Vaccine và ‘sốc phản vệ’ ở Thanh Hoá: một lí giải dịch tễ học

Sốc phản vệ (Anaphylaxis) là một phản ứng được dùng như là một nguyên nhân để giải thích 4 ca tử vong sau tiêm vaccine Verocell ở Thanh Hoá. Nhưng sốc phản vệ là gì và tại sao nó có vẻ xảy ra khá thường xuyên ở Việt Nam. Cái note này chỉ điểm qua y văn và cung cấp một so sánh dịch tễ học để cho thấy rằng xác suất sốc phản vệ xảy ra ở Thanh Hoá cao gấp 5 lần con số ở Mĩ. Và, điều đó rất đáng quan tâm.

Gần 70 người phản vệ sau tiêm vaccine Covid-19 ở Thanh Hóa qua nguy kịch.” Đó là cái tít của vnexpress. Con số 70 ca có quá nhiều hay không? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta cần phải biết có bao nhiêu người đã được tiêm vaccine. Điều đáng nói là có 4 ca tử vong sau khi tiêm vaccine Verocell. Thông tin này gây hoang mang trong cộng đồng, bởi vì 4 ca là con số tương đối cao, nhứt là trong một tỉnh.

Nguyên nhân chết là gì? Các giới chức y tế cho rằng nguyên nhân là “sốc phản vệ sau tiêm vaccine Verocell.” Trước đây (năm 2015), một số ca sốc phản vệ cũng xảy ra đối với vaccine Quinvaxem cũng gây ra hoang mang cho công chúng. Thường, các giới chức y tế cũng chỉ giải thích đơn giản là “do sốc phản vệ”. Nhưng họ không giải thích hội chứng đó là gì và chứng cứ nào để nói rằng người ta bị sốc phản vệ và tử vong.

Trong cái note này tôi muốn đưa ra một lí giải về dịch tễ học để chúng ta cùng hiểu một chút về sốc phản vệ và mối liên quan đến tử vong. Tôi cũng sẽ điểm qua y văn để biết số ca tử vong và sốc phản vệ xảy ra ở Thanh Hoá là cao hay thấp. Nhưng trước hết, chúng ta cần phải biết sốc phản vệ là gì.

Sốc phản vệ  

Sốc phản vệ là một hội chứng rất chung chung. Y văn định nghĩa sốc phản vệ là một phản ứng cấp tính, toàn thân, và có thể gây tử vong [1]. “Toàn thân” ở đây có nghĩa là liên quan đến nhiều cơ phận, bao gồm hô hấp, tuần hoàn, dạ dày, và cả da. Thường, những ca nghi ngờ là sốc phản vệ, người ta thường đo nồng độ tryptase trong máu. Nồng độ tryptase là một trong những xét nghiệm quan trọng trong lãnh vực dị ứng, đặc biệt là sốc phản vệ. Không có xét nghiệm này thì rất khó đánh giá đúng về sốc phản vệ.

Sốc phản vệ có thể xảy ra sau khi cơ thể tiếp xúc với những chất dị ứng từ nhiều nguồn, kể cả thực phẩm, thuốc, vaccine. Hầu như bất cứ vaccine nào cũng có nguy cơ sốc phản vệ. Viện y học Hoa Kì sau khi điểm qua y văn đi đến kết luận rằng có chứng cớ về mối liên hệ nhân quả giữa vaccine và sốc phản vệ ở thiếu niên và trẻ em. Đó là những vaccine phòng bệnh sở, quai bị, cúm mùa, viêm gan B, HPV, HAV, v.v. Những thành phần của vaccine có thể tạo ra dị ứng là kháng nguyên của vaccine, các phần dư của protein động vật, các thuốc chống vi trùng, v.v.

Theo định nghĩa trên, các biểu hiện của sốc phản vệ bao gồm những dấu hiệu và triệu chứng sau đây:

  • Sưng đường hô hấp, hơi thở khò khè, có khi khó thở
  • Tụt huyết áp, tim đập nhanh, chóng mặt, có khi bất tỉnh
  • Tiêu chảy, đau bụng, ói mửa
  • Da nổi mày đay, ban đỏ, phù, ngứa
  • Tăng nồng độ tryptase trong máu

Theo một bài báo [2], những người sau đây có nguy cơ cao bị sốc phản vệ:

  • tiền sử quá nhạy với vaccine;
  • tiền sử sốc phản vệ;
  • bị hen suyễn;
  • mastocytosis (một bệnh da do có quá nhiều tế bào mast).

Sốc phản vệ có thể dẫn đến tử vong, nhưng xác suất thì rất thấp. Theo một công bố trên UpToDate thì xác suất tử vong từ sốc phản vệ là 0.7 đến 2% ca. Một tổng quan khác của nhóm tác giả Turner và đồng nghiệp thì cho rằng xác suất tử vong từ sốc phản vệ là dưới 1% [3]. Nói cách khác, cứ 100 ca sốc phản vệ, có chừng 1 đến 2 ca tử vong.

Nguy cơ sốc phản vệ?

Câu hỏi quan trọng là xác suất (nguy cơ) sốc phản vệ cao thấp ra sao? Một bài báo trên tập san về dị ứng [1] có câu trả lời này. Sau khi điểm qua y văn, nhóm tác giả ước tính rằng xác suất chung là 1.31 trên 1 triệu liều vaccine. Xác suất này không thay đổi đáng kể giữa các độ tuổi, nhưng nữ có nguy cơ cao hơn nam (1.45 vs 1.14 trên 1 triệu liều).

Họ còn quan sát rằng đa số các ca sốc phản vệ xảy ra trong vòng 30 phút (8 ca), 30 đến 120 phút (8 ca) và 2-4 giờ (10 ca), 4 đến 8 giờ (2 ca) và ngày kế tiếp (1 ca).

Họ không ghi nhận ca tử vong nào trong số 25 triệu liều vaccine [1].

Còn sốc phản vệ đối với vaccine chống Covid-19 thì sao? May mắn là đã có một nghiên cứu công bố trên JAMA [4]. Các nhà nghiên cứu phân tích dữ liệu của gần 10 triệu liều vaccine mRNA từ 14/12/2020 đến 18/1/2021 ở Mĩ. Họ ghi nhận 66 ca sốc phản vệ. Tính trung bình, xác suất sốc phản vệ là 4.7 ca trên 1 triệu liều vaccine Pfizer.

Các tác giả không ghi nhận ca tử vong nào từ sốc phản vệ sau 10 triệu liều vaccine [4].

Tình hình ở Việt Nam

Quay lại tình hình Việt Nam, cho đến nay chúng ta không rõ có bao nhiêu ca gọi là ‘sốc phản vệ’ sau khi tiêm vaccine. Chỉ riêng ở Thanh Hoá, đã có 70 ca, trong đó có 4 ca tử vong. Báo chí còn cho biết Bắc Giang ghi nhận 4 ca sốc phản vệ và tử vong, và trong đó 1 ca tử vong.

Có thể nói rằng sốc phản vệ ở Việt Nam cao bất thường. Sốc phản vệ xảy ra một cách ngẫu nhiên (phân bố), hiểu theo nghĩa rải rác ở mọi nơi, chớ không tập trung vào một trung tâm như ghi nhận. Xác suất xảy ra như thế rất hiếm, nhứt là 4 ca tử vong vì sốc phản vệ tại một địa phương càng bất thường hơn.

Nhưng chúng ta phải xem xét con số sốc phản vệ với số liều vaccine đã tiêm chủng. Số liệu của tiemchungcovid19.vn cho thấy tính đến ngày 29/11/2021 có 2,639,672 liều vaccine đã được tiêm chủng.

Nếu chúng ta lấy xác suất sốc phản vệ (từ y văn là 5 ca trên 1 triệu – tôi lấy con số cao), thì với 2.64 triệu liều vaccine, chúng ta kì sẽ quan sát 13 ca sốc phản vệ. Thế nhưng ở Thanh Hoá chúng ta quan sát 70 ca, tức là cao hơn ‘kì vọng’ gấp 5.4 lần!

Như đề cập trên, xác suất tử vong từ sốc phản vệ là khoảng 1%. Với 70 ca sốc phản vệ, số ca tử cao lắm là 1. Thật ra, y văn chưa ghi nhận ai chết vì sốc phản vệ liên quan đến vaccine covid-19. Nhưng trong thực tế, Thanh Hoá có đến 4 ca tử vong!

Do đó, chúng ta phải nói rằng số ca sốc phản vệ ở Thanh Hoá là quá cao. Số ca tử vong liên quan đến sốc phản vệ cũng cao một cách bất thường. Tại sao cao bất thường thì không biết. Nhưng sự thật đó đủ để có một điều tra độc lập. Nhấn mạnh là ‘độc lập’. Những câu hỏi cần có trả lời là: (a) Những sốc phản vệ đã có xét nghiệm tryptase, và nếu có thì kết quả ra sao; (b) Nguyên nhân trực tiếp là gì; (c) Những bệnh đi kèm và tiền sử; (d) Qui trình bảo quản và kiểm tra chất lượng vaccine; (e) Qui trình sàng lọc và tiêm vaccine; và (f) Cần rút ra bài học và kinh nghiệm gì?

Tóm lại, sốc phản vệ là một biến chứng nguy hiểm sau khi tiêm vaccine, nhưng y văn cho thấy xác suất sốc phản vệ rất thấp (chỉ chừng 1-5 phần triệu) và nguy cơ tử vong càng thấp hơn. Tuy nhiên, sốc phản vệ sau tiêm vaccine ở Việt Nam thì lại xảy ra với tần số quá cao và có vẻ bất thường vì tập trung vào một loại vaccine (Verocell) và địa phương. Một điều tra khoa học có thể sẽ cung cấp cho chúng ta những thông tin cần thiết để hiểu hơn về sốc phản vệ ở Việt Nam và cũng là một đóng góp cho y văn thế giới.

______

[1] McNeil M, et al. J Allergy Clin Immunol. 2016 Mar; 137(3): 868–878.

[2] Marco Caminati et al. Who Is Really at Risk for Anaphylaxis Due to COVID-19 Vaccine? Vaccines (Basel). 2021 Jan; 9(1): 38.

[3] Turner PJ, et al. J Allergy Clin Immunol Pract. 2017 Sep-Oct; 5(5): 1169–1178. [4] Shimabukuro TT, et al. JAMA. 2021;325(11):1101-1102. doi:10.1001/jama.2021.1967

Biến thể Omicron: hiểu như thế nào cho đúng?

Tin tức về biến thể mới (Omicron) gây hoang mang cho nhiều người trên thế giới. Nhưng chúng ta cần bình tỉnh để xem xét và đánh giá khả năng lây nhiễm và hiệu quả vaccine đối với biến thể mới.

Coronavirus digest: Oxford chief says omicron ′unlikely′ to reboot pandemic  | News | DW | 27.11.2021

Thông tin về con virus nCov có biến thể mới chẳng làm giới khoa học ngạc nhiên, nhưng công chúng thì thấy quan tâm. Như là một qui luật sanh tồn, con virus biến hoá liên tục và nó muốn nhiễm cho càng nhiều người càng tốt [1]. Chúng ta đã thấy các biến thể Alpha, Delta, và nay thêm một biến thể mới có tên là Omicron. Cách định danh cũng khá thú vị vì bỏ qua chữ cái “Xi” (trong mẫu tự Hi Lạp), có lẽ tránh tên ông Tập Cận Bình?

Khi một biến thể của virus xuất hiện thì có 3 câu hỏi quan trọng đặt ra là:

  • Độc lực của biến thể mới ra sao?
  • Khả năng nó có thể gây ra một đại dịch mới?
  • Vaccine có hiệu lực đối với biến thể mới?

Nói một cách ngắn gọn, cho đến nay cả 3 câu hỏi đó đều chưa có câu trả lời. Lí do đơn giản là nó mới xuất hiện vài ngày, và giới khoa học vẫn còn đang thu thập dữ liệu & nghiên cứu để hiểu hơn. Do đó, những thông tin hiện nay còn rất mù mờ. Không có gì là chắc chắn. Không có ai dám xác định điều gì cả. Nhưng chúng ta có thể bàn qua 3 câu hỏi trên.

Độc lực?

Như nói trên, virus sẽ tiếp tục biến hoá thành các biến thể mới, nên chúng ta không ngạc nhiên khi thấy biến thể Omicron. Tôi đọc từ tập san khoa học Nature thì biết rằng biến thể mới này xuất phát từ Botswana qua giải trình tự gen của một ca nhiễm. Nó được định danh là B.1.1.529.

Biến thể này dễ nhận ra là vì cái gai (spike) của con virus có 30 điểm khác biệt so với biến thể gốc. Một số thay đổi hay khác biệt này đã được tìm thấy trong biến thể Delta và Alpha, và chúng có liên quan đến khả năng kháng kháng thể. Đó chính là lí do WHO đặt biến thể này là “Variant of Concern”, tức biến thể quan tâm.

Nó đáng quan tâm là vì ở Nam Phi các giới chức y tế quan sát thấy một đợt nhiễm mới ở tỉnh Gauteng (thành phố Johannesburg). Khi phân tích các ca nhiễm mới này, họ phát hiện biến thể Omicron hay B.1.1.529 là thủ phạm của tất cả 77 ca nhiễm. Họ vẫn còn đang phân tích hơn 100 mẫu khác. Tuy nhiên, các nhà khoa học Nam Phi nghi ngờ rằng biến thể này rất có thể đã lưu hành khá nhiều trong cộng đồng [2].

Đại dịch mới?

Theo lí thuyết thì biến thể có độ lây lan càng cao thì độ độc hại càng giảm. Xin nhấn mạnh là ‘giảm’ chớ không phải là không độc hại. H1N1 là một ca tiêu biểu. Con virus này H1N1 là thủ phạm của đại dịch Tây Ban Nha vào năm 1918 và Swine Flu năm 2009. Con virus OC43 là một biến thể của coronavirus (thủ phạm gây cảm cúm) có vẻ càng ngày càng ít độc hại hơn (trước đây con này là thủ phạm của đại dịch 1890 giết chết hơn 1 triệu người).

Biến thể Delta khi mới xuất hiện cũng làm cho thế giới quan ngại là nó sẽ gây ra đại dịch mới. Nhưng đến nay thì chúng ta thấy nó có hệ số lây lan rất cao (6 hay 7), nhưng nguy cơ tử vong thì có nơi thấp [3], có nơi cao [4]. Thành ra, dựa vào quá khứ, chúng ta có thể nói rằng xác suất mà biến thể mới Omicron gây ra đại dịch mới rất thấp.

Hiệu lực của vaccine đối với biến thể mới?

Một cách ngắn gọn: không ai biết. Tất cả các vaccine được thiết kế phòng chống biến thể gốc, do đó vaccine hiện hành có hiệu quả thấp đối với biến thể Delta (và đó cũng là lí do tại sao nhiều nước ghi nhận sự gia tăng số ca với biến thể Delta). Suy ra từ đó, chúng ta có thể đoán rằng các vaccine cũng có hiệu lực với biến thể mới nhưng chắc chắc không cao như thấy trong thử nghiệm lâm sàng.

Tuy nhiên, có vài thông tin đáng chú ý về biến thể Omicron. Ở Hồng Kong, các giới chức y tế phát hiện 2 người phát hiện bị nhiễm biến thể Omicron và cả hai đều được tiêm chủng 2 liều vaccine Pfizer. Ở Phi châu, người ta cũng ghi nhận hơn 100 ca nhiễm đột phá với Omicron là thủ phạm. Những thông tin này khó nói lên điều gì, nhưng nó cho thấy vaccine không hẳn là cái ‘áo giáp’ chống lại tất cả biến thể của con nCov.

Pfizer đã tuyên bố là sẽ sản xuất vaccine chống Omicron trong vòng 100 ngày [5]. Nếu họ làm được như thế thì có lẽ dựa vào kết quả quan trọng của các nhà khoa học Nam Phi, những người đã dùng công nghệ giải trình tự gen và phát hiện ra biến thể Omicron đầu tiên trên thế giới.

Tóm lại, biến thể Omicron được phát hiện ở Botswana và đang là biến thể quan tâm, nhưng thông tin về nó thì rất rời rạc và không đầy đủ. Nếu định luật sinh học về sự sinh tồn của virus là đúng thì chúng ta hi vọng rằng biến thể mới sẽ có mức độ lây lan cao nhưng ít độc hại hơn (hiểu theo nghĩa nguy cơ tử vong thấp hơn). Sự xuất hiện của Omicron là một minh chứng cho thấy rằng chúng ta phải sống chung với nCov, và chiến lược zero covid là không khả thi.

____

[1] https://www.nature.com/articles/s41564-020-0690-4

[2] https://www.nature.com/articles/d41586-021-03552-w

[3] https://www.abc.net.au/news/2021-07-02/delta-coronavirus-variant-symptoms-vaccines-spread/100255804

[4] Nhưng số liệu mới nhứt từ Canada thì cho thấy nguy cơ tử vong đối với biến thể Delta cao hơn biến thể gốc. Nguồn: https://www.cmaj.ca/content/cmaj/early/2021/10/04/cmaj.211248.full.pdf

[5] https://www.washingtonexaminer.com/news/pfizer-and-biontech-vaccine-against-new-covid-19-strain-can-be-produced-in-100-days

“Tiên học lễ, hậu học văn” còn cần thiết?

Trong hội nghị văn hoá gần đây, Gs Trần Ngọc Thêm nói thẳng rằng cần phải bỏ khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” trong học đường, bỏ đi khái niệm “Trồng người”. Một đề nghị táo bạo, và gây ra nhiều tranh cãi. Cái khổ là nhiều khái niệm và khẩu hiệu ở Việt Nam không được định nghĩa và giải thích rõ ràng, nên ai muốn hiểu sao cũng được. Chẳng hạn như khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” có thể hiểu nhiều cách khác nhau qua các thời kì. Và, nếu theo cách hiểu “Hồng hơn Chuyên” thì tôi đồng ý với Gs TNThêm.

No photo description available.
Khẩu hiệu này khá phổ biến ở miền Nam trước 1975, nhưng sau 1975 nó biến mất một thời gian và tái xuất hiện vào khoảng đầu thập niên 1990 (?)

Thời Khổng Tử

Tôi nghĩ để hiểu một chút về câu “Tiên học lễ, hậu học văn“, chúng ta phải quay ngược thời gian tìm hiểu Khổng Tử. Lí do là khái niệm Lễ xuất phát từ Khổng Tử.

Khổng Tử xuất thân là một thầy cúng tế. Năm 19 tuổi ông thành hôn và được bổ nhiệm làm quan phụ trách thuế vụ và cúng tế ở nước Lỗ. Ông làm tốt công việc cúng tế đó, nên năm 30 tuổi ông được gởi đi ‘du học’ ở kinh đô nhà Chu để nghiên cứu thêm về cúng tế. Tuy làm ‘good job’ cúng tế và thu thuế, nhưng vương triều nước Lỗ không tin dùng ông. Sau 10 năm trời lang thang và chu du qua nhiều nước (vì chẳng có vương triều nào tin dùng ông), ông đành quay về cố quốc (nước Lỗ), dạy học và chép sách. Ông soạn được 5 cuốn sách gọi là Ngũ KinhKinh Dịch (bói toán), Kinh Thư (văn kiện của các vua quan), Kinh Thi (các bài thơ ca), Kinh Lễ (các nghi thức về cúng tế và hội họp) và Kinh Nhạc.  

Khổng Tử rất coi trọng cái gọi là “Tam Cương, Ngũ Thường”. Tam Cương là 3 tiêu chuẩn của kẻ sĩ với nhà vua: trung thành với vua, hiếu với cha mẹ, và thuỷ chung với vợ. Còn Ngũ Thường là 5 chuẩn của người quân tử: ” Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín “. Nhưng ông không định nghĩa rõ ràng thế nào là Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, mà chỉ nói chung chung và có khi … lăng nhăng. Cuối cùng thì ai muốn hiểu sao thì hiểu.

Khái niệm Lễ và Văn có thể hiểu trong bối cảnh thân phận của Khổng Tử. Chữ Lễ thời đó được hiểu là nghi lễ vì như nói trên Khổng Tử xuất thân là một thầy cúng tế, nên ông xem trọng Lễ. Nghi lễ là cách thức để nể phục các thế lực siêu thiên nhiên, thần thánh mà chúng ta không thấy mặt họ. Lễ do đó bắt chúng ta phải tuân phục một thế lực vô hình! Còn Văn thời đó tôi đoán là học chữ (vì làm gì có khoa học như chúng ta hiểu ngày nay thời Khổng Tử).

Thời Việt Nam Cộng Hoà

Tiên học lễ, hậu học văn“là một khẩu hiệu đã có từ thời VNCH. Câu đó thật ra có ý nghĩa đẹp.

Chữ “Lễ” ở đây phải hiểu theo nghĩa Nho giáo, tức là đạo đức. Học lễ có nghĩa là học đạo đức để trở thành người có những đức tính đẹp nhằm phụng sự xã hội.

Còn “Văn” dĩ nhiên không có nghĩa là văn chương, mà là tri thức. Học văn có nghĩa là học các định luật tự nhiên (kể cả khoa học và kĩ thuật) và văn hoá để có kiến thức. Do đó, khẩu hiệu đó nó hàm ý tốt.

Tôi cũng là người lớn lên từ nền giáo dục VNCH, nhưng thú thật tôi chẳng khi nào quan tâm đến khẩu hiệu đó. Thực tế quan trọng hơn khẩu hiệu. Có vài người kể lể dài dòng về kỉ niệm của họ với khẩu hiệu đó, nhưng tôi thì thấy khẩu hiệu đó tuy nó đẹp nhưng chẳng có tác động gì đến cá nhân.

Thời Việt Nam XNCH

Những năm sau 1975 thì khẩu hiệu này biến mất. Bẵng đi một thời gian dài, nó lại xuất hiện và được đề cao. Nhưng người ta không giải thích câu đó có nghĩa là gì. Ai cũng hiểu lờ mờ rằng câu đó có nghĩa là học đạo đức trước rồi mới học để có tri thức. Nhưng đạo đức thời sau 1975 là gì? Không ai biết rõ. Có lẽ là khái niệm ethics trong tiếng Anh.

Sau 1975, người ta đưa vào khái niệm “Hồng hơn Chuyên“. Hồng ở đây có thể hiểu theo nghĩa giác ngộ chánh trị (tức theo Mác Lê Mao) và chủ nghĩa giai cấp. Do đó, mới có tiêu chuẩn đạo đức mang tính áp đặt rằng “yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa”. Còn chuyên ở đây có nghĩa là năng lực chuyên môn.

Cái thứ tự Hồng – Chuyên, do đó, có thể hiểu là đạo đức chánh trị phải được ưu tiên hơn là chuyên môn. Cái thứ tự hồng – chuyên này cũng giống như cái thứ tự của Lễ – Văn thời xa xưa vậy.

Thành ra, thể chế mới rất thích khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn”, bởi vì nó vừa chứng tỏ họ duy trì truyền thống vừa là cách để hợp thức hoá kiểm soát tư tưởng. Người ta cũng có thể giải thích Lễ theo nghĩa phải kính trên nhường dưới, phải tuân phục người có chức quyền. Theo đó, ông Tổng đã nói là phải nghe, không được chất vấn, không được phản biện?

Cần phải có một phương châm mới

Ở nước tôi ở (Úc) không có khẩu hiệu trong trường học, hay nếu có thì mỗi trường mỗi khác. Tôi thấy ở Mĩ (nơi tôi hay lui tới) cũng thế. Ở những nước này, người ta có những khái niệm như Vision (Tầm nhìn) và Mission (Sứ mệnh) cho mỗi ngành nghề và mỗi trường học. Từ Tầm nhìn và Sứ mệnh, người ta có thể đúc kết thành một phương châm. Ví dụ như Đại học NSW (UNSW Sydney) có phương châm “Scientia Manu et Mente“, có nghĩa nôm na là ‘Tri thức bởi trái tim, khối óc và bàn tay’, hay Đại học Sydney với phương châm “Sidere mens eadem mutato“, có nghĩa là “Vật đổi sao dời, tri thức vĩnh viễn”.

Tôi nghĩ giáo dục Việt Nam cần một phương châm mới. Không có cái gì là bất biến. Khẩu hiệu “Tiên học lễ, hậu học văn” không mới mà cũng không cũ, nhưng nó có thể bị các thế lực chánh trị lợi dụng (vì sự mù mờ trong ý nghĩa) để kiềm chế sáng tạo của học trò và duy trì sự thống trị của thể chế.Vả lại, khái niệm Lễ và Văn là có từ thời Khổng Tử, nó không còn phù hợp với thời đại khoa học và công nghệ. Thời đại này đòi hỏi một chuẩn mực đạo đức (ethics) khác thời Khổng Tử.Cái khẩu hiệu đó trói buộc chúng ta vào cái khuôn vàng thước ngọc của Tàu.

Việt Nam chúng ta cần phải thoát Trung, như Nhật Bản đã từng thoát Trung. Tôi không rõ ở Nhật có khẩu hiệu kiểu “Tiên học lễ, hậu học văn” hay không, nhưng chúng ta cần phải suy nghĩ đến một Tầm nhìn và Sứ mệnh mới cho nền giáo dục, và nếu cần, một phương châm mới. Phương châm đó phải được giải thích rõ ràng (như trước đây thời VNCH giải thích triết lí Dân tộc, Nhân bản, Khai phóng). Tôi thì nghĩ đến một phương như “Lifetime learning for wisdom and virtue” (học suốt đời vì trí tuệ và đức hạnh), nhưng cần phải suy nghĩ kĩ hơn nữa.

____

PS: Viết xong cái note này, tôi đọc được một ý kiến cho rằng chữ Lễ ở đây không phải có từ thời Khổng Tử. Nhưng tôi thấy cách giải thích lòng vòng không thuyết phục. Tuy nhiên, chủ đề của cái note này không phải xuất xứ câu khẩu hiệu đó mà là bản chất của nó.

Thiền Am và những cái oan ngút trời

LGT: Tôi nhận được email của một người tên là “Tim Dang” đề nghị tôi đăng bài viết dưới đây. Tựa đề bài viết là “Thiền Am và những cái oan ngút trời”. Tôi đọc bài viết và thấy có nhiều thông tin xác thực, nên đồng ý làm theo lời đề nghị của bạn Tim Dang, trước là cho tôi hiểu thêm câu chuyện, sau là chia xẻ cùng các bạn quan tâm.

