellow là nhà nghiên cứu trong đại học

Ở một số đại học Úc (không phải tất cả) những người chuyên làm nghiên cứu (tức không giảng dạy) thuộc một dự án cụ thể nào đó có danh xưng là fellow. Điều rất lẫn lộn là họ cũng có những cấp như Fellow, Senior Fellow, Principal Fellow(nhưng không có Australia Fellow). Đây là chức danh có lương.

Tuy nhiên, đây là những chức danh của và do đại học bổ nhiệm, không qua qui trình tuyển chọn và cạnh tranh cấp quốc gia hay quốc tế như Nhóm 3. Do đó, vị trí khoa học và prestige của nhóm này, tuy có cùng chức danh, nhưng không thể so sánh với Nhóm 3 ở trên.

Nhóm 5: Fellow là nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ

Trong hệ thống khoa học phương Tây, đặc biệt là lãnh vực khoa học tự nhiên và thực nghiệm, một người sau khi tốt nghiệp tiến sĩ thường phải qua một giai đoạn hậu tiến sĩ (postdoc). Hậu tiến sĩ là giai đoạn học nghề, chớ chưa phải là nhà nghiên cứu độc lập. Các tiến sĩ thường phải qua một quá trình cạnh tranh ‘ác liệt’ để có một cái ghế hậu tiến sĩ.

Lương của các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ có thể là từ trường đại học, từ một tổ chức khoa học, hay hiệp hội khoa học. Do đó, học bổng cho nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ có tên là postdoctoral fellowship. Dĩ nhiên, đây cũng là chức danh có lương nghiêm chỉnh, và có thời hạn (thường là 3-5 năm).

Một số đại học còn tạo ra những chương trình fellowship cho các nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ để thu hút những ứng viên xuất sắc, những nhà lãnh đạo khoa học tương lai. Chẳng hạn như Đại học UNSW có chương trình Scientia Fellowship, ĐH UTS có chương trình Chancellor’s Postdoctoral Research Fellowship mà đối tượng là những ứng viên hậu tiến sĩ và ‘đang lên’. Những người này ai cũng có ít nhứt 20 bài báo khoa học trên các tập san lừng danh sau 5 năm tốt nghiệp tiến sĩ, nên mức độ cạnh tranh rất cao.

Nhóm 6: Fellow là học giả vãng lai

Chức danh fellow còn dành cho những học giả vãng lai, và do đó có chữ visiting fellow. Hai chữ ‘học giả’ ở đây bao gồm hậu tiến sĩ, giảng viên, giáo sư, nhưng cũng có thể gồm cả những người thành danh dù không có bằng tiến sĩ. Những người thành danh đó thường là giới chánh trị gia, doanh nhân, nhà báo, nhà hoạt động xã hội, v.v. Những loại visiting fellowship này thường hay thấy trong các viện nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn. Đây là chức danh vừa mang tính học thuật vừa ngoại giao.

Người Mĩ là bậc thầy của những chức danh ngoại giao này. Khi Chánh phủ Mĩ nhận dạng ra những ngôi sao đang lên ở bất cứ nơi nào trên thế giới, họ thường tìm cách thiết lập quan hệ với những người đó. Cách họ làm là cấp cho các đại học một số tiền (gọi là fellowship) và đại học dùng tiền đó để mời người đang lên đến thăm và làm việc, hay gọi cho oai là ‘nghiên cứu’. Nhưng trong thực tế thì có khi chẳng nghiên cứu gì cả, chỉ cần làm một seminar với vài người đến dự (chừng 5-10 người) và thế là xong. Ở Úc cũng có những chương trình này.

Các Visiting Fellow được trả tiền thù lao tượng trưng (chớ không phải lương bổng). Thù lao có thể là 10,000 đến 30,000 USD một năm (tuỳ vào thành phố). Thường thì họ chỉ làm việc trong một thời gian ngắn (6 tháng đến 12 tháng). Các fellow ngoại giao trong nhóm này không thể so sánh với các Nhóm 3, 4, 5, vì bản chất bổ nhiệm và cạnh tranh rất khác nhau.

