Nguồn gốc nhân tạo của virus Vũ Hán có cơ sở khoa học

Hiện nay, có 2 giả thuyết về nguồn gốc của virus Vũ Hán [1]: từ thiên nhiên (gọi tắt là ‘giả thuyết tự nhiên’) và từ phòng thí nghiệm Vũ Hán (gọi tắt là ‘nhân tạo’). Những chứng cớ khoa học gần đây có vẻ nghiêng về giả thuyết nhân tạo. Cái note này chia sẻ một thông tin quan trọng để giải thích tại sao giả thuyết nhân tạo là có cơ sở.

Viện virus học Vũ Hán (Wuhan Institute of Virology (thuộc Viện hàn lâm khoa học Tàu), nơi bị nghi ngờ là con virus Vũ Hán đã ‘sổng chuồng’

Để dễ theo dõi câu chuyện, tôi xin tóm tắt vài dòng để các bạn ngoài di truyền học nắm rõ. Tất cả coronavirus đều có cấu trúc RNA với 4 mẫu tự A, U, C, G (con người chúng ta thì được cấu trúc bằng DNA với 4 mẫu tự A, T, C, G). Các mẫu tự này được sử dụng để viết thành chữ, và mỗi chữ có 3 mẫu tự, gọi là ‘codon’. Ví dụ như chúng ta có thể có những codon như CCC, UCG, CGG, v.v. Những chữ này có thể lặp đi lặp lại nhiều lần. Nhiều chữ (codon) cấu trúc thành một bộ gen.

Trong bộ gen của con virus Vũ Hán có một cặp chữ mà không tìm thấy ở bất cứ virus nào khác: CGG-CGG.

Tiến sĩ Stephen Quay (cũng là một bác sĩ) cho biết ông đã xem xét 580,000 codons trong các con virus khác, nhưng ông không tìm thấy cặp chữ CGG-CGG. Zero. Do đó, ông suy luận rằng thiên nhiên không sử dụng cặp chữ đó. Nó (cặp chữ đó) có thể được ai đó đưa vào hệ gen của con virus Vũ Hán (SARS-COV-2) là nguyên nhân của đại dịch ngày nay.

Trang đầu của bài báo 140 trang của Tiến sĩ Stephen Quay

Các bạn có thể đọc bài báo rất công phu của Quay tại đây [2]. Trong bài này, Quay dùng phương pháp thống kê Bayes để chỉ ra rằng xác suất mà giả thuyết nhân tạo (hay virus rò rỉ từ phòng thí nghiệm Vũ Hán) lên đến 99.8.

Năm 2020 bà Shi Zhengli (được mệnh danh là ‘Dơi Nữ’ [3] vì chuyên nghiên cứu về coronavirus trong dơi) và đồng nghiệp công bố bài báo về cấu trúc di truyền của virus Vũ Hán, nhưng họ không đề cập đến CGG-CGG trong bài báo. Tuy nhiên, trong phần phụ chú thì có cặp chữ CGG-CGG. Rất có thể họ không chú ý đến mảng DNA này, chớ không hẳn là họ giấu diếm.

Ý nghĩa của chữ CGG-CGG là nó có thể làm tăng chức năng (Gain-of-Function hay GoF) của con virus. Nói là GoF, nhưng thật ra là làm cho con virus độc hại hơn. Trong một đơn xin patent tựa đề ‘Attenuated viruses useful for vaccines’ (bằng sáng chế số 9476032), nhóm nghiên cứu có đề cập đến CGG-CGG như là một biện pháp làm tăng chức năng độc hại của con coronavirus. Nguyên văn: ‘In one high-priority redesigned virus, most or all Arg codons are changed to CGC or CGG (the top two frequent human codons). This does not negatively affect translation.’ (Quay, trang 88).

Một điều thú vị là sau khi nghe tin dịch bộc phát ở Vũ Hán, bà Shi mới đi dự một hội nghị khoa học về, và câu hỏi đầu tiên bà nói với đồng nghiệp trong lab là (dịch sang tiếng Anh) “Could this have come from our lab” (Có thể nào con virus này nó xuất phát từ phòng thí nghiệm của chúng ta). Bà Shi còn nói rằng có thể các giới chức y tế đã sai khi nói rằng con virus này xuất phát từ chợ Vũ Hán, bởi vì bà không nghĩ ra được tại sao nó lại xảy ra ở Vũ Hán.

Trong phần kết luận của bài báo công phu và dài (140 trang), Tiến sĩ Quay viết rằng sự hiện diện của CGG-CGG là chứng cớ mạnh nhứt cho thấy có sự can thiệp của ai đó để tạo ra con virus Vũ Hán có thêm chức năng độc hại. ‘Ai đó’ ở đây dù không nói ra chính là Viện virus học Vũ Hán.