Nhân đây, tôi cũng có vài nhận xét chung. Nói một cách công bằng Nhà nước này không ‘mặn mà’ với ý tưởng xã hội dân sự, và không thích những nhóm như Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ. Trước đây, họ thẳng tay đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất do các thầy lập ra từ trước 1975. Họ từng dùng thủ đoạn dơ bẩn để đàn áp thẳng hay Tu viện Bát Nhã ở Đà Lạt do nhóm Làng Mai của thầy Nhất Hạnh sáng lập. Do đó, những gì xảy ra ở Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ chỉ là lịch sử lặp lại mà thôi.

Đọc kĩ bài dưới đây thì thấy Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ chẳng vi phạm luật pháp gì cả. Họ chỉ là một nhóm tu tại nhà, nhưng họ có công lớn là chứng minh cho công chúng thấy một nhóm dân sự nhỏ như thế có thể đóng góp tích cực vào giáo dục và làm đẹp xã hội. Có thể họ còn vụn về, nhưng thành công của họ thì không thể bác bỏ. Trước 1975 các tổ chức tôn giáo đã có đóng góp lớn cho giáo dục và đạo đức xã hội. Không có lí do gì trong thế kỉ 21mà lại ngăn cấm các nhóm như Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ.

Nhưng sự đàn áp và vu khống Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ lần này có sự tham gia của các nhóm có tiền và có khả năng mua bán công lí, với sự tiếp tay tích cực của vài chức sắc trong giáo hội Phật giáo của Nhà nước (hay có người nói là “Phật giáo Quốc doanh”). Phải nói như vậy để phân biệt với Phật giáo của dân. Không biết các bạn thì sao, chớ riêng tôi cảm thấy không thoải mái với các vị trong Phật giáo Nhà nước, vì cách họ phát biểu và hành vi và hành động họ làm không nhứt quán với triết lí Nhà Phật mà tôi hiểu. Thật ra, chỉ cần nhìn mặt và thần thái của họ, tôi thấy hình như họ không giống những thầy của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất.

Các bạn có thể tìm hiểu về nhóm Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ qua địa chỉ youtube sau đây: https://www.youtube.com/channel/UCrmZOTVaR7-ERWm5gVq7Lrg

Xin giới thiệu đến các bạn bài viết đặc sắc, và chân thành cám ơn tác giả Tim Dang. NVT

___________

Thiền Am và những cái oan ngút trời

Tác giả: Tim Dang

Mấy năm qua, Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ là đối tượng của rất nhiều vu khống từ báo chí quốc doanh và những cá nhân bất thiện. Những cá nhân là chức sắc trong Giáo hội Phật Giáo Việt Nam và những kẻ ăn theo một doanh nhân.

Tôi tìm hiểu thông tin và cho đến nay tôi nghĩ mình đã có đủ dữ kiện để có thể viết một bài tóm lược về Tịnh Thất Bồng Lai. Tôi nghĩ họ là một nhóm tu chân chính và người tử tế hiếm hoi trong xã hội ngày nay.

Thiền Am và Bửu Sơn Kỳ Hương

Thiền Am là nơi tu tập của một nhóm tu sĩ theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Bửu Sơn Kỳ Hương  là gì? Trang web của Ban Tôn Giáo Chính phủ cho biết đây là một đạo do ông Đoàn Minh Huyên sáng lập từ năm 1849 tại xã Long Kiến, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tín đồ của Bửu Sơn Kỳ Hương lấy Phật giáo làm nền tảng để trở thành “tu nhân”.

Tu Nhân có nghĩa là “luôn sống đúng với đạo làm người, giúp ích gia đình, xã hội, có luân thường đạo lý, có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.’ Đặc điểm của Bửu Sơn Kỳ Hương là không có chức sắc, không có giáo hội, mà chỉ phát triển theo mô hình ‘truyền thừa.”

Bửu Sơn Kỳ Hương không phải là Đạo Phật như chúng ta hiểu, và không thuộc sự quản lý của Giáo hội PGVN của nhà nước (Có người gọi mỉa mai là “Giáo hội Quốc doanh”).

Ông Lê Tùng Vân, năm nay đã 91 tuổi, là người trụ trì gia trang có tên là Tịnh Thất Bồng Lai, nay đổi tên là Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ. Tôi sẽ gọi ngắn là “Thiền Am”. Ông Vân từng là Tỉnh hội trưởng Bửu Sơn Kỳ Hương ở An Giang. Có thể nói rằng ông Lê Tùng Vân không hẳn là một nhà tu trung bình. Ông xuất thân trong một gia đình có học, với thân phụ là một nhà thơ. Bản thân ông Vân cũng là người có học. Năm 60 tuổi ông vẫn đi học và đã tốt nghiệp cử nhân. Quan trọng hơn, ông còn tỏ ra là người có kiến thức đạo giáo rất tốt (so với các sư quốc doanh).

Chỉ cần xem qua cách ông đặt những cái tên ý nhị cho các trung tâm tu tập và đặt tên cho các thành viên trong Thiền Am cũng thấy ông là người uyên thâm, đọc nhiều, chớ không phải dạng trung bình.

Ông Lê Tùng Vân lên Hóc Môn lập trang trại lấy tên là Tâm Đức. Ông nuôi một số trẻ mồ côi và giúp đỡ những người cơ nhỡ. Trung tâm (hãy tạm gọi thế) Tâm Đức bị giải toả, ông Vân di cư về huyện Đức Hoà (Long An) xây một trung tâm mới và đặt tên là Tịnh Thất Bồng Lai.

Ở đây, ông vẫn nuôi dạy trẻ mồ côi, và họ cũng như ông, xuống tóc, mặc áo nâu, và cúng Phật. Họ hoàn toàn sống tự lực cánh sinh và được mạnh thường quân giúp đỡ, chớ không có sự hỗ trợ nào của Nhà nước.

Thiền Am không truyền đạo. Họ không lấy danh Phật Giáo. Họ không tự nhận là “tu sĩ”. Họ chỉ hoạt động như là một đại gia đình. Trong xưng hô, các thành viên gọi ông Lê Tùng Vân là “Thầy Ông Nội”. Đó là một danh xưng trong Bửu Sơn Kỳ Hương.

Tiếng vang và sóng gió

Các thành viên của Thiền Am đã tỏ ra là những tài năng hiếm hoi. Năm 2014, một thành viên của Thiền Am là Huyền Trân, trong trang phục áo nâu và mũ ni, đi thi chương trình “The Voice” và được trao giải Á Quân.

Năm 2017, hai thành viên khác là Nhất Nguyên và Nhị Nguyên, vẫn trang phục áo nâu, đi thi “Tuyệt Đỉnh Song Ca” và được khen vang dội.

Năm 2019 và 2020, lại có thêm thành viên nhỏ từ Thiền Am được trao giải cao nhấtt trong chương trình “Thách thức Danh hài“.

Từ những lần “trình làng” như thế Thiền Am trở nên nổi tiếng, và thu hút hỗ trợ từ các mạnh thường quân trong và ngoài nước. Có nhà hảo tâm ở Úc còn sẵn sàng bảo lãnh Huyền Trân, Nhất Nguyên và Nhị Nguyên đi du học ở Úc, nhưng vì nhà cầm quyền địa phương gây khó khăn nên họ không đi được.

Nhưng những thành công vang dội đó gây nên sóng gió cho Thiền Am. Các chức sắc Giáo hội Phật giáo nhà nước cho rằng các thành viên như Huyền Trân, Nhất Nguyên và Nhị Nguyên là “giả sư”, là “tu trái phép”, là “trục lợi”.

Một sự kiện khác cũng gây sóng gió cho Thiền Am là cô sinh viên Diễm My. Năm 2019, Diễm My, con gái của một gia đình giàu có, quen với Huyền Trân trong đại học và xin tu ở Thiền Am. Tuy nhiên, Diễm My qui y ở một chùa khác. Sau đó, ba má Diễm My dẫn 50 du côn đến Thiền Am vây bắt Diễm My về nhà. Nhưng Diễm My không có mặt ở Thiền Am!

Đám người du côn hung hăn đập phá tài sản của Thiền Am và gây thương tích lên đến 13% cho một thành viên trong Thiền Am. Thủ phạm gây thương tích chỉ bị phạt 7.5 triệu đồng. Đó là công lý ở Việt Nam!

Vài tháng sau, Diễm My lại xin ở lại Thiền Am và được ba má cô ấy đồng ý. Nhưng sau đó thì công an cùng ba má cô ấy bày mưu và bắt cóc cô ấy về nhà.  Diễm My cho rằng cô ấy bị giam giữ trong nhà cả 1 năm trời và bị xâm phạm thân thể.

Diễm My trốn khỏi nhà và cho đến nay không ai biết cô ở đâu. Nhưng cô có lên youtube cho biết rằng cô ấy đã có tờ trình cho Hội Phụ Nữ Trung Ương và đâm đơn kiện ba má về bạo hành. Điều trớ trêu là Hội Phụ Nữ chuyển đơn về công an địa phương. Công an địa phương thì đã bị ba má Diễm My mua chuộc (xem dưới đây).

Sự việc này cũng nói lên cái Hội Phụ Nữ đó rất ư là vô dụng, nó không có bảo vệ cho phụ nữ, mà chỉ suốt ngày lo đánh bóng hình ảnh trên báo chí. Sự thật thì Hội Phụ Nữ cũng như giáo hội Phật Giáo quốc doanh chỉ là một cánh tay nối dài của Mặt Trận Tổ Quốc mà thôi.

Những bôi nhọ của báo chí nhà nước

Thiền Am là đối tượng của rất nhiều vu khống. Vu khống đến từ giáo hội quốc doanh, từ hệ thống truyền thông của Nhà nước, và đặc biệt là từ bà Nguyễn Phương Hằng và đạo quân youtuber kền kền của bà.

Thiền Am bị vu khống từ cả 5 năm qua chứ không phải mới đây. Có thể nói rằng chưa có một trung tâm tu tập nào mà chịu nhiều sóng gió và bị vu vạ nhiều và lâu dài như Thiền Am và ông Lê Tùng Vân.

Báo chí Nhà nước chạy những cái tít và bản tin chỉ có thể mô tả bằng hai chữ “dơ bẩn”. Dơ bẩn là vì cách dùng chữ và hoàn toàn không có bất cứ một bằng chứng gì khả tín cho những chữ viết đó. Ví dụ:

  • Ông Lê Tùng Vân dụ dỗ phụ nữ và trẻ em cùng những việc trái luân thường đạo lý khác” (afamily.vn)
  • Nóng: Ba chú tiểu là con các ni cô ở trong Tịnh Thất của ông Lê Tùng Vân” (Dân Trí)
  • Công an tỉnh Long An khẳng định đã vạch trần việc chủ Tịnh thất Bồng lai lợi dụng tôn giáo, lợi dụng trẻ em để kêu gọi từ thiện để cảnh báo người dân nhưng chưa đủ pháp lý để xử phạt.” (Dân Trí)
  • 6/8 trẻ em ở “Tịnh thất Bồng Lai” sống cùng mẹ ruột (vtv)
  • Lật tẩy chiêu trò nhằm trục lợi của ‘Tịnh thất Bồng Lai’” (vietnamnet)
  • ‘Tịnh thất Bồng Lai’ là cơ sở thờ tự bất hợp pháp” (vietnamnet)
  • Nhiều trẻ sống tại ‘Tịnh thất Bồng Lai’ cùng mẹ ruột nhưng không được biết thân nhân” (tuoitre.vn)

Xin nhắc lại là tất cả những cái tít trên đều không có bằng chứng. Chỉ là những vu khống. Điển hình là bài báo trên Dân Trí cho biết như sau “Công an tỉnh Long An khẳng định đã vạch trần việc chủ Tịnh thất Bồng lai lợi dụng tôn giáo, lợi dụng trẻ em để kêu gọi từ thiện để cảnh báo người dân NHƯNG CHƯA ĐỦ PHÁP LÝ ĐỂ XỬ PHẠT” (phần viết hoa là tôi nhấn mạnh).

Thật là một cách viết báo quái đản! Câu đầu thì khẳng định là đã vạch trần, nhưng câu sau thì chưa đủ pháp lý! Chưa có bằng chứng và lý do pháp lý mà đã kết tội người ta! Những kẻ viết báo quên rằng người ta vô tội cho đến khi toà án kết tội. (Thật ra, ở Việt Nam, ngay cả toà án kết tội thì chưa chắc người ta đã có tội).

Lại có những bài đậm tính câu view như “Tịnh thất Bồng Lai bị đập nát, thầy trò chắp tay đứng nhìn – sự thật bức ảnh trên MXH“. Sự thật là gì? Hoá ra, chính bài báo tiết lộ “[…] khuôn viên này là đất thổ cư, được phép xây dựng cao tầng. Họ cũng muốn xây lên 2 – 3 lầu, nhưng kinh phí không đủ nên chỉ xây vừa phải, đủ chỗ để mọi người sống.”

Hài hước nhất là còn có một dạng “phân tích khoa học” cho rằng “những nghi vấn xung quanh vấn đề cận huyết hay loạn luân ở Tịnh Thất Bồng Lai tiềm ẩn nguy cơ đột biến gen, gây ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ con người.” Đi từ nghi vấn đến ảnh hưởng lên trí tuệ con người thì chỉ có thể nói là khoa học… dỏm.

“Dùng tiền để đánh gục Thiền Am”

Nhưng người gây ồn ào nhứt không hẳn là báo chí Nhà nước mà là một doanh nhân tên là Nguyễn Phương Hằng, phu nhân ông Dũng Lò Vôi. Trong một buổi livestream vào ngày 24/10, bà Hằng có những lời vu khống và bịa đặt về Thiền Am cùng ông Lê Tùng Vân.

Những vu cáo của bà Hằng cũng chỉ là loại “nghe nói” và dựa vào những thông tin không được xác tín. Điều đáng kinh tởm là ngôn ngữ bà dùng trong việc vu khống ông Lê Tùng Vân vô cùng tởm lợm không thể nào viết ra trên giấy được.

Trong buổi livestream đó, có một người tên là Lê Thanh Minh Tùng, tự xưng là con trai ruột của ông Lê Tùng Vân. Tuy nhiên, đây là một sư đặt chuyện, bởi ông Vân giải thích rằng Tùng là trẻ mồ côi được em gái ông Vân (nay đã qua đời) xin về nuôi, và ông Vân lúc đó đặt tên là Lê Thanh Minh Tùng. Ông không có nuôi Tùng một ngày nào. Ấy thế mà rộ vu khống kinh tởm rằng ông Vân loạn luân!

Theo sau bà Hằng là những youtuber mà có người mô tả là “kền kền”. Cứ mỗi lần livestream của bà Hằng thì đội quân kền kền này phát thanh lại, kèm theo cắt ghép những hình ảnh tục tĩu để bôi nhọ Thiền Am và xúc phạm danh dự đến các thành viên trong Thiền Am.

Người bình thường không thể nào xem qua những video clip và những cách nói của đội quân kền kền này. Nhưng trớ trêu thay, họ cũng thu hút khá nhiều người tò mò và cả tin, và những người này lại tiếp tục tung ra những thông tin bịa đặt và sai lệch.

Không chỉ bị tấn công bởi báo chí nhà nước, giáo hội quốc doanh, bà Hằng và đội quân kền kền, Thiền Am còn bị tấn công bởi ba má của Diễm My, người mà Thiền Am từng cưu mang. Cần nói thêm rằng trước đó, ba Diễm My (tên là Thắng) thuê giang hồ xông vào đập phá và đánh đập người trong Thiền Am. Không tìm thấy con trong Thiền Am, y hăm doạ:

Tao sẽ còn đến đây để quậy nhiều lần nữa“.

Người này (Thắng) mướn một thám tử tư (từng là công an) để ám hại Thiền Am. Trích một đoạn họ trao đổi như sau:

Thắng: “Chuyện đó là cứ yên tâm, sẵn sàng dùng tiền để đánh gục cả cái đám Thiền Am“.

Thám tử: “Vấn đề hại thiền Am 100 triệu thì em làm“.

Họ bàn chuyện hãm hại người khác một cách công khai. Họ bàn chuyện dùng tiền ra để mua công an và mua công lý một cách công khai! Ôi! Thật là một xã hội vô pháp vô luân.

Cũng xin nói thêm rằng viên thám tử tư này sau đó đã “qui chính”. Anh ta đã lên youtube nói rõ rằng Thiền Am là một trung tâm tu tập chân chính, những người trong Thiền Am rất thân thiện và những người tu thật sự, và hoàn toàn không có loạn luân trong Thiền Am. 

Những vu khống và sự thật

Báo chí Nhà nước viết rất nhiều về Thiền Am, nhưng chữ thì nhiều mà thông tin thì rất ít. Đọc qua những bài báo này chúng ta dễ dàng nhận ra 3 đặc điểm như sau:

  • Võ đoán: Phóng viên chưa bao giờ đến tận nơi hay phỏng vấn người trong cuộc; họ chỉ dùng thông tin của các youtuber kền kền trên mạng. Họ có cách làm báo không chuyên nghiệp, vì họ không bao giờ hỏi những người trong Thiền Am về những cáo buộc, mà chỉ nói một chiều.
  • Nguỵ biện: Phóng viên tận dụng những chiêu nguỵ biện, và phổ biến nhứt là tấn công cá nhân. Họ còn áp dụng chiêu nguỵ biện dựa vào đám đông, như “Cư dân mạng lên án” mà không có bất cứ một cá nhân cụ thể nào. Một nguỵ biện khác là tung ra những nghi ngờ chung chung (như “trái luân thường đạo lý”) để người đọc khó phân biệt hư thực. Đó là cách làm báo không chỉ không chuyên nghiệp mà còn bất lương.
  • Câu view: Phóng viên dùng những tựa đề gây tò mò ở người đọc, nhưng khi click vào nội dung thì không có thông tin gì đáng chú ý, ngoài những trích dẫn từ các chức sắc trong hội tôn giáo quốc doanh. Các chức sắc quốc doanh thì họ không nói chúng ta cũng biết họ nghĩ gì, bởi họ chỉ là những công cụ của Nhà nước mà thôi, mà Nhà nước thì không muốn một xã hội dân sự với sự hiện diện của những nhóm tôn giáo như Thiền Am.

Nhưng để hiểu thêm vấn đề, chúng ta thử xem qua những vu cáo và vu khống mà báo chí nhà nước tung ra trong thời gian qua. Để xem qua những vu cáo này chúng ta phải đặt trong bối cảnh chính sách kiểm soát tất cả các tôn giáo của nhà nước.

Cần nói thêm rằng trước đây, Nhà nước và bọn giáo hội quốc doanh đã đàn áp các vị trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất và thiền viện của thiền sư Nhất Hạnh như thế nào.

Cáo buộc 1: Thiền Am không phải là chùa?

Điều này thì có vẻ thừa và vô lý, bởi Thiền Am có bao giờ xưng là chùa đâu.

Chính ông Thích Nhật Từ, một kẻ lớn tiếng và hung hăn chỉ trích Thiền Am, năm 2017 cho biết:  “[…] khu Bồng Lai Viên chỉ là một tịnh thất, không có bản hiệu chùa, nên không có đăng kí từ viện với Giáo hội Phật giáo tỉnh Long An. […] Họ là những người cư sĩ tại gia sống trong tịnh thất, được thầy của họ là người xuất gia cạo đầu, cho mặc áo nâu sòng từ nhỏ.”

Cáo buộc 2: “Mượn danh tôn giáo để trục lợi”?

Đó là tựa đề của một bài báo, nhưng nếu đọc kĩ thì chỉ thấy bài báo mô tả những hoạt động tu tập của ông Lê Tùng Vân và những cáo buộc về vi phạm hành chính (như chưa đăng kí hộ khẩu, không đăng kí xin con nuôi), mà hoàn toàn không thấy họ trục lợi chỗ nào. Thật ra, có những kẻ youtuber nhân danh Thiền Am đi xin tiền vào túi cá nhân. Những người này vẫn ngày đêm có mặt trên mạng vu khống Thiền Am.

Thay vào đó là những nguỵ biện phổ biến như “cộng đồng mạng và nhiều phật tử lên án” (mà không biết cộng đồng mạng là ai), như trích dẫn ý kiến của một vị sư quốc doanh nói rằng Thiền Am “lợi dụng hình thức cơ sở của Giáo hội, lợi dụng hình thức nuôi dạy trẻ mồ côi làm từ thiện, lừa gạt lòng tin của tín đồ Phật giáo để trục lợi” mà chính ông sư này cũng không chứng minh được trục lợi cái gì!

Có lẽ ông nên hỏi tại sao cha mẹ các đứa bé đó không gởi con mình trong chùa quốc doanh. Ông sư đó cũng nên tự hỏi tại sao công chúng miền Nam không ưa giáo hội quốc doanh mà ông đang phục vụ.

Cáo buộc 3: Những người ở Thiền Am là “giả sư”?

Đây là một cáo buộc vô căn cứ. Thật ra, các thành viên trong Thiền Am có bao giờ tự gọi là “sư” đâu. Ông Lê Tùng Vân cũng có bao giờ tự xưng là “Thượng toạ” hay “Hoà thượng” đâu. Ở miền Tây rất nhiều người tu tại gia, và họ đâu có xưng thượng toạ hay hoà thượng gì đâu.

Chính ông Thích Nhật Từ cũng từng nói vào năm 2017 rằng: “Thật ra, cụ Thích Tâm Đức chưa bao giờ từng xưng mình là Hoà Thuợng và chưa nói mình là trụ trì Chùa Bồng Lai. […] Thực tế thì Hoàng Nguyên và Nhất Nguyên không phải là người giả mạo tăng sĩ để lừa đảo bất kỳ ai như một số báo chí đã cáo buộc.”

Lại có người bắt bẻ: tại sao các em bé trong Thiền Am dùng danh xưng “Chú Tiểu”. Nhưng tôi thấy đây là một câu hỏi nguỵ biện, đáng lẽ phải hỏi là “Tại sao không dùng danh xưng Chú Tiểu?” Cái danh xưng đó đâu phải là “độc quyền” của Phật Giáo. Tương tự, danh xưng “Thầy” đâu phải là độc quyền của bất cứ tôn giáo nào. Dùng cách nguỵ biện đó, người ta cũng có thể hỏi “Sao không dùng chữ Tổng Thống, mà dùng Chủ Tịch?” Thật buồn cười cho những bắt bẻ ấu trĩ này!

Cáo buộc 4: Lợi dụng trẻ em để trục lợi?

Có một tờ báo quốc doanh viết “có dấu hiệu lợi dụng tôn giáo để trục lợi, lợi dụng trẻ em vận động kêu gọi từ thiện, có nhiều việc làm trái luân thường đạo lý“, nhưng không cho biết trục lợi gì và bằng chứng về trái luân thường đạo lý.

Sự thật là Thiền Am chưa bao giờ đi gây quĩ như giáo hội quốc doanh; họ chỉ tự lực cánh sinh và được các mạnh thường quân ủng hộ. Tôi không hiểu sao báo chí lại nói là ‘trục lợi’. Làm báo gì mà bất lương vậy? Ở trên ông Thích Nhật Từ cũng đã xác định trước công chúng rằng Thiền Am không giả mạo tăng sĩ để lừa đảo bất kỳ ai.

Cáo buộc 5: Loạn luân?

Đây là một vu cáo vô luân nhất, bẩn thỉu và độc địa nhất, nhưng là vu cáo vô căn cư. Báo chí nhà nước viết:”Đáng nói hơn, phần lớn những người sinh sống ở đây lại có quan hệ huyết thống, là con ruột, cháu ruột của ông Lê Tùng Vân“. Mấy người này dựa vào những trẻ mồ côi được nhận về nuôi có cùng họ của người nhận nuôi và thế là họ nói các trẻ này có liên hệ huyết thống!

Thật ra, công an đã bày kế cho một người ghé Thiền Am, rồi sau đó hô hoán lên rằng người đó bị nhiễm covid19, và bắt buộc tất cả các thành viên Thiền Am phải đi cách ly. Trong thực tế thì Thiền Am trích xuất camera cho thấy không có ai viếng thăm Thiền Am lúc đó như công an nói. Tuy nhiên, nhân danh cách ly vì covid19, công an lấy máu và xét nghiệm DNA các thành viên trong Thiền Am và chẳng phát hiện quan hệ huyết thống nào cả.

Nhưng bản chất của công an là ác ôn, nên họ im lặng để cho báo chí và các youtuber kền kền tha hồ vu khống. Vu khống mãi cũng không có bằng chứng, một số youtuber kền kền hung dữ nhất cũng phải thú nhận là KHÔNG CÓ LOẠN LUÂN trong Thiền Am.

Thật khó tưởng tượng một xã hội mà người ta có thể dùng cách vu cáo vô đạo và vô luân như vậy! Càng khó tưởng tượng báo chí quốc doanh có những con người có thể hạ bút viết ra những chữ đó trên giấy! Chỉ có một xã hội đang suy đồi đạo đức mới có những con người tâm địa bệnh hoạn như vậy.

Ở đây, cũng phải nói thêm rằng việc lấy mẫu máu để xét nghiệm DNA mà không có sự đồng thuận của họ là vi phạm đạo đức y khoa và vi phạm nhân quyền.

Sự thật

Rất nhiều bài báo nhà nước có tựa đề “Sự thật đằng sau” Thiền Am, nhưng những thông tin họ đưa ra thì không phải sự thật mà là vu khống, nguỵ biện và câu view. Như trình bày trên, Thiền Am chẳng làm gì sai, hay nếu ‘vạch lá tìm sâu’ thì có lẽ là sai về hành chính (?) Dưới đây là sự thật về Thiền Am:

Sự thật 1: Thiền Am không phải là chùa

Thiền Am chỉ là một trung tâm tu tại gia. Các thành viên của Thiền Am không theo Đạo Phật như Giáo hội Phật giáo Việt Nam (quốc doanh) mà là Bửu Sơn Kỳ Hương. Họ chẳng làm gì vi phạm pháp luật Việt Nam. Tôi thì xem Thiền Am như là một “Tịnh Học Xá” tự lực cánh sinh, nơi mà các thành viên vừa tu vừa học, và lấy Phật giáo làm nền tảng đạo đức.

Sự thật 2: Các trẻ em và thành viên trong Thiền Am sống hạnh phúc.

Các bạn có thể xem qua video của trung tâm (“Năm Chú Tiểu”) thì thấy họ sống và lao động vui vẻ, họ lễ độ và có trí tuệ tốt. Thiền Am còn tuyên bố rằng “Chương trình Giáo Dục của Thiên Am có thể giáo dục được những đứa bé lì lợm nhất, hung dữ nhất, quậy phá nhất, cứng đầu nhất, ngỗ nghịch hỗn hào nhất, bất trị nhất trở nên thành những đứa bé ngoan ngoãn nhất, hiền lành nhất, vâng lời nhất, có đạo đức có giáo dục nhất.”