***

Như các bạn thấy chữ fellow có rất nhiều ý nghĩa, từ ‘bình dân’ đến khoa bảng. Fellow có thể là một nhà khoa học cấp hậu tiến sĩ, cũng có thể là nhà khoa học độc lập cao hơn nhiều so với hậu tiến sĩ, cũng có thể là người của đại học liên quan đến một dự án cụ thể, hay cũng có thể là học giả vãng lai và ngoại giao. Do đó, nếu chỉ nói chức danh fellow màkhông có nội hàm thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Chức danh fellow cho hậu tiến sĩ thì rất cạnh tranh (không có thành tích công bố khoa học tốt thì chẳng ai chịu xét), nhưng nếu là loại visiting fellow thì chẳng có cạnh tranh đáng kể.

Còn nếu là loại fellow có trả lương nghiêm chỉnh, thì nguồn trả lương xác định danh giá (prestige). Một giáo sư có fellowship (kèm theo tên) được đánh giá cao hơn nhiều so với một giáo sư bình thường. Còn chức danh fellow mang tính danh dự (không lương) thì cái danh giá tuỳ thuộc vào tổ chức là viện hàn lâm hay hiệp hội khoa học.

___________

Tái bút: Có bạn hỏi tôi sự khác biệt giữa ‘fellow‘ và ‘scholar‘ ra sao. Tôi chỉ có thể nói theo hiểu biết cá nhân thôi, vì có thể sự khác biệt tuỳ địa phương. Scholar hiểu theo nghĩa thông thường là ‘học giả’, nhưng nó còn có một nghĩa khác là ‘học sinh’ hay ‘sinh viên’. Ví dụ như nghiên cứu sinh tiến sĩ có khi còn được gọi là scholar, và học bổng họ nhận được gọi là scholarship.

Fellow là người đã qua bậc tiến sĩ hay nếu không có tiến sĩ thì đã thành danh. Họ không phải là sinh viên nữa, mà đã là một nhà nghiên cứu độc lập và trong nhiều trường hợp có thể điều hành một nhóm nghiên cứu. Trong y khoa, fellow là người ở cấp ‘consultant‘, tức họ hành nghề mà không cần có sự giám thị (cấp bác sĩ hành nghề vẫn bị giám sát bởi cấp cao hơn).

Do đó, trong học thuật chức danh fellow cao hơn scholar.

Hàn lâm hoá Nội các Chánh phủ

Nội các Chánh phủ Phạm Minh Chính có một điểm nổi bật nhứt là trình độ học vấn rất cao, cao hơn các bộ trưởng trong chánh phủ Úc và Mĩ.

Tỉ lệ thành viên Nội các Chánh phủ có bằng tiến sĩ ở VN, Úc và Mĩ. Ở VN, 50% (14/28 người) có bằng tiến sĩ, ở Úc con số này là 0, còn Nội các Biden bên Mĩ thì chỉ có 4 người (17%) có bằng tiến sĩ.

Chúng ta biết rằng Nội các Chánh phủ mới có 28 thành viên [1], nhưng có đến 5 phó thủ tướng! Chánh phủ Úc [2] hồi nào đến giờ chỉ có 1 phó thủ tướng. Chánh phủ Mĩ cũng vậy, chỉ có 1 phó tổng thống [3]. Không hiểu sao Việt Nam có nhiều phó thủ tướng thế.

So sánh số thành viên, tỉ trọng nữ giới, độ tuổi và trình độ học vấn giữa 3 Nội các Chánh phủ Việt Nam, Úc và Mĩ.

Điểm thứ hai là nam giới ‘thống trị’ Nội các Phạm Minh Chính. Thật vậy, trong số 28 người chỉ có 1 người duy nhứt là nữ: Phạm Thị Thanh Trà. Trong khi đó thời đại mới là tạo điều kiện và xiển dương vai trò của phụ nữ. Do đó, Nội các Morrison (Úc) có đến 23% là nữ, còn Nội các Biden bên Mĩ thì có đến 46% là nữ giới.