Thật ra, ngay từ giữa năm 2020, ông cựu tổng thống Donald Trump và cựu Ngoại trưởng Mike Pompeo là người đầu tiên nêu lên giả thuyết rằng virus Vũ Hán xuất phát từ Viện virus học Vũ Hán (Wuhan Institute of Virology — WIV). Dạo đó, tôi có lẽ là một trong những người không tin vào giả thuyết đó, vì hệ gen của nó quá giống với các con coronavirus khác. Giới báo chí và khoa học thì nhạo báng ông Trump về một phát biểu mà họ xem là … tào lao. Nhưng nhiều bằng chứng mới nhứt [4] (tôi trích bảng tóm tắt dưới đây) cho thấy ‘giả thuyết nhân tạo’ của hai ông Trump và Pompeo có cơ sở khoa học.

Tóm tắt các bằng chứng về giả thuyết nhân tạo và giả thuyết tự nhiên. Nguồn: Bài báo của Stephen Quay [2], trang 4.

_____

[1] Tôi biết một số (ít thôi) bạn miền ngoài rất khó chịu khi có người đề cập đến ‘virus Vũ Hán’ mà không là SARS-Cov2. Có lẽ họ quá thân Tàu cộng và thấy xúc phạm? Nhưng ‘virus Vũ Hán’ là cái tên ban đầu người ta gọi vì nó xuất phát từ Vũ Hán.

[2] https://zenodo.org/record/4642956#.YIa66ehKhPY

[3] Bà Shi Zhengli được đào tạo về virus học ở ĐH Montpellier (Pháp) và mới tốt nghiệp tiến sĩ năm 2000, nhưng là ‘ngôi sao’ đang lên. Bà được bầu làm Fellow của Viện hàn lâm vi sinh học của Mĩ (American Academy of Microbiology). Viện virus học Vũ Hán (Wuhan Institute of Virology) nơi bà làm việc được Pháp tài trợ và tư vấn xây dựng.

[4] https://nicholaswade.medium.com/origin-of-covid-following-the-clues-6f03564c038 (bài này khá dài trên medium.com cũng rất đáng đọc về nhiều chứng cớ chung quanh giả thuyết nhân tạo).

Về con số 70% miễn dịch cộng đồng

Gần đây, có nhiều người nói đến con số 70% miễn dịch cộng đồng như là một giải pháp kiểm soát dịch Covid-19. Nhưng tôi e rằng vấn đề không chỉ dựa vào vaccine và ngay cả con số 70% cũng có nhiều giả định đằng sau liên quan đến biện pháp y tế công cộng.

Chiến lược chống dịch Covid-19 thực tế nhứt xây dựng một cộng đồng có khả năng miễn dịch cho nhiều để giảm lây lan. Cách xây dựng hệ thống miễn dịch mạnh là tiêm chủng vaccine cho một số người trong cộng đồng, và do đó có kháng thể (antibodies) để chống trả virus, thì sự lây lan của dịch bệnh sẽ được hạn chế.

Nói cách khác, người được tiêm chủng ngừa gián tiếp bảo vệ người chưa/không được tiêm chủng. Điều này cũng có nghĩa là tỉ lệ tiêm chủng càng cao thì suy cơ lây lan trong cộng đồng càng thấp, và dịch sẽ được dập tắt. Đây là nguyên lí chánh của khái niệm miễn dịch cộng đồng (MDCĐ).  

Câu hỏi đặt ra là cần phải tiêm chủng cho bao nhiêu người trong cộng đồng để đạt ‘miễn dịch cộng đồng’? Có vẻ như TPHCM và nhiều chuyên gia nghĩ rằng con số là 70%. Nhưng cơ sở đằng sau con số này thì chưa rõ ràng và ít ai biết đến.

Tôi nghĩ rằng đáp số không đơn giản như vậy. Lí do là tỉ lệ cần tiêm chủng để đạt miễn dịch cộng đồng phụ thuộc vào hệ số lây lan [1]. Theo đó, vấn đề quan trọng là xác định tỉ lệ tiêm chủng phải cao bao nhiêu để cộng đồng có đủ ‘nội lực’ chống trả lại dịch bệnh. Vấn đề này trở thành vấn đề của thống kê học. Mô hình thống kê học cho biết tỉ lệ cần tiêm chủng để đạt miễn dịch cộng đồng (MDCĐ) là:

1 – 1 / R

Trong đó, R0 là hệ số lây nhiễm. Như vậy, hệ số lây nhiễm càng cao thì T cũng càng lớn; R  càng thấp thì T càng nhỏ. Đó chính là lí do tại sao hệ số lây nhiễm R0 rất quan trọng trong dịch tễ học bệnh truyền nhiễm.