Sự thật 3: Thiền Am đào tạo ra những nhân tài.

Điều này thì chúng ta đã thấy qua các thành viên trong Thiền Am đoạt những giải thưởng quan trọng trong các lần tranh tài cấp quốc gia. Điều thú vị là họ có vẻ chẳng qua trường lớp chuyên nghiệp, nhưng có khả năng và kĩ năng khá chuyên nghiệp, chứng tỏ họ có quá trình luyện tập rất tốt.

Những sóng gió trong thời gian qua được tạo ra bởi những thế lực và cá nhân muốn ám hại Thiền Am. Họ là những chức sắc tôn giáo quốc doanh đầy sân hận; những cá nhân có tiền và tin rằng họ có thể mua công lý và mua bạo lực; và những kẻ kền kền ăn theo những kẻ có tiền. Sau cơn sóng gió, bụi cát cũng lắng xuống và làm lộ một Thiền Am như là một Tịnh Học Xá, nơi mà thành viên tu tập làm người có đầy đủ Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Qua sự kiện Thiền Am, tôi kêu gọi đồng bào ở nước ngoài nên cảnh giác trước những chiêu trò quyên tiền của những cán bộ mang danh “thượng toạ” hay “sư” thuộc giáo hội quốc doanh. Đừng tốn một xu nào cho những cán bộ tôn giáo vận đó!

Tim Dang

Xu hướng covid sau tiêm chủng vaccine: so sánh giữa các nước

Tại sao sau khi tiêm vaccine mà số ca nhiễm tăng nhiễm ở một số nước, nhưng giảm ở các nước khác? Đây là một câu hỏi làm nhức đầu nhiều người. Có lẽ chúng ta khó có câu trả lời dứt khoát, nhưng các yếu tố như loại vaccine, thời gian giữa 2 liều vaccine, biện pháp giãn cách xã hội, miễn dịch tự nhiên và độ tuổi có thể giải thích cho xu hướng trên.

Hiệu quả và hiệu lực

Một trong những vấn đề làm đau đầu nhiều chuyên gia y tế công cộng hiện nay là câu hỏi: vaccine có hiệu quả không? Câu hỏi rất đụng chạm, bởi vì tiêm chủng vaccine được quảng bá là phương tiện số 1 để kiểm soát dịch Vũ Hán.

Lấy gì để đánh giá hiệu quả của vaccine? Thử nghiệm lâm sàng là cách làm tốt nhứt. Và, đã có nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy quả thật vaccine có hiệu quả giảm nguy cơ lây nhiễm. Ngay cả người trong gia đình, người đã tiêm vaccine giảm lây nhiễm cho người khác chưa tiêm vaccine. Hiệu quả (efficacy) của vaccine là không có gì để bàn cãi.

Vaccine có hiệu lực (effectiveness) không? Hiệu lực của vaccine phải được đánh giá trong cộng đồng qua dữ liệu thực tế. Nếu vaccine có hiệu lực thì số ca nhiễm sau khi tiêm vaccine phải giảm so với trước khi tiêm vaccine. Nếu vaccine có hiệu lực thì số ca tử vong sau khi tiêm vaccine phải giảm so với trước khi tiêm vaccine.

Suy ra, nước nào có tỉ lệ tiêm vaccine càng cao thì nơi đó sẽ có số ca nhiễm giảm. Nhưng biểu đồ dưới đây cho thấy chẳng có mối liên quan nào giữa tỉ lệ tiêm vaccine và tỉ lệ nhiễm (tính trên 1 triệu dân) của 68 quốc gia. Tuy nhiên, đây là mối liên quan ‘ecologic’, nên chúng ta không thể kết luận gì về hiệu lực của vaccine.

Mối liên quan giữa tỉ lệ tiêm chủng và số ca nhiễm (tính trong 1 tuần trên 1 triệu dân số). Số liệu từ 68 nước. Thật ra, không có liên quan gì giữa tỉ lệ tiêm chủng vaccine và tỉ suất nhiễm — ở cấp độ quần thể.

Dưới đây, chúng ta thử điểm qua y văn và một số nước để có câu trả lời cho câu hỏi nêu trên.

Trường hợp 1: Vaccine Tây, vaccine Tàu

Ở Đức, Đan Mạch, và Mĩ (những nơi sử dụng vaccine ‘Tây’ như Pfizer và Moderna và AstraZeneca, tỉ lệ tử vong liên quen đến Covid suy giảm chỉ bằng 1/10 so với thời gian đỉnh dịch.

Tuy nhiên, ở những nước nghèo hơn và hệ thống y tế kém hơn phải lệ thuộc vào vaccine của Tàu và Nga, thì ghi nhận số ca nhiễm và tử vong tăng nhanh từ tháng 7/2021. Đó cũng là thời điểm mà biến thể Delta xuất hiện và hoành hành khắp thế giới.  

Vài tháng trước, có một phân tích so sánh tình hình nhiễm sau tiêm chủng vaccine giữa 2 nước có dân số và hệ thống y tế giống nhau: Qatar và Bahrain [1]. Cả hai nước đều có tỉ lệ tiêm chủng vaccine rất cao. Tuy nhiên, Qatar thì dùng vaccine Tây (Pfizer, Moderna, AstraZeneca), còn Bahrain là lệ thuộc vào vaccine Tàu (Sinopharm).

Sau tiêm chủng vaccine thì Qatar ghi nhận số ca tử vong giảm rõ rệt, còn Bahrain thì vẫn ghi nhận khá nhiều ca tử vong. Các tác giả không dám kết luận nguyên nhân của sự khác biệt, nhưng họ suy đoán rằng rất có thể loại vaccine là một yếu tố giải thích hai xu hướng khác nhau.

Những dữ liệu này cho thấy không phải tỉ lệ tiêm chủng vaccine, mà là loại vaccine.

Trường hợp 2: Nới lỏng biện pháp giãn cách xã hội

Uruguay có dân số chỉ 3.5 triệu, nhưng vài tuần trước ghi nhận 55 ca tử vong mỗi ngày, và con số này không khác bao nhiêu so với thời gian trước khi triển khai chương trình tiêm chủng vaccine. Uruguay có áp dụng những biện pháp y tế công cộng sau khi tiêm vaccine, nhưng không khắt khe như nước láng giềng Argentina.

Trường hợp 3: Khoảng cách giữa 2 liều vaccine

Một số nơi ghi nhận tỉ lệ tử vong thấp khi hai mũi vaccine cách nhau hơn 3-4 tuần. Đó chính là lí do Anh xác định 12 tuần giữa 2 liều vaccine AZ. Đan Mạch và Đức cũng xác định thời gian giữa 2 liều là 8-12 tuần đối với AZ và 6 tuần đối với Pfizer. Thử nghiệm lâm sàng cho thấy rõ ràng là thời gian giữa 2 liều vaccine cao hơn 4 tuần thì hiệu quả mới cao.

Nhưng ở những nước nghèo hơn, người ta thu ngắn thời gian giữa 2 liều xuống còn 4 tuần, thậm chí 3 tuần. Những nơi này sau đó lại ghi nhận số ca nhiễm tăng và số tử vong cũng tăng!

Trường hợp 4: Độ tuổi

Độ tuổi rất quan trọng.  Đan Mạch không ghi nhận làn sóng mới về dịch và tử vong kể từ khi chương trình tiêm chủng vaccine triển khai. Đan Mạch cũng là nước đã bỏ các biện pháp giãn cách xã hội. Các giới chức y tế Đan Mạch cho biết họ tập trung tiêm chủng những người cao tuổi và có nguy cơ cao, và điều đó có thể giải thích tại sao số ca tử vong giảm nhanh (mặc dù số ca nhiễm tăng).

Nhật cũng là nước ưu tiên tiêm chủng những người cao tuổi (65+ tuổi), và đến nay đã đạt tỉ lệ tiêm chủng 90%. Số ca tử vong trong thời gian gần đây chỉ bằng 43% so với thời điểm đỉnh của dịch (mặc dù số ca nhiễm gia tăng).

Trường hợp 5: Miễn dịch tự nhiên

Làn sóng biến thể Delta trong mùa hè vừa qua còn gợi ý một yếu tố bí mật khác: đó là miễn dịch tự nhiên trong dân số từ làn sóng dịch trước đây. Nhờ vào các biện pháp giãn cách xã hội, các nước Á châu thường tránh được những tác hại lớn từ đại dịch, và điều này có nghĩa là họ sẽ trở thành nhóm có nguy cơ cao khi biến thể có độc lực mạnh như Delta gây ra.

Những nước vùng Nam Mĩ từng bị làn sóng dịch do biến thể Gamma và Lambda trong thời gian đầu năm, thì lại không bị tác động nghiêm trọng như biến thể Delta. Rất có thể những biến thể Gamma và Lambda đã đột biến và tạo ra miễn dịch cộng đồng, với vaccine như là một liều booster.

Tóm lại, điểm qua dữ liệu của các nước đã được tiêm chủng vaccine, chúng ta thấy một xu hướng chung là số ca tử vong giảm so với lúc đỉnh điểm đại dịch, và xu hướng này gần như nhứt quán ở tất cả các nước, cho thấy vaccine có hiệu quả giảm tử vong.

Tuy nhiên, số ca nhiễm thì rất khác nhau giữa các nước, có nơi ghi nhận số ca tăng, nhưng có nơi thì số ca giảm (so với đỉnh điểm). Các yếu tố có thể giải thích cho sự khác biệt có thể là loại vaccine (Tây, Tàu), thời gian giữa 2 liều, có giảm các biện pháp giãn cách xã hội sau vaccine, độ tuổi và miễn dịch tự nhiên.

NướcTỉ lệ tiêm chủng vaccine > 70%Giãn cách xã hội sau vaccineSố ca nhiễm sau tiêm chủngSố tử vong sau tiêm chủng
Đan MạchYes; vaccine AZ, PfizerKhôngTăngGiảm
Nhật BảnYes; vaccine AZ, Pfizer, Moderna?TăngGiảm
ĐứcYes; vaccine AZ, Pfizer, ModernaKhông hẳnGiảmGiảm
AnhYes; vaccine AZ, PfizerKhông hẳnGiảmGiảm
Do TháiYes; vaccine AZ, Pfizer, ModernaKhông hẳnTăngGiảm
BahrainYes; vaccine Sinopharm?Giảm – TăngGiảm – Tăng
QatarYes; vaccine AZ, Pfizer, Moderna?GiảmGiảm

____

[1] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S1201971221005270 — Countries with similar COVID-19 vaccination rates yet divergent outcomes

Nhân ngày 20/11, hồi tưởng một thời sôi nổi

Mặc dầu không mặn mà gì với ngày gọi là ‘Ngày Nhà Giáo Việt Nam’ [1] nhưng nhận được nhiều lời chúc mừng của các bạn thì tôi cảm thấy mình cũng nên có đôi lời cảm tạ và suy tư.

Kỉ niệm thời học trò

Chẳng hiểu từ thuở nào mà tôi rất mê cái hình ảnh của người thầy. Có lẽ là từ năm Đệ Ngũ hay Đệ Tứ. Hồi đó, hình ảnh của vài người thầy còn ghi đậm trong kí ức của tôi cho đến ngày nay. Đầu tiên là thầy hiệu trưởng, ui chao, sao mà sang thế. Thầy lái xe Vespa, lúc nào cũng áo trong quần, tóc tai chỉnh chu, đeo kiếng đen trông không ngầu mà nghiêm trang. Tôi sợ thầy hiệu trưởng lắm, vì thầy hay đi vòng vòng kiểm tra đồng phục ngẫu nhiên. Nếu không may ăn mặc lôi thôi là bị một bài morale ngay!

Nhưng tôi lại rất mê thầy Tư dạy văn chương. Tôi không sợ thầy Tư, mà ngưỡng phục thầy lắm lắm.  Trời ơi, thầy là tấm gương của tôi về viết văn, là người gieo cảm hứng say mê văn học Việt Nam. Cũng như các thầy khác, thầy Tư lúc nào cũng áo trong quần, nhưng đeo kiếng trắng. Thời đó, thầy cũng mới tốt nghiệp đại học sư phạm thôi (tức là còn khá trẻ), nhưng chẳng hiểu sao thầy quá ư là thông thái. Thơ Nguyễn Bính, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Xuân Diệu, Huy Cận, v.v. thầy đọc cứ như là lấy chữ từ trong đầu ra! Tôi mê nhứt là cách thầy bình thơ, giải thích những điển tích kim cổ để bọn học trò tôi hiểu hơn về cái đẹp của văn học Việt Nam. Sau này tôi mới biết thầy bình thơ ‘có định hướng’ vì thầy yêu cô Hương.

Cô Hương dạy toán. Lúc đó cô Hương cũng chỉ mới tốt nghiệp trường sư phạm, nên chắc chỉ ở tuổi 20s thôi. Cô là tượg trưng cho câu “mặt hoa da phấn”, vì có làn da tiêu biểu của người Á đông, và theo cái nhìn của đám học trò tôi, cô là hoa khôi của trường. Nhìn cô là biết ngay người sang trọng, quí phái. Cô đi xe Honda Dame, lúc nào cũng áo dài thướt tha, và mang kiếng đen có gọng lớn (chắc là che nắng). Cô có giọng Bắc thật dễ nghe (mà sau này mới biết là giọng Hà Nội). Cô rất nghiêm, nhưng có đứa học trò thì nói là ‘hung dữ’. Thật ra, học trò học khá thì không sợ cô đâu, nhưng đứa nào học toán dở thì rất sợ cô ấy vì cô có cách phạt là kêu lên bảng đen chứng minh! Chứng minh không được thì xấu hổ trước lớp.

Sau này, thầy Tư và cô Hương thành vợ chồng. Nhưng sau 1975, một thời gian dài vắng bóng tôi gặp lại thì hai người than là đã … mất dạy. Nhà nước mới, vì lí do nào đó, không cho hai người dạy học nữa. Cô Hương thì bán thuốc lá trước nhà, còn thầy Tư thì làm nghề xe ôm kiếm sống qua ngày. Nhìn hai người thầy cô mình trân quí ngày nào nay chỉ là những người cùng khổ làm tôi đau quặn, và càng biết rằng tương lai mình không phải ở đất nước này.

“Professor” mà không giảng dạy

Rồi dòng đời đưa đẩy, tôi trở thành ‘boat people’ và ‘refugee’ trên xứ người. Và, cũng trở thành người dạy học. Lúc mới qua Úc, tôi mở lớp cuối tuần, thoạt đầu là dạy học cho con cháu bạn bè để chúng thi tốt nghiệp trung học. Tôi nghĩ mình có năng khiếu dạy học (dù chưa một ngày qua trường lớp sư phạm), có thể giải thích những khái niệm trừu tượng như tích phân, đạo hàm cho bọn trẻ, nên chúng nó rất thích. Có nhiều em mới vào chỉ học toán loại “2 Unit” nhưng qua vài năm chúng học toán “4 Unit” tức cao nhứt ở đây. Tiếng lành đồn xa, và thế là lớp học cứ lớn dần, lên đến hàng trăm học trò. Tôi phải thương lượng mướn phòng ở một trường tiểu học gần nhà. Trường thấy tôi dạy gần như miễn phí nên trường chỉ lấy phí tượng trưng. Tôi dạy như thế cả 6 năm trời, và tính ra có cả 400 học sinh đã tốt nghiệp và lên đại học.

Đó là quãng thời gian tôi tự hào nhứt vì giúp cho nhiều con em chúng ta thành tài trong thời gian khó khăn nhứt. Sau này, có khi đi xe điện có nhiều đứa bảnh trai đẹp gái đến chào tôi mới biết là chúng từng là học trò tôi. Lại có những đứa học trong trường y và lại tôi ở đó! Đúng là một vòng tròn.

Ở đại học, tôi mang danh là ‘professor’ nhưng tôi không có đứng lớp. Ở các đại học Úc người ta phân biệt 3 loại giáo sư: giảng dạy, nghiên cứu, và phục vụ / quản lí. Loại giáo sư giảng dạy thì họ đứng lớp giảng, nhưng họ có trợ giảng giải thích thêm và chấm điểm. Còn loại giáo sư nghiên cứu thì chỉ làm nghiên cứu, nói chuyện seminar, hướng dẫn nghiên cứu sinh. Rồi có loại giáo sư chẳng dạy cũng chẳng nghiên cứu, nhưng ‘làm cha’ người ta — đó là loại giáo sư phục vụ. Nói là ‘phục vụ’ (service) nhưng thật ra họ là sếp 2 nhóm giáo sư kia. Thành ra, ở Úc có những người dù mang danh là ‘professor’ nhưng họ không hề dạy học theo nghĩa truyền thống, trong đó có tôi.

Nhưng tôi thích dạy học lắm. Tại sao tôi thích dạy học? Tại vì tôi nghĩ rằng dạy học là một hình thức học hỏi hay nhứt. Đúng vậy. Nếu các bạn muốn học cái gì cho sâu và học từ gốc thì các bạn nên dạy học. Công việc dạy học bắt buộc bạn phải làm nghiên cứu, phải đọc nhiều, phải trải nghiệm, để làm cho bài giảng thực tế hơn và sống động hơn.

Thành ra, dù không có nhiệm vụ giảng dạy, nhưng tôi tình nguyện giảng 1-2 môn học cho sinh viên sau đại học. Mà, hình như tôi cũng có năng khiếu hay sao đó, nên các môn học tôi dạy đều được sinh viên thích lắm. Thích đến độ tôi chán không muốn dạy một môn hoài, nhưng ban tổ chức nài nỉ rằng “bọn sinh viên chúng khoái anh lắm, anh làm ơn dạy thêm 1 năm nữa đi.” Sao mà từ chối được lời nói của một giáo sư phụ trách giảng dạy đó.

Cơ duyên Việt Nam từ … Thái Lan

Nhưng tôi thích nhứt là đứng lớp ở Việt Nam. Tại sao? Tại vì mình có dịp chia sẻ những suy tư và tâm tình với thế hệ trẻ hơn mình. Tôi bắt đầu giảng ở Việt Nam từ những năm cuối thập niên 1990s. Lúc đó, nhân một lần tôi nói chuyện trong một hội nghị loãng xương ở Thái Lan, và có người mời về Việt Nam nói chuyện về chủ đề đó. Lúc đó tôi ngán về Việt Nam lắm, vì chẳng biết người ta ‘mở cửa’ ra sao, hay là người ta vẫn xem mình theo quan điểm của ông Phạm Văn Đồng. Nhưng cuối cùng thì cũng về. Và, lần ra mắt đầu tiên ở Khách sạn Windsor được xem là thành công vang dội. Số người đến nghe nhiều hơn dự kiến, và người nghe điện thoại cho bạn bè khác đến nghe, đến nổi phải thêm ghế ngoài sảnh. Đó là cách nói của ban tổ chức, chớ tôi không biết đâu.

Đây là một lớp học ở ĐHYDTPHCM (năm 2006). Nhiều bạn trong hình này đã nghỉ hưu, còn tôi thì vẫn … chiến đấu.

Rồi tình cờ tôi đi mua sách ở một tiệm sách, và gặp chị Thy Khuê. Chị ấy biết tôi qua báo chí và các nghiên cứu của tôi trong y văn. Chị ấy mời tôi làm những lớp học mang tính phương pháp cho các bác sĩ trong Nam. Không ngờ lần gặp đó lại mở đầu cho hàng trăm khoá học (workshop) trong những năm sau đó. Rồi, các bạn miền Bắc nghe tiếng và cũng mời mọc và thế là làm quen. Mỗi năm có khi tôi giảng cho cả 4 lớp học trung hạn (1-2 tuần) và cả chục lớp học ngắn hạn (1-2 ngày). Tôi giảng từ Bắc chí Nam. Tôi đi từ Hà Nội, lên Thái Nguyên, xuống Ninh Bình, qua Hải Phòng; tôi đi vào Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Yên; tôi về Sài Gòn, Vũng Tàu, Tiền Giang, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Bến Tre, v.v.  Có thể nói là đi rất nhiều nơi và làm quen chừng 2000 bạn trong những khoá học đó.

Không chỉ hàng trăm khoá học, mà còn có dịp tham gia cùng chị tổ chức hội nghị lớn như AFES ở Sài Gòn. Ui chao, nói đến hội nghị AFES làm tôi nhớ lại những chuyến bay liên tục từ Sydney, Singapore, Việt Nam. Hai tháng trước, khi tổ chức hội nghị AFOS ở Singapore, nhà tổ chức thấy tên tôi và nhắc rằng chị ấy từng làm việc với tôi trong hội nghị AFES ở Sài Gòn! Rồi hội nghị Strong Bone Asia (2 lần) cũng là những lần làm tôi thấy toại nguyện. Hội nghị Strong Bone Asia lần đầu làm tôi toát mồ hôi và xuống cân vì sợ lỗ. Không ngờ hội nghị đó thành công vang dội mà cho đến nay PGs Lê Anh Thư chắc còn nhớ.

Đây là một lớp học ở ĐHTĐT. Mỗi khoá học như thế thu hút chừng 150-200 bạn từ mọi miền đất nước.

Hai năm nay tôi không đi nước ngoài được, nên cũng nhớ những lớp học ở Việt Nam lắm lắm. Thật ra thì tôi có về Việt Nam, nhưng chỉ qua … zoom. Chỉ trong năm nay, tôi đã giảng cho 4 khoá học khác nhau ở Hà Nội và Sài Gòn. Tuần tới sẽ còn một lớp học 4 bài giảng ở Bạch Mai. Tháng 12 sẽ còn 2 đợt giảng ở Cần Thơ và Tiền Giang. Nói gì thì nói, dù giảng qua zoom có hàng trăm hay hàng ngàn người tham dự vẫn không thể thay thế lớp học ngoài đời, nới mà chúng ta dịp nhìn nhau và bắt tay cũng đủ ‘để quên đời’.

Có những lớp học làm tôi nhớ mãi vì tấm thịnh tình của các bạn học viên. Nhớ có một lớp học ở ĐH Tôn Đức Thắng, tôi chú ý một học viên hơi cao tuổi không làm trong ngành y, và tôi tự hỏi sao anh ấy vào đây học. Thoạt đầu tôi nghi là anh ấy theo dõi những người ‘yếu tố nước ngoài’ như tôi thôi. Nhưng tôi nghĩ bậy. Anh ấy nói trước lớp học rằng anh ấy ghi danh theo học (hình như là cùng con gái) không phải để học về dịch tễ học hay gì gì đâu, mà là để nghe tôi kể chuyện xưa và nay, và tâm tình sự đời. Đúng là trong mỗi bài giảng, tôi đều có vài câu chuyện đời để kể, mà không ngờ những câu chuyện đó thu hút được những người như anh ấy. Một lớp khác, cũng gặp một ông cụ khác cũng cùng tâm tư thế hệ.

Tôi còn có một cơ duyên khác là hướng dẫn cho vài nghiên cứu sinh ở trong nước. Có những nghiên cứu sinh tôi hướng dẫn nhưng nhà trường không công nhận (vì không chánh thức), nhưng cũng có nghiên cứu sinh tôi hướng dẫn được công nhận chánh thức. Tôi thì thú thiệt không mấy quan tâm mình có được công nhận hay không, tôi chỉ quan tâm làm sao giúp cho các bạn ấy học hành đúng và tốt thôi. Và, tôi nghĩ mình đã làm được việc đó. Thành ra, khi tôi góp ý về đào tạo tiến sĩ này nọ, có bạn hằn học hỏi “Giỏi thì ông hướng dẫn sinh viên trong nước xem” có vẻ quá thừa.

Viết đến đây mà không có lời với các bạn trong các hội thì là một thiếu sót. Nhân dịp này, tôi cám ơn các đồng nghiệp trong Hội Loãng Xương, Hội Y học TPHCM, Hội Nội Tiết đã tin tưởng tôi và cho tôi cơ hội làm việc với các bạn. Tôi cảm ơn các hội đã tặng huy chương, bằng khen này nọ, đó là những kỉ niệm đẹp đối với tôi. Tôi cũng cảm ơn các đại học như Đại học Y Hà Nội, Đại học Dược Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, Đại học Tôn Đức Thắng đã trao cho tôi những chức danh danh dự. Đối với tôi đó cũng là những phần thưởng mà tôi không thể nào quên.

Tính từ đó đến nay, tôi nghĩ mình đã giúp cho hơn 2000 bạn và đồng nghiệp từ mọi miền đất nước. Tôi có cơ duyên không phải chỉ trong ngành y, mà còn làm quen với nhiều bạn trong các đại học kinh tế, ngân hàng, khoa học xã hội & nhân văn, thậm chí luật. Tôi biết nhiều bạn học viên đã là tiến sĩ và giáo sư. Tôi cũng biết nhiều bạn học viên đã đi du học và định cư ở nước ngoài. Thành ra, mỗi năm cứ đến ngày này là tôi nhận được rất nhiều thiệp và thư chúc mừng. Tôi đành phải mượn cái note này để nói lời cảm ơn đến tất cả các bạn, những người mà tôi rất hân hạnh góp một phần nhỏ vào việc học và nghiên cứu của các bạn.

PS: Tôi cũng cám ơn các bạn trong các công ti dược (xin không nhắc tên) đã tài trợ cho những khoá học trong hơn 20 năm qua. Không có các bạn thì các khoá học khó diễn ra.

___________________

[1] Theo sách sử thì năm 1949, tại Warszawa diễn ra một hội nghị của Liên đoàn quốc tế các công đoàn giáo dục trong khối cộng sản ra bản “Hiến chương các nhà giáo”. Bản hiến chương đó có nội dung đấu tranh chống nền giáo dục tư sản và xây dựng nền giáo dục XHCN, đồng thời bảo vệ quyền lợi của nhà giáo XHCN. Năm 1957, cũng tại Warszawa, một hội nghị khác triển khai hiến chương đó, và họ đề nghị từ năm 1958 trở đi, khối XHCN sẽ lấy ngày 20/11 làm ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”. Việt Nam ở ngoài Bắc trước 1975 và toàn quốc từ 1982 cũng lấy ngày 20/11 làm “Ngày Nhà Giáo Việt Nam”. Như thấy, ngày 20/11 chẳng có dính dáng gì đến nhà giáo Việt Nam cả.