Nhưng điểm nổi bật trong Nội các mới là trình độ học vấn của các thành viên rất cao. Điểm tuyệt vời ở đây là có 14 người có bằng tiến sĩ [4], tức chiếm 50% tổng số thành viên trong Nội các. Con số này rất cao nếu so sánh với Úc, nơi không có bộ trưởng nào có bằng tiến sĩ, hay so sánh với Mĩ, nơi chỉ có 4 người có bằng tiến sĩ.

Thật ra, trình độ học vấn cao của các bộ trưởng Việt Nam không phải là điều gì mới mẻ. Chừng 10 năm trước (2010), Nội các Chánh phủ lúc đó có 26 người, thì 13 người có bằng tiến sĩ, tức cũng chiếm tỉ trọng 50%. Rồi Nội các Nguyễn Xuân Phúc cũng thế: số người có bằng tiến sĩ xấp xỉ 52%.

Ngay cả trong Bộ chánh trị (BCT) cũng có nhiều tiến sĩ. Thật vậy, số liệu năm 2021 cho thấy trong số 18 thành viên BCT, có đến 10 người (56%) có bằng tiến sĩ [5]. Nói cách khác, tỉ trọng tiến sĩ trong BCT còn cao hơn trong Nội các Chánh phủ.

Ở nước ngoài, Đức là nơi có nhiều tiến sĩ trong Nội các, nhưng tỉ trọng tiến sĩ cũng chỉ 20% trong tổng số bộ trưởng, và tình trạng này đã được xem là một ‘hiện tượng’. Tuy nhiên, con số 20% đó chẳng thấm gì so với 50% của Việt Nam. Có thể nói rằng chánh phủ Việt Nam ngày nay đã trở nên hàn lâm hoá.

Những dữ liệu thực tế trên có thể hiểu nhiều cách. Hiểu tích cực là trình độ các bộ trưởng Việt Nam ngày nay đã cao hơn nhiều so với các vị tiền nhiệm trong thời chiến tranh hay mới sau chiến tranh. Một cách hiểu khác là nó phản ảnh tính hiếu học của người Việt, và điều này thể hiện qua trình độ của các bộ trưởng.

Hiểu theo nghĩa kém tích cực thì những dữ liệu này nói lên rằng người Việt chưa chắc là hiếu học mà chỉ hiếu danh thôi. Ông Lương Đức Thiệp, trong “Việt Nam tiến hóa sử” (1944), viết rằng người Việt học không phải để hiểu biết mà để có được chức quyền vì miếng cơm manh áo: “[…] cho nên người Việt Nam hiếu học không phải vì khát hiểu biết mà chỉ vì mong một địa vị ưu thắng trong xã hội: Học đối với người Việt không phải để thỏa mãn một khát khao trí tuệ, mà chính là để làm kế mưu sinh.” Nếu hiểu theo nghĩa này thì bằng cấp như tiến sĩ ngày nay ở Việt Nam đã mất cái uy danh của nó và đã bị lạm dụng.

Một cách hiểu khác nữa là tình trạng ‘hàn lâm hoá’ chỉ là hậu quả của chánh sách ‘người ngành nào phụ trách ngành đó’ (ví dụ như bộ trưởng quốc phòng thì phải là tướng lãnh, bộ trưởng y tế phải là người của ngành y, bộ trưởng giáo dục phải là người của ngành giáo dục và đào tạo, v.v.) Trong khi đó ở các thể chế dân chủ và dân sự thì người ta thường cho người ngoài ngành lãnh đạo ngành chuyên môn. Thành ra, chúng ta thấy ở Mĩ hay Úc có khi bộ trưởng quốc phòng là luật sư, bộ trưởng y tế là người từng học về văn chương.

