Tin mừng: giải thưởng AFOS 2022

Nhựt kí mạng hôm nay ghi lại một tin vui về labo nghiên cứu của tôi. Số là 3 thành viên trong labo mới được trao giải thưởng về nghiên cứu loãng xương.

Hôm nay (23/1/2022) là ngày bế mạc Hội nghị khoa học của Liên hiệp hội loãng xương Châu Á – Thái Bình Dương (AFOS 2022). Nhóm của tôi được trao 2 giải nhứt:

  • giải nhứt cho báo cáo miệng (oral presentation) cho Ts Trần Sơn Thạch (labo bên Úc);
  • giải nhứt cho báo cáo poster trap cho Tommy Nguyen (labo Việt Nam, ĐH Tôn Đức Thắng);
  • và một giải “runner-up” poster được trao cho Bs Nguyễn Thái Hoà (Việt Nam; Bệnh viện Đại học Y Dược Cần Thơ).

Bài của Bs Thạch giới thiệu khái niệm “Skeletal Age” mà tôi có dịp bàn đến trước đây. Bài của Tommy là so sánh cơ cấu xương đùi (hip bone structure) giữa người Việt và người Âu châu da trắng. Bài của Bs Hoà (đang là nghiên cứu sinh ở trong nước) là về gãy xương cột sống thắt lưng không triệu chứng (asymptomatic vertebral fracture).

Ba giải còn lại là 1 giải cho nhà nghiên cứu trẻ (Young Investigator Award) và 2 giải runner-up cho báo cáo miệng và báo cáo poster thì được trao cho các nhà nghiên cứu thuộc nhóm khác.

Chúc mừng đội nhà năm nay đã xuất sắc trong việc ‘đem chuông đi đấm xứ người’! Cả hai giải nhứt đều được trao cho chúng ta, và đó là một vinh dự. Các bạn đã giữ thơm cho quê mẹ. I am really proud of you all! Congratulations to you all.  

Hẹn 2 năm nữa ở Đài Loan!  

_____

Ghi thêm: AFOS là một liên hiệp các hội loãng xương Châu Á. Hội loãng xương TPHCM là một thành viên. AFOS có một tập san chuyên ngành gọi là ‘Osteoporosis and Sarcopenia‘ (O&S). Cứ mỗi 2 năm, AFOS tổ chức hội nghị khoa học. Lần trước (2019) hội nghị diễn ra ở Manila, Phi Luật Tân (và tôi từng có cái note ‘một thoáng Manila’). Mấy năm gần đây đại dịch làm rối loạn lịch trình, nên mãi đến 1/2022 mới tổ chức được và cũng chỉ online, chớ không như truyền thống. Đáng lí ra năm nay tôi đi Singapore và sẵn dịp về Việt Nam ăn Tết, nhưng dịch Vũ Hán làm thay đổi tất cả.

Tuy online, nhưng chương trình hội nghị rất phong phú. Có khá nhiều khách mời nổi tiếng từ nhiều nơi trên thế giới đến giảng. Những bài giảng tập trung vào những vấn đề hiện nay trong chuyên ngành, như thiếu điều trị và vấn đề chẩn đoán thái quá, loãng xương ở trẻ em, vai trò của HRT, fracture liaison service, loãng xương và sarcopenia (teo cơ), v.v.

Chứng chỉ cho báo cáo mời
Tôi đóng góp 2 bài trong hội nghị. Trong bài giảng khai mạc tôi nói về 5 thách thức về loãng xương ở châu Á – Thái Bình Dương. Trong bài giảng về reproducibility (tái lập) cho tập san Osteoporosis and Sarcopenia tôi nói về những biện pháp chúng tôi sẽ áp dụng để nâng cao tính tái lập trong các công bố khoa học.
May be an image of 5 people and text that says 'P PowerPoint Slide Show [AFOS2022-NGOC-HUYNH] PowerPoint Fracture ascertainment JSEHU .Fractures ascertained: •radiology centers in Dubbo area .fracture circumstances demterminded by personal interview HuyNguyen Genotyping •Blood samples collected from 498 men and 809 women for genetic analysis •Denoted restriction site as GG, GT, and TT ÛHoang'
Tập dượt (rehearsal) cho các nghiên cứu sinh trước khi ‘đem chuông đi đánh xứ người’. Mỗi em phải trình bày báo cáo như thiệt, mọi người khác theo dõi cách trình bày, cách thiết kế slide, cách nói, và đếm số phút. Sau đó sẽ có góp ý. Nhiều em mới vào lab thì thấy căng thẳng, nhưng riết rồi quen và trưởng thành theo năm tháng. Đây là hình rehearsal cho một em mới từ Việt Nam qua.

“Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”

Hầu như bất cứ ai trong chúng ta đều nghe qua câu thơ bất hủ đó của Nguyễn Du. Nhưng câu thơ đó còn hàm ý một thông điệp rất quan trọng trong cuộc sống: đừng phán xét. Khi bạn phán xét người khác, thì hành vi đó phản ảnh cái tâm của bạn hơn là người khác (“Judging others says more about you than the other person).

‘Nhất thiết duy tâm tạo’

Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ“. Đó là hai câu thơ trác tuyệt của Nguyễn Du tả nỗi buồn của Kiều lúc bị mụ Tú Bà giam cầm ở lầu Ngưng Bích. Từ lầu Ngưng Bích nhìn ra cảnh xa xa rất đẹp, nào là Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân‘, Cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia‘, thế nhưng nàng Kiều vẫn buồn. Buồn vì lúc đó nàng cô đơn và ở một nơi rất xa lạ. Trong lòng buồn bã như thế thì cảnh chung quanh không còn đẹp hay vui nữa.

Tâm ảnh hưởng đến cái nhìn của chúng ta, và điều này rất đúng. Khi tâm chúng ta phơi phới thì nhìn đâu cũng thấy vui vẻ, nhìn sự việc gì dù bi đát ra sao chúng ta cũng thấy lạc quan. Nhưng khi tâm chúng ta đen tối hay khi năng lượng thấp thì rất khó thấy cái hay, cái đẹp của người khác, và nhìn đâu cũng toàn là một màu xám xịt. Đúng như câu “Nhất thiết duy tâm tạo“, có nghĩa là mọi sự việc, mọi thiện ác và lành dữ đều do tâm mà ra.

Người phương Tây có câu We don’t see things as they are, we see them as we are“. Câu này cũng có nghĩa giống giống với (nhưng kém thâm thuý bằng) câu “Nhất thiết duy tâm tạo“, có nghĩa là chúng ta không nhìn sự vật như chúng đang là, mà chúng ta nhìn sự vật như chúng ta đang là. Nói cụ thể hơn, cách chúng ta nhìn sự vật phản ảnh cái tâm của chúng ta, hay nói lên chúng ta là ai.

Nếu chúng ta nhiền vấn đề là một gánh nặng thì cũng có nghĩa là chúng ta là người tiêu cực, nhưng nếu chúng ta nhìn vấn đề như là một cách để cải thiện cá nhân thì chúng ta là người tích cực. Điều này cũng có nghĩa là những khó khăn đến với chúng ta không phải là từ ngoại cảnh, mà từ chính chúng ta.

Tâm nghi ngờ

Người với cái tâm tiêu cực thường không tin tưởng ai. Họ có thói quen hay nghi ngờ người khác. Tôi có quen một người như thế, hầu như bất cứ ai — kể cả thân phụ anh ta và khôi nguyên giải Nobel — anh ấy đều đánh giá thấp! Khi đồng nghiệp được một phần thưởng, anh ấy quay sang nói về những lần thất bại của đồng nghiệp.

Hiểu về trái tim : nghệ thuật sống hạnh phúc by Minh Niệm

Trong cuốn “Hiểu về trái tim“, phần viết về “Nghi ngờ“, tác giả Minh Niệm lí giải rất thuyết phục (trang 155):

Dường như ta đang cố gắng phanh phui những điểm yếu hay những vụng về lầm lỡ của người kia để ta tránh xa hoặc cổ vũ người khác tẩy chay họ, chứ không phải để hiểu và thương họ hơn.

Phần lớn, những nghi ngờ của ta đều nhắm vào mục đích thỏa mãn bản ngã, dù có khi ta nhân danh tập thể hay cộng đồng nào đó. Vậy có khi nào nhân danh đạo đức, hay tình nhân ái mà ta chú ý đến những cái hay cái đẹp để ca ngợi, còn những biểu hiện khả nghi kia ta vẫn im lặng quan sát và tìm cách giúp đỡ không?

Tại sao ta không giữ thái độ tôn trọng người ấy dù ta đang có nghi ngờ về họ? Tại sao ta không tự hỏi do người ấy rất đáng để ta nghi ngờ hay tại ta mắc bệnh nghi ngờ quá nặng? Tại sao ta không dám đứng ra xin lỗi khi phát hiện ra mình đã nghi oan? Cho nên nghi ngờ thường chỉ làm cho ta yếu đuối và hèn nhát hơn mà thôi.

Ta không hề biết rằng mỗi khi phát sinh ý niệm nghi ngờ kẻ khác, dù họ có xấu hay không, thì trong tâm ta đã taọ ra một nguồn năng lượng rất độc hại. Nó vừa đốt sạch năng lượng trong lành trong ta, vừa khiến ta đánh mất cơ hội tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm.

Bởi vì lúc nào ta cũng bận tâm tìm kiếm thêm chứng cớ. Dù ta chưa thốt ra lời nói hay hành động nào để thể hiện sự nghi ngờ, nhưng một khi đã hướng tâm đến người kia để gởi sự nghi ngờ tức là ta đã gởi đi một năng lượng xấu.

Theo ‘qui luật cân bằng cảm xúc’ thì họ sẽ tìm cách trả lại ta một cảm xúc xấu khác tương ứng, nếu họ nhận ra sự nghi ngờ của chúng ta có tính chất xấu. Còn không, vũ trụ sẽ nhờ đối tượng khác trả lại ta một cảm xúc xấu khác.

Tệ hại nhứt là ta đã lỡ nghi oan cho một bậc nhân từ, đức hạnh — nơi qui tụ vô số năng lượng an lành của vũ trụ — thì hậu quả sẽ khôn lường. Đó là món nợ cảm xúc khổng lồ, ta và con cháu ta nhiều đời mới trả hết. Cho nên, đừng bao giờ dễ dãi buông ra sự nghi ngờ. Hãy tập ‘tự hối tâm’ hoặc bày tỏ sự ăn năn trực tiếp khi phát hiện ra mình đã lỡ nghi oan cho ai đó để hoá giải phần nào hậu quả.

Phán xét và câu chuyện nồi cơm Nhan Hồi

Chuyện kể rằng Nhan Hồi (một đồ đệ của Khổng Tử) nấu cơm,  và Khổng Tử thấy Nhan Hồi mở nắp nồi rồi lấy đũa bới cơm và đưa vào miệng ăn. Thấy vậy, Khổng Tử thất vọng trước người đệ tử xuất sắc và than rằng “Chao ôi! Trò yêu của ta lẽ nào lại ăn vụng thầy, vụng bạn thế sao? Còn đâu lễ nghĩa, đạo lí? Bao kỳ vọng đặt vào nó thế là đổ sông, đổ biển cả rồi!” Sau đó, để thử lòng Nhan Hồi, Khổng Tử đề nghị xới một chén cơm để cúng cha mẹ ông. Các đệ tử đều ok, ngoại trừ Nhan Hồi im lặng. Khi được hỏi tại sao, Nhan Hồi thưa rằng:

Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạchkhi cơm chín con mở nắp nồi ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em … Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!

Nghe giải thích xong, Khổng Tử mới than rằng “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”

Nồi cơm của Khổng Tử
Nồi cơm của Nhan Hồi

Câu chuyện này rất nổi tiếng và được kể đi kể lại trong sách vở Phật giáo và tâm lí xã hội học. Bài học là ngay cả chính mắt mình thấy hay chính tai minh nghe mà vẫn có thể hiểu lầm, bởi sự việc ‘thấy vậy mà không phải vậy.’ Do đó, nếu chỉ nhìn sự việc bằng mắt hay nghe bằng tai mà không tìm hiểu thấu đáo và đặt trong bối cảnh thì con người chúng ta — cho dù là kẻ thông thái như Khổng Tử — vẫn mắc phải sai lầm. Bài học là đừng vội đưa ra phán xét dựa vào một vài dữ kiện có sẵn.

Người theo Phật thường được khuyên là hãy sử dụng chánh niệm và lòng từ bi của chúng ta để nhìn sự việc hay con người. Có nghĩa là hãy nhìn sự việc như nó đang hiện hữu hơn là đưa ra những lời phán xét.

“Tâm ý đã mệt nhoài

Thương ghét mãi chưa nguôi

Dừng nói năng phân biệt

Ta tìm về ta thôi”

(Minh Niệm)

_____

TB: Bài này tôi viết là để những ai đang chỉ trích Thầy Nhất Hạnh (và cả Thiền Am) nên nhìn lại mình. Hãy thay đổi mình trước rồi mới thay đổi hay phán xét người ta. Họ chỉ trích người khác nhưng cách họ chỉ trích nói cho chúng ta biết về họ hơn là nạn nhân của họ.

Có khá nhiều bạn [có thể nói là] hùa theo vài người khác cho rằng Thầy Nhất Hạnh phát biểu rằng “lính Mĩ dội bom giết chết 300,000 người ở Thị xã Bến Tre”. Thật ra, ông không nói như vậy; ông nói rằng (nguyên văn):

“…One time I learned that the city of Ben Tre, A CITY OF THREE HUNDRED THOUSAND PEOPLE, was bombarded by American aviation just because some guerillas came to the city and tried to shoot down American aircrafts.” (Tạm dịch: Có lần tôi được biết rằng ở Thị xã Bến Tre, một thị xã 300,000 dân, bị không quân Mĩ dội bom chỉ vì có vài du kích xâm nhập vào thị xã tìm cách bắn máy bay Mĩ).

Như các bạn thấy, Thầy Nhất Hạnh không nói là lính Mĩ giết 300 ngàn dân Bến Tre. Tuy nhiên, ông sai ở con số, vì Bến Tre lúc đó là thị xã chỉ chừng 70-80 ngàn dân. Nhưng cái sai sót đó có quan trọng không? Theo tôi là không, vì con số đó không phải là chứng cớ cho cái thông điệp ông muốn nói (là dội bom cả thị xã chỉ vì có vài du kích xâm nhập).

Thích Nhất Hạnh (1926 – 2022) và thông điệp sống

Thông tin từ Làng Mai cho biết Thiền sư Thích Nhất Hạnh mới qua đời lúc 0 giờ ngày 22/1/2022 ở Việt Nam [1]. Ông thọ 95 tuổi. Việt Nam đã mất một người con ưu tú, và Phật giáo thế giới đã mất một trong những danh nhân ưu tú nhứt. Ông hơn là một thiền sư, mà còn là giảng sư, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà hoạt động vì hoà bình thế giới.

May be an image of 1 person
Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Ông được xem là nhà lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn thứ 2 ở phương Tây, chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma. Ông là tác giả của hơn 100 cuốn sách xuất bản từ trước 1975 cho đến nay. Vào hiệu sách nào ở phương Tây đều có 2 tủ sách, một dành cho ông và một dành cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Một số cuốn sách nổi tiếng mà tôi còn giữa như Đường xưa mây trắng Phật trong ta, Chúa trong ta, v.v.

Thích Nhất Hạnh tên thật là Nguyễn Xuân Bảo, sanh ngày 11/10/1926 ở Thừa Thiên, Huế. Thời niên thiếu, ông đã được tiếp xúc với sách vở và tư liệu Phật giáo, nên năm 16 tuổi ông quyết định xuất gia tại chùa Từ Hiếu (Huế) và được hòa thượng Thanh Quý Châu Thật đặt pháp danh là Trừng Quang và pháp hiệu là Nhất Hạnh. Qua nhiều năm học hành và tu tập, ông chánh thức trở thành nhà sư năm 23 tuổi. Ông theo phái tu Đại Thừa.

Thiền sư Nhất Hạnh là một thành viên quan trọng trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (không phải giáo hội ngày nay mà người ta hay đùa là ‘giáo hội quốc doanh’) trước 1975 ở miền Nam. Tuy nhiên, Phật giáo thời đó có 2 ‘trường phái’ không thuận nhau: trường phái Ấn Quang do Thích Trí Quang và Thích Nhất Hạnh lãnh đạo, và trường phái Việt Nam Quốc Tự do hoà thượng Thích Tâm Châu lãnh đạo. Theo đánh giá của chánh quyền VNCH, phái Ấn Quang thiên về cánh tả và ủng hộ Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, còn phái Việt Nam Quốc Tự thì ôn hoà.

Thiền sư Nhất Hạnh là một trong những thành viên sáng lập Viện Đại học Vạn Hạnh vào năm 1964. (Hai sáng lập viên khác là học giả Hồ Hữu Tường và Đoàn Viết Hoạt, cả hai đều đi tù sau 1975). Vạn Hạnh là một viện đại học tư thục Phật Giáo đầu tiên ở Việt Nam, và dưới sự điều hành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Ban giảng huấn Viện Đại học Vạn Hạnh bao gồm nhiều học giả nổi tiếng như Thích Tuệ Sỹ, Thích Trí Siêu (tức thầy Lê Mạnh Thát) và Thích nữ Trí Hải. Tuy nhiên, sau 1975 thì Viện Đại học Vạn Hạnh bị nhà cầm quyền mới giải thể, và cả hai thầy Tuệ Sỹ và Trí Siêu bị nhà cầm quyền mới kêu án tử hình.

Cuộc đời của thiền sư Thích Nhất Hạnh có thể nói là khá … sóng gió. Ông là người đề xướng trường phái “Engaged Buddhism” (Phật giáo Dấn thân). Ông từng tuyên bố “Khi bom dội lên đầu chúng sinh, bạn không thể ngồi trong thiền viện. Thiền là nhận thức về những gì đang xảy ra, không chỉ bên trong mà còn xung quanh cơ thể và cảm xúc của bạn“. Do đó, theo ông, người theo Phật không chỉ tu thân, mà còn phải hành động vì một mục tiêu hay một chủ trương. Dấn thân do đó bao gồm những việc làm như nhận trẻ mồ côi để nuôi, làm thiện nguyện, thậm chí nhập ngũ, hay nói chung là ‘nhập thể’. Nhập thể là đi tu không phải chỉ giới hạn trong chùa, trong thiền am, mà phải ra ngoài xã hội là tác động.