Theo tôi thì Việt Nam nên lấy ngày 25/8 làm Ngày Nhà Gíao Việt Nam. Đó là ngày sanh của nhà giáo nổi tiếng Chu Văn An (25/8/1292). Chu Văn An không chỉ một nhà giáo số 1 trong lịch sử kim cổ Việt Nam, mà còn là một nhà giáo chánh trực, một bậc sĩ phu đáng kính. Khi thấy cảnh đất nước suy thoái, các quan chức lộng hành làm những điều vô đạo, ông dâng sớ đề nghị xử trảm 7 tên gian thần. Tuy nhiên, vua không chịu nghe lời khuyên của ông. Biết mình không còn được tin dùng, ông lui về Chí Linh, Hải Dương sống ẩn và dạy học, lấy danh là “Tiều Ẩn”. Ở đây, ông lại mở trường dạy học và có công đào tạo cho hàng ngàn học trò, trong đó có một nữ tiến sĩ đầu tiên của Việt Nam là bà Nguyễn Thị Duệ. Sự nghiệp giáo dục của ông sáng chói và là tấm gương cho hậu thế. Ông qua đời vào tháng 11/1370, thọ 78 tuổi.

Trong bối cảnh mà học sinh ngày nay xao lãng các danh nhân Việt Nam và chạy theo hình tượng danh nhân nước ngoài như Tàu, Anh, Mĩ, thì hình tượng Chu Văn An rất cần thiết. Trước tình hình nền giáo dục ngày nay cần cải cách, ngày 25/8 nhắc nhở nhà giáo Việt Nam nên noi gương Chu Văn An trong sự nghiệp chấn hưng giáo dục đóng góp vào việc trừ diệt những kẻ vô đạo báo dân hại nước.

Hiệu lực vaccine Sinopharm ở Bahrain

Sự gia tăng số ca dương tính ở Việt Nam và nhiều nơi trên thế giới đặt ra câu hỏi về hiệu nghiệm của vaccine. Kết quả nghiên cứu ở Bahrain cho chúng ta biết rằng vaccine Sinopharm có hiệu lực kém nhứt so với vaccine Pfizer, AZ và Sputnik.

Mấy tuần nay, công chúng Việt Nam hỏi tại sao những người đã tiêm vaccine mà vẫn bị nhiễm, thậm chí tử vong. Tình trạng đã tiêm vaccine mà vẫn bị nhiễm thì không quá ngạc nhiên (vì điều này đã xảy ra trong nghiên cứu), nhưng đã tiêm 2 liều vaccine mà tử vong thì đúng là đáng ngạc nhiên.

Dữ liệu về 38 ca tử vong sau khi đã tiêm 2 liều vaccine cho thấy tuyệt đại đa số (37 ca) là tiêm “vaccine khác” (chữ của báo TT), chỉ có 1 ca tiêm vaccine Pfizer (nhưng báo TT cho biết ca này có nhiều bệnh nền). “Vaccine khác” ở đây thực ra là vaccine Moderna và Verocell của Sinopharm. Vaccine Moderna thì y như Pfizer. Do đó, “vaccine khác” ở đây phải được hiểu là vaccine Sinopharm?

Những con số quá “đẹp”

Nếu chỉ theo dõi tình hình covid ở bên Tàu thì có lẽ đa số chúng ta đều phải thán phục về hiệu lực của vaccine Tàu. Cho đến nay, con số ca nhiễm virus Vũ Hán ở bên Tàu chỉ 98,000 người (dân số hơn 1.4 tỉ). Thử so với Việt Nam với hơn 1 triệu ca nhiễm (dân số 96 triệu) hay Úc với 193,000 ca nhiễm (dân số 25 triệu), chúng ta sẽ kinh ngạc.

Nếu xem xét con số tử vong thì còn kinh ngạc hơn nữa. Các giới chức y tế Úc tính toán và so sánh cho thấy tỉ lệ tử vong covid ở Úc cao hơn tỉ lệ bên Tàu đến … 62 lần! Úc là nước có chánh sách kiểm soát dịch ngặt nghèo nhứt trên thế giới, và hệ thống y tế và y khoa Úc có thể xem là trong những nước tốt nhứt thế giới, ấy vậy mà Úc quá kém cỏi, để cho tỉ lệ tử vong covid cao gấp 62 lần so với Tàu!

Nhưng bình tâm mà suy nghĩ lại thì câu hỏi quan trọng là: có thể tin vào con số của Tàu? Nếu con số nhiễm và tử vong Tàu báo cáo là thật thì vaccine Tàu có hiệu lực quá tuyệt vời. Cho đến nay thì Tàu đã tiêm đủ 2 liều vaccine cho 1.07 tỉ dân, và họ chỉ dùng vaccine Tàu (Sinopharm, Sivovac). Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa thấy Tàu công bố hiệu lực của vaccine ra sao.

Nghiên cứu từ Bahrain mới công bố trên trạm prepring, chưa qua bình duyệt.

Nghiên cứu từ Bahrain

Vài tuần trước, có một nghiên cứu ở Bahrain (Ả Rập) cung cấp cho chúng ta số liệu về hiệu lực giữa vaccine Sinopharm và vaccine Tây [1]. Trong thời gian 12/2020 đến 17/7/2021, Bahrain đã tiêm chủng nhiều loại vaccine cho công dân. Đa số dân được tiêm vaccine Sinoparm, nhưng một số lớn được tiêm vaccine Nga, Pfizer và AstraZeneca. Con số cụ thể như sau:

  • Nhóm chưa tiêm vaccine: 245,876
  • Sinopharm: 569,054 người
  • Sputnik: 184,526
  • Pfizer: 169,058
  • AstraZeneca (AZ): 73,765

Đây là một ‘thí nghiệm’ tự nhiên rất thú vị, vì có nhóm chưa (hay không) tiêm vaccine, nên cho phép nhà nghiên cứu so sánh hiệu lực của các loại vaccine. Họ (nhóm nghiên cứu) theo dõi các cá nhân xem ai bị nhiễm, nhập viện, và tử vong. Họ dùng PCR để xét nghiệm chẩn đoán nhiễm virus, và dùng giải trình tự gen để xác định biến thể của virus. Nói chung là họ làm rất bài bản và đúng phương pháp.

Kết quả ra sao? Vì cách họ trình bày báo cáo rất phức tạp và khó theo dõi, nên tôi phải tóm tắt những dữ liệu chánh trong biểu đồ dưới đây để dễ hiểu hơn. Biểu đồ cho thấy tất cả 4 vaccine đều có hiệu quả giảm xác suất nhiễm, nhập viện, nhập ICU, và tử vong. Tuy nhiên, so sánh giữa các vaccine thì vaccine Sinopharm có hiệu lực thấp nhứt.

Tóm tắt kết quả nghiên cứu từ Bahrain về hiệu lực của vaccine Sinopharm, Sputnik, Pfizer và AstraZeneca liên quan đến nhiễm, nhập viện, nhập ICU và tử vong

Trong bài báo, tác giả so sánh giữa Sinopharm và Pfizer. Dùng dữ liệu so sánh này, tôi tính được hiệu lực của 2 vaccine chống nhiễm virus:

  • Hiệu lực của vaccine Pfizer = 78%
  • Hiệu lực của vaccine Sinopharm = 46%

Hiệu lực của 2 vaccine chống tử vong:

  • Hiệu lực của vaccine Pfizer = 95%
  • Hiệu lực của vaccine Sinopharm = 63%

Trên đây là những số liệu thực tế từ cộng đồng. Những dữ liệu này cho thấy rõ ràng rằng vaccine Sinopharm, tuy có hiệu lực nhứt định, nhưng thấp hơn nhiều so với vaccine Pfizer, AZ và Sputnik. Dĩ nhiên, đây là dữ liệu từ nghiên cứu quan sát, và có thể chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhiễu khác mà nhóm nghiên cứu không kiểm soát được. Do đó, khó nói về nguyên nhân – hệ quả ở đây. Những con số này chỉ là ‘tín hiệu’ và cần phải xem xét với các nghiên cứu trước.

Tuy nhiên, hiệu lực thấp của vaccine Tàu không phải là điều gì mới, bởi vì xu hướng này đã được ghi nhận qua nhiều nghiên cứu trước đây. Chẳng hạn như một nghiên cứu từ Chile cho thấy CoronaVac (một vaccine khác của Tàu) có hiệu lực giảm nhiễm virus chỉ 58%, so với 88% đối với vaccine Pfizer [2]. Một trong những lí do là vì 2 vaccine của Tàu (CoronaVac và Sinopharm) có độ miễn dịch suy giảm nhanh và hiệu lực cũng khá hạn chế ở người cao tuổi (trên 60); xem chi tiết ở đây [3].

Ý nghĩa của những dữ liệu này [về hiệu lực của vaccine Sinopharm] là gì đối với Việt Nam? Số lượng vaccine Sinopharm đã được tiêm chủng ở Việt Nam bây giờ có lẽ đã hơn 20 triệu. Nhưng chúng ta vẫn không biết hiệu lực của vaccine Sinopharm ra sao. Do đó, nếu chấp nhận kết quả nghiên cứu ở Bahrain, thì có lẽ những người đã được tiêm 2 liều vaccine Sinopharm cần phải tiêm thêm 1 liều vaccine Pfizer hay AZ.

_______

[1] https://assets.researchsquare.com/files/rs-828021/v1_covered.pdf?c=1629920029

[2] https://www.scmp.com/news/china/science/article/3148489/chinese-vaccines-value-clarified-real-world-data-exports-near-1

[3] https://nguyenvantuan.info/2021/10/15/so-lieu-moi-ve-hieu-luc-cua-coronavac-va-astrazeneca

100 năm sinh hoạ sĩ Tạ Tỵ và giấc mộng con năm 2000

LGT: Tôi hân hạnh giới thiệu đến các bạn một bài viết đặc sắc về Hoạ sĩ Tạ Tỵ của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Đã có nhiều tác giả viết về Tạ Tỵ, nhưng bài viết này theo tôi là đầy đủ nhứt về một hoạ sĩ tài hoa của Việt Nam. Bài viết như là một hải đồ về con người và sự nghiệp của Tạ Tỵ, từ khi ông còn học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Phương (Hà Nội); tham gia kháng chiến chống Pháp; di cư vào Nam và phục vụ trong chế độ VNCH với hàm thiếu tá; sau biến cố 1975 đi tù cải tạo 6 năm; vượt biển và định cư ở Mĩ từ năm 1982; và về lại Việt Nam và qua đời năm 2004. Nói theo Trịnh Công Sơn, cuộc đời của Tạ Tỵ là một cõi đi về.

Trong giới văn nghệ sĩ, hiếm ai có một cuộc đời và sự nghiệp đa dạng như Tạ Tỵ. Ông nổi tiếng là một hoạ sĩ, nhưng ông còn là người lính của hai chiến tuyến khác nhau, là tù nhân, là người tị nạn, và cũng là nhà văn. Cá nhân tôi biết đến Tạ Tỵ qua cuốn Phạm Duy Còn Đó Nỗi Buồn xuất bản trước năm 1975 và sau này là cuốn hồi kí Đáy Địa Ngục viết về những năm tháng ông đi tù cải tạo. Đó là những tác phẩm viết ra bởi ‘người trong cuộc’, nên chất chứa nhiều nỗi niềm về thân phận của người lính sau cuộc chiến và thân phận lưu vong. Cả hai tác phẩm hàm chứa những chứng từ mang tính lịch sử, rất đáng để thế hệ sau sử dụng làm chất liệu cho các nghiên cứu về nền văn nghệ Việt Nam. Văn phong của Tạ Tỵ giống như là một bức hoạ chân dung: sự tĩnh lặng và huyền bí.

Ở Việt Nam, hội hoạ không có một vị trí nổi bật và trang trọng như văn học. Nhưng là người tiên phong trong hội hoạ Việt Nam với những tác phẩm để đời, Tạ Tỵ xứng đáng là một tài sản quốc gia vậy. NVT

_________

100 năm sinh hoạ sĩ Tạ Tỵ và giấc mộng con năm 2000

Ngô Thế Vinh

Tôi thường nghĩ, nước Việt Nam dù dưới chủ nghĩa nào cũng chỉ tạm thời, cái Vĩnh Viễn là mảnh đất do tất cả Dân Tộc dựng nên, cái đó mới tồn tại lâu dài, Vĩnh Viễn! Tôi nhìn mãi tấm hình chiếc cầu Mỹ Thuận, lòng thấy vui vô cùng. Thế là người Việt Nam thoát được cái cảnh “sang sông” phải lụy phà… Chúng tôi nhất quyết về Việt Nam dù không biết phía trước cái gì sẽ xảy ra cho mình. Nhưng dù sao, tôi cũng muốn an nghỉ ở Việt Nam nơi mình đã sinh ra và đã sống 60 năm trời! Tạ Tỵ [thư gửi Ngô Thế Vinh viết ngày 29.2 & 27.7.2000]

**

Hình 1: trái, Tạ Tỵ 31 tuổi, sau 4 năm theo kháng chiến chống Pháp và về thành (Hà Nội, 1952); giữa, Thiếu Tá Tạ Tỵ trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà; phải, chân dung Tạ Tỵ năm 2000. Sau 1975, ông đã phải đi tù cải tạo 6 năm, hồi ký Đáy Địa Ngục ghi lại kinh nghiệm ông đã trải qua trong những năm tháng nghiệt ngã tù đày với lao động khổ sai “ăn không đủ no, đói không đủ chết”; [nguồn: album gia đình Tạ Tỵ, photo by Phạm Phú Minh, Đáy Địa Ngục, Nxb Thằng Mõ 1985]

TIỂU SỬ

Tạ Tỵ là bút danh, Tạ Văn Tỵ là tên thật, sinh ngày 3 tháng 5 năm 1921 (tức ngày 26 tháng 3 năm Tân Dậu) tại Hà Nội, nhưng trên giấy khai sinh lại ghi là ngày 24 tháng 9 năm 1922, vì khai muộn một năm. Ngay từ khi còn là một sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương / École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine, Tạ Tỵ đã thành danh khá sớm.

Năm 1941, ở tuổi 20, do đoạt một giải thưởng tranh của nhà trường, Tạ Tỵ được đến thăm kinh đô Huế.

Năm 1943, Tạ Tỵ tốt nghiệp khoa Sơn Mài tại trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương nhưng dấu ấn Hội hoạ của ông không phải là những tác phẩm Sơn Mài. Tạ Tỵ luôn luôn đi tìm cái mới, và được xem là người đi tiên phong vào lãnh vực Lập Thể / Cubisme và Trừu Tượng / Abstrait của hội hoạ Việt Nam.

Và cũng năm 1943, sau khi vừa tốt nghiệp, Tạ Tỵ đoạt ngay một giải thưởng với bức tranh “Mùa Hạ” (tân ấn tượng / néo-impressionnisme) được giải thưởng tại phòng Triển lãm Duy nhất (Salon Unique) “vì có một phương pháp diễn tả theo khuynh hướng mới, tuy chưa hẳn là lập thể, nhưng các hình thể đã được biến cải theo sở thích riêng.” [1]

Năm 1946, trong cuộc triển lãm Hội hoạ Tháng Tám tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, với số lượng tác phẩm đông đảo, Tạ Tỵ đã tham dự với bức tranh sơn mài “Hoa Đăng”(siêu thực / surréalisme)được Hiệp Hội Báo Chí VN trao giải, nhưng tiền thưởng chưa lãnh thì ngay sau đó chiến tranh toàn quốc bùng nổ. [1]

Hình 2: Tác phẩm “Hoa Đăng” sơn mài (siêu thực / surrealisme)của Tạ Tỵ trong cuộc triển lãm Tháng Tám 1946 tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, được Hiệp Hội Báo Chí VN trao giải thưởng.

Năm 1946, chiến tranh Việt Pháp bùng nổ, Tạ Tỵ đã cùng với nhiều văn nghệ sĩ yêu nước khác, hăng hái tham gia mặt trận kháng chiến chống Pháp và ông là giáo sư dạy Mỹ thuật đầu tiên trong Liên Khu 3. Tác phẩm “Nhớ Hà Nội” năm 1947 (20 × 25 cm) được Tạ Tỵ vẽ trong giai đoạn này.

Hình 3: Tác phẩm “Nhớ Hà Nội” (20 × 25 cm) được Tạ Tỵ vẽ năm 1947, giai đoạn theo kháng chiến trong Liên Khu Ba.

Năm 1948, trong một hội nghị Văn Hoá Văn Nghệ, Trường Chinh đã mạnh mẽ lên án: “Chủ nghĩa Lập Thể, Siêu Thực, Đa Đa là những cái nấm độc trên cái thân thể mục ruỗng của nền văn hoá đế quốc.” [Chủ nghĩa Mác và vấn đề văn hoá Việt Nam, 1948].

Tháng Năm 1950, sau bốn năm đi theo kháng chiến, thấy rõ bộ mặt thật của Việt Minh, cùng với cách suy nghĩ không hợp với họ, Tạ Tỵ đã cùng nhiều văn nghệ sĩ khác như Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Phạm Duy, Tam Lang Vũ Đình Chí, Hoàng Công Khanh đã dứt khoát từ bỏ khu chiến để trở về Hà Nội.

Từ đầu thập niên 1950, trở về với nếp sống văn hoá Hà Nội 36 phố phường với Năm Cửa Ô, Tạ Tỵ đã mạnh mẽ đi tiếp con đường sáng tạo với tự do đi tìm cái mới; ngoài vẽ tranh, vẽ ký / biếm hoạ chân dung (caricatures) các văn nghệ sĩ, ông còn cầm bút sáng tác: truyện, thơ, kịch, bút ký, viết nhận định văn học, trình bày sách báo… chứng tỏ Tạ Tỵ là một tài năng rất đa diện.

Năm 1951, ông mở cuộc triển lãm cá nhân đầu tiên mang tên Hội Hoạ Hiện Đại tại Hà Nội,trưng bày 60 bức tranh Lập thể.

Hình 4: trái, “Đàn bà” còn có tên là “Cô đơn”, phải, “Vàng và Tím” là hai tác phẩm tiêu biểu thời kỳ Lập Thể của Tạ Tỵ, 1951 – Tạ Tỵ gọi đó là chiều thứ tư (4ème dimension), chiều động trong kỹ thuật tạo hình. [1]

     

Năm 1953, Tạ Tỵ nhận được lệnh động viên, ông phải tạm xa Hà Nội và gia đình để vào Nam, gia nhập Khoá 3 Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức và ra trường với cấp bậc thiếu uý.  Ông phục vụ trong quân đội Việt Nam Cộng Hoà tại Tổng Cục Chiến tranh Chính trị cho tới khi giải ngũ, với cấp bậc sau cùng là Trung Tá.

Năm 1956, Tạ Tỵ triển lãm cá nhân lần thứ hai với 50 hoạ phẩm lập thể, tại Phòng Thông Tin Đô Thành Sài Gòn, nhưng là lần đầu tiên ở miền Nam, được đánh giá là thành công cả về nghệ thuật cũng như tài chánh.

Trong tập sách mỏng giới thiệu cuộc triển lãm (ngày 8/8/1956), Tạ Tỵ viết: “Mời bạn hãy vào – Cửa vườn tôi đã mở sau 5 năm trời khép kín – vườn của tôi sau khoảng thời gian giam cầm trong suy nghĩ, trong dằn vặt, trong giận hờn để tìm những cánh màu của tâm tư chắp nối lại và thêu dệt bằng tin tưởng, tạo thành một thế giới của hình thể, của sắc màu, qua bức tường vách ngăn của lý trí và rung động…” [5] 

Hình 5: “Nhịp Calypso” (1960), tranh lập thể sơn dầu trên canvas, sưu tập của Mặc Đỗ, bức tranh đã phải bỏ lại khi Mặc Đỗ âm thầm di tản khỏi Sài Gòn ngày 29/04/1975.

Tuy là họa sĩ Việt Nam tiên phong và thành công trong Hội Hoạ Lập Thể, nhưng ông vẫn luôn luôn có ý hướng đi tìm cái mới, từ thập niên 1960, Tạ Tỵ đã chuyển hướng sang tranh Trừu Tượng.

Năm 1961, ông triển lãm cá nhân lần thứ hai với 60 bức tranh trừu tượng và lập thể cũng tại Phòng Thông Tin Đô Thành Sài Gòn. Đánh dấu một bước thành công sáng tạo mới của Tạ Tỵ.

TẠ TỴ: TẠI SAO LẬP THỂ

Trong một Hồi ký viết ở hải ngoại Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đi Qua Đời Tôi [Nxb Thằng Mõ 1990],Tạ Tỵ đã giải thích do cơ duyên nào mà anh đi vào Hội Hoạ Lập Thể:

 “Tôi bẩm sinh là một con người thích tiến bộ, thích cái gì mới. Khi còn học ở trường Mỹ Thuật, tôi không mấy thích lối vẽ chân phương theo quy luật của nhà trường bắt buộc. Tôi thường đến thư viện mượn sách đọc, lẽ dĩ nhiên, loại sách thuộc về mỹ thuật. Tôi mê các tác phẩm của Van Gogh, Gauguin và Matisse. Tôi nghiên cứu và tìm hiểu mỹ thuật tạo hình ở mỗi tác giả. Nhưng sau một thời gian, tôi thấy các nhà danh hoạ trên vẫn phải dựa vào thiên nhiên và sự vật cũng như con người để tạo dựng tác phẩm. Tôi nghiên cứu và tìm hiểu các hoạ phái khác nhau như Siêu Thực, DaDa và Lập Thể. Tôi thích trường phái Lập Thể qua các tác phẩm của G. Braque hơn là Picasso. Tôi mê chiều thứ tư (4ème  dimension) của hoạ phái này – mà Tạ Tỵ gọi đó là chiều động trong kỹ thuật tạo hình, vì nó làm cho tác phẩm trở nên sống động, chứ không trơ trơ như các hoạ phái khác.” [1]

TẠ TỴ: TẠI SAO TRỪU TƯỢNG

Trả lời Nguiễn Ngu Í Bách Khoa [Báo Bách Khoa, số 131, ngày 15-6-1962]:   

Hội hoạ Việt Nam hiện có nhiều xu hướng từ Ấn tượng tới Trừu tượng, nhưng tất cả đang ở giai đoạn tìm tòi và khai thác. Riêng tôi, từ 18 năm nay đã chọn con đường Hội hoạ mới. Tôi đã đi qua trường phái  Ấn tượng, Tân Ấn tượng, Lập thể, Siêu thực và trong 6 năm gần đây tôi vẽ tranh Trừu tượng

Sự nhầm lẫn và cũng là điều tai hại cho Nghệ thuật Hội hoạ là mỗi người yêu hội hoạ khi đặt chân vào phòng Triển lãm Hội hoạ Mới, hoặc đứng trước hoạ phẩm Trừu tượng, đều cố tìm xem hoạ sĩ vẽ cái gì, “nói” gì ở trong kích thước đó? Sự băn khoăn thắc mắc này nhiều khi gây khó chịu đến độ trầm trọng nếu người thưởng ngoạn không kiên tâm tìm hiểu.         

Nhưng đứng trước một hoạ phẩm Trừu tượng dù cho người thưởng ngoạn  có kiên tâm, thiện chí đến đâu, nếu không biết qua về kỹ thuật Tạo Hình do kinh nghiệm hoặc sách vở, báo chí chuyên môn về Hội hoạ, cũng đành lắc đầu chán nản trước bức trường thành cao vút ngăn đôi thông cảm. Sự kiện ấy có, vì chúng ta quen nhìn Hội họa với quan niệm thưởng ngoạn cũ. Hôm nay quan niệm về cái đẹp đã đổi khác, lẽ dĩ nhiên cái nhìn cũng phải thay đổi. Hôm nay đứng trước một hoạ phẩm trừu tượng, người thưởng ngoạn không nên và không bao giờ nên tìm hiểu hoạ sĩ đã vẽ gì trong kích thước đó, mà chỉ nên tìm hiểu mình đã nghĩ gì về tác phẩm trước mắt mình? Cảm giác đầu tiên nào đã đột nhập vào trí não mình để bắt nguồn cho rung động.

Những màu sắc và hình thể kia có phải là những dấu hiệu của riêng mình đã  in vào tiềm thức? Người hoạ sĩ không có lý do để hiện diện trong tác phẩm thuộc loại Trừu tượng, trừ cái tên ký ở góc tranh. Cái tên này cũng chỉ được dùng như một thứ nhãn hiệu, vì trong lúc sáng tạo, chính hoạ sĩ cũng là kẻ thưởng ngoạn có “quyền ưu tiên” vì họ có kỹ thuật, thế thôi. Trong Nghệ  thuật Hội hoạ hiện tại, không ai có quyền bắt ai lệ thuộc vào ý nghĩ, vào kỹ  thuật tạo hình do cá nhân đảm nhiệm. Mỗi người tự tìm lấy sự say mê của mình trong từng kích thước nhất định.” [2]

Hình 6: Nguiễn Ngu Í phỏng vấn Tạ Tỵ trên báo Bách Khoa số 131, ngày 15-6-1962, từ trái, bìa và hai trang báo Bách Khoa số 131; phải, chân dung nhà văn nhà báo Nguiễn Ngu Í, người thực hiện đợt phỏng vấn về Quan Niệm Hội Hoạ của khoảng 40 hoạ sĩ Việt Nam.   

           

Năm 1966, dự định trưng bày lần thứ ba tại Sài Gòn 50 hoạ phẩm Trừu tượng mới nhất nhưng không thành. Năm 1971, Tạ Tỵ lại dự định tổ chức phòng triển lãm tranh gồm 50 chân dung văn nghệ sĩ miền Nam nhưng rồi cũng dở dang do tình hình chiến sự sôi động lúc đó.

Và gần như theo chu kỳ, cứ mỗi 5 năm, Tạ Tỵ mới triển lãm một lần: 1951, 1956, 1961, 1966, 1971… Khi trao đổi với nhà văn Nguiễn Ngu Í, hoạ sĩ Tạ Tỵ giải thích:

“Sở dĩ tôi phải để một thời gian lâu như thế như anh biết những thì giờ tốt đẹp nhất trong một ngày để sáng tác tôi không được sử dụng, tôi chỉ còn làm việc quanh năm với ánh đèn, với muỗi [Tạ Tỵ vẫn còn làm việc toàn thời gian trong quân ngũ quân lực VNCH – ghi chú của người viết]; vả lại muốn mỗi phòng triển lãm của tôi ít nhất phải ghi lại trong tâm người thưởng ngoạn một chút kỷ niệm về sự cố gắng của cá nhân trong phạm vi Nghệ thuật. Muốn thâu được kết quả ấy, yếu tố thời gian là yếu tố quyết định.” [2]

Vào đầu thập niên 1960, Tạ Tỵ vẽ một loạt chân dung các văn nghệ sĩ Việt Nam với một phong cách rất độc đáo, anh nhạy bén bắt được cái thần ở từng khuôn mặt, và đây là một lãnh vực tài hoa khác của Tạ Tỵ mà chưa ai sánh được.