Tiến sĩ (PhD) là văn bằng thuộc loại ‘prestigious‘ hay ‘elite‘ (tinh hoa), là văn bằng cao nhứt trong một số nước trên thế giới. Văn bằng PhD là viết tắt từ chữ ‘Doctor of Philosophy‘. Chữ ‘philosophy’ ở đây không có nghĩa hẹp là triết học, mà có nghĩa rộng hơn. Trong tiếng Hi Lạp, ‘Philo’ có nghĩa là ‘thương’ (sau này trại ra ‘philia’) và ‘sophia’ có nghĩa là ‘tư tưởng’ (hay sáng suốt, hay thông thái). Như vậy, chữ ‘philosophy’ ở đây có nghĩa nghĩa rộng là ‘yêu tư tưởng’. Bản chất của văn bằng PhD, theo nghĩa nguyên thuỷ của nó, mang tính lí thuyết hơn là thực hành. Sau này thì nhiều trường cho ra đời loại bằng tiến sĩ thực hành mà họ gọi là ‘professional doctorate‘.

Còn chữ ‘doctor’ ở đây xuất phát từ tiếng Latin ‘docere’ có nghĩa là ‘giảng dạy’. Nhưng ngày nay, giảng dạy phải đi liền với nghiên cứu khoa học. Do đó, văn bằng PhD bản chất là một chứng chỉ của người hành nghề giảng dạy và nghiên cứu. Cho đến nay, văn bằng PhD được xem là ‘giấy thông hành’ của nhà khoa học. Cũng giống như một người muốn hành nghề thầy thuốc thì phải có bằng MD, còn muốn hành nghề nghiên cứu và giảng dạy thì phải có PhD.

Thế nhưng, ở Việt Nam thì ý nghĩa của văn bằng PhD có vẻ trở nên lệch lạc. Nhiều cơ quan trong hệ thống công quyền ở Việt Nam có qui định rằng ứng viên phải có bằng PhD để đáp ứng tiêu chuẩn cho một chức vụ nào đó. Và, theo thời gian, những người đạt được những chức vụ đó được thăng tiến trong hệ thống chánh trị và có mặt trong Nội các hay Bộ Chánh Trị. Do đó, có thể nói rằng sự hàn lâm hoá chánh phủ ở Việt Nam ngày nay đã bắt đầu từ hơn 10 năm trước, và nó có thể xuất phát từ cách hiểu lệch lạc về văn bằng tiến sĩ.

Cách đây chừng 10 năm, Báo SGGP có đi một loạt bài về vấn đề đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam. Trong loạt bài đó, có một tác giả viết như sau: “Nhà khoa học, nhà quản lý các nước cũng sẽ rất ngạc nhiên khi biết được trong đội ngũ cán bộ của ta hiện nay, tỷ lệ TS rất cao! […] Trên các nước, TS nếu có trong bộ máy quản lý nhà nước thì cũng chỉ chiếm tỷ lệ rất ít.” Nhận định này cho đến nay vẫn còn thích hợp.

___

[1] http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/chinhphu/chinhphuduongnhiem

[2] https://www.aph.gov.au/Senators_and_Members/Parliamentarian?MPID=HWO

[3] https://www.whitehouse.gov/administration/cabinet

[4] Thành viên Nội các mới có bằng tiến sĩ: Phạm Minh Chính, Nguyễn Hồng Diên, Nguyễn Chí Dũng, Vũ Đức Đam, Huỳnh Thành Đạt, Phan Văn Giang, Trần Hồng Hà, Tô Lâm, Lê Thành Long, Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Thanh Nghị, Hồ Đức Phớc, Nguyễn Kim Sơn, Nguyễn Văn Thể.

[5] Các ủy viên Bộ Chánh Trị có bằng tiến sĩ: Trần Tuấn Anh, Nguyễn Hòa Bình, Phạm Minh Chính, Phan Văn Giang, Vương Đình Huệ, Tô Lâm, Trần Thanh Mẫn, Nguyễn Xuân Thắng, Nguyễn Phú Trọng, và Trần Cẩm Tú.

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint

Đã dự rất nhiều hội nghị khoa học lớn và nhỏ ở nhiều nơi, kể cả ở Việt Nam, tôi thấy một số sai lầm phổ biến trong cách trình bày bằng powerpoint (PPT). Những sai lầm này thường liên quan đến cách soạn slide, nội dung, và cách trình bày. Cái note này chia sẻ vài kinh nghiệm cá nhân và chỉ ra 10 sai sót phổ biến đó để các bạn tránh trong tương lai.