Cả đời của ông có thể nói là hành động theo trường phái dấn thân đó. Ngay từ thập niên 1960, ông đã lập trường Thanh niên Phụng sự Xã hội ở Sài Gòn, qui tụ hơn 10,000 thanh niên và sinh viên. Thanh niên Phụng sự thực chất là một tổ chức xã hội dân sự nhằm cứu trợ trẻ mồ côi trong chiến tranh. Ông cho biết triết lí đằng sau của Thanh niên Phụng sự là: “Phật giáo phải gắn liền với cuộc sống thường nhật, với nỗi đau của bạn và những người xung quanh. Bạn phải học cách giúp đỡ một đứa trẻ bị thương trong lúc duy trì hơi thở chánh niệm. Bạn phải giữ cho bản thân khỏi lạc lối trong hành động. Hành động phải đi cùng thiền”.

Một trong những dấn thân của ông gây ra nhiều tranh cãi là chống chiến tranh. Ngay từ giữa thập niên 1960 ông đã kêu gọi “Đã tới lúc hai miền Nam – Bắc của Việt Nam họp lại để tìm ra một giải pháp để chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam, để mọi người Việt Nam đều được sống trong hòa bình và lòng tôn trọng lẫn nhau”. Nhưng dĩ nhiên, lời kêu gọi của ông chỉ được một bên nghe, còn một bên thì xem ông là … phản động. Thiền sư Nhất Hạnh là bạn của Martin Luther King và từng kêu gọi ông chống chiến tranh Việt Nam, tìm biện pháp hòa bình và tự do. Ông từng được đề cử giải thưởng Nobel Hoà Bình vào năm 1967.

Trong thập niên 1960s, ông đi thuyết trình hoà bình ở nhiều nơi ngoài Việt nam, kể cả Đại học Columbia (nơi ông tốt nghiệp thạc sĩ). Ông kêu gọi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Những hành động dấn thân của ông không được chánh quyền VNCH ‘mặn mà’. Hầu như những người lính VNCH mà tôi quen biết không ai đồng tình với ‘tư tưởng phản chiến’ và vài phát biểu không đúng với sự thật của Thầy — và điều này cũng không khó hiểu. Do đó, từ sau Hoà đàm Paris 1973, ông không được quay về Việt Nam.

Không về được Việt Nam, ông sáng lập cộng đồng Phật giáo Sweet Potato (Khoai Lang) gần Paris vào năm 1975. Năm 1982, thì cộng đồng dời về vùng Dordogne thuộc tây nam nước Pháp và xây dựng nên Tu viện Làng Mai (Đạo tràng Mai Thôn) cho đến ngày nay. Ở đây (Làng Mai) ông tổ chức nhiều ‘workshop’ tu hành cho các nhà lãnh đạo chánh trị, doanh nghiệp, chuyên gia, trí thức phương Tây và trở nên một địa chỉ nối tiếng trên thế giới. Ông có rất nhiều đệ tử từ Làng Mai.

May be a black-and-white image of 1 person and indoor
Thiền sư Thích Nhất Hạnh ở Paris (Pháp) năm 1975

Sau nhiều lần ‘thương thảo’, mãi đến năm 2005, ông mới được nhà cầm quyền cho về Việt Nam. Trong chuyến đi đó, có hàng trăm tăng ni người Việt và người nước ngoài tháp tùng. Sau đó, ông còn có dịp về Việt Nam để tổ chức các khóa tu, giảng dạy, và diễn giả trong đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc năm 2008.

Năm 2008 xảy ra vụ đàn áp các tăng thân Làng Mai ở Thiền viện Bát Nhã (Bảo Lộc) là một tín hiệu cho thấy nhà cầm quyền không mặn mà với Thầy. Nhà cầm quyền và GHPGVN cáo buộc rằng các khóa tu không có phép của GHPGVN, số người tới tu tập quá đông mà không đăng kí tạm trú gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Nhà cầm quyền địa phương theo yêu cầu của TT Đức Nghi cắt nguồn điện để các môn sinh bị khó khăn trong sinh hoạt. Nhưng các tăng ni Làng Mai vẫn tiếp tục ở lại, và từ đó dẫn đến mâu thuẫn giữa phật tử Bát Nhã với những người tu theo pháp môn Làng Mai tại đây. Họ tổ chức những nhóm người gây áp lực buộc những người tu theo pháp môn Làng Mai ra khỏi tu viện. Họ có những hành động và hành vi rất bỉ ổi, rất bạo động, nhưng công an không can thiệp giải tán các nhóm này. Chẳng hạn như họ quăng đá, ném phân súc vật vào tu viện. Họ còn tổ chức thành đám đông đến tấn công khu tu viện, dùng búa đập phá và hăm dọa những người trong đó. Trước sự đàn áp dã man đó, thầy Nhất Hạnh viết thư cho Chủ tịch Nước lúc đó là Nguyễn Minh Triết yêu cầu can thiệp, nhưng tất cả đều vô không có hồi âm. Đó là tín hiệu rõ nhứt cho thấy Làng Mai không được chào đón ở Việt Nam.

Năm 2014, thiền sư Thích Nhất Hạnh bị đột quị và phải điều trị ở Làng Mai (Thái Lan). Dù vậy, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động Phật gíao. Năm 2018, thiền sư Nhất Hạnh về lại Việt Nam và ở chùa Từ Hiếu (nơi ông là một lãnh đạo tinh thần), với ước nguyện “lá rụng về cội”. Ông viên tịch tại Từ Hiếu 0 giờ ngày 22/1/2022.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã tạ thế, nhưng những di sản tinh thần của ông thì sẽ còn ở lại với đời rất lâu. Mỗi chúng ta có thể không có cùng quan điểm với ông về cuộc chiến vừa qua, nhưng tôi nghĩ ai cũng đồng ý rằng ông là một người Việt Nam xuất sắc và đã để lại dấu ấn Việt Nam rất sâu đậm trên trường quốc tế. Xin nhắc lại rằng ông là nhân vật Phật giáo có ảnh hưởng lớn nhứt trên thế giới (chỉ sau Đức Đạt Lai Lạt Ma).

May be an image of 1 person and text that says '"Cũng như một người làm vườn biết cách dùng phân bón để cho ra những bông hoa tươi đẹp, người tu tập biết tận dụng nổi đau khổ để tạo ro hạnh phúc." Thiền sư Thích Nhất Hạnh lístsach.com com fb.com/listsach'

Ông để lại cho đời rất nhiều câu nói mang tính wisdom. Chẳng hạn như “Khi một người nào đó làm cho bạn đau khổ, bạn nên hiểu rằng chính người đó bị khổ đau lắm trong người và nỗi khổ đó lan tràn sang người khác. Không nên phạt người đó; nên giúp người đó.” Hay câu “Our own life has to be our message” (cuộc đời của chúng ta phải là một thông điệp của chúng ta). Thông điệp từ cuộc đời và sự nghiệp của ông là đấu tranh ôn hoà, hoà bình, hoà giải và hoà hợp.

Nhiều ý tưởng của ông sẽ còn khai thác trong tương lai. Riêng cá nhân tôi, nhắc đến ông là tôi nghĩ ngay đến bài “Bông hồng cài áo“. Đó là một đoản văn viết về mẹ rất hay, và sau này được phổ thành một ca khúc rất nổi tiếng.

Tôi chưa bao giờ tu tập với ông, nhưng lúc nào cũng xem ông như một người Thầy (viết hoa). Những câu nói của ông là kim chỉ nam cho cuộc sống mà tôi lựa chọn. Cầu mong hương hồn thầy Thích Nhất Hạnh siêu thoát nơi cõi vĩnh hằng.

____

[1] https://plumvillage.org

Một số câu nói nổi tiếng của Thiền sư Thích Nhất Hạnh:

50 Inspiring Thich Nhat Hanh Quotes on Love, Mindfulness, and Peace
Nghĩ bi quan hay lạc quan là quá đơn giản hoá sự thật. Vấn đề là nhìn thực tại như nó hiện hữu.
Sydne Style rounds up the best quotes about living in the present by thich  nhat hanh | Sydne Style
Cuộc sống có thể tìm thấy trong thời điểm hiện tại. Quá khứ đã qua, tương lai thì chưa tới, và nếu chúng ta không tự tìm hiểu thời điểm hiện tại thì chúng ta không thể tiếp xúc với cuộc sống.

Viếng mộ Bs Alexandre Yersin

Đúng ngày này của 5 năm trước (2017) tôi đến ĐH Nha Trang làm một workshop về nghiên cứu khoa học. Hôm đó, tôi và một học viên trong workshop đi viếng mộ Bs Alexandre Yersin, và như là thói quen tôi ghi lại “tâm tư” về khu mộ và vài cảm nghĩ về một nhà khoa học lừng danh.

Alexandre Yersin là một nhà khoa học khiêm tốn nhưng lừng danh thế giới. Ông là người đầu tiên trên thế giới phát hiện tác nhân gây bệnh dịch hạch, mà sau này được định danh là Yersinia. Từ phát hiện này, ông bào chế huyết thanh để kháng dịch một cách hiệu quả. Nói theo ngôn ngữ khoa học này nay, ông làm nghiên cứu từ cơ bản lâm sàng đến “translation”, và rất ư là innovative. Ông đã làm một tấm gương sáng cho nghiên cứu khoa học đời sau: làm nghiên cứu phải có ứng dụng thực tế.

Ông qua đời tại Nha Trang vào năm 1943, thọ 80 tuổi. Trong lời di chúc, ông viết:

Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu, yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang và những người cộng sự lâu năm. Đám tang làm giản dị, không huy hoàng, không điếu văn”.

Vẫn theo di chúc, ông muốn được chôn nằm sấp, đầu quay về biển để ông được ôm mảnh đất quê hương.

Người dân địa phương xem ông là một Bồ Tát. Lúc sống cũng như lúc chết, ông là một người khiêm tốn. Sống không màn lợi danh, mà chỉ lo phụng sự đời. Ông sống giữa làng chài, sống chan hoà với người địa phương và họ gọi ông một cách trìu mến là “Ông Năm” (vì người vợ Việt của ông thứ năm). Chết thì chọn nơi an nghỉ rất bình thường, không lăng tẩm rình rang. Thật vậy, phần mộ của Bs Yersin nằm khiêm tốn trong trang trại thuộc Viện Pasteur do ông sáng lập để nuôi ngựa lấy huyết thanh dùng cho y khoa.

Từ Quốc Lộ I có một bảng chỉ dẫn nhỏ vào mộ phần của Bs Yersin. Từ Nha Trang đến đây chừng 30 phút lái xe Honda.
Cổng vào mộ phần im lìm. Phải gọi điện cho người phụ trách mới mở được cổng. Hình như khu này là do Viện Pasteur quản lí.
Bên trái cổng vào mộ là một nhà tạm bợ, chẳng biết làm gì, nhưng hình như có người ở.

Ngôi mộ ông nằm ở Suối Dầu, Diên Khánh, cách Nha Trang chỉ 20 km. Tuy chỉ 20 km nhưng mất đến 30 phút xe Honda. Từ con đường cáhnh đi vào mộ chỉ khoảng 1 km, nhưng phải qua một cái cổng im lìm. Một bên đường là ruộng mía, một bên là cây rừng. Đường vào là đường đất, nên tôi nghĩ mùa mưa chắc là lầy lội lắm. Tôi nghĩ tỉnh Khánh Hoà có thể làm tốt hơn, chứ đường vào mộ phần của một người có công lớn với đất nước và thế giới mà như hiện nay thì … vô ơn quá.

Đường vào mộ hai bên là đồng mía. Tôi đoán mùa mưa ở đây chắc lầy lội lắm.
Nhà chở ngoài mộ phần của Bs Yersin. Nhà tương đối khang trang nhưng trống trơn, chẳng có gì trong đó.
Cổng vào mộ Bs Yersin.

Toàn cảnh khu mộ có vẻ mới được tôn tạo. Phía ngoài mộ là một nhà chờ, nhưng chẳng có gì trong đó. Từ nhà chờ vào mộ là một con đường ngắn xây theo nấc thang, rất mát mẻ, và rất yên ắng. Mộ là một tấm bê tông có khắc tên ông. Phía đầu mộ là một tấm bia bằng tiếng Việt và tiếng Pháp ghi lại những công trạng của ông. Bên trái mộ là một đền thờ nhỏ để người viếng mộ thắp nhang cho ông.

Mộ của Bs Alexandre Yersin.
Tấm bia ghi công trạng của Bs Yersin. Chi tiết không đầy đủ và chữ viết không tốt. Không có bản tiếng Anh.
Bàn thờ Bs Yersin để khách đế thắp nhang. Ông được người địa phương xem là Bồ Tát. Rất đơn sơ. Hôm đó chẳng biết ai mời ổng hút thuốc lá :).

Tôi và hai người bạn Nha Trang thắp cho ông vài nén nhang. Chúng tôi ngồi đó khoảng nửa giờ ôn chuyện đời và sự nghiệp của ông, về những đóng góp của ông cho VN và thế giới. Có nhiều câu chuyện về Yersin trong cuốn nhật kí của ông mà tôi chưa tìm ra.

Sở dĩ tôi muốn viếng mộ Bs Yersin là vì trước đây có vài tin tức về việc trùng tu mộ phần của ông không mấy hay ho. Đã có thời sau 1975 người ta xem ông là “thằng Tây thực dân”!

Chuyện kể rằng khi Tổng thống Pháp Francois Mitterrand vào thập niên 1990 (?) đi thăm chánh thức VN ông yêu cầu đi thăm mộ Yersin. Thế là trong Bộ Ngoại giao ngoài Bắc người ta nhốn nháo tìm hiểu xem “thằng Tây thực dân” này là thằng nào ai mà ông ấy muốn đến thăm. Rồi người ta tìm hiểu và sáng ra. Người ta ra lệnh trong một thời gian ngắn phải trùng tu ngôi mộ, kể cả xây con đường đá, cho ngài Tổng thống đếm thăm. Thế đấy, nhiều danh nhân VN đều bị trải qua một thời đánh giá mông muội và một thời hoàn trả sự thật.

Tôi nghĩ Nhà nước VN có thể làm tốt hơn nữa trong việc tôn tạo khu mộ này thành một điểm tham quan cho du khách. Chẳng hạn như cái “nhà chờ” có thể trưng bày các hiện vật và thành tựu của ông bằng ảnh hay bằng virtual video. Chẳng hạn như làm thêm một tấm bia khác bằng tiếng Anh và làm cho thật tốt, đầy đủ chi tiết quan trọng (chứ tấm bia hiện nay thì quá cẩu thả). Viết bằng tiếng Pháp thì chẳng có bao nhiêu du khách quốc tế đọc được; nên thêm phiên bản viết bằng tiếng Anh. Chẳng hạn như xây lại hai bên đường lên mộ bằng những hình ảnh hay những lá thư ông gửi về cho mẹ ở Thuỵ Sĩ. Những việc làm như thế chẳng tốn kém bao nhiêu, nhưng nói lên cái nghĩa cử đẹp của người Việt dành cho một vị Bồ Tát.

TB: Nói xa không qua nói gần, cái note này gián tiếp nhắc các bạn nộp hồ sơ cho Giải thưởng “Alexandre Yersin for outstanding medical publications”. Hạn chót nộp hồ sơ (rất đơn giản) là ngày 30/4/2022.

Giải thưởng “Alexandre Yersin for outstanding medical publications” do Hội Y khoa Thuỵ Sĩ – Việt Nam khởi xướng. Chi tiết tại đây: https://nguyenvantuan.info/alexandre-yersin-prize

Bạn màu gì?

Mấy hôm nay tôi đọc cuốn sách rất hay, có tựa đề là “Surrounded by idiots” (bao quanh bởi những kẻ ngốc) của Thomas Erikson. Theo tác giả, cá tánh của chúng ta có thể chia thành 4 nhóm với 4 màu tượng trưng: đỏ, xanh, xanh lá cây, và vàng.

SURROUNDED BY IDIOTS: The Four Types of Human Behavior and How to  Effectively Communicate with Each in Business (and in Life) : ERIKSON,  THOMAS: Amazon.com.au: Books

Người Đỏ: nổi trội

Họ là những người có cá tánh mạnh, và có phong cách làm việc của họ ‘làm ngay’. Đó là những người suy nghĩ nhanh, ý chí mạnh, năng lượng tràn trề, chấp nhận rủi ro, và nhắm tới mục đích. Họ thích kiểm soát người khác. Họ năng nổ, xông xáo, và trực diện. Họ không thích lí luận dong dài, và hay thiếu kiên nhẫn (làm gì là phải có kết quả ngay). Khung thời gian của họ là ngày nay, họ không nghĩ về lâu dài.

Người Xanh: phân tích  

Vì thiên về phân tích nên đây là những người suy nghĩ sâu, và có phong cách ‘làm cho đúng.’ Họ là người thích phân tích, chú ý đến chi tiết, và làm việc theo phương pháp. Họ có vẻ lạnh lùng nhưng lại rất tập trung vào phương pháp và làm gì cũng có hệ thống. Họ đòi hỏi bằng chứng trong mọi quyết định. Họ là những kẻ cầu toàn (perfectionist), họ không chịu nổi với những gì chung chung, mù mờ, và vô chứng cớ. Họ đi đến kết luận riêng và ít khi nào theo đám đông. Khung thời gian của họ là về lâu dài, không hẳn là hôm nay.

Người Xanh lá cây: ổn định

Họ là những người thoải mái và có phong cách làm việc của họ là ‘làm với sự quan tâm.’ Đây là nhóm người kiên nhẫn, dễ thân thiện, và dễ làm bạn với mọi người. Họ có thể tỏ ra cảm tính, chậm trong suy nghĩ, và tôn trọng nguyên tắc dân chủ. Họ là những người thấu cảm và dễ đồng ý với. Họ không thích bị xô đẩy, hay bị gây áp lực. Khung thời gian của họ là hiện tại.