Hình 7: Chân dung văn nghệ sĩ qua nét vẽ Tạ Tỵ, từ trái trên Mặc Đỗ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền; từ trái dưới Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Dương Nghiễm Mậu [nguồn: từ album gia đình Tạ Tỵ]. Đây cũng là sáu chân dung có trong Tuyển Tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hoá của Ngô Thế Vinh, Việt Ecology Press xuất bản 2017.

Tác phẩm của Tạ Tỵ còn được trưng bày tại các bảo tàng viện nghệ thuật quốc tế ở Tokyo, San Francisco, New YorkParis.

Bức tranh “Đàn bà” còn có tên là “Cô đơn” (1951) được nhà Sotheby’s đấu giá hồi tháng 4 năm 2000, và bán được với giá khá cao 19.550 Singapore dollars. Trong catalogue của Sotheby’s đã nhận xét bức tranh: “Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu của thời kỳ Lập Thể của Tạ Tỵ. Tác giả sử dụng tài tình những màu sắc mạnh mẽ, đặt nhân vật ngay vào ngay trung tâm bức tranh, những hình thể kỷ hà, chẳng hạn như việc xử lý mái tóc không tuân theo luật đăng đối, đường nét mạnh bạo của chiếc cổ và sự sắp xếp của khăn quàng thành những mặt cắt của một hình kim cương… tất cả bố cục này tạo thành một bức tranh Lập Thể độc đáo.”

Bức Mùa hè đỏ lửa (1972, 350 x 170 cm), tranh sơn dầu, phong cách trừu tượng, được treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Sài Gòn từ năm 1998. Khi Tạ Tỵ trở về Việt Nam 2003, bức tranh được đổi tên Cất Cánh. Đây là bức tranh sơn dầu lớn nhất trong bộ sưu tập của nhà bảo tàng này.

Hình 8: từ phải, Tạ Tỵ, Phạm Đình Chương, Nguyễn Sĩ Tế, Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo trong một buổi họp mặt trước 1975 ở Sài Gòn. [nguồn: album gia đình Tạ Tỵ]

TẠ TỴ: TẠI SAO VIẾT

Trả lời câu hỏi ấy trên tạp chí Hợp Lưu (số 32, Xuân Đinh Sửu 1997, trang 216), khi Tạ Tỵ đã ở tuổi 76, ông tâm sự:

 Tôi sinh ra đời, hình như định mệnh đã an bài, bởi vậy tất cả những gì tôi làm ra đều có bàn tay của định mệnh dính vào. Lúc còn trẻ tôi yêu tất cả những thứ gì thuộc về văn chương nghệ thuật, nhưng tôi mê kéo vĩ cầm hơn cả. Vào năm 1936-37 gì đó, tôi được nghe tiếng đàn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Giệp tại Nhà Hát Lớn Hà Nội. Anh chơi bản Danse Macabre với tiếng dương cầm phụ họa của nhạc sĩ Nguyễn Văn Hiếu. Tất cả nhà hát đều yên lặng để thưởng thức tiếng đàn tuyệt vời của hai nhạc sĩ trứ danh nhất của đất Thăng Long thời đó. Tôi về nhà xin Mẹ tiền mua cây đàn và quyển Mazas, là cuốn sách học kéo violon vỡ lòng. Tôi học kéo đàn song song với học vẽ ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Vì mê học nhạc nên tôi quen với cố nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt. Sau mấy năm học thấy không có tiến bộ, tôi bỏ đàn, chuyên về vẽ…

Còn một trở ngại to lớn nữa là người họa sĩ chỉ vẽ tấm tranh duy nhất, nếu bán đi, người họa sĩ không còn gì ngoài tấm ảnh chụp giữ làm kỷ niệm. Vì nhìn thấy cái thế “yếu” của hội họa, vả lại, cuộc sống trong chiến tranh có rất nhiều sự việc tác động mạnh và sâu đậm trong tâm cảm mà hội họa bất lực, không thể nói bằng màu sắc được. Do đó, tôi phải nhờ tới văn chương cũng như thi ca để bày tỏ lập trường, cùng thái độ sống trước tập thể, trước xã hội.

Biết bao nhiêu đổ vỡ, tang thương do chiến tranh gây ra. Biết bao nhiêu tuổi trẻ đã lên đường và cũng có bao nhiêu vòng khăn tang đã quấn ngang đầu, bao nhiêu tiếng khóc than vật vã, với đôi tay bé nhỏ xanh xao của người góa phụ, ôm lấy chiếc quan tài phủ lá quốc kỳ với vòng hoa cườm có hàng chữ “Tổ Quốc Ghi Ơn”, nhưng tôi được biết, trong chiếc quan tài đó chỉ có chiếc bọc nylon ôm gọn thây người chiến sĩ đã nát bấy vì pháo địch, chỉ còn lại một đống thịt xương bầy nhầy với chiếc thẻ bài lẫn lộn trong vũng máu đông đặc vì được cất kỹ trong ô kéo của căn phòng chứa xác cực lạnh. Ngay cạnh đó, một đứa nhỏ chừng ba tuổi gầy ốm đứng nhìn ngơ ngác!

Còn biết bao nhiêu cuộc tình tan tác như những chiếc bong bóng thổi bằng bọt xà bông. Đại lộ kinh hoàng còn đó. Xác những chiếc xe tăng của Trung Cộng, của Liên Xô, của Mỹ còn nằm rải rác dọc theo đường số 1 như những con quái vật thời tiền sử và còn nhiều, nhiều nữa những dấu ấn của chiến tranh cần phải nói ra, nhưng hội họa quả tình bất lực trước vấn đề này. Chỉ có văn chương mới đủ sức khai quật những oan khuất chìm ở đáy sâu tâm cảm.[1]

VĂN HỌC: 

– Đã cộng tác với các tạp chí văn học tại miền Bắc và miền Nam từ năm 1950 đến 30-4-1975: Thế Kỷ, Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Sáng Tạo, Văn, Văn Học, Hiện Đại, Nghệ Thuật, Bách Khoa và Tin Văn, và sau 1975: Thế Kỷ 21 tại Hoa Kỳ.

Những Tác Phẩm Đã Xuất Bản Tại Miền Nam trước 1975

  1. Những Viên Sỏi, tập truyện, Nam Chi Tùng Thư, 1962
  2. Yêu Và Thù, tập truyện, Phạm Quang Khai, 1970
  3. Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, nhận định văn học, Nam Chi Tùng Thư 1970.
  4. Phạm Duy Còn Đó Nỗi Buồn, văn sử học, 1971
  5. Cho Cuộc Đời, thơ, Khai Phóng, 1971
  6. Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, nhận định văn học, Lá Bối, 1972, Xuân Thu tái bản tại Hoa Kỳ, 1991
  7. Bao Giờ, tập truyện, Gìn Vàng Giữ Ngọc xuất bản, 1972
  8. Ý Nghĩ, tạp văn, Khai Phóng, 1974.

Hình 9: Những Tác Phẩm Tạ Tỵ đã Xuất Bản Tại Miền Nam trước 1975, trên từ trái, Những viên sỏi, tập truyện, Nam Chi Tùng Thư, 1962. Phạm Duy Còn Đó Nỗi Buồn, văn sử học, 1971. Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, nhận định văn học, Lá Bối, 1972.Bao Giờ, tập truyện, Gìn Vàng Giữ Ngọc xuất bản 1972. Riêng tác phẩm Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, do Nam Chi Tùng Thư xuất bản năm 1970 ở Sài Gòn, đã được nhà xuất bản Hội Nhà Văn Việt Nam tái bản tại Hà Nội năm 1996, nhưng họ đã tuỳ tiện biên tập, cắt bỏ khuôn mặt văn nghệ Mai Thảo ra khỏi cuốn sách, thay vào Trịnh Công Sơn, mà không hề có phép của Tạ Tỵ. [tư liệu của Thành Tôn]

 

Những Tác Phẩm Xuất Bản Tại Hoa Kỳ

  1. Đáy Địa Ngục, hồi ký cải tạo, Cơ Sở Thằng Mõ, 1985
  2. Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi, hồi ký, Thằng Mõ, 1990
  3. Xóm Nhà Tôi, tập truyện viết trong những ngày tháng lưu vong nơi đất khách, Nxb Xuân Thu, 1992
  4. Mây Bay, thi phẩm, Miền Nam xuất bản, 1996

Hình 10: Những cuốn sách của Tạ Tỵ xuất bản ở hải ngoại, từ trái, Đáy Địa Ngục, Xóm Nhà Tôi, Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đi Qua Đời Tôi. [tư liệu Thành Tôn]

Hình 11: từ trái, Một Chuyến Ngao Du, truyện, nhà xuất bản Xuân Thu, California 2000, với thủ bút đề tặng của tác giả. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Thơ Tạ Tỵ

Thương về năm cửa Ô xưa
Tôi đứng bên này vỹ tuyến
Thương về năm cửa Ô xưa
Quan Chưởng đêm tàn dẫn lối
Đê cao hun hút chợ Dừa
Cầu Rền mưa dầm lầy lội
Gió về đã buốt lòng chưa?
Yên Phụ đôi bờ sóng vỗ
Nhị Hà lấp lánh sao thưa
Cầu Giấy đường hoa phượng vĩ
Nhớ nhung biết mấy cho vừa…
Cửa Ô ơi, cửa Ô
Năm ngả đường đất nước
Trôi từ vạn nẻo sông hồ
Nắng mưa bốn hướng đổ vào lòng Hà Nội
Gục đầu nhớ tiếng võng đưa!…
Có biết chăng ai, mái tóc bồng bềnh chảy xuôi ý đẹp
Có nhớ chăng ai, lệ nào ướt đẫm tình người
Tê tái tiếng cười
Từng cánh hoa đời khép lại Thương về năm cửa Ô xưa!
 

Tạ Tỵ được giải ngũ vào tháng 6 năm 1974 theo quy chế sau 21 năm công vụ, ở tuổi 53, vẫn còn khoẻ mạnh, đang ở cái tuổi chín muồi của sáng tạo. Anh rất vui với ý nghĩ rằng từ nay sẽ có thời gian để phụng sự nghệ thuật. Nhưng rồi ngày 30/4/1975 đổ ập đến, tất cả mọi dự án về nghệ thuật đều tan biến. Đã thế, cho dù đã giải ngũ, anh vẫn bị bắt đi tù cải tạo. Cùng với bao nhiêu đồng đội và  thế hệ văn nghệ sĩ miền Nam, anh đã bị đày ải trong những nhà tù từ Nam ra Bắc, rồi nhà tù lớn là một đất nước Việt Nam CS, tổng cộng 6 năm (1975-1981), nhưng may mắn sống sót, trong khi đó nhiều đồng đội cùng với các nhà văn nhà báo miền Nam bạn anh thì đã chết rũ trong tù như Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Hoàng Vĩnh Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Phạm Văn Sơn, Trần Văn Tuyên, Trần Việt Sơn, Vũ Ngọc Các, Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, Dương Hùng Cường… hay vừa ra khỏi nhà tù thì chết như Vũ Hoàng Chương, Hồ Hữu Tường.  

Vào đầu năm 1981, Tạ Tỵ được tha về với tấm thân tàn ma dại, tóc bạc răng long. Và nơi chương cuối cuốn hồi ký Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đi Qua Đời Tôi, xuất bản tại Hoa Kỳ (1990), Tạ Tỵ viết: “Trước khi đi tù cải tạo tôi cân được 62 kg, khi ra tù chỉ còn đúng 35 kg. Tôi gầy như bộ xương biết đi. Răng rụng gần hết, còn vài cái kể như vô dụng trong vấn đề ăn uống. Trong tờ “Giấy Ra Trại”, Cộng sản ghi lý do: “Quá già yếu, không còn đủ sức lao động”! Họ tha và tin rằng, thế nào tôi cũng chết, có thể trên đường về, và có thể gặp vợ con rồi xuống đất !” Nhưng rồi Tạ Tỵ vẫn sống sót. [1]

Tạ Tỵ là bạn thân thiết với Lê Ngộ Châu từ hồi báo Bách Khoa, nên hai người vẫn gặp nhau luôn. “Khi mới được tha về, Lê Ngộ Châu bảo tôi phải đi chụp gấp tấm ảnh làm kỷ niệm, kẻo sau này, nhờ dinh dưỡng cậu khác đi làm sao có được cái hình hài này? Tôi nghe lời, hôm sau đến tiệm hình chụp một tấm. Mấy bữa sau, khi nhìn mình qua tấm ảnh, chính tôi cũng không nhận ra! Sao tiều tụy như vậy được? Anh chị Châu làm bữa cơm thịnh soạn mời tôi, gọi là bữa cơm “Mừng Người Về Từ Cõi Chết.” [1]

Sau một thời gian ra tù, được sự chăm sóc tích cực của gia đình, sức khoẻ của anh dần hồi phục. Tạ Tỵ vẫn nuôi ý chí đi tìm tự do. Chuyến vượt biên đầu tiên, vào đầu năm 1982, mới xuống tới Bạc Liêu bị đổ bể may kịp quay về mà không bị bắt lại vào tù. Phải đến giữa năm 1982, cũng là lần vượt biên thứ hai, Tạ Ty cùng gia đình đã xuống được một chiếc ghe mong manh chật ních người, ra khơi ngày 12/6/1982, lênh đênh trên biển đúng bảy ngày, đến ngày 19/6/1982 được tàu dầu Anh quốc vớt đưa vào đảo Pulau Bidong, Malaysia. Từ đó Tạ Tỵ bắt đầu cuộc đời tỵ nạn ở tuổi 61.[1]

ĐÁY ĐỊA NGỤC: HỒI KÝ VIẾT TRÊN ĐẢO

Ngay từ ngày đặt chân lên đảo, Tạ Tỵ đã cầm bút ghi lại kinh nghiệm những năm tù đày kinh hoàng mà anh và các đồng đội vừa trải qua. Cuốn Hồi ký Đáy Địa Ngục, dày 678 trang được khởi viết ngày 25/9/1982 và viết xong ngày 15/12/1982 tại trại Tỵ Nạn chuyển tiếp Sungai Besi, Malaysia, được Nxb Thằng Mõ, California xuất bản năm 1985 và tái bản một năm sau đó. Ngay trang mở đầu cuốn Hồi ký, Tạ Tỵ viết:

Cuốn “Đáy Địa Ngục” được thực hiện trong hoàn cảnh vô cùng phức tạp, giữa những tiếng ồn ào, sinh động của một trại Tỵ Nạn trên vùng đất Mã Lai… Khoảng thời gian, từ ngày Cộng sản chiếm miền Nam, tính đến hôm nay, mới gần 8 năm. Quả thực không lâu so với cuộc luân hành miên viễn của thời gian, nhưng đích thực, đó là một chuỗi đau thương đan kết bằng máu và nước mắt của mỗi con người Việt Nam đã và đang sống trong một bối cảnh vô cùng khốn khổ trực diện với một chế độ mình không ưa thích, không muốn phục vụ, vẫn phải làm như nhiệt tình, thành khẩn!

Sau ngày 30-4-1975, Việt Nam là một nhà tù lớn, bên trong nó, có rất nhiều nhà tù nhỏ, được quây kín sau dãy Trường Sơn trùng điệp, sau những lũy tre dày đặc, hoàn toàn cách biệt với thế giới bên ngoài. Không một ký giả nào thuộc Thế Giới Tự Do, kể cả các ký giả thuộc các nước Cộng sản anh em, được “tham quan” những vùng đất cấm đó. Đối với Cộng sản, cái gì cũng được giữ bí mật tối đa, cái gì cũng được che giấu bằng dối trá, lừa bịp!

Tôi đã trải qua 8 trại Tập Trung Cải Tạo, từ Nam ra Bắc. Tôi đã sống và đã chứng kiến bao nhiêu trạng thái bi thương…

Người tù chính trị Việt Nam sau ngày 30-4-1975, quả thực, một vết nhơ trên “tấm thảm lương tri nhân loại”. Họ được đối xử như những con vật, đôi khi không bằng con vật. Họ luôn luôn sống trong lo âu, hồi hộp, chẳng biết chuyện gì sẽ xảy đến với họ, buổi sớm mai khi thức dậy, sau một đêm trằn trọc với ác mộng và muỗi rệp! Họ “ăn không đủ no, đói không đủ chết”, nên lúc nào miếng ăn cũng ám ảnh, giày vò họ, làm khổ sở, ngày này qua ngày khác, mùa nắng cũng như mùa mưa, mùa hạ cũng như mùa đông, không mùa nào họ có thể tìm thấy chút gì để tạo nên nguồn hy vọng. Nếu ai đã trải qua một lần trong bất cứ Trại Tập Trung Cải Tạo nào của Cộng sản Việt Nam, người đó có quyền coi thường mọi nhà tù trên Thế Giới!

… “Nhưng trang sử đã lật. Cái gì qua, phải qua. Nó là bài học vô cùng quý giá, miễn rằng bài học này đừng bao giờ ôn / lặp lại trong ngày mai.” [1] [hết trích dẫn]

Tạ Tỵ đã đặt chân tới Mỹ với tập bản thảo hồi ký Đáy Địa Ngục vừa được viết xong.

Hình 12: Tạ Tỵ và các thân hữu ở Little Saigon, hàng ngồi từ phải: Tạ Tỵ, Ngô Bảo; hàng đứng từ trái: Thanh Chương, Phan Diên, Phạm Quốc Bảo, Nguyễn Văn Định. [photo by Phạm Phú Minh, do Phạm Quốc Bảo nhận diện]

RA MẮT TUYỂN TẬP VĂN – THƠ – HOẠ TẠ TỴ 2001

Trong khoảng thời gian 21 năm sống tại California Hoa Kỳ, khi thì San Diego, khi thành phố Garden Grove, Tạ Tỵ tiếp tục sáng tác vẽ và viết; ông hoàn tất được một số tranh với phong cách trừu tượng và một số tác phẩm viết và xuất bản ở hải ngoại.

Tuyển Tập Văn – Thơ – Hoạ của Tạ Tỵ là cuốn sách cuối cùng được xuất bản và ra mắt tại Hoa Kỳ. Sách gồm bốn tập truyện: Những Viên Sỏi, Yêu và Thù, Bao Giờ, Xóm Cũ, và một tập thơ Mây Bay, đặc biệt có 12 phụ bản màu: gồm 6 bức tranh Sơn Dầu Trừu Tượng, tất cả được vẽ tại Hoa Kỳ và 6 Ký hoạ Bột màu / Gouache các Khuôn Mặt Văn Nghệ Sĩ.  

Hình 13: Buổi ra mắt sách Tuyển Tập Văn – Thơ – Hoạ Tạ Tỵ (2001) tại quán cà phê Factory rất đặc biệt và cực kỳ đơn giản của “lão ông Tạ Tỵ” ở tuổi 80 Quận Cam, Thủ đô Tỵ nạn, hay còn có tên gọi là Little Saigon. Hình ảnh một Tạ Tỵ với mái tóc bạc phơ, ngồi ký từng cuốn sách với vây quanh là đông đảo lớp người trẻ, xúm lại vui vẻ trò chuyện với bác Tạ Tỵ. [photo by Phạm Phú Minh]   
Ký hoạ chân dung Văn Nghệ Sĩ của Tạ Tỵ; trái, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Gouache 19” x 24”; phải, nhà văn, nhà báo, học giả Hồ Hữu Tường, Gouache 19” x 24”. Sau 1975, cả hai bị Cộng sản bắt đi tù cải tạo, và khi vừa ra tù chỉ vài ngày sau đó thì chết, Vũ Hoàng Chương (6/9/1976) và Hồ Hữu Tường (26/6/1980). [nguồn: Tuyển Tập Tạ Tỵ 2001]
Hình 14: Ký hoạ chân dung Văn Nghệ Sĩ của Tạ Tỵ; trái, nhà thơ Vũ Hoàng Chương, Gouache 19” x 24”; phải, nhà văn, nhà báo, học giả Hồ Hữu Tường, Gouache 19” x 24”. Sau 1975, cả hai bị Cộng sản bắt đi tù cải tạo, và khi vừa ra tù chỉ vài ngày sau đó thì chết, Vũ Hoàng Chương (6/9/1976) và Hồ Hữu Tường (26/6/1980). [nguồn: Tuyển Tập Tạ Tỵ 2001]

Hình 15a: Những bức tranh sơn dầu rất đẹp được vẽ tại hải ngoại theo phong cách trừu tượng của Tạ Tỵ, với bút pháp và màu sắc thật mạnh mẽ; trái, Trôi giạt, trừu tượng, sơn dầu 48” x 72” (1984); phải, Cơn Giận của Thượng Đế, trừu tượng, sơn dầu48” x 72” (1985) [nguồn: Tuyển Tập Tạ Tỵ 2001]

Hình 15b: trái, Ngày Hạ, trừu tượng sơn dầu 48” x 72” (1986); phải, Tạ Tỵ đứng trước bức tranh Những Mảnh Đời Tỵ Nạn, sơn dầu 48” x 60” (1995); có thể coi như bức tranh trừu tượng cuối đời của Tạ Tỵ. [nguồn: Tuyển Tập Tạ Tỵ 2001]

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ: HOẠ SĨ TẠ TỴ VÀ GIẤC MỘNG CON NĂM 2000

Từ trước 1975, tôi đã được xem tranh, đọc thơ văn và cả sách nhận định văn học của Tạ Tỵ (Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ, Nam Chi Tùng Thư Sài Gòn 1970, Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ Hôm Nay, Lá Bối Sài Gòn 1972), và không thể quên các caricatures chân dung văn nghệ sĩ được Tạ Tỵ phác thảo với những đường nét hết sức độc đáo.

Nhưng tôi chỉ thực sự được quen anh Tạ Tỵ trên đất Mỹ từ những năm 1980, khi cả hai cùng một lứa bên trời lận đận, trong hoàn cảnh tỵ nạn sau những năm tháng tù đày. Tạ Tỵ cùng thế hệ với Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng… Về tuổi tác Tạ Tỵ hơn tôi một thế hệ, đúng 20 năm nhưng tâm hồn thì trẻ trung, và cả khiêm cung, nên trong giao tiếp tôi vẫn gọi Tạ Tỵ là anh.

*

Tác phẩm Mùa hè đỏ lửa 1972, (350 x 170 cm), vẽ theo phong cách trừu tượng, hiện treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Sài Gòn từ năm 1998. Khi Tạ Tỵ trở về Việt Nam 2003, bức tranh được đổi tên Cất Cánh, đây là bức tranh sơn dầu lớn nhất trong bộ sưu tập của bảo tàng thành phố. [hình chụp tại Sài Gòn tháng 11/2019, tư liệu Ngô Thế Vinh]​
Hình 16: Tác phẩm Mùa hè đỏ lửa 1972, (350 x 170 cm), vẽ theo phong cách trừu tượng, hiện treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Sài Gòn từ năm 1998. Khi Tạ Tỵ trở về Việt Nam 2003, bức tranh được đổi tên Cất Cánh, đây là bức tranh sơn dầu lớn nhất trong bộ sưu tập của bảo tàng thành phố. [hình chụp tại Sài Gòn tháng 11/2019, tư liệu Ngô Thế Vinh]

Rồi Tạ Tỵ đã có dịp đọc “Giấc Mộng Con năm 2000”và anh nồng nhiệt chia sẻ với tôi về dự án một Công viên Văn hóa Việt Nam ở hải ngoại mà anh gọi đó là Giấc Mộng Lớn.

GIẤC MỘNG CON NĂM 2000

CÂU CHUYỆN CUỐI NĂM.  Người đàn ông nông dân ấy gốc lính cũ, hai mươi năm sau đã bước vào tuổi trung niên, chưa tới tuổi năm mươi nhưng cuộc sống lao động lam lũ khiến anh ta trông xanh xao và già sọm. Anh mất một bàn chân trái khi đã mãn lính do đạp phải mìn ngay trên ruộng nhà. Không cần là bác sĩ cũng biết là anh ta mang trên người đủ thứ bệnh tật: thiếu ăn suy dinh dưỡng, sốt rét kinh niên và thiếu máu. Tất cả sinh lực và nhân cách của anh là nơi đôi mắt sáng tuy hơi buồn nhưng luôn luôn nhìn thẳng vào mặt người đối diện. Hôm nay anh tới đây vì một lý do khác. Một mảng đen bầm nơi lưng không đau rỉ nước vàng từ bấy lâu, trị cách gì cũng không hết. Chầu chực lên trạm y tế huyện được y sĩ cách mạng cho ít viên thuốc tây, rồi đến thầy đông y cho bốc thuốc nam và cả châm cứu nữa mà bệnh thì vẫn không chuyển trong khi người anh cứ gầy rốc ra. Nay nghe có đoàn y tế thiện nguyện ở ngoại quốc về, anh cũng muốn tới thử coi, biết đâu anh lại được gặp ông thầy cũ – người y sĩ trưởng của anh năm nào. Và rồi anh chỉ gặp toàn những khuôn mặt trẻ lạ, nhưng anh vẫn cứ đưa lưng ra cho người ta khám. Một tiếng ồ rất đỗi kinh ngạc của cả toán. Tim người bác sĩ trẻ trưởng đoàn như lạc một nhịp. Không cần một chẩn đoán phức tạp, Toản nhận ra ngay đây là một dạng ung thư mêlanin ác tính – malignant melanoma, chắc chắn với di căn đã tràn lan. Dĩ nhiên căn bệnh có thể trị khỏi nếu phát hiện sớm; nhưng trường hợp này cho dù với phương tiện tiên tiến nhất trên đất Mỹ cũng đành bó tay. Chẳng phải là người bệnh mà là người thầy thuốc trẻ nói giọng buồn bã: Ông tới trễ quá, lẽ ra bệnh có thể trị khỏi… Bệnh nhân không tỏ vẻ bối rối, anh vẫn nhìn thẳng vào mặt người thầy thuốc, ánh mắt tím thẫm xuống vừa giận dữ vừa nghiêm khắc: Tới trễ? Chỉ có bác sĩ các ông là Những Người Tới Trễ chứ tôi cũng như mọi người dân vẫn ở đây từ bao giờ… Dứt khoát không chờ đợi một điều gì thêm ở đám thầy thuốc xa lạ ấy, anh quay lưng bước ra khập khễnh trên đôi nạng tre mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước, khắc khổ cam chịu và vẫn can trường như một người lính thuở nào.