Mục tiêu của bất cứ bài nói chuyện nào cũng là chuyển giao thông tin. Chuyển thông tin từ một cái đầu sang nhiều cái đầu. Không chỉ chuyển giao, mà còn phải chuyển giao một cách có hiệu quả. Để đạt được hiệu quả, diễn giả cần phải có nội dung tốt, một bộ slide hoàn chỉnh, và một phong cách trình bày chuyên nghiệp. Chỉ khi nào một bài thuyết trình hội đủ 3 nhu cầu trên thì mới có thể xem là thành công.

Nhưng trong thực tế, tôi đã thấy rất nhiều bài nói chuyện trong các hội nghị trở thành nhạt nhẻo, và khán giả chẳng học hỏi được gì từ bài nói chuyện. Chúng ta có câu Chiếc áo không làm nên thầy tu. Tương tự, nếu diễn giả có một nhúm slide, chưa chắc diễn giả đó đã có một bài thuyết trình. Một nhúm slide khác với một bài thuyết trình. Đã từng tham dự nhiều hội nghị và hội thảo ở Việt Nam, tôi rút ra một số kinh nghiệm, hay nói đúng hơn là một số sai lầm phổ biến dưới đây.

Những sai lầm khi soạn slide

1. Vấn đề chọn màu

Một trong những sai lầm phổ biến nhất là cách chọn màu cho slide. Có hai màu diễn giả cần phải chọn: màu nền (background color) và màu chữ (text color). Nhiều diễn giả không chú ý nên chọn màu không thích hợp. Chẳng hạn như nền màu xanh đậm mà chữ màu đỏ hay màu đen, hoặc nền màu trắng nhưng chữ màu vàng, v.v. là không thích hợp. Không thích hợp vì rất khó đọc. Nhiều người Việt có thói quen chọn màu đỏ chói làm màu nền, và đó là một cách chọn không thích hợp, vì màu đỏ là màu “high energy” làm cho người đọc rất khó chú ý.

Nếu hội trường rộng, nên chọn màu chữ sáng (màu vàng, trắng) trên nền tối (màu xanh đậm). Nếu hội trường nhỏ hay trung bình, nên chọn chữ màu đậm (xanh đậm hay đen) trên nền sáng (màu trắng).

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
Một ví dụ về chọn màu sai. Chữ màu trằng trên nền xanh pha trắng làm cho người xem rất khó theo dõi.
Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
Tránh kết hợp mầu đỏ và xanh lá cây vì rất nhiều người bị mù mầu với sự kết hợp này.
Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
Một slide chọn sai màu. Chữ đỏ trên nền xanh rất khó đọc, làm cho người ta nhức mắt.
Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
Đây là cách chọn màu đúng.
Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
Vài cách chọn màu. Tránh màu vàng trên nền trắng, đen trên nền xanh, vàng trên nền màu cam, v.v.

2. Vấn đề chọn kiểu chữ (font)

Kiểu chữ có ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu và tốc độ đọc. Nhiều diễn giả không chú ý đến font chữ khi soạn slide, nên gây khó khăn cho khán giả. Có hai loại kiểu chữ chính: kiểu chữ có chân và kiểu chữ không có chân (sans serif). Kiểu chữ có chân tiêu biểu là Time, Times New Roman, Cambria. Kiểu chữ không có chân là Arial, Verdata, Calibri. Nhiều người Việt thích chọn kiểu chữ có chân vì họ nghĩ đó là kiểu chữ đẹp. Đẹp thì đúng, nhưng là một sai lầm trong PPT, vì có nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng kiểu chữ có chân làm người ta tốn thì giờ đọc hơn là kiểu chữ không có chân. Đó cũng chính là lí do tại sao các “đại gia” internet như Yahoo! và Google dùng chữ không có chân trên các trang web của họ.

Có diễn giả thích “trang trí” chữ bằng cách làm bóng (shadow) cho chữ. Đây là một kĩ thuật chẳng những mất thì giờ, mà còn phản tác dụng, vì rất khó đọc và nhức mắt. Tuyệt đối không “trang trí” chữ bằng bóng!