Người Vàng: gây cảm hứng

Họ là những người có phản ứng nhanh, và có phong cách làm việc của họ là ‘hãy cùng nhau làm.’ Vàng là linh hồn của đám đông. Họ xuềnh xoàng, thích giao tiếp xã hội, thích thể hiện, rất giàu trí tưởng tượng và nhiệt tình. Họ lúc nào cũng lạc quan, suy nghĩ rất nhanh, nhìn xa trông rộng và có khi hão huyền. Họ không thích chi tiết và lí thuyết. Họ muốn ý kiến của họ được mọi người lắng nghe. Khung thời gian của họ là tương lai.

Bạn màu gì?

Dựa vào những mô tả ngắn gọn trên đây, bạn thử tự đánh giá xem mình màu gì? Có thể bạn không thuộc một màu cụ thể nào, vì cá tánh của bạn có thể là giao thoa giữa 2 hay hơn 2 màu. Theo tác giả Thomas Erikson, khoảng 80% dân số có 2 màu hoà trộn với nhau. Chỉ có 5% có 1 màu duy nhứt. Phần còn lại (15%) có 3 màu hỗn hợp.

Chúng ta thử áp dụng các đặc điểm trên để xếp nhóm của các vị thuộc nhóm người của công chúng. Trong Chánh phủ Việt Nam hiện nay, tôi nghĩông Phạm Minh Chính có lẽ là típ người Đỏ. Ông năng nổ, xông xáo, đi đây đó kiểm tra công việc, ông mất kiên nhẫn với mấy người nhìn giấy đọc và ông thẳng thắng phê bình. Rõ ràng, ông là người có cá tánh mạnh và nổi trội. Do đó, tôi xếp ông vào nhóm Đỏ.

Một người khác trong Chánh phủ cũng rất thú vị và nổi là ông Nguyễn Mạnh Hùng. Ông là người rất nhiệt tình trong các phát biểu, nói năng lưu loát, lạc quan, và có thể nói là khá quyến rũ. Ông cũng tỏ ra là người tưởng tượng, lúc nào cũng đưa ra những viễn kiến làm cho công chúng ngỡ ngàng (ví dụ như ông nói Việt Nam sẽ đi đầu công nghệ 6G). Do đó, tôi thấy ông là người thuộc nhóm Vàng.

Một người khác cũng rất đáng chú ý là ông Vương Đình Huệ. Ông là người có học cao, nhưng ít phát biểu trước công chúng, hay khi phát biểu thì có vẻ chừng mực, điềm tĩnh. Tôi nghĩ ông có thể xếp vào nhóm người Xanh và Xanh Lá Cây.

Ông Chủ tịch Nước Nguyễn Xuân Phúc cũng có lẽ là người thuộc 2 nhóm Vàng và Xanh Lá Cây. Tại sao? Tại vì ông là người thoải mái, dễ mến, lạc quan, nhiệt tình, cởi mở, hay thích nói và có khi đưa ra những tầm nhìn về tương lai.

Biết hay đoán được cá tánh của người mình tiếp xúc giúp cho chúng ta tối ưu hoá mối liên hệ. Chẳng hạn như nếu biết người mình sắp làm việc là người Xanh thì phải chuẩn bị dữ liệu, chứng cớ và tập trung vào phương pháp. Nếu gặp người Vàng như ông NMHùng thì hãy tạm dẹp qua chi tiết vì loại người này chỉ quan tâm đến viễn kiến, đến truyền cảm hứng; cũng đừng bi quan trước họ vì họ là người lạc quan; và hãy để cho họ nói (vì họ thích nói). Nếu người mình sắp nói chuyện là Phạm Minh Chính thì bạn nên tạm bỏ qua lí thuyết mà hãy tập trung vào giải pháp và giải pháp cho ngày hôm nay, không phải ngày mai; cũng đừng xớ rớ tìm giấy đọc vì ông sẽ mắng ngay dù ông có lẽ không để bụng.

Tóm lại, theo tác giả Thomas Erikson thì cá tánh chúng ta có thể xếp thành 4 nhóm mà tôi tạm định danh là nổi trội (Đỏ), phân tích (Xanh), ổn định (Xanh Lá Cây) và cảm hứng (Vàng). Sau khi đọc cuốn sách này, tôi thấy mình như mở mắt ra và giúp mình thích ứng tốt hơn với xã hội.

Những cái mốc thời gian về Thiền Am

Thông tin liên quan đến Thiền An rất lẫn lộn, nhưng có một điều chắc chắn là không thể dựa vào thông tin từ báo chí của Nhà nước. Dưới đây là những cái mốc thời gian dẫn đến sự kiện vài ngày qua. Ngoài ra, tôi cũng sưu tầm những thông tin độc lập về Thiền Am từ các trạm truyền thông xã hội được xem là đàng hoàng.

Ông Lê Tùng Vân

Theo nhiều nguồn, ông sanh năm 1932 ở Tân Châu, An Giang, trong một gia đình nề nếp. Thân phụ ông là Lê Văn Tất vốn là một nhà giáo [1]. Ông còn làm thơ và lấy bút danh là Thần Liên, cũng là bạn thân của Hàn Mặc Tử. Ông đậu bằng thanh chung tức Cao Đẳng tiểu học thời pháp thuộc. Theo nhà báo Lê Đại Anh Kiệt, ông Tất “theo đạo phật thiền lâm dòng lâm tế thần liên cũng là pháp danh của ông, cả đời ông dành trọn thi ca, sống khiêm cung ẩn dật.”

Ông Lê Tùng Vân

Tân Châu là cái nôi của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, có thể xem như một nhánh của Phật giáo. Ông Lê Tùng Vân là người theo đạo Bửu Sơn Kỳ Hương, và từng có thời gian làm Tỉnh hội trưởng Tỉnh hội Bửu Sơn Kỳ Hương. Ông là người ham học và có tâm tốt. Ông tốt nghiệp cử nhân năm 60 tuổi. Theo một nguồn tin khác, ông rất thích nhạc Trịnh Công Sơn. Ông không có vợ, không có con, nhưng ông nhận nuôi nhiều trẻ mồ côi mà sau này mang họ ông.

1990

Năm 1990 ông Lê Tùng Vân dời lên Hóc Môn, Sài Gòn sống. Ông thành lập trung tâm dưỡng lão, cô nhi Thánh Đức. Ở đây, ông và vài người nữa nhận nuôi dưỡng cho 56 người, trong đó có 22 người dưới 16 tuổi, và 9 người trên 55 tuổi. Đây là những người hoặc là mồ côi, hoặc cơ nhỡ. Một số trẻ mồ côi là do trung tâm SOS (của Nhà nước) chuyển qua nhờ ông nuôi.

Những trẻ trong nhà được học hành bình thường. Một số sau này học thành tài và rời trung tâm đi làm và lập gia đình. Một trong những người đó là em Lê Thanh Minh Tú (trên giấy tờ ghi ông Lê Tùng Vân là cha) [2], nay là một cán bộ Đoàn và kĩ thuật viên cho một công ti viễn thông. Một số thì sau khi học xong lại phụ giúp ông Vân nuôi trẻ.

2007

Mặc dù hoạt động trong một thời gian dài, nhưng trung tâm Thánh Đức lúc nào cũng gặp khó khăn từ nhà cầm quyền. Họ viện dẫn những lí do như người cư trú trong đó không có đăng kí hộ khẩu, như phòng ốc không đạt tiêu chuẩn, như điều kiện vệ sinh không đáp ứng tiêu chuẩn nào đó, v.v. Báo chí nhà nước thì có những bài viết xách mé về Thánh Đức dù họ không tìm ra một sai phạm nào.

Ngày 25/7/2007, nhà cầm quyền huyện Bình Chánh bắt buộc đóng cửa trung tâm Thánh Đức. Nhưng trước đó, đã xảy ra một vụ hoả hoạn ở trung tâm, làm tiêu huỷ tất cả hồ sơ giấy tờ của trẻ em trong trại. Công an thì cho rằng vụ hoả hoạn là do đốt nhang và chập điện, nhưng những người trong Thánh Đức thì không đồng ý với nhận định đó. Nguyên nhân cháy vẫn là một dấu hỏi, và không loại trừ có người cố tình đốt Thánh Đức.  

2014

Năm 2014, bà Cao Thị Cúc (huyện Cần Đước, Long An) mua một mảnh đất rộng khoảng 2000 mét vuông làm điểm tu tại gia. Năm 2015 bà Cúc cho ông Lê Tùng Vân tu sửa khu đất và thành lập Tịnh thất Bồng Lai, vẫn nuôi trẻ mồ côi và tu tại gia.

Năm 2014, trong chương trình “Giọng hát nhí”, một em bé 12 tuổi (cũng mồ côi) tên là Lê Thanh Huyền Trân từ Tịnh thất, trong trang phục áo nâu sòng, đi thi hát, và ca khúc em chọn là “Còn tuổi nào cho em” của Trịnh Công Sơn. Huyền Trân trở nên nổi tiếng.

The Voice Kids: Huyền Trân hát nhạc Trịnh cảm xúc sâu lắng
Lê Thanh Huyền Trân (12 tuổi) trong chương trình “The Voice Kids”
Huyền Trân trình bày xuất sắc ca khúc Còn tuổi nào cho em

2017

Năm 2017, hai thí sinh từ Tịnh thất là Lê Thanh Hoàn NguyênLê Thanh Nhất Nguyên (còn gọi là “sư thầy triệu view” vì kênh Youtube của họ có nhiều người xem và khen) tham gia chương trình ca nhạc trên Đài truyền hình Vĩnh Long, và họ cũng chọ nhạc Trịnh Công Sơn.

Tuy nhiên, vài quan chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam cho rằng họ “giả tu”. Sau đó, ban tổ chức chương trình đính chánh lại thông, và hai thí sinh đã rút khỏi chương trình.

2 thí sinh Nhất Nguyên, Hoàn Nguyên không phải nhà sư | Tin tức mới nhất  24h - Đọc Báo Lao Động online - Laodong.vn
Lê Thanh Hoàn Nguyên và Lê Thanh Nhất Nguyên (“sư thầy triệu view”)

2018

Ngưỡng mộ tài năng của Huyền Trân, Lê Thanh Hoàn Nguyên và Lê Thanh Nhất Nguyên, một nhà hảo tâm ở Úc muốn bảo trợ họ sang trình diễn ở Úc. Tuy nhiên, viên công an địa phương đòi tiền hối lộ (150 triệu mỗi người) thì mới làm giấy chứng minh nhân dân. Họ không có tiền. Chuyến đi Úc không thành.

Tháng 7/2018, 5 chú tiểu tuổi 3-4 của Tịnh thất (Pháp Tâm, Trí Tâm, Ngọc Tâm, Nghi Tâm,Minh Tâm) tham gia chương trình truyền hình “Thách thức danh hài”. Họ được trao giải thưởng cao nhất của chương trình, và xác lập kỷ lục Việt Nam công nhận là “Nhóm hài nhỏ tuổi nhất”. Kênh Youtube của 5 chú tiểu này có hơn 80 triệu view.

Hoàn cảnh đáng thương của 5 chú tiểu "ẵm" giải 100 triệu ở “Thách thức danh  hài” | Báo Dân trí
Hoàn cảnh đáng thương của 5 chú tiểu “ẵm” giải 100 triệu ở “Thách thức danh hài” (Nguồn: Dân Trí)

2019

Tháng 9/2019, Võ Thị Diễm My là bạn của Lê Thanh Huyền Trân ghé thăm Tịnh thất muốn tu hành. Tuy nhiên, Diễm My qui y ở một nơi khác.

Ngày 13/10/2019 ba má của Diễm My là Võ Văn ThắngĐoàn Thị Tuyết Mai cùng một nhóm người xuống Tịnh thất tìm con gái mình. Những kẻ này đập phá tài sản của Tịnh thất, và hành hung, gây thương tích 13% cho Lê Thanh Nhị Nguyên.

Mẹ đơn thân bất ngờ ném gạch vào người của Tịnh thất Bồng Lai và sự thật  phía sau
Lê Thanh Nhị Nguyên bị Châu Vinh Hóa (người của Võ Văn Thắng) ném đá nhọn gây thương tích 13%

Ngày 24/10/2019 và 26/10/2019, có thêm một nhóm khác từ Sài Gòn xuống Tịnh thất tìm Diễm My, và cũng đập phá, hành hung người của Tịnh thất. Lần này họ ăn trộm 305 triệu đồng của Tịnh thất.

Ngày 12/12/2019, công an mời bà Cao Thị Cúc, Diễm My và vợ chồng ông Võ Văn Thắng lên làm việc. Nhân dịp này, công an bắt cóc Diễm My, đưa lên xe cứu thương, và giao cho ông Thắng và bà Mai.

2020

Đầu năm 2020, tịnh thất này đổi tên là “Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ” (sẽ gọi tắt là “Thiền Am”).

Tháng 7/2020, một người giả vờ là nhà hảo tâm ghé Thiền Am để tặng quà. Sau này người đó khai là bị nhiễm Covid-19, và công an buộc tất cả 17 người trong Thiền Am đi cách li tập trung.

Lợi dụng cách li, công an đã lấy máu của 17 người và phân tích DNA. Việc lấy máu mà không được sự ưng thuận của nạn nhân là phi pháp và vi phạm quyền riêng tư rất nghiêm trọng. Kết quả phân tích vẫn chưa được công bố.

2021

Ngày 4/11/2021, sau nhiều lần livestream thoá mạ và vu cáo những người trong Thiền Am, bà Nguyễn Phương Hằng (vợ ông Dũng Lò Vôi) dẫn một nhóm người xuống Thiền Am để “thăm”. Có nhiều người hiếu kì và youtuber vay quanh trong khi Long An đang trong lúc đại dịch. Thiền Am không tiếp bà Hằng. Sau đó, bà tiếp tục livestream tấn công Thiền Am, nhưng nhà cầm quyền làm ngơ.

Ngày 5/11/2021, một viên chức Bộ Nội Vụ tên là Nguyễn Tiến Trọng cho rằng “Tịnh thất Bồng Lai có dấu hiệu lợi dụng tôn giáo để trục lợi.”

Ngày 9/12/2021, toà án địa phương xử bà Hoá 2 năm từ tro và bồi thường 8 triệu đồng. Bà Hoá là người tháp tùng Thắng và Mai vào năm 2019, và là thủ phạm tấn công gây thương tích nghiêm trọng cho Lê Thanh Nhị Nguyên.

2022

Ngày 4/1/2022, Sau khi khởi tố vụ án liên quan đến việc “lợi dụng tôn giáo để trục lợi từ thiện”, công an huyện Đức Hòa và Công an tỉnh Long An đã bao vây Thiền Am, cắt điện thoại, cắt internet của họ.

Ngày 5/1/2022, nhà cầm quyền địa phương khởi tố những cá nhân ở Thiền Am thêm hai tội danh: “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “loạn luân”.

Ngày 7/1/2022, báo chí Nhà nước đồng loạt loan báo rằng công an tỉnh Long An chính thức xác định đã khởi tố 4 người tại Tịnh thất Bồng Lai vì “lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức, cá nhân”. Không còn tội loạn luân và lợi dụng tôn giáo.

Bốn người đó là Lê Tùng Vân, Lê Thanh Hoàn Nguyên (32 tuổi), Lê Thanh Nhất Nguyên (31 tuổi) và Lê Thanh Trùng Dương (27 tuổi). Cho đến nay (12/1/2022) họ không được tiếp xúc luật sư.

Đọc thêm

Để tìm hiểu về Thiền Am một cách khách quan, tôi đi đến kết luận là không thể và không nên dựa vào nguồn báo của Nhà nước. Lí do đơn giản là loại ngôn ngữ họ sử dụng đầy tính thiên vị, một chiều, xách mé, có khi vô giáo dục.

Nguồn đáng tin cậy hơn là từ những người trong cuộc hay người am hiểu câu chuyện. Dưới đây là một số đường link có những thông tin độc lập và có chứng cứ khá rõ ràng:

[1] Về ông Lê Văn Tất, thân phụ ông Lê Tùng Vân:

[2] Fb của Lê Thanh Minh Tú, người con nuôi của ông Lê Tùng Vân.

https://www.facebook.com/hantuongtu.kubjn

Phỏng vấn Lê Thanh Minh Tú (từ phút 3:45)

[3] Bài viết về Tịnh thất Bồng Lai của Nhà báo Lê Đại Anh Kiệt

[4] Tóm tắt câu chuyện cề Thiền Am (Tịnh Thất Bồng Lai), có nhắc đến ông Thích Nhật Từ:

[5] Toàn bộ câu chuyện về Thiền Am:

[6] Trả lời những câu hỏi về Thiền Am từ Hương Xa (một youtuber):

[7] Ai là người đã hại Thiền Am?

Phút 3:00 “Thượng toạ Thích Nhật Từ có công rất lớn” vì ông kêu gọi Phật Tử kí vào đơn tố cáo tập thể Thiền Am.

Ai là người đi theo ông Thích Nhật Từ?

Phút 4:00

[8] Ông Thích Nhật Từ hợp tác cũng nhân vật Võ Văn Thắng (video của Diễm My, con ông Thắng)

[9] Video nói về ông Thích Nhật Từ

(từ phút 9:50)

[10] Video cho biết ông Thích Nhật Từ ‘đánh gậy’ cô Hương Xa:

[11] Video về ông Thích Nhật Từ ‘báo cáo’ cô Hương Xa:

[12] Thêm video về ông Thích Nhật Từ vu khống cô Hương Xa:

Một video khác của Hương Xa về ông Thích Nhật Từ liên quan đến những phát biểu của ông và đạo Công giáo và bình luận về tình dục:

[13] Clip về Võ Văn Thắng (ba đẻ Diễm My) nói mua chuộc công an để hại Thiền Am, mướn một thám tử tư 100 triệu đồng để hại Thiền Am, sau khi cho rằng không có loạn luân trong Thiền Am.

Phút 0:49 (chi tiền mua chuộc công an).  Phút 1:56 (“Cái sự thật là không có loạn luân”).  Phút 2:15 (“Dạ, hại Thiền Am 100 triệu thì em làm. Sẵn sàng dùng tiền để đánh gục Thiền Am”)

[14] Báo Sức khoẻ & Đời sống đưa tin sai ra sao?

https://www.youtube.com/watch?v=o_LowRo2eQA (từ phút 2:30)

Hội thảo về môi trường, công nghệ và sức khoẻ

Xin thông báo đến các bạn rằng ngày 13/1/2022 (ngày mốt) sẽ khai mạc một hội thảo thường niên về môi trường, năng lượng, công nghệ và sức khoẻ (gọi tắt là EIER) tại Hà Nội (qua zoom).