                                                                      *

Hội nghị Y sĩ Thế giới lần thứ 5 sẽ là một Đại hội Y Nha Dược. Với Chính đó là một tin vui biểu hiện sức mạnh đoàn kết của ngành y ở hải ngoại. Buổi họp cuối cùng ở Palo Alto kết thúc quá nửa khuya, sáng hôm sau như thói quen của người có tuổi, Chính vẫn dậy rất sớm chuẩn bị cho một ngày đi Las Vegas thăm con. Chỉ còn mấy tháng nữa Toản — đứa con trai lớn của Chính, hoàn tất bốn năm Thường trú Giải phẫu tổng quát. Sau đó nó sẽ đi New York học tiếp thêm bốn năm về giải phẫu bổ hình, một ngành mà đã có lần Toản cho là một số các bác bạn của bố đã tha hóa — prostitution of plastic surgery, biến thành kỹ nghệ sửa sắc đẹp nâng mũi đệm mông.  Toản khỏe mạnh, cao lớn hơn bố, sống như một thanh niên sinh đẻ ở Mỹ, rất năng động xông xáo trong công việc cũng như giải trí vui chơi; suy nghĩ và hành động đơn giản.  Không phải chỉ cách suy nghĩ mà cách đặt vấn đề của tụi nó cũng khác xa với thế hệ của Chính. Sinh đẻ ở Việt Nam sống ở nước ngoài, là công dân hạng nhất hay hạng hai, chưa bao giờ là một “issue” đối với nó.

Tuy chỉ có một ngày để cho hai bố con gặp nhau hàn huyên, nhưng Toản vẫn lái xe đưa bố lên một khu trượt tuyết rất xa khu giải trí Las Vegas. Toản tâm sự với bố là không phải tình cờ mà nó chọn đi về chuyên khoa bổ hình mà chủ yếu là phẫu thuật bàn tay. Chẳng phải chỉ vì Toản có tâm hồn nghệ sĩ, là tay chơi guitare classique có hạng mà nó biết quý bàn tay của nó. Với Toản chức năng đôi bàn tay là một biểu tượng vô cùng quý giá của cuộc sống lao động và nghệ thuật. Khác với bố và các bạn đồng lứa, Toản may mắn được trời cho đôi bàn tay vàng. Ông giáo sư dạy Toản đã phải thốt ra như vậy. Trong mọi trường hợp từ thông thường tới những “cas” mổ đầy thử thách, qua từng nét rạch đường cắt rất tiết kiệm, trường hợp nào cũng được đánh giá như là đạt tới mức nghệ thuật — “state of art”. Từ lâu Toản đã bị thuyết phục bởi tên của một bác sĩ chỉnh hình Anh Paul Brand, phục vụ tại Ấn Độ, người mà không phải chỉ với tài năng mà còn cả với niềm tin và sự tận tụy can đảm đã có nhiều cống hiến to lớn trong lãnh vực phẫu thuật phục hồi bàn tay cho người bệnh Hansen, đem lại hy vọng cho hàng triệu người bệnh trên khắp thế giới. Toản đã thích thú theo dõi các công trình của Brand trong suốt bốn thập niên qua. Gần đây Toản cũng đã vô cùng xúc động khi lần đầu tiên được đọc một cuốn sách tiếng Việt xuất bản ở hải ngoại của một linh mục nói về thực trạng bi thảm của những trại cùi ở quê nhà nhất là ở miền Bắc. Toản tâm niệm sẽ không phải Brand hay một bác sĩ ngoại quốc nào khác mà chính Toản và các bạn sẽ là thành viên của Chiến dịch Phục hồi Hy vọng — Mission Restore Hope. Toản mơ một giấc mơ năm 2000, bệnh Hansen không còn là vấn đề y tế công cộng nơi quê nhà.

Toản tâm sự với bố là gần đây đã liên tiếp nhận được những thư và các cú điện thoại mời mọc từ Colorado, Boston, Houston để về làm việc tại Á châu, ưu tiên là ở Việt Nam với những điều kiện hết sức hấp dẫn: lương khởi đầu 6 digits nghĩa là trên trăm ngàn đô la một năm, đi kèm theo bao nhiêu những bảo đảm quyền lợi khác kể cả không phải đóng thuế khi làm việc ở hải ngoại. Toản có thái độ dứt khoát: nếu chỉ vì mục đích làm giàu, con chẳng cần phải trở về Việt Nam. Họ cũng cho con biết đã có những phái đoàn Bác sĩ Mỹ gốc Việt, không phải chỉ có nhóm lớn tiếng ồn ào như Lê Hoàng Bảo Long mà còn những toán khác “có đầu óc hơn” âm thầm lặng lẽ đi về chuẩn bị cho mạng lưới y tế thị trường này. Cơ sở đầu tiên sẽ là bệnh viện Thống Nhất, sẽ được tân trang và upgrade đúng tiêu chuẩn Mỹ và bác sĩ hoàn toàn được đào tạo tại Mỹ. Không có gì thay đổi là bệnh viện ấy vẫn ưu tiên điều trị cho các cán bộ cao cấp. Chỉ có khác và “đổi mới” cho phù hợp với kinh tế thị trường, đây còn là nơi chữa trị cho khách ngoại quốc có bảo hiểm giàu tiền bạc thuộc bốn biển năm châu. Nam Triều Tiên có, Tàu Đài Loan có, Tàu Hồng Kông có, Mỹ, Pháp, Úc, Gia Nã Đại, có đủ cả. Làm sao bảo đảm sức khỏe cho họ với tiêu chuẩn cao nhất để họ yên tâm khai thác làm ăn và cả hưởng thụ trên khắp ngõ ngách của Việt Nam từ ải Nam quan cho đến mũi Cà Mau. Và đây cũng là món lợi nhuận béo bở không phải chỉ có các hãng bảo hiểm Mỹ đang muốn nhảy vào mà phải kể tới đám bác sĩ Mỹ gốc Việt cũng đang nao nức rất muốn “về giúp Việt Nam”.  Chưa qua tuổi 30, Toản suy nghĩ trong sáng độc lập và tự tin trên bước đường dấn thân của nó. Không hẳn là Chính đã đồng ý, nhưng lại rất hiểu tính cứng cỏi độc lập của con, Chính không muốn có lần đụng độ thứ hai giữa hai bố con. Chính tạm yên tâm khi thấy con mình cho dù với chọn lựa nào cũng thôi thúc bởi những động lực trong sáng, nó không thể lẫn vào đám người cơ hội. Và theo một nghĩa nào đó, Chính thấy hơi ganh tỵ với tuổi trẻ và sự cả tin đến trong suốt của con; rồi cho đó như một ý nghĩ kỳ quái anh lắc đầu tự mỉm cười khi một mình lái xe đổ dốc trên con đường về…   

Hơn một lần viếng thăm Cali, nhưng mỗi chuyến đi đều đem lại cho Chính những cảm tưởng đổi mới của những cộng đồng Việt Nam rất sinh động. Thay vì chỉ hơn một giờ bay, Chính đã quyết định thuê một chiếc xe của hãng Hertz từ phi trường, đích thân lái từ Palo Alto về tới Little Saigon. Chuyến đi hướng về một thành phố trẻ trung của tương lai nhưng cũng lại là một cuộc hành trình ngược về quá khứ nhìn lại khoảng thời gian đã mất. Anh nghĩ cho dù trong bối cảnh lạnh lùng của thực tế chính trị, đương đầu với những vấn đề của Việt Nam tương lai ở ngưỡng cửa thế kỷ 21, không phải chỉ có vận dụng bộ óc mà phải là sự hoà hợp với rung động của con tim. Quỷ dữ không chỉ là bóng ma cộng sản mà ngay chính cõi lòng sao vẫn cứ chai đá của chúng ta.

Tuy chỉ là câu nói đùa của Thiện nhưng sao vẫn cứ ám ảnh Chính mãi. Rằng nếu có tên quá khích điên khùng bắn chết Lê Hoàng Bảo Long, chắc Little Saigon sẽ buồn bã biết chừng nào. Chắc rồi cũng phải tìm cho ra một Lê Hoàng Bảo Long thứ hai. Không có chống cộng thì còn đâu là sự sinh động của Little Saigon. Chỉ có điều cộng sản thì ẩn hiện, lúc nào mục tiêu cũng di động và xảo quyệt, vô hình trung bọn chúng đã khiến các tay xạ thủ chống cộng cũng di chuyển để rồi tự nguyện sắp theo đội hình vòng tròn tự lúc nào và dĩ nhiên ngay từ loạt súng đầu tiên tổn thất có thể kiểm kê  được là nơi chính các đồng bạn… Chính có dự định sẽ gặp Thiện — tác giả của Project 2000, nhằm kết hợp toàn y giới ở hải ngoại mà Chính cho là táo bạo và hấp dẫn với quan niệm “vận dụng và chuyển hoá tài lực của thế giới thành tài lực của Việt Nam, khai thông những hưng thịnh của thế giới chuyển đổ về quê hương, thực hiện vận mạng Việt Nam bằng những phương tiện của thế giới”…  Dự trù hình thành một tổ hợp vô vị lợi, mỗi y nha dược sĩ đóng 2000 Mỹ kim như một phần khấu trừ thuế rất nhỏ trong phần thuế khóa rất lớn mà họ đóng góp hàng năm trên các vùng đất tạm dung đang cưu mang họ, thì với một ngàn người tham gia số tiền hành sự đã lên đến hai triệu đô la tiền mặt, với tiềm năng ấy thì không có việc gì mà Hội y nha dược Thế giới không làm được, từ đáp ứng tức thời như cứu trợ đồng bào nạn nhân trong bạo loạn ở Los Angeles, nạn nhân bão lụt thiên tai ở đồng bằng sông Cửu Long, đến các công trình dài hạn như xây dựng Convention Center – Nhà Văn hoá Công viên Việt Nam cạnh thủ đô Little Sài gòn, tham gia dứt điểm một dự án y tế của OMS thanh toán bệnh Hansen ở Việt Nam vào năm 2000… Chính thấy rằng chỉ ngay trong trái tim Tiểu Sài Gòn ấy giữa đa số thầm lặng đã có biết bao nhiêu người có lòng có cái tâm thành: ông Đại tá chỉ huy đơn vị cũ với thành tích 14 năm tù mới sang được tới Mỹ trong tình trạng sức khỏe suy kiệt chẳng biết lo thân đã ngồi viết ngay thư đầu tiên liên lạc với Chính yêu cầu anh với uy tín sẵn có giúp ông vận động dựng lại được bức tượng Thương Tiếc để mọi người không quên những người lính đã chết. Tiến người bạn đồng môn, gốc tráng sinh Bạch Mã chỉ có hai niềm say mê: phục hồi phong trào Hướng Đạo Việt Nam tại hải ngoại cho giới trẻ và thiết lập một bệnh viện Việt Nam đầu tiên trên đất Mỹ. Nguyễn lớp đàn anh của Chính, tuổi ngót 60 rồi mà vẫn còn độc thân, vẫn bền bỉ trong bấy nhiêu năm liền là người bạn thiết tận tụy của thuyền nhân và cũng là thầy thuốc miễn phí của giới văn nghệ sĩ các gia đình H.O.  Liên một bác sĩ muộn màng mới từ đảo qua đang sống mái ngày đêm đèn sách để trở lại hành nghề nhưng vẫn tích cực mơ ước thực hiện một tượng đài vĩ đại Mẹ Bồng Con lao vào đại dương theo nước non ngàn dặm ra đi  — biểu tượng cho một cuộc di dân khổng lồ của hai triệu người Việt đi khai sinh một siêu Việt Nam trong lòng thế giới… Và còn biết bao nhiêu, bao nhiêu những điển hình và ý nghĩ tốt đẹp khác nữa, vậy mà — Chính tự hỏi,  tại sao anh và các bạn vẫn lạc nhau trong bóng đêm của “kiêu khí, đố kỵ và mê chướng”,  lại vẫn theo ngôn từ của Thiện.

Bao nhiêu chục năm rồi, Chính vẫn là con người trăn trở, vẫn là trí thức chứng nhân của những bi kịch của một thời nhiễu nhương và lừa dối hào nhoáng. Giữa rất nhiều ồn ào và tiếng động của ngôn từ sa đọa và những thực tế chính trị giả dối, nhiều lúc Chính cũng muốn tĩnh lặng, từ bỏ những suy nghĩ khúc mắc, chỉ làm khổ chính anh và cảm tưởng như cũng chẳng ích gì cho ai; nhưng như vậy thì anh đâu còn là Chính nữa. Trước sau anh vẫn là anh, con người của xác tín. Dùng ngôn từ của điện toán, thì con người anh đã được thảo chương – programmed, chẳng thể nào mà nói đến chuyện đổi thay, chỉ có thể anh sẽ nhạy cảm hơn, chấp nhận đối thoại với những khác biệt mà anh tin rằng vẫn có thể có đoàn kết, cho dù đó là một liên kết nhiều màu sắc — rainbow coalition, và theo anh sự đa dạng chính là chất men của sáng tạo. Anh hiểu rằng số người còn theo và ủng hộ anh ngày càng ít đi. Không ra mặt chống anh nhưng họ tách ra và mỗi người chọn đi theo hướng riêng của họ. Riêng anh chắc hẳn rằng trong suốt phần cuộc đời còn lại, anh sẽ vẫn cứ đi trên con đường thẳng băng đã vạch ra cho dù quạnh quẽ. Sự mau quên và thỏa hiệp của những người Việt hải ngoại — mà anh cho là thương tổn tới nhân cách chính trị và quyền tỵ nạn của họ, cộng thêm với sự vui mừng quá độ của người dân trong nước trước những điều được gọi là “đổi mới” chỉ làm cho anh thêm đau lòng. Rồi ra ai thì cũng tìm cách thích nghi để mà tồn tại, cuộc sống ngồn ngộn bản năng thì vẫn cứ dễ dàng thay da đổi màu và bừng bừng đi tới. Số rất ít người cứng rắn nguyên tắc và nhất quán như anh hình như đang có nguy cơ trở thành một chủng loại hiếm hoi sắp bị tiêu diệt — endangered species. Chính còn lại bà mẹ già bên Việt Nam, mái tóc đã trắng bạc như sương. Anh mơ một giấc mơ đơn giản, cũng chỉ mong đất nước thanh bình để kịp về thăm mẹ, về thăm ngôi làng cũ, ngắm đàn trẻ thơ nô đùa nơi sân trường làng, và hạnh phúc biết bao nhiêu khi được trở lại khám bệnh chăm sóc cho những nông dân thân thuộc bao giờ cũng đôn hậu và chất phác mà y phí có khi chỉ là một nải chuối, ít trái cây hay mấy hột gà tươi. Ước mơ có gì là cao xa đâu nhưng sao vẫn ở ngoài tầm tay và có vẻ như còn rất xa vời. Bởi vì anh vẫn dứt khoát tự nhủ lòng mình anh sẽ không thể và không bao giờ trở lại quê hương như một kẻ bàng quan, một khách du lịch hay tệ hơn nữa như một tên mại bản với xênh xang áo gấm về làng. Mặc dầu rất muốn gặp mẹ nhưng anh vẫn không thể nào về với tâm cảnh và ngoại cảnh bây giờ. 

Kể từ giữa thập niên 70, cùng với sự sụp đổ của miền Nam, là một làn sóng ồ ạt dân tỵ nạn Đông Dương rải ra khắp nước Mỹ, nhưng đông đảo nhất vẫn là tiểu bang Cali. Khó khăn của những người tới sớm không phải là ít. Từ ngoài các căn cứ Pendleton, Fort Chaffee không phải chỉ có những bảo trợ người Mỹ giàu lòng bác ái tới giúp đỡ họ mà cả không thiếu những người điạ phương kỳ thị thù ghét trù ẻo và muốn đuổi họ về nước. “We Don’t Want them, May They Catch Pneumonia And Die.  Và trong đám người tỵ nạn ấy đã có các đồng nghiệp của Chính.  Cho tới nay con số bác sĩ Việt Nam lên tới 2000 chỉ riêng ở Mỹ, chưa kể một số không ít khác sống ở Canada, Pháp và Úc châu và một số nước khác. Hơn 2500 bác sĩ trên tổng số 3000 của toàn miền Nam đã thoát ra khỏi xứ, không khác một cuộc tổng đình công của toàn ngành y tế, liên tục kéo dài từ 75 tới nay. Chính cũng biết rất rõ anh là một trong số ít người đã vận động và lãnh đạo một cách có hiệu quả cuộc đình công dài bất tận một cách không tiền khoáng hậu ấy.                                                                                                                             

Chính sẽ lần lượt ghé thăm: San Jose thung lũng điện tử hoa vàng, Los Angeles thành phố thiên thần nhưng lại sắp kết nghĩa với thành phố mang tên Hồ Chí Minh, Orange thủ đô tỵ nạn chống cộng với Sài Gòn Nhỏ và San Diego nơi nổi tiếng khí hậu tốt nhất thế giới – đều là những nơi có đông đảo người Việt, và con số ấy tiếp tục gia tăng không phải chỉ bởi những người mới tới; mà còn do hiện tượng “di dân lần thứ hai” của những người Việt đã tới sinh sống ở những tiểu bang khác, cuối cùng rồi cũng lựa chọn trở về Cali nơi có nắng ấm, có khí hậu nhiệt đới giống Việt Nam như ở Đà lạt, họ nói với nhau như thế.

Tiêu chuẩn hoá, đó là đặc tính rất Mỹ. Thành phố lớn nhỏ nào ở Mỹ thì cũng rất giống nhau, với những trạm xăng, các siêu thị và những tiệm fast food McDonald’s. Đi vào những phố chợ Việt Nam sầm uất ngay trên đường Bolsa là thấy những tiệm phở, các siêu thị lớn nhỏ, phòng mạch bác sĩ, hiệu thuốc tây, các văn phòng luật sư và dĩ nhiên cả những tòa báo.

Các đồng nghiệp của Chính đã có mặt ngay từ đầu trong số đông đảo những người tới sớm. Họ biểu tượng cho một tập thể trí thức khoa bảng, được sự giúp đỡ của chương trình tỵ nạn như mọi người, đa số đã mau chóng trở lại hành nghề trong những điều kiện hết sức thuận lợi. Sau đó phải chi ai cũng có trí nhớ tốt về những cảm xúc đầu tiên khi dứt bỏ hết mọi thứ bất kể sống chết ra đi. Chính còn nhớ như in về những ngày ở trên đảo, Ngạn đã nhiều lần tâm sự là chỉ mong có ngày đặt chân tới Mỹ. Anh chẳng bao giờ còn mơ ước tới một nơi nào xa hơn nữa, cũng chẳng hề có cao vọng trở lại nghề cũ. Mà hạnh phúc, nếu có, là được hít thở không khí tự do, được sống như một con người và được khởi sự lại từ đầu, gây dựng mái gia đình bằng sức lao động của tay chân, hy sinh cho tương lai thế hệ những đứa con. Nhưng sự thể lại tốt hơn với mong đợi, chính Ngạn bằng trí thông minh nghị lực làm việc và dĩ nhiên cả may mắn nữa, chỉ trong một thời gian ngắn anh là một trong số những người trở lại hành nghề rất sớm. Là bác sĩ ở Mỹ có nghĩa là đã thuộc vào thành phần xã hội trung lưu trên cao, địa vị hoàn cảnh của họ là ước mơ ngay cả đối với rất nhiều người dân Mỹ bản xứ. Nhưng Ngạn và một số người khác đã không dừng lại ở đó. Và điều gì phải đến đã đến. Hậu quả là một cuộc ruồng bố được mệnh danh là “gian lận y tế lớn nhất trong lịch sử tiểu bang Cali”. Để trở thành tin tức hàng đầu nơi trang nhất của báo chí và các đài truyền hình khắp nước Mỹ. Mới chín năm từ ngày sụp đổ cả miền Nam đang còn là một cơn ác mộng chưa nguôi, biến cố tháng Hai 1984 là một cơn mộng dữ thứ hai nhưng với bản chất hoàn toàn khác. Chưa bao giờ hai chữ Việt Nam lại được nhắc tới nhiều như thế trong suốt tuần lễ. Cũng chưa bao giờ quá khứ bị đối xử tàn nhẫn đến như thế. Cảnh tượng hàng loạt bác sĩ dược sĩ trong đó có Ngạn bị các cảnh sát sắc phục còng tay ngoài đường, bêu trước nắng gió đã bị báo chí Tivi Mỹ khai thác triệt để.  Ai cũng cảm thấy bị thiệt hại về mặt thanh danh, cộng thêm với những cảm giác bất an và sợ hãi. Rõ ràng sau đó đã có một làn sóng nguyền rủa của người dân bản xứ nhắm chung vào người Việt tỵ nạn. Trong các xưởng hãng, bọn sỗ sàng trực tiếp thì xách mé gọi các đồng nghiệp Việt Nam là đồ ăn cắp, hoặc gián tiếp hơn họ cắt những bản tin với hình ảnh đăng trên báo Mỹ đem dán lên tường chỗ có đông các công nhân Việt Nam làm việc. Những người dân Việt bình thường lương thiện, tới Mỹ với hai bàn tay trắng, đang tạo dựng lại cuộc sống từ bước đầu số không, bằng tất cả ý chí và lao động cần mẫn của đôi bàn tay, nay bỗng dưng trở thành nạn nhân oan khiên của kỳ thị và cả khinh bỉ. Có người uất ức quá đã phải la lên: hỡi các ông trí thức khoa bảng ơi, ngay từ trong nước bao giờ và ở đâu thì các ông cũng là người sung sướng, sao các ông không có mặt ở đây để nhận lãnh sự nhục nhã này… Chuyện xảy ra đã hơn mười năm rồi mà vẫn tưởng như mới hôm qua, như một flashback nặng nề diễn ra trong đầu óc Chính. Hiện giờ anh cố chủ động thoát ra khỏi những ngưng đọng của ký ức về một giai đoạn bi ai quá khứ. Đưa tay bấm nút tự động hạ mở kính xe, gió biển thổi cuộn vào trong lòng xe vỗ phần phật. Trời xanh biển xanh, vẫn màu xanh thiên thanh ấy, có gì khác nhau đâu giữa hai bờ đại dương này. Khổ hải vượng dương, hồi đầu thị ngạn. Ở đâu thì nỗi khổ cũng mênh mông, nhìn lại chẳng thấy đâu là bờ.  Con đường 101 dọc theo bờ biển Thái Bình dương lúc này lại gợi nhớ Quốc lộ 1 bên kia đại dương trên đất nước thân yêu của chàng. Vẫn những giọt nước ấy là nước mắt và làm nên biển cả, những dải cát sáng long lanh như thủy tinh, những ruộng muối trắng, những hàng dừa xanh. Quê hương của trí nhớ đó sẽ đẹp đẽ biết bao nhiêu nếu không có những khúc phim hồi tưởng của “dọc đường số 1”, của “đại lộ kinh hoàng”, của “những dải cát thấm máu” ở những ngày cuối tháng Ba 1975.

Little Saigon vẫn được coi là thủ đô của những người Việt tỵ nạn. Theo nghĩa nào đó là một Sài Gòn nối dài. Nếu khảo sát về địa dư chí, thì như một điều trớ trêu của lịch sử, tên người Việt Nam đầu tiên đến ở quận Cam rất sớm này lại là một người Việt xấu xí — có tên là Phạm Xuân Ẩn, một đảng viên cộng sản. Bề ngoài anh ta là một ký giả của tuần báo Times trong suốt 10 năm, nhưng điều mà không ai được biết là từ lâu anh vốn là một điệp viên cao cấp của Hà Nội. Ẩn đã từng được học bổng của Bộ Ngoại giao đi du học tại Mỹ vào cuối những năm 50, học xong Ẩn đi tham quan khắp nước Mỹ rồi trở về sống ở quận Cam; sau đó trở lại Sài Gòn làm cho hãng thông tấn Reuters của Anh, rồi tuần báo Times của Mỹ cho tới những ngày cuối của miền Nam. Mãi sau này người ta mới được biết Ẩn đã gia nhập phong trào Việt Minh rất sớm từ những năm 40, khởi từ vai trò một giao liên chẳng có gì là quan trọng để rồi cuối cùng trở thành một điệp viên chiến lược qua mắt được bao nhiêu mạng lưới CIA với danh hiệu phóng viên rất an toàn của một tờ báo Mỹ uy tín… Hiện giờ đã có tới khoảng ba trăm ngàn người Việt đang chiếm chỗ của Ẩn trước kia. Còn riêng Ẩn thì lại đang sống lặng lẽ ở Sài Gòn, tiếp tục là chứng nhân cho cuộc cách mạng thất bại mà Ẩn đã trung thành và toàn tâm phục vụ trong suốt hơn 40 năm. Trở về với thực tại của quận Cam hôm nay, nếu Ẩn có dịp trở lại đây chắc cũng chẳng thể nào nhận ra chốn cũ. Biến từ một khu phố chết với những vườn cam xác xơ, nay trở thành một Sài Gòn Nhỏ trẻ trung và sầm uất. Con em của những người Việt mới tới, ngay từ thế hệ di dân thứ nhất đã rất thành công trong học vấn và nâng tiêu chuẩn giáo dục địa phương cao thêm một bước mới. Chúng tốt nghiệp từ đủ khắp các ngành. Hơn cả giấc mộng Đông Du, chỉ trong khoảng thời gian chưa đầy hai thập niên, nước Việt Nam tương lai có cả một đội ngũ chuyên viên tài ba để có thể trải ra cùng khắp.  