3. Khổ chữ

Không gì khó chịu hơn khi diễn giả trình bày slide mà khán giả không đọc được vì khổ chữ quá nhỏ. Nhưng trong thực tế thì vấn đề này xảy ra rất nhiều lần, mà diễn giả thì có vẻ rất vô tư, không quan tâm đến khán giả. Kinh nghiệm của tôi cho thấy nên chọn cỡ chữ từ 18 đến 30. Nếu chọn kiểu chữ Arial thì khổ chữ 18 hay 20 là hợp lí; nếu chọn kiểu chữ Calibri thì kích thước phải cỡ 25 hay 30 mới dễ đọc. Mỗi slide nên có tựa đề, và tựa đề nên có kích thước 35 đến 45.   Nếu có ghi chú (footnote) thì có thể dùng kích thước 12.

4. Quá nhiều chữ trong slide

Một trong những sai lầm phổ biến nhất là diễn giả trình bày quá nhiều chữ trong một slide. Có nhiều slide, tôi không phân biệt được là một đoạn văn hay là một power point. Thật vậy, có nhiều người vì lí do nào đó (có thể là lười biếng) nên cắt từ Word và dán vào slide. Cũng có người có thể do sợ không thuộc bài, nên viết hết những câu văn trên slide như là một văn bản. Đây là một sai lầm tai hại, vì khán giả sẽ không theo dõi được. Nghiên cứu tâm lí chỉ ra rằng, một người bình thường chỉ có thể lĩnh hội nội dung slide trong vòng 20-30 giây; nếu qua thời gian đó mà không lĩnh hội được thì họ sẽ bỏ, và diễn giả đã thất bại trong việc truyền đạt thông tin.

Để khắc phục vấn đề này, cần phải biết “qui ước n x n”. Theo qui ước này, nếu slide có n dòng, thì mỗi dòng chỉ nên có n chữ. Chẳng hạn như nếu slide có 5 dòng thì mỗi dòng nên có 5 chữ. Một slide có 6 dòng trở nên là quá nhiều. Số dòng lí tưởng là 3-5.

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint

5. Viết slide như viết văn bản

Người thiếu kinh nghiệm thường soạn slide như họ viết văn bản, tức là câu cú có chủ từ, động từ, theo đúng văn phạm. Dĩ nhiên, không có gì sai trong cách làm như thế, nhưng đó là cách làm thiếu tính chuyên nghiệp. Người có kinh nghiệm soạn slide theo công thức telegraphic, tức viết giống như viết điện tín ngày xưa, hay như cách phóng viên viết tiêu đề bài báo. Cách viết telegraphic có hiệu quả giảm số chữ trong mỗi slide, và giúp diễn giả tập trung vào cách diễn giải vấn đề hơn là đọc. Một cách phân biệt cách viết theo kiểu văn bản và telegraphic như sau:

  • Văn bản: Loãng xương là một bệnh với đặc điểm mật độ xương suy giảm dẫn đến gia tăng nguy cơ gãy xương.
  • Telegraphic: Loãng xương – mật độ xương giảm à nguy cơ gãy xương tăng.

Tất cả slide, ngoại trừ những trích dẫn nguyên văn, nên được viết theo kiểu điện tín.

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint

Những vấn đề liên quan đến nội dung

6. Không có thông điệp 

Có nhiều hội nghị mà chúng ta khi nghe xong một bài thuyết trình nhưng chẳng biết diễn giả muốn nói gì, hay mình đã tiếp thu thông tin gì. Vấn đề ở đây là diễn giả đã thất bại cung cấp một thông điệp chính. Mỗi một bài thuyết trình phải có một thông điệp chính. Thông điệp chính cần phải trình bày trong một slide mà tiếng Anh gọi là money slide, hiểu nôm na là một “slide ăn tiền”. Nếu thông điệp chính không có trong bài thuyết trình thì khán giả cảm thấy mất thì giờ đến nghe vì chẳng có tiếp thu được thông tin gì xứng đáng. Do đó, trước khi soạn bài nói chuyện, diễn giả cần phải suy nghĩ cẩn thận cái money slide là gì, trước khi soạn những slide khác.