Nhưng công thức trên dựa vào một giả định rất quan trọng là tiêm vaccine có thể bảo vệ tuyệt đối (100%). Tuy nhiên, trong thực tế thì mức độ hiệu quả của đa số vaccine không có cao như 100%, mà thường là 50-95% (như chúng ta thấy qua các nghiên cứu vaccine). Khi triển khai tiêm vaccine trong cộng đồng thì hiệu quả không cao như trong quần thể nghiên cứu. Do đó, T phải được điều chỉnh cho hiệu quả của vaccine. Gọi E là hiệu quả của vaccine, tỉ lệ MDCĐ bây giờ là:

 (1 – 1 / R) / E

Như vậy tỉ lệ MDCĐ phụ thuộc vào 2 tham số là hệ số lây lan và hiệu quả vaccine. Kiểm soát hệ số lây lan là phải qua biện pháp y tế công cộng. Kiểm soát E là qua vaccine. Phương trình này có ý nghĩa thực tế là: để kiểm soát dịch, chỉ vaccine vẫn chưa đủ, mà phải kèm theo biện pháp y tế công cộng.

Theo một nghiên cứu tổng quan thì hệ số R = 2.87 [1], tức tương đối cao, phản ảnh mức độ lây lan như chúng ta thấy ở Việt Nam. Nếu giả định rằng hiệu quả vaccine trong cộng đồng là 70%, thì tỉ lệ cần phải tiêm vaccine là 93%:

T = (1 – 1 / 2.87) / 0.7 = 0.93

Nhưng giả dụ rằng biện pháp y tế công cộng sẽ giúp giảm R xuống còn 2.5, thì tỉ lệ cần tiêm vaccine vẫn khá cao: 86%. Chỉ khi nào chúng ta giảm hệ số lây lan R xuống còn 2.0, thì tỉ lệ người cần tiêm vaccine mới là 71%.

Mối liên quan giữa hiệu quả vaccine (trục hoành) và tỉ lệ miễn dịch cộng đồng (trục tung) theo hệ số lây lan R = 1.5, 2.0, 2.5 và 3.0

Do đó, không có con số huyền thoại 70% miễn dịch cộng đồng, bởi vì tỉ lệ này phụ thuộc không chỉ hiệu quả của vaccine mà còn hệ số lây lan vốn rất khác biệt giữa các cộng đồng [3].

Những tính toán đơn giản trên có một ý nghĩa quan trọng: vaccine chỉ là một vế của vấn đề (chớ không phải là ‘viên đạn bạc’ chống dịch covid-19), vì các biện pháp y tế công cộng (như hạn chế tụ tập đông người) rất quan trọng trong việc kiểm soát dịch và đạt miễn dịch cộng đồng.

_____

[1] Nếu 1 người lây nhiễm cho 2 người khác, và 2 người đó lây nhiễm cho 4 người khác, v.v. thì hệ số lây lan là 2.

[2] https://journals.plos.org/plosone/article?id=10.1371/journal.pone.0242128

[3] https://tuanvnguyen.medium.com/vaccine-efficacy-beyond-the-average-bf72ffc3e138

Tại sao đã tiêm 2 liều vaccine mà vẫn bị nhiễm virus?

Tin tức về 54 người bị nhiễm virus Vũ Hán dù đã được tiêm 2 liều vaccine covid-19 đặt ra nhiều câu hỏi. Theo tôi thì có thể giải thích ‘hiện tượng’ này bằng 4 giả thuyết liên quan đến thời gian tiêm chủng, sự khác biệt về hệ di truyền, tuổi tác, và biến thể của virus.

Báo Tuổi Trẻ đưa tin 54 nhân viên của BV Bệnh Nhiệt Đới bị nhiễm virus Vũ Hán dù họ đã được tiêm 2 liều vaccine [1]. Theo một nguồn tin khác thì những người này đã được tiêm vaccine của AstraZeneca / Oxford, và thời gian giữa 2 liều là 4-5 tuần. ‘Hiện tượng’ này làm cho nhiều người đặt câu hỏi (tôi sẽ quay lại dưới đây) và hoang mang.

Tôi muốn thuyết phục các bạn rằng chẳng có gì phải hoang mang cả. Xin nhắc lại rằng mục đích chánh của vaccine covid-19 không phải là ngăn chận lây nhiễm, mà là giảm độ lây nhiễm, giảm nguy cơ nhập viện, giảm nguy cơ tử vong. Do đó, dù đã tiêm mà bị nhiễm là … bình thường. Nói vậy sẽ bị nhiều bạn không hài lòng, nhưng đó là thực tế (cũng như tôi tiêm vaccine cảm cúm hàng năm mà thỉnh thoảng vẫn bị cảm cúm).