Đây là hội thảo EIER lần 3, và chủ đề lần này là “Sustainability for resilience, and resilience for sustainability” (chưa biết dịch sao). Hội thảo gồm có 7 bài báo cáo mời, 12 bài báo cáo khoa học, và phiên thảo luận mở. Cá nhân tôi đóng góp một bài về ảnh hưởng của mật độ dân số đối với dịch Covid-19 ở Việt Nam và trên thế giới.

Trong phiên thảo luận mở, tôi sẽ nói một bài về công bố khoa học. Chủ đề của bài này là làm thế nào để công bố nghiên cứu trên các tập san có ảnh hưởng cao (How to get published in high-impact journals). Bài của tôi sẽ diễn ra vào lúc 14:00 – 14:40 (giờ Việt Nam). Bạn nào quan tâm đến học PhD và công bố khoa học nên tham dự phiên thảo luận này. Hội thảo năm nay có sự tham gia của nhiều chuyên gia đến từ Việt Nam, Úc, Mĩ, Anh, và Ấn Độ. Có cả Giáo sư Dương Quang Trung, một ngôi sao sáng chói ở Queen’s University (Anh). Nhưng đặc biệt hơn hết là có sự tham gia biểu diễn văn nghệ của 2 nhạc sĩ lừng danh Tiến sĩ Nguyễn Lê Tuyên (ĐH Quốc gia Úc) và Giáo sư Salil Sachdev (Bridgewater State University, MA, Mĩ).

Chắc chắn sẽ là một hội thảo hào hứng.

Chi tiết báo cáo (abstracts), diễn giả, và chương trình hội thảo có thể xem qua ở đây:Kính mời các bạn quan tâm tham dự. Không cần ghi danh / đăng kí.

Ban tổ chức của ĐHQG Hà Nội sẽ rất hân hạnh chào đón các bạn.

_____

Đường link để tham dự (không cần đóng phí): https://us06web.zoom.us/j/85934391346 (passcode: 265954767).

Qui trình khoa học và kết án

Nghĩ lại tôi thấy qui trình nghiên cứu khoa học và kết án rất giống nhau. Nguyên lí căn bản là người bị tình nghi không có nhiệm vụ phải chứng minh mình vô tội, bởi vì họ vô tội cho đến khi nào bị kết tội.

Trong khoa học, để biết một loại thuốc có hiệu quả hay không, chúng ta phải ứng dụng qui trình kiểm định giả thuyết (test of hypothesis). Theo đó, chúng ta phải bắt đầu bằng giả thuyết rằng thuốc KHÔNG có hiệu quả (còn gọi là ‘giả thuyết vô hiệu’). Bước 2 là làm thí nghiệm để thu thập dữ liệu cho thật tốt. Bước 3 là phân tích dữ liệu, và tính toán xác suất dữ liệu xảy ra nếu giả thuyết vô hiệu đúng. Bước 4 là kết luận: nếu xác suất thấp thì bác bỏ giả thuyết vô hiệu, và tạm kết luận rằng thuốc có hiệu quả; nếu xác suất cao thì phải chấp nhận giả thuyết vô hiệu, tức thuốc không có hiệu quả.

Qui trình xử án tôi thấy cũng giống như qui trình kiểm định giả thuyết trong khoa học. Bước đầu, nhà chức trách phải giả định rằng bị cáo VÔ TỘI (giống như giả thuyết vô hiệu). Bước kế tiếp là công tố viên thu thập bằng chứng liên quan, kể cả làm xét nghiệm sinh hoá — nếu cần — để có thêm chứng cứ khách quan. Bước 3 là bồi thẩm đoàn / toà án xem xét và đánh giá bằng chứng: nếu bằng chứng nhứt quán với giả thuyết vô tội thì phải tuyên bố bị cáo vô tội; nếu bằng chứng nhứt quán với tội trạng thì toà tuyên án bị cáo có tội.

Như vậy qui trình kiểm định giả thuyết khoa học rất giống như qui trình kết án. Tuy nhiên có một khác biệt quan trọng: trong nghiên cứu khoa học, khi dữ liệu có xác suất dưới 1% hay 5% là có thể bác bỏ giả thuyết vô hiệu, còn trong tuyên án thì xác suất phải là 0, tức không thể nghi ngờ (beyond reasonable doubt).

Trong qui trình trên, giả thuyết vô hiệu (thuốc không có hiệu quả, bị cáo vô tội) phải được duy trì cho đến khi có kết luận. Bị cáo không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội (bởi vì họ vô tội cho đến khi kết án có tội — “innocent until proven guilty”. Việc chứng minh tội thuộc về công tố viên.

Vậy mà ở Việt Nam có xu hướng báo chí và dư luận thường buộc tội người ta dù toà chưa tuyên án. Có khi dư luận hùng hổ chỉ tay về phía người bị tình nghi là “ngươi phải chứng minh ngươi vô tội”! Thật là … kì cục! Một xã hội văn minh không thể hành xử như vậy được.

Tôi có nhiều bạn bè là nhà báo trong và ngoài nước. Các bạn nhà báo ngoài Việt Nam thì hành xử rất chuyên nghiệp, có lẽ vì họ có kinh nghiệm từ thời trước 1975 và tuân thủ theo luật pháp địa phương ở bên này. Các bạn ở trong nước cũng đều tử tế, họ hành xử theo các qui ước đạo đức của nghề báo. Nhưng tôi e ngại khi thấy vài nhà báo (thường trẻ tuổi) có vẻ quá ‘nhiệt tình’ và thiếu kiên nhẫn nên có những bài viết kết án người ta, và nhiều khi xâm phạm đến quyền riêng tư của người ta. Những thông tin về tên, nơi cư trú, bệnh lí, mối quan hệ, v.v. có khi bị tung lên báo mà hình như giới quản lí báo chí chẳng có biện pháp gì để hạn chế tình trạng đó.

Tôi nghĩ cái qui trình kiểm định giả thuyết trong khoa học cũng có thể ứng dụng cho giới báo chí. Tức là người tình nghi không có nhiệm vụ phải chứng minh họ vô tội, và phải giả định người tình nghi vô tội cho đến khi bị tuyên án. Một cáo buộc không phải là bằng chứng cũng chẳng phải là một phán quyết. Ngôn ngữ báo chí văn minh nên phản ảnh cái nguyên lí căn bản đó.

Nghiêm Sỹ Tuấn: một kẻ sĩ hiếm hoi trong thời chiến

Lời giới thiệu: Tôi hân hạnh giới thiệu đến các bạn một bài về Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn (1937-1968). Nếu chỉ là một bác sĩ, thì chắc Nhà văn Ngô Thế Vinh không mất thì giờ để viết một bài dài và đầy ấp tư liệu như bài viết này. Thật vậy, Bs Nghiêm Sỹ Tuấn không chỉ là một quân nhân, mà còn là một trí thức với lòng vị tha (“Không bao giờ tìm tòi sơ hở của kẻ khác để chỉ trích, phê bình, chê bai”), một nhà văn với những ưu tư về thời cuộc và xã hội, và là “mẫu người quân tử Đông Phương hiếm hoi thuần Việt còn vương sót lại ở hậu bán thế kỷ 20.” Bs Nghiêm Sỹ Tuấn đã hi sinh hơn 50 năm trước, nhưng những ưu tư của ông vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.

_____

Đi tìm chân dung Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn với Thông Điệp Mùa Xuân

Ngô Thế Vinh

Dẫn nhập – Chiến tranh, không phải là chấp nhận hiểm nguy, không phải là chấp nhận giao tranh. Ở một thời khắc nào đó, với người chiến binh, là sự chấp nhận thuần túy và giản đơn cái chết. La guerre, ce n’est pas l’acceptation du risque, ce n’est pas l’acceptation du combat. C’est, à certaines heures, pour le combattant, l’acceptation pure et simple de la mort. A. de Saint-Exupéry (Pilote de guerre)

Trái, Di ảnh Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù tử trận tại chiến trường Khe Sanh ngày 11/4/1968; phải, Chân dung Nghiêm Sỹ Tuấn qua nét vẽ của Y sĩ Đại úy Lê Văn Công, Quân Y Hiện Dịch khóa 15 YKSG, Virginia, USA 2018. [size 6 x 20” acrylic on canvas, sưu tập Ngô Thế Vinh]
Trái, Di ảnh Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù tử trận tại chiến trường Khe Sanh ngày 11/4/1968; phải, Chân dung Nghiêm Sỹ Tuấn qua nét vẽ của Y sĩ Đại úy Lê Văn Công, Quân Y Hiện Dịch khóa 15 YKSG, Virginia, USA 2018. [size 6 x 20” acrylic on canvas, sưu tập Ngô Thế Vinh]

TIỂU SỬ

Nghiêm Sỹ Tuấn, bút hiệu là Yển Thử, [bút hiệu này chỉ được dùng một, hai lần cho mấy bài thơ 28 Sao trên báo Tình Thương], sinh ngày 7 tháng 2 năm 1937 (tuổi Bính Tý) tại Nam Định, Bắc phần trong một gia đình thanh bạch và đông anh em. Cắp sách tới trường muộn màng ở tuổi 14. Hoàn tất học trình Trung học và Đại học trong khoảng thời gian 14 năm. Những năm học Y khoa, Nghiêm Sỹ Tuấn là Thư ký tòa soạn báo Sinh viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới số 13 [khoảng thời gian từ 01-1964 tới 01-1966] khi Anh ra trường, là tác giả nhiều bài viết sâu sắc, mang nặng những suy tư về các vấn đề văn hóa, xã hội và vận mệnh đất nước.

Nghiêm Sỹ Tuấn tốt nghiệp bác sĩ Y khoa 1965 ở tuổi 28. Không phải là quân y hiện dịch, nhưng Nghiêm Sỹ Tuấn tình nguyện gia nhập binh chủng Nhảy Dù, là một y sĩ tiền tuyến có mặt trên nhiều trận địa khắp bốn vùng chiến thuật, hai lần bị chiến thương, nhưng anh vẫn tình nguyện ở lại đơn vị tác chiến. Anh hy sinh trên chiến trường Khe Sanh sau Tết Mậu Thân, ngày 11 tháng 4 năm 1968 [3], ở tuổi 31 ngay giữa tuổi thanh xuân.

Trái, hình Nghiêm Sỹ Tuấn trên tấm thẻ sinh viên năm thứ ba Đại học Y khoa Sài Gòn niên khóa 1961-1962 [tư liệu BS Đinh Xuân Dũng]; phải, Nghiêm Sỹ Tuấn trông như một Ông Đồ với khăn đóng áo dài trong mấy ngày Tết cùng với các em, Tuấn là anh cả trong một gia đình thanh bạch đông anh em. [hình chụp năm 1963, album gia đình Nghiêm Mậu, em gái Nghiêm Sỹ Tuấn]
Trái, hình Nghiêm Sỹ Tuấn trên tấm thẻ sinh viên năm thứ ba Đại học Y khoa Sài Gòn niên khóa 1961-1962 [tư liệu BS Đinh Xuân Dũng]; phải, Nghiêm Sỹ Tuấn trông như một Ông Đồ với khăn đóng áo dài trong mấy ngày Tết cùng với các em, Tuấn là anh cả trong một gia đình thanh bạch đông anh em. [hình chụp năm 1963, album gia đình Nghiêm Mậu, em gái Nghiêm Sỹ Tuấn]

Năm 2010, khi Tập San Y Sĩ Canada thực hiện số báo chủ đề Tình Thương, Một Thời Nhân Bản [TSYS số 184, 01/2010], mọi người đều cảm nhận được dấu ấn rất rõ nét của Nghiêm Sỹ Tuấn ngay trong tòa soạn và xuyên suốt trên nội dung tờ báo Tình Thương.

TRẦN HOÀI THƯ PHÁT HIỆN

BÀI VIẾT SỚM NHẤT CỦA PHẠM LIÊU VỀ NGHIÊM SỸ TUẤN

Khi Tuyển tập Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn ra mắt năm 2019, chi tiết về ngày mất của Nghiêm Sỹ Tuấn vẫn còn là một nghi vấn, khiến BS Nguyễn Thanh Bình viết:

“Trong 15 bài viết về Nghiêm Sỹ Tuấn, có 2 người nói về ngày anh qua đời, thì lại không giống nhau: theo BS Trần Đức Tường, anh Tuấn mất khoảng tháng 4/1968, sau Tết Mậu Thân, theo BS Nguyễn Thanh Giản, anh Tuấn mất ngày 13/08/1968. Anh Trần Mộng Lâm, bạn đồng khóa 1967 của tôi, kể rằng, sau khi học quân sự ở Võ Bị Đà Lạt, chúng tôi về học hành chánh Quân Y tại Sài Gòn, và Lâm được chỉ định đi canh quan tài của anh Tuấn. Lúc đó có lẽ là tháng 4, và tôi nghĩ anh Tuấn mất vào khoảng đó, vì nếu sau ngày 13/08/1968 thì anh em chúng tôi đều đã đáo nhậm đơn vị rồi.” [1]

Hình bìa tuyển tập Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, Người Đi Tìm Mùa Xuân. Nxb TSYS Việt Nam Canada & Việt Ecology Press 2019.
Hình bìa tuyển tập Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, Người Đi Tìm Mùa Xuân. Nxb TSYS Việt Nam Canada & Việt Ecology Press 2019.

Với phát hiện bài viết của Phạm Liêu đăng trên tập san Mũ Đỏ, sau đó được đăng lại trên báo Tiền Phong số 38 (18/12/1968), của nhà văn Trần Hoài Thư năm 2021, thời điểm Nghiêm Sỹ Tuấn mất, không phải là tháng 8/1968 như BS Nguyễn Thanh Giản nhớ, và nay được kiểm chứng từ 3 nguồn khác nhau (từ Phạm Liêu, từ BS Trần Đức Tường và từ BS Trần Mộng Lâm), chúng ta có thể đoan chắc rằng thời điểm mất của Nghiêm Sỹ Tuấn phải là tháng 4/1968.

**

Bìa báo Tiền Phong số 38 (18.12.1968), với năm trang báo có bài viết đầu tiên của tác giả Phạm Liêu về trường hợp hy sinh của Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Y sĩ Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù trên chiến trường Khe Sanh. [sưu tập của Trần Hoài Thư, thư viện Cornell 2021]
Bìa báo Tiền Phong số 38 (18.12.1968), với năm trang báo có bài viết đầu tiên của tác giả Phạm Liêu về trường hợp hy sinh của Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Y sĩ Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù trên chiến trường Khe Sanh. [sưu tập của Trần Hoài Thư, thư viện Cornell 2021]

Phạm Liêu trên báo Tiền Phong – có lẽ là bút hiệu của một người bạn, một đồng môn rất thân thiết với Nghiêm Sỹ Tuấn [có ba người bạn cùng khóa Y khoa 65, cùng trong binh chủng Nhảy Dù là Trang Châu, Trần Đoàn trong nhóm Tình Thương và Đoàn Văn Bá nhưng được biết cả ba đều không phải là Phạm Liêu]. Tác giả Phạm Liêu viết về Nghiêm Sỹ Tuấn[3]

Con Người
Trầm tĩnh đến độ lạnh nhạt, trông anh giống một nhà tu khổ hạnh hơn một Y sĩ Dù. Nghiêm Sỹ Tuấn sinh ngày 7-2-1937 tại Nam Định Bắc Phần, trong một gia đình trung lưu nho giáo. Được thân sinh dạy vỡ lòng năm lên bảy, mãi đến năm 14 tuổi anh mới thực sự cắp sách đến trường (Dũng Lạc Hà Nội). Bảy năm Trung học và bảy năm Đại học.

1955 – 58 học-sinh Nghiêm Sỹ Tuấn luôn được xếp ưu hạng trong những môn ngoại ngữ Anh, Pháp, ĐứcHán tự và Việt tại trường Chu Văn An.

Ngay từ thủa thiếu thời, anh đã tỏ một ý chí cương nghị, một sự phục tòng hiếm có. Vâng lời phụ mẫu anh theo học dự bị y khoa (P.C.B) năm 1958 và tốt nghiệp Y Khoa Đại học đường năm 1965.

Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, người thứ hai trong hàng, trước giờ lên máy bay cho một saut nhảy dù bồi dưỡng. [tư liệu của BS Vũ Khắc Niệm và Trang Châu]
Y sĩ Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, người thứ hai trong hàng, trước giờ lên máy bay cho một saut nhảy dù bồi dưỡng. [tư liệu của BS Vũ Khắc Niệm và Trang Châu]

Những người bạn xa gần không một ai có thể phủ nhận thiện chí làm một cái gì cho xứ sở của anh. Để đóng góp thật sự, để nối liền ý thức và hành động anh đã tình nguyện về Dù. Được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, anh đi tham dự hầu hết những cuộc hành quân quan trọng của đơn vị. Là vị Y sĩ đầu tiên hai lần bị thương anh vẫn vui vẻ tái xuất giang hồ.

Nghiêm Sỹ Tuấn viết: “Tôi bắt đầu lội từ 11-8-66. Tới nay đã tham dự 11 cuộc hành quân hay chiến dịch. Dài nhất 78 ngày, ngắn nhất 2 ngày. Có mặt tại đủ bốn Vùng Chiến Thuật. Ba lần ở địa đầu nước An-nam Cộng-hòa.

Một Saut trận ở mật khu Thới Lai Cờ đỏ thuộc Vùng 4. Một lần bị thương cũng ở Vùng 4 trong cuộc đi ngắn nhất, ngắn nhất vì trúng đạn được về, chứ không phải chính nó ngắn có 2 ngày thôi đâu. Hai tháng khập khiễng dưỡng thương ở nhà. Tái xuất giang hồ từ đầu tháng 7/1967. Và bây giờ mừng lễ Giáng sinh ở Dakto, sau khi leo núi xuống đèo 15 ngày ròng rã. Đã lên ăn ngủ trên mấy đỉnh 1416, 1556. Đại khái cũng nhiều mệt nhọc, mà cũng nhiều thích thú”. (Trích trong thư gởi bạn đề ngày 28-12-67)

Trong đơn vị, anh luôn tỏ ra là một quân nhân giàu lòng vị tha bao dung rộng rãi với các quân nhân thuộc hạ, tự xếp mình trong một kỷ luật sắt đá, một thứ kỷ luật tự giác. Qua những bài viết trong Nguyệt san Tình Thương và nhiều tạp chí khác, anh đả kích mọi sự chống đối, dù nhân danh một sự kiện gì. Theo anh chiến tranh không thể tự nó đáng nhờm gớm. Chỉ đáng khinh bỉ những nhân chứng ngoại cuộc chỉ trỏ vô trách nhiệm.