Trong kiếp sống lưu dân, chưa làm được gì trực tiếp cho quê hương nhưng  Chính vẫn có thể mơ một Giấc Mộng Con Năm 2000. Trải qua bao nhiêu hội nghị, Chính có cảm tưởng anh và các bạn vẫn như những người không nhà cho dù các nơi tạm trú đều là những đệ nhất khách sạn không dưới bốn sao.  Chuyến đi thực tế này, dự định rằng là bước khởi đầu vận động hình thành không phải chỉ là một mái nhà cho hội y sĩ, mà bao quát hơn là một convention center, một toà Nhà Văn hoá, một Viện Bảo tàng, một Công viên Việt Nam. Đó phải là công trình biểu tượng có tầm vóc, sẽ được thực hiện ưu tiên qua từng giai đoạn. Nếu nghĩ rằng ngôi Đình là biểu tượng cho cái thiện của làng, thì khu Công viên Văn hoá ấy là biểu tượng cho cái gốc tốt đẹp không thể thiếu của các thế hệ di dân Việt Nam từ những ngày đầu đặt chân tới lục địa mới của cơ hội này. Nó sẽ như một mẫu số chung rộng rãi cho một cộng đồng hải ngoại đang rất phân hóa, giúp đám trẻ hãnh tiến hướng Việt tìm lại được cái căn cước đích thực của tụi nó. Dự phỏng rằng Công viên Văn hóa sẽ được thiết lập trong vùng tây nam Hoa kỳ, tọa lạc trên một diện tích rộng lớn phía bờ nam của xa lộ 22 và 405 tiếp giáp với khu Little Saigon. Đó là nơi có khả năng giới thiệu một cách sinh động những nét đặc thù của văn hóa Việt qua những bước tái thể hiện các giai đoạn lịch sử hào hùng và cả bi thảm của dân tộc Việt từ buổi sơ khai lập quốc. Đây không phải thuần chỉ là công trình của một Uỷ ban Đặc nhiệm, gồm tập hợp những tinh hoa trí tuệ của mọi ngành sinh hoạt. Đó phải là một công trình của toàn thể những người Việt tự do ở hải ngọai, không phân biệt màu sắc cá nhân phe nhóm. Bước khởi đầu đơn giản chỉ một đô la cho mỗi đầu người mỗi năm, thì chúng ta đã có hơn một triệu Mỹ kim cộng thêm với hai triệu Mỹ kim nữa của Hội y nha dược, Hội chuyên gia và các giới doanh thương. Sẽ không phải là nhỏ với ba triệu đô la mỗi năm để làm nền móng khởi đầu cho Dự Án 2000 ấy. Ngũ niên đầu là giai đoạn sở hữu một khu đất đủ lớn cho nhu cầu quy hoạch Công viên Văn hoá với một convention center là công trình xây cất đầu tiên: đó như một cái nôi cho sinh hoạt cộng đồng văn hoá và nghệ thuật.  Chính cứ vẫn phải nghe một điệp khúc đến nhàm chán rằng người Việt Nam không đủ khả năng tạo dựng những công trình lớn có tầm vóc. Viện cớ rằng do những cuộc chiến tranh tàn phá lại cộng thêm với khí hậu ẩm mục của một Á châu nhiệt đới gió mùa, đã không cho phép tồn tại một công trình nhân tạo lớn lao nào. Nhưng bây giờ là trên đất nước Mỹ và Chính muốn chứng minh điều đó không đúng. Yếu tố chính vẫn là con người. Làm sao có được một giấc mơ đáng gọi là giấc mơ.  Để rồi cái cần thiết là chất xi măng hàn gắn và nối kết những đổ vỡ trong lòng… Chính đã hơn một lần chứng tỏ khả năng lãnh đạo một tập thể trí tuệ nhất quán không làm gì trong suốt hai thập niên qua; bây giờ thì anh đang đứng trước một thử thách ngược lại, vận dụng sức mạnh cũng của tập thể ấy để phải làm một cái gì nếu không phải ở trong nước thì cũng ở hải ngoại, trong một kế hoạch ngũ niên cuối cùng của thế kỷ trước khi bước sang thế kỷ 21. Một ngũ niên có ý nghĩa của kế hoạch và hành động thay vì buông xuôi.

Chỉ qua một vài bước thăm dò, Chính cảm nhận được ngay rằng quả là dễ dàng để mà đồng ý với nhau khỏi phải làm gì. Nhưng vấn đề bỗng trở nên phức tạp hơn nhiều khi bước vào một dự án cụ thể đòi hỏi sự tham gia và đóng góp của mỗi người, kéo theo bao nhiêu câu hỏi “tại sao và bởi vì” từ ngay chính những người bạn tưởng là đã rất thân thiết của anh đã cùng đi với nhau suốt một chặng đường. Hội nghị Palo Alto sẽ là một trắc nghiệm thách đố không phải của riêng anh mà là của toàn thể y giới Việt Nam hải ngoại.

Thay vì đứng ngoài bàng quan, hội Y sĩ Thế giới sẽ tiên phong trực tiếp tham gia ngay từ bước đầu hình thành Công viên Văn hoá ấy. Đó là một chuẩn bị thao dượt, như một ấn bản gốc cho mô hình của Viện Bảo tàng Chiến tranh Việt Nam của ISAW. Người Mỹ có dự án ISAW (Institute for the Study of American Wars) thiết lập một Quảng trường Hào hùng tại Maryland gồm một chuỗi viện bảo tàng liên quan tới bảy cuộc chiến tranh, mà người Mỹ đã trực tiếp can dự kể từ ngày lập quốc. Dĩ nhiên trong đó có chiến tranh Việt Nam, cũng là cuộc chiến tranh duy nhất có chính nghĩa mà miền Nam Việt Nam và Mỹ đã bị thua. Cung cấp dữ kiện đi tìm đáp số cho những câu hỏi vấn nạn tại sao sẽ phải là nội dung của viện bảo tàng tương lai này. Hai triệu người thoát ra khỏi nước bằng một cuộc di dân vĩ đại, họ không thể chấp nhận cuộc thất trận lần thứ hai khác lâu dài và vĩnh viễn tại Valor Park với lặp lại những gian dối lịch sử cũng vẫn do người cộng sản chủ động sắp xếp. Không phải chỉ là vấn đề ai thắng ai; nhưng đó là nhân cách chính trị của hai triệu người di dân tỵ nạn đang phấn đấu cho một thể chế chính trị tự do nơi quê nhà. Và Chính quan niệm những bước hình thành khâu Viện Bảo tàng Việt Nam tại ISAW phải được khởi đầu từ dự án khu Công viên Văn hoá Việt Nam năm 2000 ngay giữa thủ đô tỵ nạn. Đó là một phác thảo và chọn lọc tất cả các hình ảnh tài liệu và chứng tích của các giai đoạn Việt Nam tranh đấu sử. Đó là nơi giúp thế hệ trẻ hướng Việt tìm lại khoảng thời gian đã mất, giúp chúng hiểu được tại sao chúng lại hiện diện trên lục địa mới này.

Giữa hai bố con Chính đang âm thầm diễn ra tranh chấp về trận địa của những giấc mơ. Giấc mơ của Toản thì xa hàng vạn dặm mãi tận bên quê nhà. Giấc mơ nào là không thể được, bên trong hay bên ngoài? Hiện thực của giấc mơ nào đi nữa không phải chỉ do hùng tâm của một người mà là ý chí của cả một tập thể cùng nhìn về một hướng, cùng trông đợi và ước ao niềm vui của sự thành tựu. Riêng Chính thì đang ao ước không phải để có một ngôi đền thờ phụng, mà là một mái ấm của Trăm Họ Trăm Con, nơi ấy sưu tập và lưu trữ những giá trị của quá khứ, nơi hội tụ diễn ra sức sống sinh động của hiện tại, và là một điểm tựa thách đố hướng về tương lai, chốn hành hương cho mỗi người Việt Nam đang sống bất cứ ở đâu trong lòng của thế giới.  NGÔ THẾ VINH                                                                                                                                                                    Little Saigon, 01/1995

Trái, thư viết ngày 1/2/1995; phải, nhà văn Ngô Thế Vinh nhìn bởi Tạ Tỵ Garden Grove, California, Jan 1996. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Hình 17a: trái, thư viết ngày 1/2/1995; phải, nhà văn Ngô Thế Vinh nhìn bởi Tạ Tỵ Garden Grove, California, Jan 1996. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

      Trong một thư riêng gửi đi từ Garden Grove ngày 1/2/1995, anh Tạ Tỵ viết:

Anh Ngô Thế Vinh,

Trước hết, nhân dịp đầu năm mới Ất Hợi, tôi xin gửi đến anh cũng như gia đình, một năm mới an khang thịnh vượng, gặp nhiều may mắn, sau, xin chân thành cám ơn anh đã có lòng quý mến mà gửi cho tập bản thảo “Giấc mộng LỚN năm 2000”.

“Tôi chia sẻ rất nhiều với anh về những điều anh viết, dù rằng tuổi tôi đã cao, cái sự nhìn thấy những điều mình mơ ước chắc cũng khó mà thực hiện, nhưng đó cũng chẳng sao, vì tất cả đều cho mai sau và cái mai sau đó so với sự luân chuyển của thời gian cũng như lịch sử nó chẳng đáng gì. Ngọn lửa đã nhúm lên rồi, chỉ cần có thêm nhiều nguyên liệu tạo nên sự bùng cháy trường kỳ trong lòng mỗi người tỵ nạn có tâm huyết, bất luận trí thức hay bình dân. Mong lắm thay!  Hy vọng, hy vọng và hy vọng!  Mong anh đừng bao giờ để có người nói: “Các ông là những người đến muộn.”

Anh Tạ Tỵ cũng đã hào hứng hứa hẹn, là khi Công Viên Văn Hoá ấy hình thành, anh sẽ tặng bộ sưu tập tranh quý giá của anh, cùng với một bức tranh tường Mural 5m x 3m “Gửi Cho Thế Hệ Mai Sau”.     

Trái, thư viết ngày 29/2/2000: Tôi thường nghĩ, nước Việt Nam dù dưới chủ nghĩa nào cũng chỉ tạm thời, cái Vĩnh Viễn là mảnh đất do tất cả Dân Tộc dựng nên, cái đó mới tồn tại lâu dài, Vĩnh Viễn! Tôi nhìn mãi tấm hình chiếc cầu Mỹ Thuận, lòng thấy vui vô cùng. Thế là người Việt Nam thoát được cái cảnh “sang sông” phải luỵ phà!...; phải, thư viết ngày 27/7/2000: Chúng tôi nhất quyết về Việt Nam dù không biết phía trước cái gì sẽ xảy ra cho mình? Nhưng dù sao, tôi cũng muốn an nghỉ ở Việt Nam nơi mình đã sinh ra và đã sống 60 năm trời [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Hình 17b: trái, thư viết ngày 29/2/2000: Tôi thường nghĩ, nước Việt Nam dù dưới chủ nghĩa nào cũng chỉ tạm thời, cái Vĩnh Viễn là mảnh đất do tất cả Dân Tộc dựng nên, cái đó mới tồn tại lâu dài, Vĩnh Viễn! Tôi nhìn mãi tấm hình chiếc cầu Mỹ Thuận, lòng thấy vui vô cùng. Thế là người Việt Nam thoát được cái cảnh “sang sông” phải luỵ phà!…; phải, thư viết ngày 27/7/2000: Chúng tôi nhất quyết về Việt Nam dù không biết phía trước cái gì sẽ xảy ra cho mình? Nhưng dù sao, tôi cũng muốn an nghỉ ở Việt Nam nơi mình đã sinh ra và đã sống 60 năm trời  [tư liệu Ngô Thế Vinh]

San Diego, Feb 29, 2000

Thân gửi Anh Ngô Thế Vinh,

Rất cám ơn anh đã gửi cho 2 số báo Đi Tới. Nhìn qua, tuy chưa đọc nhưng đã thấy rất có giá trị về phương diện Sử học và Địa lý. Tôi thường nghĩ, nước Việt Nam dù dưới chủ nghĩa nào cũng chỉ tạm thời, cái Vĩnh Viễn là mảnh đất do tất cả Dân Tộc dựng nên, cái đó mới tồn tại lâu dài, Vĩnh Viễn! Tôi nhìn mãi tấm hình chiếc cầu Mỹ Thuận, lòng thấy vui vô cùng. Thế là người Việt Nam thoát được cái cảnh “sang sông” phải lụy phà!…

Hôm nào rảnh rỗi mời anh xuống dưới San Diego, anh em mình tiếp nối giấc mơ café, ngồi nhìn ra biển, ở một quán nào đó chưa biết! Riêng anh, luôn luôn khoẻ mạnh, viết nhiều. Tạ Tỵ

Nhưng rồi, khá bất ngờ vào ngày 27/7/2000 từ San Diego cũng trong một thư riêng khác anh Tạ Tỵ cho biết quyết định sẽ về sống ở Việt Nam.

San Diego, July 27, 2000

Thân gửi Anh Ngô Thế Vinh,

Trước hết, xin gửi nơi đây lời cầu chúc anh cùng gia đình luôn luôn an mạnh.

Sau, xin báo tin để anh được biết đến tháng 10 này [năm 2000], chúng tôi sẽ về Việt Nam để sống… chúng tôi nhất quyết về Việt Nam dù không biết trước cái gì sẽ xảy ra cho đời mình? Nhưng dù sao tôi cũng muốn được an nghỉ ở Việt Nam nơi mình đã sinh ra và đã sống 60 năm trời! Nếu có dịp nào, anh gặp anh Bùi Khiết, anh cho tôi gửi lời thăm anh ấy. Anh Khiết là người bạn tốt, rất tốt với tôi. Chúc anh sáng tác được nhiều tác phẩm hay để đời thế là tôi vui rồi. Về Việt Nam, tôi vĩnh viễn rửa tay gác bút, chờ ngày đi vào cõi Hư Không. Nhớ các anh lắm. Tạ Tỵ

Dù anh Tạ Tỵ đã có quyết định về sống ở Việt Nam từ tháng 7 năm 2000, nhưng rồi lần lữa thêm 3 năm nữa vì lý do sức khoẻ và chăm sóc y tế. Tới năm 2003, sau khi vợ anh mất, Tạ Tỵ đã một mình âm thầm trở về Sài Gòn, sống những tháng ngày cuối đời, cũng vẫn trong căn nhà cũ, cùng với gia đình người con gái út Tạ Thuỳ Châu.

Chỉ một năm sau, anh Tạ Tỵ mất, ngày 24 tháng 8 năm 2004, hưởng thọ 83 tuổi. Bạn bè văn nghệ cũ còn ở lại Sài Gòn đều tới tiễn đưa anh. Đặc biệt có thêm  một vòng hoa viếng của Đinh Cường từ Mỹ, do Dương Nghiễm Mậu – cũng là người anh em cột chèo với Đinh Cường đại diện đem tới.

Anh Tạ Tỵ đã toại nguyện, anh được an nghỉ nơi quê nhà, “tấm thân tứ đại” của anh được hỏa táng để trở về với cát bụi, nhưng tên tuổi Tạ Tỵ và các tác phẩm của anh thì vẫn trường tồn trong suốt dòng chảy của văn hóa dân tộc.

CON CÁ HỒI VỀ NGUỒN

Tạ Tỵ là hình ảnh con cá Hồi dũng mãnh sau những tháng năm vẫy vùng ngoài đại dương, đến cuối đời sức cùng lực kiệt, vẫn với một bộ nhớ không suy suyển, để từ biển rộng trở lại con sông dài, bất chấp những ghềnh thác, chỉ để được trở về nguồn – nơi mảnh đất có tên gọi rất thiêng liêng là Việt Nam, nơi anh đã được sinh ra và lớn lên, nơi vẫn còn đó những con người đã từng đày ải anh tới “đáy địa ngục” nhưng rồi bất kể những gì có thể xảy ra cho anh, con cá hồi Tạ Tỵ cũng đã trở về nơi quê hương cội nguồn.  

Tạ Tỵ là hình ảnh con cá Hồi sau những tháng năm vùng vẫy ngoài đại dương, đến cuối đời sức cùng lực kiệt, vẫn với một bộ nhớ không suy suyển, đã bất chấp những ghềnh thác, để từ biển rộng trở lại con sông dài, chỉ để được trở về nguồn.
Hình 18: Tạ Tỵ là hình ảnh con cá Hồi sau những tháng năm vùng vẫy ngoài đại dương, đến cuối đời sức cùng lực kiệt, vẫn với một bộ nhớ không suy suyển, đã bất chấp những ghềnh thác, để từ biển rộng trở lại con sông dài, chỉ để được trở về nguồn.

NGÔ THẾ VINH

100 năm sinh [1921-2021]

Và ngày giỗ thứ 17 của Tạ Tỵ

[24/08/2004 – 24/08/2021]

Tham khảo:

1/ Tạ Tỵ. Hồi ký Đáy Địa Ngục, Nxb Thằng Mõ 1986;  Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đi Qua Đời Tôi, Nxb Thằng Mõ 1990; Tuyển Tập Văn Thơ Hoạ Tạ Tỵ, Nxb Thằng Mõ 2001.

2/ Nguiễn Ngu Í phỏng vấn Tạ Tỵ. Báo Bách Khoa, số 131, ngày 15-6-1962

3/ Tạ Tỵ, Vì sao tôi viết. Hợp Lưu số 32, p. 216,  Xuân Đinh Sửu 1997

4/ Đinh Cường, Đi Vào Cõi Tạo Hình: Tạ Tỵ người hoạ sĩ luôn ưu tư về cái mới, p.86-94. Văn Mới 2015

5/ Văn Quang. Tạ Tỵ – vườn xưa đã khép. Lẩm cẩm Sài Gòn thiên hạ sự, ngày 26/8/2004

6/ Ngô Thế Vinh. Tuyển Tập I Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật & Văn Hoá, Nxb Việt Ecology Press 2017

Anh Cả và tiểu thuyết ‘1984’

Hôm qua, tôi xem cuốn phim “First, they killed my father” do Angelina Jolie đạo diễn. Cuốn phim, sản xuất năm 2017, mô tả thảm cảnh của một gia đình trung lưu ở Pnom Penh sau 1975 khi Khmer Đỏ chiếm Cambodia. Trong phim, có một chữ được nhắc đi nhắc lại nhiều lần là ‘Angkar‘, có nghĩa là Tổ Chức, nhưng có người dịch là ‘Anh Cả’. Khái niệm ‘Anh Cả’ làm tôi nhớ đến cuốn tiểu thuyết “1984” của văn hào George Orwell.

Đối với nhiều người Việt Nam, đặc biệt là ở miền Nam, sẽ thấy cuốn phim “First, they killed my father” rất cuốn hút, vì nhiều người có thể tìm thấy mình qua những hình ảnh và nhân vật trong phim. Cuộc sống yên ấm của một gia đình trở thành đảo lộn sau khi Khmer Đỏ tiến vào ‘giải phóng’. Những gì xảy ra sau đó như tịch thu tài sản, tù cải tạo tập trung, tra tấn, giết chóc, v.v. làm cho người ta nhớ lại một thời kinh hoàng. Có những chi tiết nhỏ những đầy ý nghĩa như một cán bộ Khmer Đỏ đòi tước lấy cái đồng hồ của một người dân, vì Anh Cả cần cái đồng hồ đó, hay như chi tiết về một cựu viên chức giả vờ không biết tiếng Pháp để đóng vai người nông dân nhằm thoát bàn tay tử thần của đám cán bộ đang lăm le giết người. Thế nhưng cuối cùng thì anh ta cũng bị giết trong lúc cải tạo. Xuyên suốt cuốn phim, nhân vật vô hình “Anh Cả” được nhắc đi nhắc lại. Anh Cả biết hết. Anh Cả theo dõi mọi người. Anh Cả vĩ đại. Anh Cả bao dung và độ lượng. Nhưng trong thực tế, Anh Cả là kẻ giết người vô hình. Vô hình là vì không ai biết Anh Cả là ai. Đó chính là viễn ảnh của một xã hội được mô tả trong tiểu thuyết 1984.

May be an image of 5 people, child, people standing and outdoors
Một hình ảnh trong phim “First, they killed my father” do Angelina Jolie đạo diễn. Đây là những du kích nhí trong đội quân Khmer Đỏ. Tuy “nhí” như vậy, nhưng họ có khả năng giết người không gớm tay. Hình từ Phnom Penh Post 

1984 là một trong hai cuốn tiểu thuyết (cuốn kia là ‘Animal Farm’) nổi tiếng nhứt của văn hào George Orwell được xuất bản vào năm 1949. Trong 1984, Orwell cảnh báo thế giới về một viễn ảnh chế độ toàn trị sẽ gieo rắc lên xã hội, như hạn chế quyền tự do con người, kiểm soát hành vi, thậm chí suy nghĩ của dân chúng.

Cảnh báo của Orwell thật ra đã thành hiện thực không chỉ ở các nước theo chế độ toàn trị, mà còn ngay tại những nước từng có thời tự xem là ‘Tự do & Dân chủ’ ngày nay. Khái niệm ‘Anh Cả’ / Big Brother / Angkar bàng bạc trong xã hội ngày nay. Nó không chỉ là những khẩu hiệu, biểu ngữ giăng trên đường phố, mà còn là những ‘Ứng dụng’ trong cái điện thoại động và máy tính cá nhân theo dõi từng bước đi, đếm từng hơi thở, và lắng nghe từng lời nói của chúng ta. Anh Cả ngày nay hiện diện mọi nơi.

Tóm tắt ‘1984’

Câu chuyện xảy ra trong nước Oceania vào năm 1984 (nên nhớ ông viết trước đó và chỉ xuất bản vào năm 1949). Oceania là một nước theo thể chế toàn trị (totalitarian). Ngoài Oceania, còn có 2 nhà nước toàn trị khác là EurasiaEastasia.

Tóm lược tiểu thuyết “1984” qua hình ảnh.

Oceania bị thống trị bởi một đảng gọi là Party. Party được sự lãnh đạo của một lãnh tụ ‘anh minh’ có danh xưng là Big Brother (Anh Cả). Anh Cả biến Party thành một tổ chức chuyên tẩy não dân chúng, đổi trắng thành đen, đổi đen thành trắng, làm cho người dân lẫn lộn không biết đâu là thực và đâu là giả. Mục tiêu của Party là làm cho người dân phải vâng lời lãnh tụ Big Brother một cách vô điều kiện.

Nhà nước Oceania bao gồm một số bộ có tên rất … khác. Bộ Sự Thật (Ministry of Truth), Bộ Hoà Bình (Ministry of Peace), Bộ Tình Thương (Ministry of Love) và Bộ Dồi Dào (Ministry of Plenty).

Những cái tên bộ hoàn toàn đi ngược lại ý nghĩa của nó. Chẳng hạn như Bộ Sự Thật chuyên trách tuyên truyền dối trá. Theo Bộ Sự Thật, 2 + 2 không phải là 4, mà là 5. Bộ Sự Thật kiểm soát tất cả báo chí, giải trí, và nghệ thuật. Trong nhà nước toàn trị, không có báo chí đối lập; tất cả phải phục vụ cho Party.

Bộ Hòa Bình chuyên trách chiến tranh, lúc nào cũng sẵn sàng gây chiến với nhà nước EurasiaEastasia. Bộ Tình Thương là bộ đáng sợ nhứt vì nó có chức năng như là Bộ Công An, chuyên trách đàn áp và tra tấn người dân. Bộ Dồi Dào có chức năng kiểm soát nền kinh tế tập trung, kiêm luôn phân phối thực phẩm và hàng hoá cho dân.

Cuốn tiểu thuyết xoay quanh 4 nhân vật: Winston Smith là một cán bộ cấp thấp, Julia là người yêu của Smith, O’Brien là giả lãnh tụ đảng đối lập, và Emmanuel Goldstein là Anh Cả. Ngoài ra, còn có nhân vật Charrington là chủ tiệm bán đồ cổ, và ông này là một người chỉ điểm, thành viên của Cảnh sát Tư tưởng.

Winston Smith là một cán bộ trong Bộ Sự Thật. Công việc của Winston là thay đổi các sự thật lịch sử sao cho phù hợp với đường lối và chánh sách của Party / Đảng. Dù làm công việc đó, nhưng Winston không thấy thoải mái vì sự gian dối của Đảng. Chẳng hạn như Đảng nói nước Oceania luôn là đồng minh của Eastasia trong cuộc chiến chống Eurasia, nhưng sự thật thì không phải vậy. Hay như Đảng cho rằng Emmanuel Goldstein (lãnh tụ của nhóm Brotherhood) là người nguy hiểm nhứt, là KTCủa Nhân Dân, nhưng Winston thấy không phải vậy.

Winston trú ngụ ở tầng 7 trong một toà nhà tồi tàn, hôi mùi cải bắp luộc, còn thang máy thì thường bị hư hỏng. Trớ trêu thay, toà nhà này được Đảng đặt tên là “Victory Mansion” (Biệt thự Thắng Lợi). Thật ra, cái tên ‘Thắng Lợi’ được dùng cho rất nhiều sản phẩm (như thuốc lá, rượu, bia, cà phê, v.v.) của nước Oceania.

Orwell mô tả Smith như là một công chức nghèo, uể oải với công việc và cuộc sống. Chiều về căn hộ, anh ta được ‘chào đón’ bằng những bài ca hay chương trình giải trí mang tính ‘cách mạng’ và tẻ nhạt. Còn cái màn hình thì hình như lúc nào cũng theo dõi mỗi bước đi và hành vi của anh. Còn ra ngoài nhà thì bất cứ anh đi đến nơi nào, Party đều theo dõi anh. Đi đường anh cũng thấy sự hiện diện của Party và lãnh tụ vĩ đại qua băng rôn và khẩu hiệu. Anh phải tỏ ra là một cán bộ trung thành với Party, về nếu không thì anh ta sẽ bị trừng phạt, thậm chí giết chết. Cảnh sát Tư tưởng lúc nào cũng có mặt để bảo đảm anh ta phải trung thành, mẫn cán với Party / Đảng.

Winston càng ngày càng thấy bất bình trước sự trấn áp và kiểm soát của Đảng. Đảng cấm không được suy nghĩ tự do, không có tình dục, và không có bất cứ diễn đạt mang tánh cá nhân. Do đó, anh ta bắt đầu không ưa đảng và viết nhựt kí. Nói cách khác, anh ta đang trở thành một Tội phạm Tư tưởng.

Winston thương thầm nhớ trộm một cô gái đồng nghiệp tên là Julia. Nhưng Winston sợ Julia là ‘gián điệp’ được cài cắm để theo dõi những kẻ Tội phạm Tư tưởng như anh ta. Một ngày kia, Winston nhận được thư của Julia với dòng chữ ‘I love you’ (em yêu anh), và thế là họ bí mật bắt đầu một mối quan hệ tình cảm. Càng yêu Julia chừng nào, Winston càng ghét Đảng chừng nấy.

Một hôm, Julia và Winston nhận được lời mời ghé thăm O’Brien, lãnh tụ của Đảng. Tuy Đảng mang danh là của giai cấp lao động, nhưng O’Brien sống trong xa hoa.  O’Brien cho biết rằng cũng như Winstin và Julia, ông rất ghét Đảng. Ông đang tham gia nhóm Brotherhood (Hội Ái Hữu) nhằm lật đổ Đảng. O’Brien mời Julia và Winston tham gia Hội Ái Hu và được tặng cuốn sách của Emmanuel Goldstein về tuyên ngôn của Hội.