Thật ra, ‘hiện tượng’ bị nhiễm virus Vũ Hán sau khi tiêm vaccine (đầy đủ 2 liều) không phải là mới. Trong dịch tễ học, người ta gọi đó là những ca ‘breakthrough infection’ (nhiễm đột phá). Trước hết, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng người được tiêm vaccine vẫn có thể bị nhiễm, và sự thật này đã được quan sát ngay từ lúc làm nghiên cứu lâm sàng trên người. Các bạn có thể xem qua dữ liệu cụ thể trên Lancet ở đây [2] và tôi có giải thích một chút trên trang blog tiếng Anh ở đây [3].

Cách đây 4 ngày, Tập san New England Journal of Medicine công bố một bài nghiên cứu về nhiễm đột phá, những ca bị nhiễm sau khi tiêm vaccine Pfizer [4]. Đa số những ca này bị nhiễm nhẹ và được điều trị khỏi trong 1 tuần.

Một nghiên cứu khác ở ĐH Stanford, mới dưới dạng preprint, báo cáo rằng trong số 22,729 nhân viên y tế được tiêm vaccine, có 189 người bị nhiễm virus Vũ Hán [5]. Nhưng các nhà nghiên cứu ghi chú rằng một số người bị nhiễm có lẽ là do tiêm chưa đủ 2 liều.

Nhưng có lẽ câu hỏi mà các bạn (và tôi nữa) đang tự hỏi là tại sao có hiện tượng nhiễm đột phá? Đành rằng sau khi tiêm vaccine vẫn có thể bị nhiễm, nhưng tại sao người này bị mà người kia không bị? Con virus này nó phân biệt người để tấn công chăng? Rất có thể.

Tại sao?

1. Thời gian giữa 2 liều vaccine

Theo kết quả nghiên cứu báo cáo trên Tập san Lancet [6], thì khoảng cách thời gian mà vaccine có hiệu quả cao nhứt là chừng 3 tháng. Các chuyên gia lí giải rằng 3 tháng là thời gian đủ để cơ thể chúng ta ‘làm quen’ với vaccine trước khi nhận liều mới. Các bạn có thể đọc xem biểu đồ mà tôi trích dẫn dưới đây để thấy khoảng 12 tuần là tối ưu. Khi khoảng cách giữa 2 liều là 12 tuần thì hiệu quả vaccine lên đến 81%, nhưng khi khoảng cách 6 tuần thì hiệu quả chỉ 55%.

Figure thumbnail gr1
Biểu đồ cho thấy khi khoảng cách giữa 2 liều là 12 tuần thì hiệu quả vaccine lên đến 81%, nhưng khi khoảng cách 6 tuần thì hiệu quả chỉ 55%.

Đó cũng chính là lí do mà Úc chọn khoảng cách 3 tháng để đạt hiệu quả cao nhứt. Nhưng ở Việt Nam, theo một nguồn tin, thì người ta chọn 4-5 tuần.

2.  Hệ DNA

Lí do thứ hai là hệ thống miễn dịch rất khác biệt giữa các cá nhân. Hệ miễn dịch của tôi có thể yếu hơn các bạn. Tại sao yếu? Tại vì cơ cấu DNA trong hệ miễn dịch của tôi khác với cơ cấu DNA của các bạn. Và, điều này có thể giải thích tại sao hiệu quả của vaccine có vẻ tốt ở người khác, mà có thể không tốt đối với tôi.

3.  Tuổi tác và sức khoẻ

Lí do thứ ba là do tuổi tác và bệnh đi kèm. Dĩ nhiên, không chỉ DNA làm cho hệ miễn dịch khác nhau giữa các cá nhân. Sự khác biệt còn ở độ tuổi, tình trạng sức khoẻ, và nhứt là tiền sử dùng thuốc. So với những người trẻ, những hệ miễn dịch ‘già nua’ (như của tôi và các bạn cùng tuổi) không đáp ứng tốt với các kháng nguyên mới. (Kháng nguyên là các yếu tố ngoại tại làm cho hệ miễn dịch chúng ta sản xuất kháng thể để chống lại virus).

Điều này tôi viết thì có vẻ vui vui, nhưng sự thật là đã có nghiên cứu giải thích về sự tương quan giữa tuổi tác và đáp ứng miễn dịch ở những người được tiêm vaccine Pfizer [7]. Do đó, tôi đoán rằng những ca bị nhiễm đột phá có thể, tính trung bình, cao tuổi hơn và khoẻ mạnh hơn những ca không bị nhiễm đột phá.