Anh viết:

Chiến tranh chỉ xấu xa và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Cha ông chúng ta khi xưa đã nhất định tiếp tục nó, và đã chiến thắng chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh con người là một cảnh tự nó đẹp dễ làm cảm động, dễ làm thán phục. Nhất là khi có những sức mạnh bên ngoài đến gây xáo trộn trật tự và kỷ luật ấy.

Tôi trộm nghĩ thứ “trật tự và kỷ luật” trên, anh đã tìm thấy ở các đơn vị Dù. Sự kiện này cắt nghĩa phần nào cho việc lựa chọn một đơn vị sôi động nhất để nối liền nhân sinh quan đã vạch sẵn với hành động nhập cuộc bước xuống cuộc đời của anh. Nghiêm Sỹ Tuấn chủ trương một sự hy sinh tự nguyện, một sự đơn phương chấp nhận sự thể. Từ đấy, cái đẹp đẽ sinh ra, cái dũng sẽ nẩy nở. Kể rằng có một quân nhân thuộc hạ thường mơ ước một ngày nào có thể mua một chiếc máy ảnh giống như cái Canon” mà Nghiêm Sỹ Tuấn thường mang theo bên mình. Thế rồi trong một cuộc hành quân, người binh sĩ này tử trận. Y sĩ Tuấn về thăm gia đình người xấu số, không quên mang theo chiếc máy hình ngày nào, kính cẩn để trên bàn thờ, rồi im lặng ra về.

Được lệnh về phục vụ tại bệnh viện Đỗ Vinh, Nghiêm Sỹ Tuấn xin tiếp tục theo TĐ 6 Nhảy Dù hành quân tại Khe Sanh.

[Ghi chú của Ngô Thế Vinh: Chi tiết từ chối về phục vụ tại BV Đỗ Vinh là không đúng. Khi Nghiêm Sỹ Tuấn được đề cử đi học khoá giải phẫu một năm, nhưng vì Cục Quân Y không hứa sau khóa học sẽ được về làm việc tại BV Đỗ Vinh thuộc Sư Đoàn Dù, nên NST tiếp tục “súng, xắc” về lại đơn vị cho tròn hai năm phục vụ ở cấp tiểu đoàn – trích từ YSTT của BS Trang Châu] [1]

Ngày 11/4/1968, tại làng VeiĐại Đội anh đi theo đụng độ nặng. Những quả 81 của VC nổ long trời xung quanh anh. Hai binh sĩ ở tuyến đầu bị mảnh vào bụng được di tản về toán cứu thương. Y sĩ Tuấn nhảy ra khỏi hầm trú ẩn, trầm tĩnh băng bó hai thương binh, sang nước biển cho họ. Những cử chỉ chậm chạp thong thả. Trong lúc anh đang tiếp nước, một quả tạc đạn rớt ngay trước mặt, những người y tá chung quanh đều bị thương nhưng không chết, chỉ có mình anh trầm tĩnh lìa bỏ cuộc đời như anh đã trầm tĩnh chấp nhận những sự kiện đã xảy ra trong đời anh.

Một Nhân Sinh Quan

Mặc ai nói đông nói tây anh vẫn bình thản đi theo con đường đã vạch. Những người bạn anh kể rằng anh tôn trọng kỷ luật đến độ làm cho những người khác khó chịu. Dưới một bề ngoài trầm lặng, tiềm tàng một nếp sống nội tâm cuồng nhiệt.

Anh thật nhiều tham vọng. Anh muốn nhiệm vụ của một quân nhân Dù đi kèm một Y sĩ tiền tuyến của anh phải kiện toàn. Không bao giờ ta thán bất cứ một sự gì. Không bao giờ tìm tòi sơ hở của kẻ khác để chỉ trích, phê bình, chê bai. Người khác có cảm tưởng anh im lặng để hành động nhiều hơn, hữu hiệu hơn, thật đúng là một triết lý của hành động.

Tất cả những trầm tĩnh bên ngoài chỉ để che đậy một sự nổi dậy liên tục của nội tâm. Đọc văn anh, chúng ta liên tưởng đến một Kafka. Những chi tiết nhỏ nhặt của ngoại cảnh bắt nguồn cho một phân tích gẫy gọn súc tích cho một vấn đề chủ yếu. Từ một chuyện hai đứa bé cãi nhau về miếng đất con trâu vỉa hè, anh viết:

“Ngẫm ra hai đứa bé đều có lý, nghe như chuyện mặt trời xa gần. Tôi đâu dám cuồng vọng trộm đặt mình vào chỗ đứng của một Thánh nhân, song quả thực tôi có phải xử vụ này, tôi cũng đành chịu. Thời buổi đua tranh sơ hở thì đến thân mình còn mất nữa là. Cứ tôi tự do, không làm việc đang làm có người khác sẽ làm mất. Giả sử có kẻ bảo: Tôi có tự do, vậy tôi tự do hay không tự do là quyền tự do của tôi, chắc chẳng ai dám nói tôi… điên rồ”.

Nghiêm Sỹ Tuấn “Ngồi ăn cơm một mình”

Anh đã từ một sự kiện không đâu dẫn độc giả vào một thế giới riêng biệt của Nghiêm Sỹ Tuấn, thế giới biểu tượng của cử chỉ và ngôn từ. Trong những áng văn anh đã viết, triết lý của hành động và hành động trong kỷ luật được nêu ra và nhắc lại nhiều lần. Âu cũng là, tôi trộm nghĩ, một trong những nguyên do chính khiến anh đã chọn binh chủng Nhảy Dù.

Dáng dấp Nghiêm Sỹ Tuấn là dáng dấp của một nhà khổ hạnh. Anh chấp nhận tất cả: Ngay những điều bất hạnh có thể xảy ra trong mai hậu khi anh dấn thân. Nhiều người cho những sự hy sinh của anh vô nghĩa, nếu không nói phi lý, anh hiền hòa đáp lại:

“Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêuVả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được.

Anh chấp nhận ngay cả sự chết một mai của mình nếu không nói những áng văn của anh như bản di chúc cuối cùng của một người sắp ra đi. Chấp nhận sự chết để tự dọn mình là một triết lý khổ hạnh, mà ít người bằng tuổi anh đã dám nhận làm chỉ nam cho đời mình. [3]
PHẠM LIÊU
[Nguyệt san Tiền Phong số 38, 15-12-1968]

Bìa Tập San Y Sĩ Canada số 184, 01/2010, chủ đề Tình Thương, Một Thời Nhân Bản. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Bìa Tập San Y Sĩ Canada số 184, 01/2010, chủ đề Tình Thương, Một Thời Nhân Bản. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Tính đến 2021, Nghiêm Sỹ Tuấn mất cũng đã hơn nửa thế kỷ. Sau này mới được biết, sau Nghiêm Sỹ Tuấn, còn có thêm hai người em trai của anh cũng hy sinh trên những trận địa khác. Chỉ riêng gia đình anh đã cống hiến ba người con trong cuộc Chiến Tranh Việt Nam, một hy sinh và mất mát thật vô cùng lớn lao. [1]

TÁC PHẨM NGHIÊM SỸ TUẤN

  • Truyện ngắn​
    Những Người Đi Tìm Mùa Xuân
    Para Bellum

*

Trái, Bìa báo Tình Thương số 2 Xuân Giáp Thìn (1964); phải, trang trong với truyện ngắn nổi tiếng Những Người Đi Tìm Mùa Xuân, tác phẩm tâm đắc của Nghiêm Sỹ Tuấn. Anh là Thư ký Tòa soạn báo Sinh Viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới số 13, khi anh ra trường và nhập ngũ. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Trái, Bìa báo Tình Thương số 2 Xuân Giáp Thìn (1964); phải, trang trong với truyện ngắn nổi tiếng Những Người Đi Tìm Mùa Xuân, tác phẩm tâm đắc của Nghiêm Sỹ Tuấn. Anh là Thư ký Tòa soạn báo Sinh Viên Y Khoa Tình Thương từ số ra mắt tới số 13, khi anh ra trường và nhập ngũ. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

  • Thơ 28 Sao

Đầu thai tỉnh giấc
Ngụp lặn từ đây
Trở về cát bụi
Sáu Buồn trước tử biệt sinh ly:
Quê Hương, Tuổi Đứng, Bạn Cũ, Người Yêu, Đám Đông, Đất Lạnh

  • Biên khảo

Ý thức tinh thần Đại học. Nghiêm Sỹ Tuấn, Đặng Vũ Vương, Hà Ngọc Thuần
Tình Thương và Tuyên Ngôn Leysin
Một Năm Học tập
Niềm đau nỗi khổ: Công cuộc khắc phục đau đớn
Những ám ảnh của chứng nan y: Nan y hay dịch tễ xã hội

  • Tạp bút

Thịt Chuột và Văn Hóa

  • Tác phẩm dịch:

Dưới Mắt Thượng Đế, Hans Killian
[Nghiêm Sỹ Tuấn & Nguyễn Vĩnh Đức]:

Từ trái, hình bìa gốc bản tiếng Đức: Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott; hình bìa 1&4 bản dịch tiếng Pháp: Sous le Regard de Dieu do Robert Laffont xuất bản; dưới: trang báo Tình Thương với bản dịch truyện ngắn Cha Tôi trong tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Từ trái, hình bìa gốc bản tiếng Đức: Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott; hình bìa 1&4 bản dịch tiếng Pháp: Sous le Regard de Dieu do Robert Laffont xuất bản; dưới: trang báo Tình Thương với bản dịch truyện ngắn Cha Tôi trong tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Tờ di chúc
Phép Lạ
Thiên đường đã mất
Văn Sợi, Người Phụ Tùng
Chết trên bàn mổ / Mors in tabula
Thác chảy trong đầu
Người bệnh tưởng
Phía bên kia con đường có bóng
Người bạn tốt nhất
Cha tôi
Quyết định to tát

Đất Chẳng Trở VềGilberte Sollacaro

  • [Nghiêm Sỹ Tuấn]

Lịch Sử Y Học. Kenneth Walker

[Hà Hợp Nghiêm – Nghiêm Sỹ Tuấn & Hà Ngọc Thuần]

Bìa cuốn Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker (1882-1966), Nxb Hutchinson, London 1954; được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương từ số ra mắt 01.1964. [tư liệu Ngô Thế Vinh]
Bìa cuốn Lịch Sử Y Học của Kenneth Walker (1882-1966), Nxb Hutchinson, London 1954; được Nghiêm Sỹ Tuấn và Hà Ngọc Thuần dịch với bút hiệu chung Hà Hợp Nghiêm, đăng từng kỳ trên báo Tình Thương từ số ra mắt 01.1964. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Với lời giới thiệu của Hà Hợp Nghiêm: “Kenneth Walker là một trong những thủ thuật gia lỗi lạc của Anh quốc. Tốt nghiệp Đại học Cambridge và bệnh viện St. Bartholomew ở Luân Đôn, hội viên Học viện Giải phẫu Hoàng gia, ông nổi tiếng, ngoài y học thuần túy, về những tác phẩm y học và triết học của ông. Ông đã xuất bản: Lịch Sử Y Học và Lịch Sử của Máu. Ngoài ra ông còn cộng tác thường xuyên với nhiều tạp chí y học và khoa học lớn nhất hiện thời. Trong cuốn Lịch Sử Y Học mà chúng tôi [Nghiêm Sỹ Tuấn & Hà Ngọc Thuần] hân hạnh trình bày bản dịch dưới đây với quý vị độc giả, Kenneth Walker đã tóm tắt trong 20 chương, tất cả quá trình tiến hóa của Y học trong hơn 3000 năm, bắt đầu từ những văn minh tối cổ cho đến nền văn minh hiện đại, từ Hippocrates, Galien đến Pasteur, Fleming, cả một truyền thống lấy phụng sự làm động cơ, lấy lý trí làm hướng đạo, luôn luôn cố gắng cho đời thêm tươi đẹp, đáng sống.”

CÙNG ĐI TÌM LẠI CHÂN DUNG NGHIÊM SỸ TUẤN

Năm Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận, cũng là năm lớp Y khoa 68 ra trường. Tính đến nay, qua hơn nửa thế kỷ, trải qua rất nhiều hoàn cảnh và những thử thách khác nhau, với bao nhiêu biến động và thăng trầm của đất nước, có thể nói các bạn của Nghiêm Sỹ Tuấn là những người sống sót, và để rồi chẳng thể ngờ rằng nay vẫn còn có dịp nhìn về một chặng đường quá khứ, tìm lại khoảng thời gian đã mất.

ĐẶNG VŨ VƯƠNG, nguyên trưởng ban Quan điểm báo SVYK Tình Thương hồi tưởng:

Viết về báo Tình Thương sẽ thiếu sót nếu không viết về Nghiêm Sỹ Tuấn [NST]. Ít hay nhiều báo Tình Thương đã ghi dấu ấn trên những người viết năm xưa và có thể ít hay nhiều đã ảnh hưởng đến hướng cuộc đời của nhiều người sau này. Tôi nghĩ rằng NST đã để lại dấu ấn trên nhiều anh em báo Tình Thương. Riêng tôi, tôi vẫn coi thời gian được làm bạn với NST và cùng viết báo Tình Thương là một trong những giai đoạn may mắn và quý báu nhất của đời tôi. Tôi với NST có rất nhiều khác biệt để thành bạn thân nhưng viết báo Tình Thương đem lại cho 3 chúng tôi (Đặng Vũ Vương, Nghiêm Sỹ Tuấn, Hà Ngọc Thuần) sự quý mến và tôn trọng nhau qua bao nhiêu sự trao đổi tư tưởng và theo đuổi lý tưởng và đặc biệt nơi NST tôi tìm thấy mẫu người “Renaissance man” của Tây phương đóng khung bằng tư tưởng và phong cách của một nhà Nho thời xưa. NST giỏi chữ Hán, thông văn chương Việt, có năng khiếu và sở thích về nhiều môn (thi văn, âm nhạc, nghệ thuật…) và đọc nhiều sách triết học. Tôi còn nhớ đã bàn luận rất nhiều với NST về Teilhard de Chardin thời tôi viết bài về Y khoa Nhân bản. NST chỉ cần chứng tỏ với chính mình và tôi nghĩ việc NST chọn binh chủng Nhảy Dù là một thử thách cá nhân. Mất NST, chúng ta mất một người bạn quý, một kẻ sĩ (trong trường hợp NST kẻ sĩ gồm Scholar + Gentleman + Physician). Trong bài viết cho Tập san Quân Y năm xưa về NST, tôi đã ví NST như là một “sao chổi” thoáng bay qua vòm trời Tình Thương, tuy nhẹ nhàng và ngắn ngủi nhưng đã để lại dấu tích lâu dài và sâu đậm trên bạn hữu và những ai đã một lần tiếp xúc với Tuấn.

Nghiêm Sỹ Tuấn giỏi chữ Hán, tiếng La Tinh, anh có năng khiếu về ngoại ngữ: tiếng Pháp, tiếng Anh, anh còn học thêm cả tiếng Đức cùng với Trần Xuân Dũng ở Goethe-Institut Saigon. Khi cùng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian, Nguyễn Vĩnh Đức chủ yếu dịch từ bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu của Max Roth, trong khi Nghiêm Sỹ Tuấn còn cẩn trọng tham khảo thêm từ bản gốc tiếng Đức Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott.

Cho dù đã vô cùng bận rộn với học trình bảy năm Y khoa, từ phòng thí nghiệm tới giảng đường cho tới các bệnh viện, Nghiêm Sỹ Tuấn vẫn dành thời gian cho các sở thích về nhiều bộ môn nghệ thuật: thơ nhạc họa và ngoài sách Y khoa, anh đọc nhiều sách Triết học.

Nghiêm Sỹ Tuấn có cá tính rõ rệt, một con người tài năng và lý tưởng, Anh không xuất thân từ một danh gia vọng tộc mà gốc gác bình dân như tuyệt đại đa số các gia đình Việt Nam khác, nhưng anh là hình ảnh kẻ sĩ hiếm hoi, được kết tinh từ những phẩm chất làng xã Việt Nam, với truyền thống và nề nếp giúp xã hội Việt Nam đứng vững và tồn tại qua bao ngàn năm thăng trầm của lịch sử. Nghiêm Sỹ Tuấn chính là mẫu người quân tử Đông Phương hiếm hoi thuần Việt còn vương sót lại ở hậu bán thế kỷ 20.” [2]

Hình chụp năm 1963 tại một bệnh viện Sài Gòn, thuộc khóa Y khoa 1959-1965; hàng ngồi, từ trái: Đỗ Thức Diêu, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Ngọc Trân, Đinh Xuân Dũng, Lê Khắc Minh, Huỳnh Ngọc Phương; hàng đứng, từ trái: Trần Tiễn Huyến, Nghiêm Sỹ Tuấn, Huỳnh Trúc Lâm, Trần Bá Cơ, Nguyễn Hoàng Hải, Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Tiến Hải, Dương Hữu Thành, Đinh Hà, Lê Hữu Lộc, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Thanh Quế. (riêng trong nhóm này thì đã có: Nghiêm Sỹ Tuấn, Đỗ Thức Diêu, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Thanh Quế đã qua đời.) [tư liệu của BS Đặng Vũ Vương, ghi chú hình của BS Nguyễn Hoàng Hải]
Hình chụp năm 1963 tại một bệnh viện Sài Gòn, thuộc khóa Y khoa 1959-1965; hàng ngồi, từ trái: Đỗ Thức Diêu, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Ngọc Trân, Đinh Xuân Dũng, Lê Khắc Minh, Huỳnh Ngọc Phương; hàng đứng, từ trái: Trần Tiễn Huyến, Nghiêm Sỹ Tuấn, Huỳnh Trúc Lâm, Trần Bá Cơ, Nguyễn Hoàng Hải, Tôn Thất Chiểu, Nguyễn Tiến Hải, Dương Hữu Thành, Đinh Hà, Lê Hữu Lộc, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Thanh Quế. (riêng trong nhóm này thì đã có: Nghiêm Sỹ Tuấn, Đỗ Thức Diêu, Nguyễn Văn Lâm, Nguyễn Anh Tuấn, Ngô Thanh Quế đã qua đời.) [tư liệu của BS Đặng Vũ Vương, ghi chú hình của BS Nguyễn Hoàng Hải]

Nghiêm Sỹ Tuấn viết văn khi đang còn là một sinh viên, có thể là sớm hơn. Từ 1963, cùng với các bạn Y khoa làm báo Tình Thương như một diễn đàn cho những ý tưởng nhân bản, hướng tới một xã hội lý tưởng và không mang nặng tính chủ nghĩa” [GS Trần Ngọc Ninh]. Ngay từ các bài viết xuất hiện rất sớm trên tờ báo Tình Thương, Nghiêm Sỹ Tuấn đã quan tâm tới các vấn đề cơ bản của đất nước: giáo dục, xã hội, và thời sự.

Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ để lại vài truyện ngắn, mấy bài thơ, một cuốn nhật ký viết dở dang và có thể còn ở đâu đó là những trang bản thảo đã bị thất lạc. Chắc chắn Anh còn những hẹn hò khác, nhưng Anh đã vội vã mang đi, chôn sâu dưới mảnh đất của một quê hương Việt Nam tự do mà Anh đã hết lòng yêu mến và đã đem chính sinh mệnh của Anh ra để bảo vệ.

Thẻ thực tập bệnh viện nhóm B, năm thứ Ba YKSG niên khóa 1961-1962, trên từ trái: Lê Văn Tập, Tôn Thất Chiểu, Huỳnh Ngọc Phương, Nguyễn Ngọc Trân, Nghiêm Sỹ Tuấn; dưới từ trái: Đinh Xuân Dũng, Huỳnh Trúc Lâm, Trần Bá Cơ, Nguyễn Gia Ân, Nguyễn Tiến Hải. [tư liệu BS Đinh Xuân Dũng]
Thẻ thực tập bệnh viện nhóm B, năm thứ Ba YKSG niên khóa 1961-1962, trên từ trái: Lê Văn Tập, Tôn Thất Chiểu, Huỳnh Ngọc Phương, Nguyễn Ngọc Trân, Nghiêm Sỹ Tuấn; dưới từ trái: Đinh Xuân Dũng, Huỳnh Trúc Lâm, Trần Bá Cơ, Nguyễn Gia Ân, Nguyễn Tiến Hải. [tư liệu BS Đinh Xuân Dũng]
Lớp Y Khoa 1965, hình chụp 1963 tại sân ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp Sài Gòn; khi ấy Nghiêm Sỹ Tuấn đang là sinh viên Y khoa năm thứ 4 cùng với các Bạn đồng khóa và Giáo sư Mahoudau từ Faculté de Médecine de Paris qua dạy về các đề tài Nội khoa và Thần kinh.
Lớp Y Khoa 1965, hình chụp 1963 tại sân ngôi trường cũ 28 Trần Quý Cáp Sài Gòn; khi ấy Nghiêm Sỹ Tuấn đang là sinh viên Y khoa năm thứ 4 cùng với các Bạn đồng khóa và Giáo sư Mahoudau từ Faculté de Médecine de Paris qua dạy về các đề tài Nội khoa và Thần kinh.

[ Ghi chú chi tiết Hình 12: hàng đứng từ trái, Minh, Đàm Quang Toản, Nguyễn Trọng Dzực, Nguyễn Hải Nam, Lê Xuân Lộc, Nguyễn Đình Khoát, Lê Văn Ba (dân vệ), Đoàn Văn Bá, Trần Đoàn (ngón tay chữ V sau lưng Bá), Giáo sư Mahoudau, Lê Tất Giao, Michell Quyên, Nguyễn Thị Lý, Dương Quang Trí, Trần Bá Cơ, Nghiêm Bảo Thạch, Đinh Hà, Nghiêm Sỹ Tuấn, Phan Giang Sang, Nguyễn Anh Tuấn (Râu), Trần Tiễn Huyến, Đỗ Thức Diêu, Lê Văn Tập; hai người đứng rùn gối: Nguyễn Thượng Vũ (quần đen), Trần Xuân Dũng (quần trắng). [tư liệu và nhận diện của BS Lê Văn Tập]. Sau năm 1975, cộng sản đã chọn ngôi trường Y khoa cũ làm khu trưng bày Tội ác Mỹ Ngụy và sau đổi thành Khu Bảo tàng Di tích Chiến tranh.]

Giữa thập niên 1960s, khi đang làm báo sinh viên Tình Thương, là những năm đầy biến động của đất nước, ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng ác liệt lan rộng dâng cao với rất nhiều chết chóc, trong khi hậu phương là một mặt trận khác với những cuộc biểu tình dắt dây, với vòng kẽm gai và lựu đạn cay trải dài trên khắp các đường phố… Nghiêm Sỹ Tuấn đã tỏ ra không đồng ý với mọi xáo trộn nơi hậu phương giữa cuộc chiến tranh, mà theo anh thì chỉ có lợi cho cộng sản và tuy anh không lớn tiếng phản đối nhưng bản thân anh luôn luôn đề cao tính kỷ luật và trật tự.

Không chỉ với tác phẩm tâm đắc Những người đi tìm Mùa Xuân, nhưng Para Bellum là một tác phẩm quan trọng khác, mang nặng những suy tư về chiến tranh và hòa bình của Nghiêm Sỹ Tuấn. Chính kiến của Nghiêm Sỹ Tuấn rất rõ ràng trong truyện ngắn Para Bellum / Chuẩn bị Chiến tranh.

LẠI MẠNH CƯỜNG, một y sĩ tốt nghiệp Y khoa Sài Gòn sau Nghiêm Sỹ Tuấn nhiều khóa, LMC chưa vào Y khoa khi Nghiêm Sỹ Tuấn đã ra trường. Từ Hòa Lan, Lại Mạnh Cường đã nhận định về truyện ngắn Para Bellum rất đặc biệt này của Nghiêm Sỹ Tuấn:

Phải nói ngay tôi bị “dội ngược” khi đọc truyện ngắn này của NST, mang tựa đề rất lạ Para Bellum. Tra trong internet mới biết tác giả trích dẫn từ một câu danh ngôn bằng tiếng Latin cổ: Si vis pacem, para bellum; dịch ra tiếng Anh là “If you want peace, prepare for war”; tiếng Việt: “Muốn hòa bình phải chuẩn bị chiến tranh”!

Đọc khoảng một nửa truyện mới hiểu tác giả học xong y khoa, nhận được lệnh gọi nhập ngũ và đợi chờ ngày ra đơn vị. NST viết lại những tiếp xúc của mình (nhân vật số 1) trong thời gian này với người yêu (số 2), người bạn (3), ông bác (4), cháu bé gái (5), người lính (6), bà hàng chè (7).

Lối hành văn cầu kỳ, mơ hồ, lại mang chất thơ. Tôi có cảm tưởng đây là những màn độc thoại (monologue), nhưng lại được tác giả cố tình viết ra dưới hình thức đối thoại (dialogue) giữa tác giả với những người thân, để giãi bày tâm sự. Các nhân vật số 2, 3, 4 và cả số 5 chỉ giữ vai trò những “mắc áo”, để tác giả mặc sức “trang hoàng” những tư tưởng cầu kỳ đến khó hiểu trong cái đầu “bác học” của ông. Xin dẫn chứng một vài mẩu đối thoại với người yêu trước khi chia tay ra đơn vị:

“Bởi anh còn gì nữa đâu ngoài thân thể này, với đầu óc mơ màng với trái tim hay đập mạnh; với bàn tay vụng về chỉ thích viết vẽ bâng quơ, xây lầu trên cát. Đắm say sẵn có, lại thêm chữ nghĩa điểm tô, khiến anh chỉ biết cảm thấy thơ thới hòa vui khi nhìn em nét cười tươi sáng, áo trắng đơn sơ. Còn khi xe ngựa lặng thinh, sừng sững chập chờn tuổi đứng, một mình sao anh nghe buồn nản len lỏi từ đâu. Ồ! Anh lại muốn làm thơ rồi phải không em? Mà thơ chắc là em không thích.”

“Em thích nghe? Trước kia không nói, vì em thường bảo không hiểu; vả anh cũng rất sợ phiền. Giờ chắc êm đềm hay ngắn, sao đem nhiều lời khuấy động? Anh cứ để qua đi mà không hay. Đến lúc oanh vàng quen thuộc rộn ràng hót mấy thanh từ giã, mới vội vàng tìm miệng trao lời.

Thường tình vẫn thế, chỉ khi chiều muộn đường xa mới thấy bếp lửa dịu dàng. Anh đã cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người. Hiển hiện đâu đây, nét dẫn khởi đang muốn trở thành dẫn lực. Liệu anh có lầm chăng?”

Tôi ngờ rằng cuộc đối thoại này chỉ là hư cấu, không thật trăm phần trăm! Và nó thật sự không hấp dẫn tôi. Tôi cho là mình nghĩ đúng về NST khi theo dõi các cuộc đối thoại tiếp theo, giữa tác giả với người bạn thân và nhất là với ông bác. Từ đó tôi cho rằng con người “(ưa) lập thuyết” lấn áp con người thật NST. Anh cố đè nén mọi cảm xúc, đam mê và tình cảm cá nhân, quyết sống theo các khuôn mẫu khắt khe, nhằm phục vụ cho lý tưởng. Anh chuộng kỷ luật và ưa trật tự, và đã khẳng định chắc nịch: “Chiến tranh chỉ xấu và tàn bạo trong mắt những người đứng xa chỉ trỏ. Nên người phải ngừng hay tiếp tục nó với những lý do đẹp đẽ. Cha ông chúng ta xưa kia đã nhất định tiếp tục nó, và đã chiến thắng, chắc vì hiểu rằng trật tự và kỷ luật trong sức mạnh con người là một cảnh tự nó đẹp, dễ làm cảm động, dễ làm thán phục. Nhất là khi có những sức mạnh bên ngoài để gây xáo trộn trật tự và kỷ luật ấy.”

NGUYỄN THANH GIẢN là người bạn thân thiết từ thời trung học, cũng là bạn đồng khóa Y khoa với Nghiêm Sỹ Tuấn sau này. Nguyễn Thanh Giản viết:

“Thằng Tuấn mà đi Nhảy Dù thì chắc dù nó bay lên chứ không xuống đâu! Tôi mỉm cười nhưng không ngạc nhiên vì biết anh nhỏ con, cao có 1,58 mét và nặng chỉ có 40 ký. Tuy nhiên vì đã chơi thân với nhau kể từ khi còn trung học và suốt 7 năm đại học nên tôi biết rõ anh có lý do để chọn binh chủng Nhảy Dù, một binh chủng chiến đấu anh dũng và có kỷ luật cao.

Ngay từ khi còn ngồi ghế trung học, chúng tôi cũng đã có những đêm thức trắng bàn luận với nhau, nào là văn chương triết lý, nào là vận nước lâm nguy, nào là ước vọng của những người trai thời loạn. Cái hoài bão của chúng tôi thời đó thật là to lớn quá, cái lý tưởng tuyệt vời quá, nhưng cả hai chúng tôi đều băn khoăn trong lòng là không biết mình sẽ làm được cái gì?

Thế rồi ra trường, mỗi đứa được điều động đi một ngả. Lần cuối cùng tôi được gặp Tuấn là ở quận Cam Lộ, thuộc tỉnh Quảng Trị. Lúc đó người ta đang xây dựng một hàng rào điện tử gọi là hàng rào McNamara để ngăn chặn Cộng quân từ Bắc xâm nhập vào Nam. Người dân ở quanh đó bị bắt buộc phải dời đi nơi khác. Họ được tạm cư ở những trại làm bằng lều vải do Mỹ cung cấp. Trên một khu đất rộng, những căn lều vải được cất lên san sát. Mùa hè với những cơn gió Lào thổi về như thiêu đốt và mặt đất cát nóng bỏng. Thực phẩm và nước uống cũng do trực thăng hoặc những đoàn xe Mỹ chở tới. Tôi được giao nhiệm vụ coi sóc sức khỏe của đồng bào ở các trại này, gọi là công tác Dân Sự Vụ.

Bộ Chỉ huy của tôi đóng ở Đông Hà, mỗi sáng tôi được chở tới Cam Lộ để khám bệnh cho đồng bào đến chiều lại về vì ở Đông Hà an ninh hơn. Nhưng thường thì buổi chiều tôi không muốn về. Tôi muốn ở lại cùng với anh em y tá của tôi một phần, một phần nữa tôi muốn sống thật gần gũi với những người dân quê lam lũ. Nhiều người dân ở trong các lều thấy tôi đến thăm họ buổi tối, tặng thuốc bổ hay cho trẻ em vài cái kẹo, họ rất quý. Tôi thường nói chuyện, tâm sự với họ tới khuya. Quan hệ giữa tôi và đồng bào ở đó trở nên thân mật. Có lần tôi bị ốm phải về Quảng Trị tĩnh dưỡng mấy ngày, đến khi trở lại họ thăm hỏi tôi một cách ân cần. Một người dân chất phác hỏi:

– Bác sĩ đau làm chúng tôi nhớ bác sĩ quá. Bác sĩ không đi khám bệnh được sao không nhờ bà bác sĩ khám giùm?

Tôi cho họ biết vợ tôi không phải là bác sĩ nên đâu có biết khám bệnh, thì họ đồng thanh nói:

– Thì ông chỉ cho bà cách khám bệnh và cho thuốc cũng được chớ có sao!

Những người dân quê này thật hiền lành chất phác và dễ thương quá, họ không hiểu thế nào và phải học ra sao để làm bác sĩ. Tôi đành giải thích theo lối họ:

– Đồng ý tôi có thể dạy vợ tôi cách khám bệnh nhưng vợ tôi phải học rất siêng năng. Tối nào cũng phải thức ít nhất 12 giờ đêm để học bài, nếu không thuộc tôi phải dùng roi tét vào đít. Cứ như thế 7 năm thì bà ấy mới có thể chữa bệnh được!

Mọi người cười ồ lên có vẻ hiểu. Tôi thương những người dân quê này quá, họ chẳng khác nào gia đình của tôi, nhưng tôi chỉ có thể ở với họ một thời gian ngắn rồi sẽ ra đi. Chiến tranh vẫn kéo dài, ngày một thêm ác liệt, rồi tai họa nào sẽ giáng lên đầu họ? Tôi làm sao có thể chia sẻ với họ mãi được!

Một buổi chiều, tôi đang đùa giỡn với đám trẻ con thì Tuấn ở đâu đi tới. Anh mặc bộ đồ Dù khá mới, da dẻ đã sạm nắng, đầu tóc vẫn hớt kiểu móng lừa. Tiểu đoàn anh đi hành quân ở Cùa mới về, nghe nói tôi ở đây nên anh tới thăm. Thấy tôi, anh nói giỡn:

– Bác sĩ không lo khám bệnh lại đi giỡn với trẻ con.

Tôi mời anh vào trong lều mở nước ngọt mời anh và các y tá uống. Đêm hôm đó, trong căn lều vải giữa đồng khô cỏ cháy chúng tôi được dịp nằm bên nhau ôn lại những kỷ niệm xa xưa, thời còn cắp sách tới Đệ Tam B6, Đệ Nhị B6 của trường Chu Văn An đã gần mười năm về trước. Chỉ khác là lần này chúng tôi nằm ở vùng tiền tuyến, tiếng đạn nổ chung quanh như nhắc nhở rằng những chết chóc điêu linh của cả dân tộc vẫn là một thực thể không biết đến ngày nào mới chấm dứt.

Sáng hôm sau, tôi bắt đầu một ngày làm việc mới thì gặp trường hợp một em bé bị sưng ruột dư. Tuấn cũng nắn bụng em bé và đồng ý với sự chẩn đoán của tôi. Đứa bé cần được đưa đi nhà thương để mổ ngay. Nhưng vừa nghe tới chữ mổ là cha mẹ nó ẵm chạy ra ngoài ngay. Họ cho mổ là việc ghê gớm lắm, con họ bị đem đi mổ chắc là sẽ chết và thân xác không vẹn toàn, có khi không được trả xác về nhà nữa là khác. Trong đầu họ nghĩ đến ông thầy thuốc Nam, ông y tá quen thuộc hay cùng lắm là ông thầy pháp có thể cứu được đứa bé. Tôi bối rối chưa biết xử trí ra sao, anh em y tá định giữ bé lại nhưng mẹ nó đã lanh lẹ ẵm chạy về lều. Tuấn nói với tôi:

– Để tao khám bệnh thế mày bữa nay. Mày đã quen với dân chúng ở đây rồi, hãy đến tận nơi giải thích cho họ: chỉ có cách giải phẫu mới cứu được đứa bé mà thôi. Tao biết mày có tài thuyết phục hay lắm mà.

Tôi tới tận lều giải thích mãi cha mẹ đứa bé vẫn không nghe. Sau phải nhờ nhiều người quen nói thêm vào, cha mẹ đứa bé mới đồng ý đem nó đi Quảng Trị với điều kiện tôi cũng phải đi theo và cha mẹ nó thì luôn luôn ở bên cạnh. Tôi bèn gọi máy bay trực thăng tản thương rồi tất cả cùng đi. Chỉ một tuần lễ sau đứa bé bình phục hoàn toàn nhưng lúc đó Tuấn đã xa tôi rồi. Tôi còn nhớ đêm trước hôm chia tay Tuấn nói với tôi:

– Cuộc chiến này nếu không làm sáng tỏ được là chúng ta chiến đấu cho tự do dân chủ thì rất nguy. Nó sẽ trở thành cuộc chiến của những thằng ở thành phố đánh nhau với những thằng ở miền quê. Những thằng ở thành phố tinh khôn hơn nhưng chỉ là thiểu số, miền quê trông có vẻ khờ khạo nhưng nắm giữ hầu hết tiềm lực của dân tộc. Mày tranh thủ được nhân tâm dân chúng miền này là rất tốt. Nếu bên mình mà làm được như vậy thì bọn Việt cộng sẽ thua nhanh chóng. Cuộc chiến đã trở thành cuộc tranh thủ nhân tâm, mình không làm thì bọn Việt cộng tinh ranh sẽ làm và sự sụp đổ của miền Nam sẽ là điều không tránh khỏi.