Winston say sưa đọc cuốn sách cho Julia nghe trong một tiệm. Đột nhiên, lính xông vào tịct thu cuốn sách, và người báo lính bắt là chủ nhân của tiệm tên Charrington, ông này là thành viên của Cảnh sát Tư tưởng.

Winston được chở tối Bộ Tình Thương, và ở đó Winston lại gặp O’Brien. Lúc bấy giờ, Winston mới biết rằng O’Brien là một gián điệp của Đảng. O’Brien chỉ giả vờ là người của Hội Ái Hữu để gài bẫy Winston. Tại Bộ Tình Thương, đích thân O’Brien tra tấn và tẩy não Winston. Winston kháng cự, và thế là bị gởi đi giam cầm trong Phòng 101, nơi kinh khủng nhứt của Bộ Tình Thương dành cho những tù nhân sừng sỏ nhứt. Cách O’Brien tra tần ở Phòng 101 là buộc một lồng đầy chuột trên đầu của Winston, và để cho chuột gặm nhấm mặt của Winston. Cuối cùng thì Winston bị suy sụp và van xin O’Brien tha thứ cho mình, và hãy dùng hình thức tra tấn này cho Julia.

Winston được thả trong điều kiện sức khoẻ tinh thần bị suy sụp hoàn toàn. Ở ngoài tù, Winston gặp Julia nhưng không còn cảm tình gì với nàng. Ngược lại, Julia cũng bị suy sụp tinh thần và không còn yêu Winston nữa. Winston chấp nhận Đảng và học cách yêu thương lãnh tụ Anh Cả.

Phân tích ‘1984’

Nội dung câu chuyện tôi tóm tắt có lẽ không làm cho các bạn quan tâm, vì xem quá có vẻ quá … tầm thường. Có lẽ thế, nhưng ý nghĩa đằng sau nó thì không tầm thường chút nào, vì qua câu chuyện, văn hào đã phác hoạ một xã hội toàn trị có hình thù ra sao và vận hành như thế nào. Tác phẩm còn hàm chứa một thông điệp rất quan trọng mà George Orwell muốn gởi đến độc giả, đó là các chế độ toàn trị có khả năng gieo rắc nỗi kinh hoàng đến người dân. Đó cũng là một cảnh báo mà văn hào đưa ra từ những 80 năm trước.

Luận đề căn bản của 1984 là thế giới sẽ được chia thành 3 siêu nhà nước toàn trị: Oceania, tượng trưng cho chế độ Stalin; Eurasia tượng trưng cho chế độ Phát-xít; và Eastasia tượng trưng cho xã hội theo tư bản chủ nghĩa. Tuy Oceania tượng trưng cho xã hội Stalin, nhưng câu chuyện lại không lấy Moscow làm bối cảnh mà là London. Tuy nhiên, ngày nay thì chúng ta có thể thấy cái nhà nước Oceania hiện diện ở bất cứ nơi nào trên thế giới, dưới hình thức này hay hình thức khác.

Nước Oceania có ba thành phần: một nhóm nhỏ gọi là Nội Đảng (Inner Party), Ngoại Đảng (Outer Party) và nhóm lớn nhứt là Proles không nằm trong Đảng.  Nội Đảng bao gồm một nhóm nhỏ chóp bu của Đảng, có quyền điều hành và ra chánh sách. Ngoại Đảng là nhóm lớn hơn, bao gồm những cán bộ như Winston Smith, những kẻ bị tẩy não nặng nề và chỉ biết phục vụ cho Nội Đảng một cách vô điều kiện. Proles hay thường dân là nhóm lớn nhứt, ngoài Đảng, chẳng có quyền lực gì cả, và gần như vô nghĩa. Nhóm Probes này được quản lí bởi một lực lượng gọi là Cảnh sát Tư tưởng (Thought Police). Nhóm Proles chẳng có vai trò gì, và thường được Cảnh sát Tư tưởng cho chơi thể thao và những màn giải trí vớ vẩn khác để không chất vấn những gì Nội Đảng và Ngoại Đảng làm.

Mục tiêu tối hậu của Nhà nước Oceania là kiểm soát toàn bộ xã hội và kiểm soát suy nghĩ của người dân. Để thực hiện mục tiêu này, Oceania dựa vào 2 trụ cột chánh: dối trá & tẩy não, và đàn áp. Dối trá & tẩy não được thực hiện bởi Bộ Sự Thật. Đàn áp thì do Bộ Tình Thương phụ trách.

Bộ Sự Thật sáng chế ra một ngôn ngữ gọi là Newspeak. Trong thực tế, Newspeak là loại ngôn ngữ mới nhằm hạn chế tự do tư tưởng và xiển dương đường lối chủ trương của Đảng. Ngôn ngữ Newspeak thay thế tiếng Anh truyền thống. Newspeak không có những chữ mang tính phản kháng. Ngay cả suy nghĩ phản kháng cũng là bất hợp pháp, và suy nghĩ phản kháng trong tâm tưởng là một ‘tội phạm tư tưởng’ (thought crime). Tội phạm tư tưởng là loại tội phạm nặng nhứt trong nhà nước Oceania.

Trong Newspeak có một chương trình một cách nói gọi là ‘Doublethinking‘ (Suy Nghĩ Kép). Khẩu hiệu của Doublethinking và cũng là chủ trương của Oceania là:

  • Chiến tranh là hoà bình (War is Peace)
  • Tự do là nô lệ (Freedom is slavery)
  • Dốt nát là sức mạnh (Ignorance is strength)

Chiến tranh là hoà bình” có nghĩa là đặt quốc gia trong tình trạng chiến tranh thì người ta sẽ quên đi những bất công xã hội và thối nát của chế độ để chuẩn bị chiến tranh, và qua đó mà duy trì hoà bình trong nước. Điều này giải thích tại sao các nước toàn trị lúc nào cũng doạ công chúng rằng có một kẻ thù đang đe doạ đến sự tồn vong của chế độ (dù chẳng có đe doạ nào cả) để biện minh cho sự đàn áp của họ và làm cho dân chúng lúc nào cũng bị động, không có thì giờ suy nghĩ sâu xa.

T do là nô lệ” có nghĩa là tự do tuyệt đối sẽ dẫn đến một cuộc sống mà người ta chỉ theo đuổi những thú vui vật chất và nhục dục. Họ không thể nào suy nghĩ đến những vấn đề lớn hơn. Do đó, họ rất dễ trở thành nô lệ cho chế độ.

Dốt nát là sc mạnh” có thể hiểu rằng dốt nát là niềm vui. Khi người ta chạy theo niềm vui để thoả mãn nhu cầu cá nhân, người ta sẽ không quan tâm đến sự thật nữa. Sự dốt nát của họ là sức mạnh của nhà nước.

Doublethinking là một ‘vũ khí’ lợi hại của Đảng (Bộ Sự Thật). Với Doublethinking, người ta có thể tin vào 2 điều hoàn toàn đối nghịch nhau. Đó chính là lí do tại sao các chế độ toàn trị rất thích nói về tự do, dân chủ, hoà bình. Chế độ Oceania lúc nào cũng nói rằng tự do là quí báu, nhưng chính chế độ đó lại tước đoạt quyền tự do tư tưởng của người dân. Dân chủ là một khẩu hiệu rất phổ biến trong nước Oceania nhưng trong thực tế người dân không có quyền bầu cử. Còn hoà bình thì chỉ là khẩu hiệu, vì trong thực tế Oceania lúc nào cũng chuẩn bị chiến tranh chống các nhà nước khác.

Cho đến nay, chúng ta vẫn thấy nhan nhản những thủ thuật của Bộ Sự Thật trong tuyên truyền và tẩy não người dân. Vì nhà nước Oceania kiểm soát toàn bộ báo chí và hệ thống truyền thông, nên nó có thể nói bất cứ điều gì mà không quan tâm đến phản kháng. Nó nói 2 + 2 = 5 mà không ai dám nói khác. Nó đổi đen thành trắng, và trắng thành đen cũng chẳng ai nói khác được. Dần dần, theo thời gian những ‘tiêu chuẩn’ mới này thành chân lí và người dân phải chấp nhận.

Để kiểm soát tư tưởng và tẩy não dân, Đảng duy trì một hệ thống kiểm soát tư tưởng có tên là Thought Police (Cảnh sát Tư tưởng). Cảnh sát Tư tưởng có thể theo dõi công dân mỗi phút và biết họ suy nghĩ gì! Bất cứ ai trong nhà nước Oceania suy nghĩ khác với Đảng là bị bắt bỏ tù và tra tấn.

Nhà nước Oceania thích dùng những cách nói thậm xưng. Họ nói về những chiến thắng vang vội, và bất kẻ thù nào cũng bị đánh bại. Tiểu thuyết bắt đầu bằng nhà nước Oceania gây chiến với Eurasia và làm hoà với Eastasia. Nhưng sau đó thì Oceania đột nhiên làm hoà với Eurasia và gây hấn Eastasia. Cứ mỗi lần như thế, Oceania tuyên bố là chiến thắng. Họ khắc cái ‘chiến thắng’ đó bằng cách đặt tên cho các sản phẩm là ‘Thắng lợi’ / Victory. Người dân tưởng đó là thật và cũng tự hào và ảo tưởng về sức mạnh của Nhà nước Oceania.

Nhà nước Oceania tuy bề mặt thì tỏ ra là một chánh quyền mạnh và vững chãi, nhưng trong thâm tâm họ rất yếu. Họ rất sợ dân. Họ nhìn đâu cũng thấy kẻ thù và ai cũng đáng nghi ngờ. Đó chính là lí do họ có đội quân Cảnh sát Tư tưởng. Một trong những cụm từ họ hay dùng là ‘Kẻ Thù Của Nhân Dân‘. Trong ‘1984’, Orwell mô tả các thành viên của Ngoại Đảng cứ mỗi lần họp họ dành ra 2 phút để làm Nghi lễ Thù Ghét chống lại Emmanuel Goldstein, người được xem là ‘Kẻ thù của Nhân dân‘. Tuy nhiên, cái nhãn đó chỉ được dựng lên làm biểu tượng nhằm đánh lạc hướng người dân từ một kẻ thù lớn hơn là Anh Cả!

Cái mô hình Oceania dĩ nhiên là có mặt trong thế giới XHCN cũ. Ở Đức, sau khi thống nhất đất nước, người ta mới biết cơ quan mật vụ khét tiếng Stasi đã theo dõi người dân như thế nào. Họ dùng những người thân như cha mẹ, vợ chồng, bạn bè, đồng nghiệp làm điềm chỉ viên cho họ. Các điềm chỉ viên báo cáo rất chi tiết về người họ theo dõi, như gặp ai, nói chuyện về gì, suy nghĩ ra sao, thậm chí … ngủ với ai!

Ngày nay, cái ngôn ngữ Newspeak cũng hay thấy ở những nước chuyển sang XHCN. Ở Tàu, sau cuộc ‘cách mạng’, chế độ mới thay đổi các cách nói và ngữ vựng cũ bằng những cách nói xa lạ và những từ ngữ khó hiểu. Họ cố tình tẩy não sao cho dân chúng phải đoạn tuyệt với ngôn ngữ của cha ông để lại và làm quen với một thứ ngôn ngữ mới. Ngôn ngữ Newspeak cũng có những chữ như tự do, dân chủ, hoà bình, v.v. nhưng ý nghĩa thật thì hoàn toàn ngược lại, y như Doublethinking.

Trong cái nhìn của Orwell, không phải chỉ xã hội chủ nghĩa sẽ thất bại, nhưng một xã hội hiện đại (như ngày nay) và xã hội dân chủ đại chúng cũng sẽ thất bại. Trong xã hội ngày nay, những kẻ cai trị đã có trong tay những kĩ thuật và công nghệ để duy trì quyền lực và kiểm soát dân chúng. Trong xã hội Oceania, người dân tin vào những gì kẻ cai trị (Anh Cả) vì họ không thể nào nói lên những bất đồng chánh kiến, hoặc họ bị tẩy não và không nghĩ ra được một cách diễn giải khác. Có lẽ ý tưởng chánh của Orwell trong 1984 là những kẻ cai trị có khả năng ngăn chận những suy nghĩ độc lập của người dân.

Lời cảnh báo đó vẫn còn tính thời sự. Dù đã gần 80 năm xuất bản, những khái niệm như Newspeak, Doublethink, Anh Cả, Tội phạm Tư tưởng, Cảnh sát Tư tưởng, v.v. vẫn còn liên quan. Ngay cả người dân ở Mĩ, Úc, Anh trong thời dịch bệnh có lẽ đều tìm thấy nhiều sự trùng hợp lạ lùng với những gì mô tả trong 1984. Chính vì thế mà mà ‘1984’ được xem là một kiệt tác, vì mức độ ảnh hưởng của nó xuyên thời gian.

___

[1] George Orwell tên thật là Eric Arthur Blair sanh năm 1903 và qua đời năm 1950, tức chỉ thọ 46 tuổi. Ông chết vì bệnh lao phổi. Ông xuất thân là một nhà báo và nhà phê bình, nhưng lại biết đến như là một nhà văn. Ông mô tả gia đình ông thuộc giai cấp trung lưu, thân phụ là công chức làm việc ở Ấn Độ (nơi ông sanh ra) và thân mẫu xuất thân từ một gia đình doanh nhân gốc Pháp. Sau một thời gian sống ở Ấn Độ, ông theo thân mẫu về Anh, nơi ông được gởi đi học tại những trường danh tiếng như Sussex và Eton. Ngay từ thuở đó cậu bé George đã biểu hiện một tư chất thông minh nhưng thụ động. Aldous Huxley là một trong những người thầy của Orwell. Tuy nhiên, ông không thích môi trường học đường. Sau trường học, ông làm cảnh sát một thời gian, nhưng ông cũng không thích nghề cảnh sát. Thật ra, ông lúc nào cũng cảm thấy xấu hổ vì đã làm cảnh sát. Sau khi bỏ nghề cảnh sát, ông lang thang ở London và Paris và sống trong một khu tồi tàn, chung nhà với những người ăn xin. Ở Paris ông làm nghề rửa chén trong nhà hàng. Có lẽ chính vì thế mà ông rất ghét chủ nghĩa đế quốc. Ông tự xem mình là một người xã hội chủ nghĩa, thậm chí là người cộng sản. Nhưng trớ trêu thay, hai tác phẩm Animal Farm và 1984 của ông lại là những cảnh báo về một viễn cảnh chế độ Nazi và Stalin áp đặt lên xã hội loài người.

Những nguỵ biện trong mùa dịch

Mùa dịch này có quá nhiều ‘disinformation’ và ‘misinformation’ về covid và vaccine. Hiện tượng này xảy ra ở hai phía chống vaccine và phù vaccine. Trong cái note này tôi điểm qua vài nguỵ biện (fallacy) phổ biến: một chiều, nhị phân, cá trích đỏ, ignorance, ad hominem, và ecologic.  

1.  Nguỵ biện 1 chiều

Mấy ngày nay, báo chí và cả quan chức y tế đưa tin rằng nhiều ca tử vong liên quan đến covid là những người đã tiêm đủ 2 liều vaccine. Nhiều người dựa vào đó mà suy luận rằng vaccine không có hiệu quả. Vì, theo lí luận của họ, nếu vaccine có hiệu quả thì tại sao nhiều người tiêm vaccine mà vẫn chết? Suy ra, không cần tiêm vaccine.

Nhưng đó là một nguỵ biện một chiều. Nguỵ biện này có tên tiếng Anh là ‘slant argument’ hay ‘one-sidedness’. Tức là, người ta chỉ chung cấp thông tin một chiều, và ở đây là số tử vong ở những người đã tiêm vaccine, mà không cung cấp thông tin ở những người chưa tiêm vaccine.

Thử tưởng tượng một địa phương đã tiêm chủng cho 100% dân số. Nếu sau đó vài tháng nhà chức trách y tế đếm số ca tử vong, và thấy tất cả những ca tử vong là những người đã tiêm vaccine. Thông tin đó có đáng ngạc nhiên không? Dĩ nhiên là không.

Tương tự, thử tưởng tượng một thành phố với 95% dân số đã được tiêm vaccine. Và, nếu cứ 100 người qua đời, có 25 người đã từng được tiêm vaccine, thông tin đó có đáng ngạc nhiên không? Câu trả lời cũng là không, vì thông tin đó cho thấy có hiệu quả. Bởi nếu vaccine KHÔNG có hiệu quả thì chúng ta kì vọng 95 những ca tử vong xảy ra ở người đã tiêm vaccine; nhưng ở đây con số thực tế chỉ 25, tức là thấp hơn nhiều so với số kì vọng, và đó là một minh chứng rất mạnh cho thấy vaccine quả thật có hiệu quả.

Rất đơn giản. Tôi không hiểu tại sao báo chí và các vị giới chức y tế không giải thích cho bà con hiểu, mà phải loay hoay biện minh?

2. Nguỵ biện nhị phân

Có ý kiến cho rằng vaccine không thể ngăn ngừa một người khỏi bị nhiễm và lan truyền virus; do đó, tiêm hay không tiêm thì cũng bị nhiễm thôi, vậy tại sao tôi phải tiêm vaccine?

Đây là nguỵ biện dạng nhị phân (dichotomy). Nguỵ biện nhị phân xem một sự việc chỉ có 2 mặt: có hoặc không, 1 hoặc 0. Hiệu quả của vaccine (và bất cứ can thiệp y khoa nào) không phải được đo lường bằng thang giá trị nhị phân kiểu có/không hay 1/0, mà bằng một thang điểm xác suất.

Thuốc warfarin chống đột quị, nhưng không có nghĩa là tất cả những người dùng thuốc đó sẽ không bị đột quị, mà chỉ có nghĩa là người dùng thuốc có xác suất bị đột quị thấp hơn những người không dùng thuốc. Người ta vẫn dùng warfarin trong điều trị bệnh nhân.

Tương tự, vaccine không ngăn chận 100% sự lây nhiễm, nhưng có thể giảm xác suất lây nhiễm chừng 70-95%. Do đó, phát biểu rằng “vaccine không ngăn chận lây nhiễm” là sai về bản chất, và dùng cái sai đó để nói rằng không cần tiêm vaccine ngừa covid là một nguỵ biện vậy.

3. Nguỵ biện dựa vào khiếm khuyết kiến thức

Một trong những ý kiến thường được nêu lên nhằm nghi ngờ hiệu quả của vaccine là biến chứng lâu dài. Nhiều người nói rằng chúng ta không biết gì về các biến chứng lâu dài của vaccine, và do đó không nên tiêm vaccine. Đây là một biện minh khá mạnh và tưởng như thuyết phục, nhưng lại là một nguỵ biện dưới dạng ‘appeal to ignorance‘.

Loại nguỵ biện này khai thác sự khiếm khuyết về kiến thức mà bỏ qua kiến thức đã biết. Ở đây chúng ta biết rằng vaccine có hiệu quả vì đã qua thử nghiệm. Chúng ta cũng biết rằng chất liệu của vaccine sẽ bài tiết nhanh chóng khỏi cơ thể (chớ không tồn tại trong cơ thể lâu dài) thì việc khai thác vào những cái chưa biết là một nguỵ biện vậy.

Loại nguỵ biện này cũng hay được dùng để bác bỏ vaccine mRNA. Không ít người cho rằng công nghệ để tạo ra vaccine mRNA là quá mới và mức độ an toàn chưa được minh chứng. Thật ra, công nghệ mRNA không mới, vì nghiên cứu đã bắt đầu từ đầu thập niên 1990, tức hơn 30 năm trước. Ngoài ra, vaccine mRNA đã được sử dụng cho MERS và SARS trước đây và cho đến nay chưa thấy có báo cáo nào cho rằng vaccine không an toàn.

4. Tấn công cá nhân (ad hominem)

Mới đây, có thông tin cho rằng một trong những người tham gia vào công trình nghiên cứu vaccine AstraZeneca làm việc cho viện nghiên cứu Galton, và viện này có liên quan với chủ nghĩa ưu sinh (eugenetics). Hàm ý của phát biểu này là người làm ra vaccine có ý đồ phục vụ cho chánh sách ưu sinh, nhưng đây là một nguỵ biện. 

Ai cũng biết Francis Galton và nhiều nhà khoa học thời Victoria theo đuổi chủ nghĩa ưu sinh. Ngày nay, không ai chấp nhận chủ nghĩa này vì nó dẫn đến phân biệt chủng tộc và giai cấp xã hội. Nếu một nhà khoa học làm việc cho Viện Galton ngày nay hoàn toàn không có nghĩa là người đó theo chủ nghĩa ưu sinh. Ngoài ra, cho dù người đó có cảm tình với chủ nghĩa ưu sinh thì cũng chẳng có dính dáng gì đến hiệu quả của vaccine. Thay vì bàn về hiệu quả vaccine, người ngụy biện quay sang tấn công cá nhân. Loại nguỵ biện tấn công cá nhân này rất phổ biến, và tuy nó thô thiển, nhưng có khi thuyết phục được vài người nhẹ dạ và bác bỏ vaccine.

5. Luận điệu cá trích đỏ (“red herring”)

Khi chương trình tiêm chủng vaccine covid mới bắt đầu có lời đồn rằng một website nào đó công bố nghiên cứu cho thấy vaccine gây vô sinh, và thông này đã được rút khỏi website. Vì lời đồn này mà có khá nhiều phụ nữ ngần ngại tiêm vaccine covid. Nhưng đây là một loại nguỵ biện có tên là ‘red herring’.

Nguỵ biện cá trích đỏ này tung ra một thông tin tưởng như có liên quan, nhưng thật ra là làm xao lãng người đọc. Các ‘bò đỏ’ thường hay dùng để tấn công bất cứ ai phê bình Nhà nước kiểu “nếu không sống được ở Việt Nam thì cút ra nước ngoài mà sống“. Tương tự, trong trường hợp vaccine, người ta dựa vào tin đồn rằng thông tin đã bị rút xuống để hàm ý cho rằng vaccine có hại, nhưng thật ra vấn đề ở đây là việc rút thông tin xuống chẳng có liên quan gì đến mối liên quan [không có thật] giữa vaccine và vô sinh.

6. Nguỵ biện ‘ecologic fallacy’

Cách đây không lâu, một phó giáo sư về kĩ thuật trình bày con số ca nhiễm và tử vong trong MỘT NGÀY, rồi tính tỉ lệ trên 1 triệu dân số cho 3 nước Miên (dùng vaccine Tàu), Do Thái (dùng vaccine mRNA) và Anh (dùng vaccine AstraZeneca). Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm và tử vong 1 ngày ở:

  • Miên: 49 trên 1 triệu dân;
  • Do Thái: 800 / triệu dân;
  • Anh: 457 / triệu dân.

và kết luận rằng vaccine Tàu có hiệu quả cao hơn vaccine Tây.

Có rất nhiều sai lầm trong cách phân tích và kết luận trên, nhưng cái sai lầm hiển nhiên nhứt là nguỵ biện ‘ecologic fallacy‘. Đây là loại nguỵ biện khá phổ biến trong nghị luận (và cả trong nghiên cứu khoa học). Nguỵ biện này dùng mối tương quan tính trên số trung bình giữa các địa phương để suy luận về nguyên nhân và hậu quả. Con số tỉ lệ tử vong trên 1 triệu dân là số trung bình. Số trung bình chỉ phản ảnh bề nổi của câu chuyện, bởi vì đằng sau nó là những đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân mà con số đó không thể nào phản ảnh hết. Thành ra, dựa vào nó để suy luận nhân – quả như thế là rất sai.

Chẳng hạn như trước đây có một phân tích về mối tương quan giữa tiêu thụ chocolate và giải Nobel, mà trong đó tác giả ước tính lượng chocolate tiêu thụ trên đầu người và số giải thưởng Nobel trên 1 triệu dân số cho hơn 20 quốc gia. Kết quả cho thấy nước nào có lượng tiêu thụ chocolate càng cao thì số giải Nobel càng nhiều, rồi suy ra rằng chocolate là yếu tố giúp tăng giải Nobel! Cái sai lầm căn bản ở đây là đơn vị phân tích là một quần thể, trong khi giải Nobel là cho cá nhân. Đáng lí ra tác giả nên phân tích lượng chocolate ở những người được trao giải Nobel và so sánh với những người [có cùng đặc tính] nhưng không được trao giải Nobel thì mới thuyết phục.

Do đó, so sánh con số tỉ lệ nhiễm hay tử vong giữa 3 nước mà nói vaccine có hay không có hiệu quả là một sai lầm rất căn bản. Sai lầm ở đây là dùng con số trung bình của các quần thể để suy luận cho các cá nhân.

Loại nguỵ biện này mới được sử dụng để nói rằng vì Do Thái tiêm liều vaccine thứ 3 nên số ca tử vong tăng vọt theo thời gian!  

***

Phong trào chống vaccine không phải là xu hướng mới, vì nó đã hiện diện ở các nước phương Tây từ 135 năm trước. Thời đó, người ta tung ra những thông tin mang tính tuyên truyền rằng tiêm chủng vaccine là một chương trình nhằm hạn chế sanh sản ở người thuộc thành phần lao động. Người ta còn tuyên truyền rằng vaccine gây ra những bệnh như autism! Ông bác sĩ tung tin đó sau này đã bị tước bằng hành nghề. Nói chung, phong trào chống vaccine tận dụng’tuyên truyền’, mà đã là ‘tuyên truyền’ thì mục tiêu lúc nào cũng là bất lương.

Phong trào chống vaccine ở Việt Nam chỉ là một phiên bản nhỏ và mới đây. Họ lặp lại bài vở tuyên truyền ở các nước phương Tây mà thôi, chớ không sáng chế ra cái gì mới. Do đó, nhận dạng ra những nguỵ biện và nghịch lí trong suy luận giúp công chúng phân biệt đâu là tuyên truyền và đâu là sự thật. Vaccine có hiệu hiệu lực giảm nguy cơ nhiễm và tử vong ngoài cộng đồng, và đó là sự thật. Vaccine không phải là ‘viên đạn bạc’ để chống nhiễm covid hay ngăn ngừa tử vong, và đó cũng là sự thật. Tôi từng nói và xin nhắc lại rằng tiêm chủng vaccine tuy đem lại lợi ích nhỏ cho một cá nhân, nhưng khi nhiều người đi tiêm vaccine thì đem lại lợi ích rất lớn cho cộng đồng. Tiêm vaccine là một đóng góp cho cộng đồng [1].

___

[1] https://vnexpress.net/ban-tay-cua-vaccine-4210371.html