4.  Biến thể của virus

Lí do thứ tư là do con virus có biến thể giúp nó thoát khỏi tầm kiểm soát của hệ miễn dịch. Chất liệu di truyền của con virus Vũ Hán là RNA (khác với con người là DNA). RNA có mức độ đột biến rất rất nhanh hơn DNA. (Khi chúng ta có vaccine để chống, thì chúng đã biến thể sang dạng khác rồi, vì chúng thường đi trước con người rất xa). Điều này có thể giải thích tại sao con virus bị đột biến mới gíup chúng thoát khỏi cái radar của hệ miễn dịch và tha hồ tấn công con nguời. Đó là lí do mà giới khoa học quan tâm khi Ấn Độ phát hiện một biến thể mới của con virus Vũ Hán, vì nó có thể làm cho vaccine hiện hành kém hiệu quả.

***

Tóm lại, điểm qua y văn, tôi nghĩ lí do bị nhiễm dù đã tiêm đủ 2 liều vaccine là do (a) khoảng cách thời gian giữa 2 liều chưa đủ tối ưu hoá hiệu quả của vaccine; (b) sự khác biệt về hệ di truyền giữa các cá nhân; (c) sự khác biệt về tuổi tác và sức khoẻ làm ảnh hưởng đến khác biệt về hệ miễn dịch; và (d) biến thể của virus. Cần nhấn mạnh rằng đó chỉ là 4 giả thuyết mà thôi, vì chưa ai biết rõ lí do chính xác (và có lẽ chẳng bao giờ biết được). Giả thuyết thì cần kiểm định qua nghiên cứu, chớ không phải là lời giải thích sau cùng.

Dù lời giải thích gì thì chúng ta phải nhận thức rằng tiêm vaccine đầy đủ 2 liều chúng ta vẫn có nguy cơ bị nhiễm. Sự việc xảy ra ở BV Bệnh Nhiệt Đới là một lời nhắc nhở rằng vaccine tuy quan trọng nhưng không phải là ‘viên đạn bạc’ phòng chống dịch covid-19 mà các chuyên gia WHO đã cảnh báo [8]. Các biện pháp y tế công cộng (như hạn chế tụ tập đông người) vẫn phải áp dụng một thời gian.

Ghi thêm 17/6: Một bạn đọc mới gởi cho tôi tài liệu “Sổ tay HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH TIÊM CHỦNG VẮC XIN PHÒNG COVID-19 (VẮC XIN ASTRAZENECA)” có ghi rằng:

Lịch tiêm gồm 2 mũi, mũi 2 cách mũi 1 từ 4-12 tuần“.

Như vậy là đúng với hướng dẫn của nhà sản xuất một phần. ‘Đúng một phần’ là vì nhà sản xuất có kèm theo câu rằng họ chuộng khoảng cách 8 tuần trở lên để có hiệu quả tối đa (“with an interval greater than eight weeks being preferable to maximise its efficacy.“)

Nhưng chẳng hiểu sao ở nhiều nơi như anh bạn tôi đi tiêm thì họ hẹn 4 tuần?

___________

[1] https://tuoitre.vn/54-nhan-vien-benh-vien-tp-hcm-mac-covid-19-hoan-toan-khong-co-trieu-chung-20210613224759742.htm

[2] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)32661-1/fulltext

[3] https://tuanvnguyen.medium.com/vaccine-efficacy-beyond-the-average-bf72ffc3e138

[4] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/NEJMoa2105000

[5] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8077590/pdf/nihpp-2021.04.14.21255431.pdf

[6] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)00432-3/fulltext

[7] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.03.03.21251066v1.full

[8] https://nguyenvantuan.info/2021/06/08/vaccine-khong-phai-la-vien-dan-bac-chong-covid-19

Hydroxychloroquine và Covid-19

Một nghiên cứu mới nhứt ở Mĩ nói rằng hydroxychloroquine (HCQ) có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân nhiễm virus Vũ Hán. Báo chí Tây nói rằng HCQ tăng nguy cơ sống còn 200% (Daily Mail 10/6/21), nhưng tôi nghĩ họ hiểu sai.  Diễn giải kết quả này như thế nào? Trước đây (năm ngoái) tôi có viết một bình luận ngắn về HCQ trên một tập san y khoa, và cái note này chia sẻ với các bạn suy nghĩ của tôi.

Thuốc hydroxychloroquine (HCQ) gây ra nhiều tranh cãi cho đến ngày nay. Bài báo trên Daily Mail viết rằng tăng xác suất sống còn đến 200%. Nhưng họ hiểu sai.

Nguồn gốc của tranh luận về HCQ

Một trong những thuốc gây ra nhiều tranh luận trong dịch Covid-19 có lẽ là hydroxychloroquine (HCQ). Bắt đầu là một nghiên cứu từ một nhóm lừng danh bên Pháp (Giáo sư Didier Raoult) cho thấy HCQ có hiệu quả giảm ‘viral load’ (một chỉ số đo lường sự lây nhiễm) ở bệnh nhân nhiễm virus Vũ Hán [1].