Sự tiên đoán của Tuấn đã xảy ra. Ngày miền Nam sụp đổ, anh không còn nữa nên tránh được cái tủi nhục của những người bại trận. Còn chúng tôi lũ lượt kéo nhau đi từ nhà tù này tới nhà tù khác…

Tuy nhiên lời tiên đoán của Tuấn đến bây giờ lại sắp được chứng nghiệm một lần nữa. Chiến thắng của Việt cộng tôi cho chỉ là tạm thời, nếu họ không biết thay đổi chính sách. Vì khi huyênh hoang với chiến thắng, họ quên mất bài học cũ, bài học chinh phục nhân tâm. Và cho đến nay, hầu hết những người tượng trưng cho sức mạnh dân tộc đã quay lưng lại với họ.” [1]

VŨ KHẮC NIỆM, là y sĩ đàn anh trong Y khoa và cũng là cấp chỉ huy của Nghiêm Sỹ Tuấn trong Quân Y Nhảy Dù. BS Vũ Khắc Niệm viết:

“Tôi còn nhớ mãi một buổi sáng trong căn cứ Hoàng Hoa Thám, tôi như thường lệ xuống câu lạc bộ Tiểu Đoàn Quân Y ăn sáng thì thấy anh Hoàng Cơ Lân đã ngồi đó tự bao giờ, mắt anh đỏ mặt buồn rầu nói với tôi: Nghiêm Sỹ Tuấn chết rồi nhờ toa báo cho anh em biết; xong anh về văn phòng. Tôi sững sờ đứng im lặng, hình ảnh Tuấn trong nón sắt đeo dù mờ ảo hiện về.

Hôm nay, Ngô Thế Vinh gửi cho tôi những bài vở và hình ảnh trong Tuyển Tập Nghiêm Sỹ Tuấn gần hoàn tất, tôi đã đọc và qua những bài viết của bạn hữu cũng là những người tôi hân hạnh quen biết, và có người tôi chỉ nghe danh nhưng tất cả là những người có uy tín mà tôi rất mến phục. Cùng với những bài vở do chính Nghiêm Sỹ Tuấn viết đã làm tôi có cái nhìn rộng hơn về Nghiêm Sỹ Tuấn, một con người vô cùng đặc biệt với những hiểu biết sâu rộng nhưng vô cùng khiêm tốn.

Chúng ta đã mất đi một người bạn, một tài năng hiếm hoi trong cái tuổi quá trẻ. Nghiêm Sỹ Tuấn đã không có dịp đem những tiềm năng dồi dào ấy hiến dâng cho đời, tiếc thay!

Suy nghĩ miên man tôi tự hỏi sao chúng ta không có một cơ sở y tế quân đội nào, một bệnh viện nào mang tên Nghiêm Sỹ Tuấn để tên Anh được nhiều người biết và nhắc đến như Đỗ Vinh, Lê Hữu Sanh, Trần Ngọc Minh…

Nhưng với đức tính khiêm cung thực sự của một kẻ sĩ, tôi nghĩ Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ cần một số bạn bè thân thiết thấu hiểu Anh là đủ.

Tôi xin nhân danh một đồng nghiệp, một đồng đội của Nghiêm Sỹ Tuấn trong Quân Y Nhảy Dù cảm ơn Ngô Thế Vinh và các bạn hữu của Tuấn đã dành công sức tạo nên Tuyển Tập này để thế hệ mai sau còn có người nhớ tới Nghiêm Sỹ Tuấn, con người với cuộc sống ngắn ngủi nhưng đầy ý nghĩa.” [1]

PHAN NHẬT NAM, xuất thân khóa 18 trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, một sĩ quan tác chiến của binh chủng Dù và cũng là một phóng viên chiến trường, tác giả những trang bút ký sống động trong cuộc Chiến tranh Việt Nam. Cảm xúc trước cái chết quá trẻ của Nghiêm Sỹ Tuấn, Y sĩ Tiểu đoàn 6 Nhảy Dù, Phan Nhật Nam viết:

Nghiêm Sỹ Tuấn tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa năm 1965 ở tuổi 28. Bác Sĩ Tuấn nhỏ người, chỉ cao 1 thước 58, nặng 40 ký. Một thân thể tương đối nhỏ so với tầm vóc trung bình, sức nặng cần thiết cho một người lính chiến, chưa nói đến quân nhân thuộc binh chủng Nhảy Dù. Xong hai khóa huấn luyện đến lễ mãn khóa, các tân khoa bác sĩ được mang cấp bậc Y Sĩ Trung Úy. Ngày chọn đơn vị phục vụ là một ngày quan trọng, quyết định tương lai, vận mệnh của người quân y sĩ. Trước giờ chọn đơn vị, một thông báo được tuyên đọc cho tất cả tân bác sĩ được rõ: “Người nào muốn chọn về Nhảy Dù hoặc Thủy Quân Lục Chiến chỉ cần đưa tay lên mà không cần phải đợi đến lượt xướng danh.

Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn liền đưa tay, vị sĩ quan phụ trách thoáng ngạc nhiên do thấy anh mong manh, gầy, nhỏ. “Anh chọn gì?” Tuấn đáp gọn: “Nhảy Dù”. Sau khi ký giấy tờ, anh bước ra khỏi phòng, không cần để ý đến ai sẽ đi đâu, và bao giờ buổi lễ chấm dứt. Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn chọn Nhảy Dù không do bất ngờ, ngẫu hứng bởi trước đây anh đã viết ra lời:

Cung Dâu dựng nhắm phương nào
Ngập ngừng tên cỏ ngày cao chất chồng
Mai sau đó gửi về không
Bóng vươn tinh đẩu mơ vùng núi cao.

Vâng, qua bài thơ Tuổi Đứng, Nghiêm Sỹ Tuấn hóa ra đã chọn sẵn nghiệp phận binh đao, anh đã quyết định trước.

Bác Sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn hẳn không chọn binh chủng Nhảy Dù do được khích động, quyến rũ từ hình tượng “áo hoa nón đỏ”, anh thuộc về một mẫu người khác. Giữa những năm 1960, khi đang làm báo Tình Thương của sinh viên Y Khoa, là những năm biến động, hỗn loạn toàn miền Nam, ngoài tiền tuyến chiến tranh ngày càng ác liệt lan rộng, dâng cao với chết chóc, tàn phá; trong khi hậu phương là một mặt trận khác với những cuộc biểu tình liên tục, vòng kẽm gai, và lựu đạn cay trải dài, chắn ngang, rối tung trên khắp các đường phố. Sài Gòn đã là một diễn trường tệ hại với những cuộc tranh giành quyền lợi giữa các phe nhóm, Trung úy Nghiêm Sỹ Tuấn, Bác Sĩ Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù đã chọn đúng đơn vị.

Nghiêm Sỹ Tuấn là một con người khác. Người của thế giới im lặng với Sách. Người sống trực tiếp với Chữ. Sống trực tiếp nghĩa đen và nghĩa bóng. Anh tiếp xúc thẳng với Nam Hoa Kinh, Đạo Đức Kinh qua Hán Văn. Anh hiểu nghĩa huyền vi của “Đạo khả Đạo phi thường Đạo. Danh khả Danh phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi Thủy. Hữu danh vạn vật chi Mẫu. Huyền chi hựu huyền” từ Hán Ngữ. Người đã học, sử dụng Hán Văn ắt hiểu trực tiếp hình tượng của Hán Ngữ là hiện thực cấu trúc của thế giới siêu hình.

Thế nên anh viết truyện ngắn Para Bellum với chủ ý từ thành ngữ La-Tinh: Si vis pacem, para bellum – Nếu Muốn Hòa Bình Hãy Chuẩn Bị Chiến Tranh – Không những là yêu cầu sinh tử của Việt Nam Cộng Hòa trong thập niên 1960’s mà của cả Việt Nam suốt Thế Kỷ 20 cho đến hiện nay.

Trở lại chữ nghĩa của Nghiêm Sỹ Tuấn. Khi cùng dịch tác phẩm Dưới Mắt Thượng Đế của Hans Killian với Bác Sĩ Nguyễn Vĩnh Đức, dịch từ bản tiếng Pháp Sous le Regard de Dieu của Max Roth, Nghiêm Sỹ Tuấn còn cẩn trọng tham khảo thêm bản gốc tiếng Đức Hinter Uns Steht Nur Der Herrgott. Nghiêm Sỹ Tuấn là một Kẻ Sĩ Thuần Việt sống đủ với Thân Phận Việt Nam.

Nghiêm Sỹ Tuấn không viết những dòng chữ không nội dung. Nghiêm Sỹ Tuấn không nói những lời nói suông… Từ hỗn loạn Sài Gòn sau 1/11/1963, anh có một lập trường rõ rệt, phản đối mọi cuộc xuống đường, dù ở phe nhóm tôn giáo nào. Muốn cách mạng ư? Trước hết cách mạng bản thân mình trước. Anh tiên tri, dự đoán, viết ra đủ cảnh tượng hỗn loạn vô nghĩa sau một sự kiện gọi là “cách mạng / cách mạng xã hội chủ nghĩa”: Giữa một thời thế, xã hội vật chất đang lên, (giá trị) tâm hồn tinh thần dần đi xuống.

Nghiêm Sỹ Tuấn cố gắng thoát khỏi thân riêng, tìm kiếm và tạo dựng cộng hưởng nơi người chung quanh, cụ thể những người lính mà anh chọn lựa đứng cùng đội ngũ trong lần tình nguyện đi Nhảy Dù.

Sĩ Trung Úy Nghiêm Sỹ Tuấn với ý thức tự do, đã đi tới chọn lựa: Tự nguyện dấn thân vào một cuộc chiến tranh thảm khốc. “… Làm gì có xương nào phơi vô nghĩa, càng vô nghĩa bao nhiêu càng ý nghĩa bấy nhiêu. Vả chăng xương nào thay được xương mình. Trái đậu thì hoa tàn. Hạt giống có chết cây mới nẩy mầm xanh, sao nói là vô nghĩa được… Cũng đừng buồn thấy lan nhược nở đỏ rồi rơi êm giữa rừng gai cằn cỗi. Cô đơn, đau khổ, gắng chịu một mình. Có thế mới thấy hết vẻ đẹp thanh tao của giếng êm, trăng rạng.”

Không hề chủ trương hay cổ động chiến tranh, nhưng cuối cùng Y Sĩ Trung Úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn đã chết do đạn cộng sản pháo kích khi đang cố băng bó vết thương cho một binh sĩ nơi địa đạo Khe Sanh một ngày Tháng 4, 1968.

Lá Thư thay lời kết: Trở lại chuyện Bác Sĩ Tuấn. Tháng 4, 1968 được mấy tiếng phép, từ mặt trận Nhị Bình, Hóc Môn tôi tới Chùa Ấn Quang để đưa đám Nguyễn Đức Cần, Khóa 19 Đà Lạt, Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù chết trận Khe Sanh đưa về. Trong câu chuyện nghe loáng thoáng… Nó (cộng sản) pháo kích ghê lắm, toàn pháo 130 ly hoặc hỏa tiễn 122 ly bên kia Bến Hải, thằng 6 (Tiểu Đoàn 6 Dù) cũng bị nặng, chết đến cả bác sĩ…

Bác sĩ Tuấn ơi, hơn nửa thế kỷ sau mới nghe ra, biết đầy đủ về bác. Cuối bài viết mới có lời kính điếu muộn gởi đến với Y Sĩ Trung Úy Nhảy Dù Nghiêm Sỹ Tuấn. Với lời tạ lỗi.” [1]

TRẦN MỘNG TÚ, Phụ nữ và chiến tranh là một đề tài lớn trong văn học nhân loại. Trần Mộng Tú đã qua một trải nghiệm chiến tranh đau thương nhất nơi địa danh Bình Thủy năm 1969, giữa tuổi thanh xuân của chị. Hơn thế nữa, chị là một nhà thơ. Khi đọc cuốn sách Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, Trần Mộng Tú đã viết những dòng chữ thật cảm động trong “Ngọn nến muộn màng cho người yêu nước Nghiêm Sỹ Tuấn.” [1]

Cuốn sách về một cuộc đời rất ngắn của Bác Sĩ Quân Y Nghiêm Sỹ Tuấn, một Thi Văn Sĩ , tử trận ở tuổi 31 tại Khe Sanh năm 1968 khi anh đang là Y Sĩ Trung Úy Tiểu Đoàn 6, Nhảy Dù. Nghiêm Sỹ Tuấn chết ở cái tuổi đẹp nhất của đời người: đời của một Y Sĩ, một Thi Sĩ và đời người Lính. Với ba cái đó cộng lại, Nghiêm Sỹ Tuấn là một con người sống lý tưởng và ôm đầy hoài bão tốt đẹp.

Với trái tim nồng nàn Anh đã đối diện với định mệnh Si Vis Pacem Para Bellum. Anh đi tìm hòa bình trong chiến tranh, Chiến Tranh là một điều không né tránh được nếu nhân loại thực sự muốn có Hòa Bình. “Cư An Tư Nguy”, người quân nhân nào cũng thuộc lòng câu đó khi vào nhiệm vụ. Anh đi vào chiến tranh như một người nông phu bước vào thửa ruộng của chính mình. Không có điều gì tự nhiên mà có được, như muốn có bông lúa thì người nông phu phải cày bừa trong bùn đất.

Nghiêm Sỹ Tuấn đã đi vào chiến tranh như thế. Bỏ lại gia đình, bạn hữu, người yêu. Anh có một người yêu hay không? Chắc là phải có vì ta đọc trong văn thơ của Anh thấp thoáng đối thoại giữa Anh và một người con gái.

Người thứ nhất: Nghiêm Sỹ Tuấn
Người thứ hai: Người Yêu
Người thứ hai: Em vừa nghe đọc tên anh. Bao giờ anh đi?
Người thứ nhất: Ngày mai, ngày kia, một tuần, một tháng, không chừng.
Người thứ hai: Anh có vẻ nhàn nhã thế. Không lo chi cả sao?
Người thứ nhất: Có gì phải lo đâu em. Anh sẵn sàng đã lâu rồi. Em muốn nói với anh, sao ngập ngừng?
Người thứ hai: Hơi khó nói một chút. Anh thật đã sẵn sàng, không còn gì bận tâm?
Người thứ nhất: Anh hiểu. Em vừa hỏi anh câu ấy. Thực ra, khi vừa rời sách vở, lúc ấy người ta mới rất nhiều bận tâm. Thân mình, ruột thịt, bạn bè, tình yêu. Với mặt trời, hoa cỏ và chim kêu. Tìm giữ tất cả ngần ấy thứ bên mình và trong đầu óc một hình ảnh, một mục đích, một điều ước mơ gì đó. Khó mà tìm ra đường lối giữ và khổ nhất là theo đúng đường lối tìm ra. Sao cho luôn luôn có thể nhìn ngay được những bận tâm ấy mà lòng vẫn nhẹ nhàng. Nhưng hôm nay em lại hỏi anh thế: Từ cả năm nay có khi nào đâu? Anh cũng vậy, chưa khi nào. (Trích đoạn trong Para Bellum
  NST)
Anh sẵn sàng đã lâu rồi. (NST)
Đúng Anh sẵn sàng sửa soạn đi vào chiến tranh (Para Bellum)
. Không phải chỉ sửa soạn cho chính mình mà cho cả thế hệ đang tới này hiểu thế nào về lòng yêu nước.
Khi Anh nằm xuống Anh vẫn là một người đàn ông độc thân. Không có một vành khăn tang trên đầu quả phụ. Người yêu mơ hồ trong văn chương của anh không hiện thực.
 Chôn theo thân xác anh là một linh hồn đầy ắp lý tưởng và họ đã phủ trên ngực Anh một lá cờ rũ.
Chúng ta gấp cuốn sách lại với ngậm ngùi và lòng kính trọng. Chiến tranh Việt Nam luôn luôn là một vết thương không bao giờ lành dù nhìn dưới một khía cạnh nào. Cho dù vết thương có khô
 máu, có lên lớp da non.

Trần Mộng Tú đã có một bài thơ thật cảm động về:

Tuổi Trẻ, Tình Yêu và Chiến Tranh

Những tờ nhật báo
mỗi ngày một giống nhau
hôm nay tin địch chết
ngày mai tin ta chết
mẹ già cuối xóm
đi nhận xác con
người vợ trẻ xếp hành trang cho chồng mai đi sớm
tăng thêm quân
tuổi mười tám xếp bút nghiên cầm súng
đào thêm hầm
người chết thiếu chỗ chôn
chung quanh em bỗng thấy
thành phố tắt tiếng cười
chiếc áo em đang mặc màu xanh
em nhìn thành màu đỏ
mùi mực in
thành mùi máu tanh hôi
em yếu đuối
em ngơ ngác tâm thần
em sợ lắm rồi thây người ngã xuống
Không,
không bao giờ em muốn anh đi
Anh gạt tay em dấn mình vào lửa
mảnh đạn mảnh bom chặn mất đường về
ngày mai mưa nắng anh không biết
lửa hỏa châu
đốt cháy lời thề. 
[1]

Trần Mộng Tú (1968)

TRẦN THỊ NGUYỆT MAI, cô là một thuyền nhân, thuộc một thế hệ sau và khác, hoàn toàn không biết gì về Nghiêm Sỹ Tuấn. Năm Nghiêm Sỹ Tuấn mất, cô đang còn ở lứa tuổi hoa. Nhưng khi được đọc các bài viết về Nghiêm Sỹ Tuấn, cô cảm nhận ngay được Thông Điệp Mùa Xuân của anh, Nguyệt Mai bồi hồi xúc cảm viết:

Tối hôm qua tôi mới đọc xong những bài viết của Bác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấncùng những chia sẻ tâm tình từ những bạn đồng môn của ông. Như một độc giả thuộc thế hệ sau hoàn toàn không biết gì về ông, tôi xin ghi lại ít dòng cảm tưởng về người đã khuất qua những trang viết của chính ông và của bằng hữuBác sĩ Nghiêm Sỹ Tuấn tử trận tại Khe Sanh tháng 4 năm 1968. Ông hy sinh khi đang săn sóc vết thương cho một thương binh khi cuộn băng còn cầm trên tay!”