7. Chất lượng thông tin nghèo nàn

Nhiều bài thuyết trình mà trong đó diễn giả trình bày những thông tin nghèo nàn, thiếu tính liên đới đến chủ đề chính, và hệ quả là khán giả không nắm lấy vấn đề một cách logic. Làm một bài thuyết trình bằng powerpoint không phải là một thử nghiệm về kĩ năng viết, mà là kĩ năng chọn thông tin và thể hiện thông tin. Thông tin phải chính xác, đáng tin cậy, và được thể hiện một cách thích hợp. Chẳng hạn như trong khoa học, những cách thể hiện dữ liệu bằng biểu đồ bánh (pie chart) là vô dụng nhất, thiếu tính chuyên nghiệp nhất, và nhàm chán nhất.

8. Dùng hoạt hình quá nhiều

Nhiều người thích dùng hoạt hình (animation) trong bài thuyết trình. Đây là một sai lầm nghiêm trọng. Giới khoa học nói chung tương đối bảo thủ, hiểu theo nghĩa không thích đùa như trẻ con. Hoạt hình được xem là một hình thức khoe kĩ thuật của trẻ con. Hoạt hình còn làm cho khán giả phân tâm, thay vì tập trung vào thông tin thì họ lại chú ý đến những hình ảnh hay những con chữ nhảy nhót một cách … vô duyên. Cần tránh hoạt hình trong các báo cáo khoa học.

9. Dùng clipart quá nhiều

Ngoài hoạt hình, một số diễn giả có xu hướng dùng clipart một cách thái quá. Có thể dùng để minh hoạ cho một vài ý tưởng qua clipart, nhưng nếu dùng quá nhiều thì sẽ gây phản tác dụng, vì sẽ giảm sự tập trung của khán giả.

Những vấn đề liên quan đến phong cách trình bày

10. Đọc slide

Có quá nhiều diễn giả trong các hội nghị ở Việt Nam đọc slide, và đó là một “đại kị”. Khi diễn giả đọc slide, khán giả sẽ nghĩ diễn giả chỉ là một cái máy nói, không am hiểu vấn đề, và thụ động. Đọc slide làm cho diễn giả quay lưng lại với khán giả, trong khi “nhiệm vụ” của diễn giả là nói chuyện với khán giả chứ không phải nói với … slide. Đọc slide còn gây một ấn tượng phản cảm, vì khán giả nghĩ rằng diễn giả chỉ nói những gì ai đó đã soạn cho để nói (trong thực tế cũng có vấn đề này).

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint

11. Nói chuyện không dính dáng gì đến slide

Ngược lại với đọc slide là những diễn giả nói chuyện chẳng liên quan gì đến slide đang trình chiếu. Dĩ nhiên, đây là một tín hiệu cho thấy diễn giả đang lạc đề hoặc không có tập dượt trước, nhưng cũng có thể là dấu hiệu cho thấy diễn giả không nắm vững vấn đề. Vì không nắm vững vấn đề bắt đầu … lan man. Tình trạng này xảy ra rất nhiều khi diễn giả không phải là người soạn slide (mà ai đó soạn cho).

Những lỗi phổ biến trong trình bày bằng Powerpoint
Những yếu tố làm cho khán giả chán và không theo dõi.

Nên nhớ rằng khi thuyết trình khoa học, diễn giả cần phải có tạo niềm tin bằng cách trình bày những nghiên cứu hay tác phẩm của mình. Nếu trong một bài nói chuyện mà diễn giả chẳng có cái gì của mình, toàn là dữ liệu của người khác, hoặc do người khác soạn, thì khán giả sẽ nghĩ rằng diễn giả chỉ là một cái “máy nói”, một con rối.