Bài của Gs Raoult có ảnh hưởng rất lớn trong khoa học. Công bố vào ngày 20/3/2020, nhưng cho đến nay đã có hơn 4420 trích dẫn! Người làm khoa học có nằm mơ cũng khó có một công trình gây ảnh hưởng lớn như vậy trong cả sự nghiệp.

Nhưng nghiên cứu đó có nhiều khiếm khuyết. Đó là nghiên cứu quan sát, nên dữ liệu khó diễn giải. Các bạn có thể xem những bình luận theo sau bài báo [1] để thấy các đồng nghiệp y khoa nêu hàng loạt vấn đề về thiết kế nghiên cứu, vấn đề đo lường, số liệu báo cáo không ăn khớp, và phân tích thì sai. Có người viết hẳn một bài dài phê bình những sai sót trong nghiên cứu [2]. Những ai học về nghiên cứu y học sẽ học được nhiều điều từ bài này [2]. Riêng tôi thì sau khi phân tích lại dữ liệu, tôi có cách diễn giải khác, không hẳn là ‘negative’ [3].

Nhưng điều quan trọng là ông Tổng thống Trump lúc đó ủng hộ HCQ, và như cá tánh của ông ấy, nói là làm: bản thân ông dùng nó. Nhưng giới khoa học thì như bản tánh cố hữu là nghi ngờ. Nghi ngờ cũng đúng thôi, vì chứng cớ khoa học chưa đủ mạnh thì làm sao dám lên tiếng ‘yes’ hay ‘no’. Hàng loạt nghiên cứu sau đó cho thấy kết quả có khi là tốt cho HCQ, nhưng đa số thì cho rằng HCQ chẳng giúp ích gì với bệnh nhân nhiễm virus Vũ Hán. Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cũng cho thấy tỉ lệ tử vong ở nhóm dùng HCQ (chừng 10%) giống y chang như nhóm chứng, và do đó, phải kết luận là HCQ không có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong [4].

Nhìn chung, quan điểm của đa số trong y khoa là chưa có chứng cớ cho thấy HCQ có thể giúp ích cho bệnh nhân covid-19. Nói cho vui là HCQ coi như ‘ván đã đóng hòm’ rồi, không còn tranh cãi gì nữa.

Nghiên cứu mới về HCQ

Nhưng đùng một cái, hôm qua có một bài báo mới công bố trên MedXxiv [5] cho thấy HCQ + azithromycin có thể giảm nguy cơ tử vong đến … 100%!

Wow!

Thành ra, tôi phải đọc xem nghiên cứu này có gì đặc biệt mà thuốc HCQ thần diệu như vậy. Xin tóm tắt vài dòng để các bạn nắm rõ:

  • Đây là một nghiên cứu quan sát và không có nhóm chứng. Nghiên cứu chỉ dựa vào những bệnh nhân nhập viện (Saint Barnabas Medical Center, New Jersey).
  • Họ có 255 bệnh nhân covid-19 tất cả. Tất cả những bệnh nhân này đều cần thở máy (tức là bệnh nặng và nguy cơ tử vong cao). Đa số những bệnh nhân này có các bệnh đi kèm như cao huyết áp (64%), tiểu đường (45%), tim mạch (13%), v.v.
  • Trong thời gian theo dõi (60 ngày?), họ quan sát có 54 người chết, tức tỉ lệ tử vong là 21%. Nam có nguy cơ chết (24%) cao hơn nữ (18%).
  • Bệnh nhân được điều trị bằng nhiều thuốc (như benzodiazepine, corticosteroids, tocilizumab, thay huyết tương, hydroxychloroquine). Các nhà nghiên cứu phân tích nguy cơ tử vong cho từng loại thuốc. Có 224 patients 88%) được điều trị HCQ.  

Biểu đồ dưới đây nói lên kết quả liên quan đến HCQ. Như các bạn thấy, nguy cơ tử vong ở nhóm không dùng HCQ là 80%, còn nhóm dùng HCQ là khoảng 40%. Nói cách khác, bệnh nhân được điều trị với HCQ có nguy cơ tử vong giảm 50% so với nhóm không dùng HCQ. Sau khi tính toán và hiệu chỉnh (khá phức tạp) họ ước tính rằng HCQ giảm nguy cơ tử vong chừng 70%, nhưng có thể dao động trong khoảng 50 đến 80%.

Biểu đồ cho thấy thấy nguy cơ tử vong ở nhóm không dùng HCQ là 80%, còn nhóm dùng HCQ là khoảng 40%. Nói cách khác, bệnh nhân được điều trị với HCQ có nguy cơ tử vong giảm 50% so với nhóm không dùng HCQ.