12. Không dùng laser pointer

Một trong những “bệnh” khá phổ biến ở các diễn giả Việt Nam là không dùng laser pointer. Một bài thuyết trình khoa học có nội dung không phải dễ theo dõi, nhất là có những giản đồ phức tạp minh hoạ cho một qui trình khoa học, do đó diễn giả cần phải dẫn dắt khán giả bằng cách dùng laser pointer để chỉ đến những chỗ đang nói. Không có laser pointer, khán giả sẽ rất khó theo dõi, và họ sẽ bỏ cuộc nếu sau 30 giây mà không hiểu diễn giả muốn nói gì.

Nhưng cũng nên sử dụng pointer thích hợp. Một thói quen ngược lại không dùng pointer là dùng tuỳ tiện, quơ pointer ở những vị trí chẳng liên quan gì đến slide. Có người do vô ý hay hồi hộp cứ quơ laser pointer trên trần nhà làm khán giả cứ theo dõi và buổi trình bày trở nên hài hước.

13. Nói quá giờ

Một “bệnh” cực kì phổ biến ở các diễn giả Việt Nam là nói quá giờ. Nói quá giờ cho phép là một sự bất lịch sự đối với diễn gỉa kế tiếp (có người nói nặng nề hơn là “ăn cắp” thì giờ). Nói quá giờ còn gây rối loạn đến chương trình và gây khó khăn cho ban tổ chức. Cố gắng nói đúng giờ cho phép. Một ước tính quan trọng là mỗi slide trung bình tốn 1 phút. Do đó, nếu bài báo cáo 15 phút thì diễn giả chỉ nên có 15 slides, hay tối đa là 20 slides (kể cả tựa đề, phần cảm tạ, và conflict of interest).

14. Điệu bộ khi trình bày

Tuy không phổ biến lắm, nhưng thỉnh thoảng tôi vẫn thấy những diễn giả có những điệu bộ không thân thiện với khán giả. Những điệu bộ này có thể kể đến như bỏ tay vào túi quần, dùng ngón tay trỏ chỉ vào khán giả, khoanh tay ngang ngực, v.v. Những động thái như thế gây ấn tượng hống hách, xem thường khán giả, nên rất phản cảm. Cần phải tuyệt đối tránh!

15. Làm chủ toạ theo kiểu dạy đời

Ngoài những “bệnh” trên, còn có một bệnh khác tôi hay thấy trong các hội nghị ở Việt Nam là vai trò của chủ toạ. Rất thường xuyên tôi thấy chủ toạ đóng vai trò tóm lược và phê bình báo cáo của diễn giả. Có chủ toạ còn lên lớp cho diễn giả. Đó là một việc làm hết sức mất lịch sự, vô lễ, vô văn hoá khoa học, và phản cảm. Có nhiều trường hợp sự việc xảy ra một cách hài hước, vì người chủ toạ nói sai (do không có cùng chuyên môn, hay chuyên môn chưa vững). Trong thực tế, chủ toạ các phiên họp khoa học có nhiệm vụ giới thiệu bài nói chuyện, điều khiển buổi họp sao cho đúng giờ, và nếu không có ai đặt câu hỏi thì chủ toạ đóng vai trò “khơi mào” câu hỏi cho diễn giả. Nên nhớ rằng người chủ toạ không có chức năng tóm lược và phê bình bài báo của diễn giả.

***

Trên đây là một số vấn đề (nhưng cũng có thể xem là “sai lầm”) trong báo cáo khoa học bằng powerpoint. Những sai lầm này đặc biệt phổ biến trong các hội nghị ở Việt Nam mà người viết bài này từng trải nghiệm trong thời gian trên dưới 10 năm qua. Sai lầm không phải là vấn đề (vì ai cũng phạm phải); vấn đề là học hỏi từ sai lầm. Học hỏi từ người đi trước là có hiệu quả nhất và nhanh nhất. Trong bài này, tôi đã trình bày một số lời khuyên để khắc phục cho mỗi sai lầm. Tôi đã từng học hỏi từ những sai lầm như thế này. Nhiều đồng nghiệp và nghiên cứu sinh của tôi đã học từ những lời khuyên này và họ đã thành công. Do đó, tôi hi vọng rằng những lời khuyên trong bài này sẽ giúp ích cho các bạn thành công trong lần báo cáo sắp tới.