Ngoài ra, thuốc tocilizumaba cũng có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong, nhưng không mạnh như HCQ.

Hiểu như thế nào?

Tôi nghĩ kết quả nghiên cứu này nên đặt trong bối cảnh chung về HCQ và covid-19. Bối cảnh chung là chúng ta phải xem xét cùng với các nghiên cứu trước đây và những điểm mạnh và yếu.

Một phân tích trước đây công bố trên một tập san không mấy hay ho [6] cho thấy ở những bệnh nhân nhập viện vì covid-19, HCQ quả thật có giảm nguy cơ tử vong chừng 15%. Nhưng khoảng tin cậy 95% của hiệu quả cho thấy thuốc có thể giảm nguy cơ tử vong 30% nhưng cũng có thể tăng 3%. Nếu dùng ngưỡng thống kê phổ biến (0.05) thì kết quả này tuy ‘dương tính’ nhưng không có ý nghĩa thống kê. Tác giả cũng kết luận như thế: HCQ không có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong một cách có ý nghĩa thống kê.

Tuy nhiên, nếu kết quả mới nhứt cộng với kết quả trong [5] thì có thể hiệu quả của HCQ đạt ngưỡng thống kê 0.05. Đây là vấn đề mà các nhà nghiên cứu (và các bạn) có thể kiểm định dễ dàng.

Nhưng cho dù hiệu quả của HCQ là có ý nghĩa thống kê, thì điều đó vẫn chưa đủ. Chưa đủ là vì các nghiên cứu này đều là nghiên cứu quan sát, nên chịu sự ảnh hưởng của rất nhiều các yếu tố nhiễu mà nhà nghiên cứu không thể nào hiệu chỉnh. Chẳng hạn như khi bệnh nhân có diễn biến xấu, và bác sĩ có thể sử dụng HCQ như là một liệu pháp sau cùng, và kết quả này sẽ không khách quan. Thuật ngữ y khoa gọi là ‘indication bias‘.

Chỉ có một cách để loại bỏ các vấn đề này là nghiên cứu RCT (thử nghiệm lâm sàng). RCT là nghiên cứu có giá trị khoa học cao nhứt, vì nó loại bỏ các yếu tố nhiễu. Cho đến nay tất cả các nghiên cứu RCT đều cho thấy HCQ không làm giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân covid-19. Thật ra, nó làm tăng nguy cơ tử vong, nhưng không có ý nghĩa thống kê [7].

Do đó, tôi nghĩ kết quả của nghiên cứu mới nhứt [4] không làm thay đổi quan điểm chánh thống là HCQ không có hiệu quả giảm nguy cơ tử vong ở bệnh nhân covid-19 nhập viện. Có thể HCQ có hiệu quả ở một nhóm nhỏ bệnh nhân cần thở máy, nhưng giả thuyết này vẫn cần phải qua thử nghiệm lâm sàng RCT.

______

[1] https://www.sciencedirect.com/science/article/abs/pii/S0924857920300996

[2] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7269042

[3] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0924857920303757

[4] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2772922

[5] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.05.28.21258012v1.article-info

[6] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7711623

[7] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC8050319

Vaccine không phải là ‘viên đạn bạc’ chống covid-19

Đó là nhận định của một viên chức thuộc Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) [1], và tôi đồng ý. Mục đích của các vaccine hiện nay là phòng ngừa nguời bị nhiễm bị bệnh nặng, chớ không phải ngăn ngừa lây nhiễm. Phương tiện ngăn ngừa lây nhiễm hữu hiệu nhứt là hạn chế tụ tập.

Some States Offering Joints for Vaccine Jabs

Việt Nam hiện nay đang có chủ trương mua vaccine từ nhiều nguồn, kể cả từ Tàu. Câu hỏi đặt ra là các vaccine này có hiệu quả ra sao, và có thể so sánh để có một cái nhìn tổng quan? Cách thức để so sánh hiệu quả (efficacy) của vaccine là qua các nghiên cứu RCT, so sánh xác suất bị nhiễm ở người được tiêm và người không được tiêm. Trong thực tế thì các vaccine được lưu hành hiện nay đều đã qua thử nghiệm RCT, và tôi có thể tóm tắt hiệu quả của các vaccine đó là như sau:

  • Pfizer/BioNtech vaccine: 95% [2]
  • Sinovac (Tàu): 50% [3]
  • Johnson & Johnson: 72% [4]
  • Moderna (Mĩ): 94% [5]
  • Oxford/AstraZeneca (AZ): 70% [6]
  • Novavax: 86% với biến thể B.1.1.7 và 55% với B.1.351 [7].

Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy vaccine của Tàu có hiệu quả thấp nhứt so với các vaccine phương Tây. Có lẽ các bạn hỏi ‘còn vaccine Nga thì sao?’ Xin thưa là số liệu của vaccine Nga công bố trên Lancet được đánh giá là không đáng tin cậy vì có khá nhiều điều bất thường và khó giải thích và kém minh bạch. Vì thế, trong y giới phương Tây, vaccine của Nga ít khi được đề cập đến.

Ở trên là tôi mô tả về hiệu quả = efficacy, còn mức độ hữu hiệu = effectiveness thì sao? Các bạn ngoài ngành y có thể không phân biệt hai khái niệm hiệu quả và hữu hiệu. Hiệu quả là thước đo tác dụng của vaccine trong các nghiên cứu có kiểm soát (như RCT chẳng hạn), tức là trong môi trường mà bệnh nhân được chọn lọc cẩn thận và theo dõi tốt. Còn hữu hiệu là thước đo về tác dụng của vaccine sau khi đã được triển khai trong cộng đồng, nơi mà nhà nghiên cứu không kiểm soát được và cũng khó theo dõi các cá nhân dùng vaccine. Đối với người làm chánh sách, chỉ số hữu hiệu quan trọng hơn chỉ số hiệu quả.

Hiện nay, chúng ta rất thiếu những dữ liệu về hữu hiệu của vaccine trong cộng đồng, bởi vì chỉ có một số ít quốc gia triển khai vaccine trong cộng đồng. Các nước triển khai vaccine khá sớm là Anh và Do Thái. Do đó, dữ liệu sơ khởi ở 2 nước này có thể cung cấp cho chúng ta một bức tranh tổng quát về sự hữu hiệu của vaccine.

Anh: theo một phân tích công bố vào tháng 4 thì trong số 365,000 hộ gia đình, một số được tiêm vaccine và một số chưa tiêm, thì vaccine Pfizer hoặc AZ giảm xác suất lây nhiễm khoảng 40 – 60% (trung bình 50%) [8]. Con số này có nghĩa là nếu một người bị nhiễm sau khi được tiêm vaccine, xác suất mà người đó sẽ lây cho người khác là ~50% thấp hơn người không được tiêm vaccine.

Một câu hỏi mà nhiều người đặt ra là: nếu một người bị nhiễm và được tiêm vaccine thì xác suất mà người đó bị nhiễm lần nữa là bao nhiêu? Thuật ngữ dịch tễ học gọi những ca này (tái nhiễm) là ‘breakthrough infection’ hay ‘nhiễm đột phá.’

Do Thái: một phân tích khác ở Do Thái phát hiện gần 5000 nhiễm đột phá ở những người đã được tiêm vaccine Pfizer [9].

Như có thể thấy qua các phân tích về sự hữu hiệu, vaccine không có tác dụng ngăn ngừa 100% các ca lây nhiễm. Tiêm vaccine cũng không có nghĩa là sẽ không bị lây nhiễm, và như nghiên cứu ở Do Thái cho thấy có gần 5000 người bị nhiễm đột phá là điều đáng quan tâm. Hai kết quả trên tái xác định rằng vaccine tuy rất quan trọng, nhưng nó không phải là viên đạn bạc để chống virus Vũ Hán.

Kinh nghiệm ở Úc cho thấy chống dịch hữu hiệu nhứt vẫn phải dựa vào các phương cách y tế công cộng. Các phương cách này bao gồm đóng cửa biên giới, giới hạn giao thông công cộng (xe điện, bus), lockdown toàn quốc, hạn chế tụ tập dưới 50 người, v.v. Trong tất cả các phương cách này, khoa học chỉ ra rằng giới hạn tụ tập và hạn chế đi lại ở những vùng có ổ dịch là hữu hiệu nhứt.

____

[1] https://www.who.int/vietnam/news/commentaries/detail/covid-19-vaccines-offer-hope-but-are-not-a-silver-bullet

[2] https://www.nejm.org/doi/full/10.1056/nejmoa2034577

[3] https://www.nature.com/articles/d41586-021-00094-z

[4] https://www.nytimes.com/2021/02/24/science/johnson-johnson-covid-vaccine.html

[5] https://www.cdc.gov/coronavirus/2019-ncov/vaccines/different-vaccines/Moderna.html

[6] https://tuanvnguyen.medium.com/vaccine-efficacy-beyond-the-average-bf72ffc3e138

[7] https://ir.novavax.com/news-releases/news-release-details/novavax-confirms-high-levels-efficacy-against-original-and-0

[8] https://khub.net/documents/135939561/390853656/Impact+of+vaccination+on+household+transmission+of+SARS-COV-2+in+England.pdf/35bf4bb1-6ade-d3eb-a39e-9c9b25a8122a?t=1619601878136

[9] https://www.nature.com/articles/s41591-021-01316-7