Ông đã yên nghỉ đời đời khi Mùa Xuân thật sự của dân tộc vẫn còn xa tắpNhưng qua những bài viết và phong cách sống của Nghiêm Sỹ Tuấn, thì thông điệp dấn thân – hy sinh – quên mình của Ông vẫn còn đó. Và đó cũng chính là tấm gương sáng: Con Đường Sáng, cho các thế hệ sau tiếp bước Nghiêm Sỹ Tuấn Đi Tìm Mùa Xuân cho Dân Tộc.” [1]

KẾT TỪ CHO MỘT BÀI VIẾT

Nghiêm Sỹ Tuấn không bao giờ chủ trương hay cổ động chiến tranh vì ý thức hệ, nhưng Anh chấp nhận nhập cuộc chỉ để phục vụ công lý, chống lại sự dối trá bất công để đạt được ổn định, công bằng xã hội và hạnh phúc cho con người.

Giữa một thế nước chông chênh, Nghiêm Sỹ Tuấn với ý thức tự do, Anh đã đi tới một chọn lựa: tự nguyện dấn thân vào một cuộc chiến tranh thảm khốc với tinh thần của Hội nghị Diên Hồng từ 700 năm trước.

Nghiêm Sỹ Tuấn đã đột ngột ra đi trong sự thương tiếc của mọi người, luyến tiếc cho một cuộc hành trình đầy kỳ vọng và hứa hẹn. Mất Nghiêm Sỹ Tuấn chúng ta mất đi tinh hoa của một thế hệ trí thức mà nhân cách, tư tưởng là biểu hiện cao đẹp của một kẻ sĩ trong thời chiến của những năm 1960. Nghiêm Sỹ Tuấn là điển hình tính nhân bản của truyền thống y khoa, của một người y sĩ sẵn sàng dấn thân để phục vụ con người khổ đau trong hoàn cảnh bất thường của đất nước.

Viết về Nghiêm Sỹ Tuấn là vượt lên trên sự vinh danh một cá nhân. Với tâm hồn phóng khoáng và kiến thức cao rộng như anh, Nghiêm Sỹ Tuấn hoàn toàn không cần đến điều đó. Nhưng làm sao chuyển tải được thông điệp dấn thân, hy sinh” của Nghiêm Sỹ Tuấn tới các Bạn Trẻ Việt Nam như những người tiếp bước Anh “Đi Tìm Mùa Xuân” cho đất nước, đó mới là ước vọng của Nghiêm Sỹ Tuấn.

Đối tượng của bài viết này không phải chỉ là với một thế hệ sắp qua, mà chính là các thế hệ đang tới: đó là mối ưu tư của Nghiêm Sỹ Tuấn từ hơn nửa thế kỷ trước đối với các vấn đề căn bản của con người, của đất nước mà cho đến nay vẫn còn dở dang và nguyên vẹn. Lớp Người Trẻ, như lực lượng tiên phong sẽ nhận lãnh trách nhiệm bảo vệ các hệ thống giá trị vĩnh hằng, những chuẩn mực về quyền của con người – mà bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền vẫn mãi là một thông điệp sống động khẳng định quyền người dân được sống trong tự do với đầy đủ phẩm giá và nhân cách.

Những bài viết về Nghiêm Sỹ Tuấn tuy ra đời muộn màng hơn nửa thế kỷ sau ngày Anh mất, không thuần chỉ là một tưởng niệm, một nén nhang tưởng nhớ người Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, nhưng còn là một thông điệp với tầm nhìn xa của Nghiêm Sỹ Tuấn để lại cho các thế hệ mai sau, tiếp bước Anh đi Tìm Mùa Xuân cho Dân tộc.

Văn chính là người, câu đó hoàn toàn đúng với Nghiêm Sỹ Tuấn. Đó là sự nhất quán giữa tác phẩm và cuộc sống của Nghiêm Sỹ Tuấn qua mọi hoàn cảnh cho tới ngày Anh mất. Nghiêm Sỹ Tuấn là một trí thức, một kẻ sĩ dấn thân, một quân nhân gương mẫu. Anh là hình ảnh tuyệt đẹp của phục vụ và hy sinh. Anh chết quá trẻ ở tuổi 31, thời gian của tích lũy và đi tìm vốn sống. Kiến thức và vốn sống đó chưa có thời gian để đơm hoa kết trái, những trang viết của Nghiêm Sỹ Tuấn chỉ mới là những bản nháp, anh chưa có tác phẩm lớn nhưng cuộc sống anh đã là một tác phẩm lớn cống hiến cho đời. Nguyễn Vĩnh Đức, Chủ bút đầu tiên của báo Tình Thương, đã quý mến gọi Nghiêm Sỹ Tuấn là “Người Thư Sinh Muôn Thuở”. Mang vóc dáng của một thư sinh nhưng Anh rất mạnh mẽ. Anh là một tượng đài đơn độc và cũng là một biểu tượng tuyệt đẹp trong suốt cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Ai đã từng tiếp xúc biết tới Nghiêm Sỹ Tuấn đều mang lòng ngưỡng mộ và cả hãnh diện có được một người bạn như Anh. Rồi nghĩ tới câu thơ của thi hào Nguyễn Du: Thác là thể phách, còn là tinh anh, như một nguồn an ủi.

NGÔ THẾ VINH
Sài Gòn 1963 – California 2022

Tham Khảo:

1/ Tuyển tập Y Sĩ Tiền Tuyến Nghiêm Sỹ Tuấn, Người Đi Tìm Mùa Xuân. TSYS Việt Nam Canada & Việt Ecology Press 2019

2/ Tình Thương, Một Thời Nhân Bản [TSYS số 184, 01/2010]

3/ Phạm Liêu: Viết về Nghiêm Sỹ Tuấn. Nguyệt san Tiền Phong số 38, 15/12/1968[Trích trong Mũ Đỏ.]

‘Muốn tìm Diễm My thì tự xử, sao lại nói Thiền am dụ dỗ?’

Lời giới thiệu: Trong mớ thông tin nhiễu loạn về Thiền Am trong giới báo chí thì cũng có một người làm báo đàng hoàng. Kí giả này đã đến tận nơi để phỏng vấn về những vu cáo của một ‘đám đông cuồng nộ’ đối với Thiền Am. Bài này đăng trên báo “Doanh Nghiệp và Tiếp Thị” và được 2sao.vn đăng lại.

https://2sao.vn/muon-tim-diem-my-thi-tu-xu-sao-lai-noi-thien-am-du-do-n-283400.html

‘Muốn tìm Diễm My thì tự xử, sao lại nói Thiền am dụ dỗ?’

Ngày 31/10, bà Đoàn Thị Tuyết Mai và ông Võ Văn Thắng (cha mẹ ruột của Diễm My – cô gái từng khiến “Tịnh thất Bồng Lai” trở thành cái tên gây xôn xao) đã có buổi trò chuyện với một nữ doanh nhân và khẳng định sẽ trao giải 1 tỷ đồng cho ai tìm được con gái mình.

Trước những nghi vấn về tung tích của cô gái này, chúng tôi đã tìm về Thiền am bên bờ vũ trụ (tiền thân là Tịnh thất Bồng Lai) ở ấp Lập Thành (xã Hòa Khánh Tây, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) để tìm gặp “tu sĩ” Nhất Nguyên.

Ông đồng ý cho cuộc trò chuyện dài này nhằm làm rõ những lùm xùm vừa qua, song toàn bộ phỏng vấn được diễn ra bên ngoài khuôn viên của Thiền am, cách nhà 5 mét.

“BA MẸ DIỄM MY LỤC TUNG TỪNG PHÒNG, TỪNG GẦM GIƯỜNG Ở TỊNH THẤT NHƯNG CÓ THẤY CON ĐÂU”

Vấn đề tung tích của Diễm My được nhiều người tìm kiếm gần đây, Thiền am bên bờ vũ trụ có ý kiến như thế nào, thưa ông?

Ông Nhất Nguyên: Nếu nữ CEO muốn tìm Diễm My thì cô nên hỏi thêm mấy thầy ở đây, hỏi cả Diễm My rằng cô bé đã sống với gia đình thế nào, nguyện vọng bây giờ ra sao.

Còn về cha mẹ Diễm My, nếu muốn tìm em ấy thì phải xử lý ở phía Diễm My, chứ tại sao suốt nhiều năm nay lại nói rằng Thiền am dụ dỗ. Tôi hỏi thật bạn, chuyện đi tu, nếu bạn không tin thì giờ tôi dụ dỗ như thế nào?

Diễm My khi ấy đã 22 tuổi, bạn ấy hướng Phật nên vào khoá tu mùa hè đã gặp được Huyền Trân. Hai đứa hợp nhau, thấy Thiền am thoải mái thì đưa về đây tu, mà không ở đây thì cũng sẽ ở chùa khác. Mọi chuyện chỉ đơn giản, thể khoa học như vậy, nhưng gia đình Diễm My lại cứ tin rằng Thiền am cho uống bùa mê.

Đến ngày 22/10/2019, tôi còn nhớ, Diễm My gọi điện về cho thầy Tùng Vân nói: “Thầy ơi, con đi 3 tháng rồi nên chắc ba không bắt con về nhà nữa đâu. Thầy xin ba cho con ở Thiền am tu, lâu lâu ba xuống thăm”. Thế là sư phụ gọi điện trình bày với gia đình.

Mới 9h sáng Diễm My về tới nơi thì 11h trưa, gia đình Diễm My đã xuống, cả ngày ngồi thuyết phục con bé trở về nhà. Con bé thấy không ổn, tha thiết mong muốn cho ở lại Thiền am tu nhưng không thành nên đã tìm cách xin đi toilet rồi lẻn ra cửa chính trốn.

Thế là ngày 24/10/2019, bố mẹ Diễm My kéo người xuống, lục tung từng phòng, từng gầm giường kẽ tủ để tìm người. Tất cả đều có clip ghi lại, nhưng có tìm thấy Diễm My đâu.

Tới tận bây giờ thì Diễm My đã cắt đứt liên lạc với Thiền am. Thậm chí đã để lại email nhưng không có phản hồi!

Liên hệ với bố mẹ Diễm My, chị Mai cho biết suốt 2 năm nay khi con gái bỏ đi, vợ chồng chị luôn tìm kiếm và mong con quay trở về.

“Mẹ biết con đang u mê. Cho dù mẹ có khổ cực thế nào thì mẹ cũng tìm con cho được, mẹ không thể nào bỏ con được. Con quay về với cha mẹ đi con, mẹ năn nỉ con”, chị Mai nói.

Diễm My bỏ nhà đi là vào năm 2019, trước thềm đi du học. Sau đó, hai anh chị được gặp con tại trụ sở công an huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Vào ngày 11/6/2020, Diễm My đã bỏ trốn lần nữa.

“Chỉ trong một tích tắc, Diễm My đã vuột khỏi tay mẹ. Vợ tôi sốc đến mức ngất xỉu. Tôi vừa đỡ vợ, vừa gọi cho anh em bạn bè tỏa nhau đi tìm.

Mỗi lần có thông tin về những nơi có thể tìm thấy con, tôi đều chạy đi. Từ những cơ sở “thiện nguyện” cũ của ông Lê Tùng Vân, cho đến những ngôi chùa ở miền Tây, chúng tôi chưa bao giờ bỏ sót bất kỳ thông tin nào liên quan đến con mình. Trong suốt thời gian qua, vợ chồng tôi chưa có một ngày bình yên.

Chúng tôi bỏ hết công sức, thời gian, tiền bạc… ra để tìm kiếm, mong một lần có thể gặp lại con mình nhưng vô vọng”, anh Thắng (bố Diễm My) nói.

“CHÚNG TÔI LO SỢ”

Vậy qua những sự việc xảy ra gần đây, các “tu sĩ” tại Thiền am hiện đang sống như thế nào?

Ông Nhất Nguyên: Hơn 10 sư thầy hiện tại vẫn đang làm công việc để duy trì cuộc sống, các chú tiểu thì học online. Thế nhưng, nói thật, chúng tôi đều lo sợ.

Bởi cái chuyện bị tấn công thế này, nó không phải lần đầu mà đã xảy ra suốt nhiều năm nay rồi!

Lần đầu tiên người ta tìm tới, đập cửa làm phiền. Lần thứ 2 thì có một nhóm sẵn sàng tông ô tô thẳng vào bên trong, cầm gậy bóng chày tấn công “tu sĩ”. Lần 3, giữa đêm 12h pháo ở đâu cháy khắp sân. Còn riêng ngày 28/10 vừa rồi, như những gì camera ghi lại mà bạn cũng thấy, họ chạy xe máy tới, cầm dao chém liên tục vào cửa.

Ngay cả khi cô Cao Thị Cúc (chủ hộ-PV) chạy ra xem xét tình hình mà họ còn rượt theo khiến tất cả phải cài then, đóng chặt. Chuyện tấn công cả chủ nhà như thế nó không còn là gây rối mà là uy hiếp mất rồi.

Thiền am đã xử lý vụ việc bị tấn công như thế nào?

Ông Nhất Nguyên: Chúng tôi đang trình báo lên lực lượng chức năng trong khu vực để giải quyết và bảo đảm an toàn. Đồng thời, toàn bộ clip, hình ảnh, tôi cũng đưa lên mạng xã hội để lan toả đến mọi người. Dù rất lo sợ, nhưng chúng tôi vẫn bắt buộc phải ra ngoài, đi chợ, sinh hoạt.

Chỉ riêng có thầy Tùng Vân, gần đây ông ấy rất buồn!

“THẦY TÙNG VÂN XEM CLIP CỦA VỊ CEO RỒI MỈM CƯỜI”

Buồn vì bị người lạ mặt tấn công vào Thiền am phải không ông?

Ông Nhất Nguyên: Buồn vì tất cả mọi chuyện.

Bởi cả đời thầy Tùng Vân sống một cách đạo hạnh, Thiền am cũng chưa bao giờ động chạm ai, gây hại ai, thế nhưng người ta vẫn ghét bỏ. Chúng tôi cũng không thể lý giải được ghét ở đây là ghét cái gì?

Ban đầu, khi vị doanh nhân livestream nói về thầy, thầy còn nhờ đệ tử mở cho xem. Trước nghi vấn, thầy Tùng Vân còn sẵn sàng gửi một clip đáp trả. Nhưng sau khi CEO ấy thách thức 20 tỷ, chửi thầy thậm tệ thì ông không còn nói gì nữa. Ông xem clip rồi chỉ mỉm cười. Vì như vậy thì hết, hết thật rồi.

Vậy thầy Tùng Vân có giải thích như thế nào về những điều mà doanh nhân kia cùng ông Lê Thanh Minh Tùng đã nói trong những clip trên mạng xã hội?

Ông Nhất Nguyên: Tôi nói thật bạn, chỉ có xét nghiệm ADN để chứng thực, một điều kiện nhỏ xíu mà sư phụ nhờ Lê Thanh Minh Tùng làm mà còn làm không được thì đừng hỏi điều gì lớn lao cả.

Tôi xin khẳng định, Minh Tùng lấy cái mác Lê Thanh ra để tố giác thầy Tùng Vân, nhưng ông ấy chẳng có quan hệ gì cả. Hồi đó, ông ấy sống với cô Tư (em ruột thầy Tùng Vân-PV), nên sư phụ mới đặt dùm cái tên thôi. Vậy mà giờ, ông ấy bịa đặt ra từng câu từng chữ.

Còn riêng những hình ảnh thân thiết với nhau, tôi nói bạn, hôm đó đám cưới, sư phụ được mời thì cái chuyện đến đó, chung vui, chụp hình làm kỷ niệm, nó bình thường thôi! Riêng tôi, tôi biết Lê Thanh Minh Tùng, nhưng đến giờ đã nói chuyện với nhau được 5 câu chưa?

Tùng nói sư phụ dẫn gái về, bị đưa lên công an, nếu bạn không tin thì có thể đến phòng công an PC 14 và trích xuất hồ sơ xem có trường hợp đó không thì mọi chuyện sẽ rõ.

“THIỀN AM SỐNG RẤT ĐÀNG HOÀNG”

Không chỉ riêng ông Lê Thanh Minh Tùng, trước đây Thiền am bên bờ vũ trụ cũng đã bị nhiều người gửi đơn tố giác đến cơ quan chức năng, “tu sĩ” có giải thích gì?

Ông Nhất Nguyên: Về trường hợp cô Trần Ngọc Xuân, mọi người nói bỏ nhà đi tu, hiện tại cô ấy vẫn sống tại Thiền am. Thậm chí, ba ruột của cô ấy còn mong cô ấy tu tại đây và đang gửi đơn thưa những người đã bôi nhọ cô.

Riêng tin đồn là có bầu, có con,… Ngọc Xuân đã nói với chúng tôi sẵn sàng đi kiểm tra trinh tiết để kiện người đã vu khống mình.

Nói như “tu sĩ” thì tất cả lùm xùm vừa qua đều không phải là sự thật?

Ông Nhất Nguyên: Trước khi 5 chú tiểu nổi tiếng, chắc mọi người không biết gì về Thiền am. Thế nhưng, 3, 4 năm nay, thử hỏi mọi người nêu ra điều gì mà chúng tôi đã làm trái đạo đức, trái xã hội không?

Nào là nuôi dạy các chú tiểu ngoan ngoãn để làm gương cho các bé trên đất nước mình, nào là đem những đạo hạnh, tài năng đi giúp đời,… Cả một đời Thiền am đều sống đàng hoàng, chưa bao giờ vi phạm pháp luật, không động chạm ai, gây hại ai cả.

Nếu không phải sự thật, tại sao Thiền am chưa bao giờ lên tiếng?

Ông Nhất Nguyên: Mấy ngày sau khi lùm xùm nổ ra, nhiều người thương Thiền am cũng nhắn tin động viên, nhưng thầy Tùng Vân đã không còn quan tâm nữa rồi.

Chúng tôi đều có công việc và đời sống tu học riêng vì vậy chỉ nhìn vào đó mà thực hiện. Vì vậy, bạn thấy đấy, đã bao nhiêu lần sóng gió ập đến, nhưng đến nay Thiền am vẫn hoạt động.

Vậy tiếp theo, “tu sĩ” mong muốn điều gì?

Ông Nhất Nguyên: Hiện tại, chúng tôi đã thu thập chứng cứ, liên hệ các luật sư và sẽ sớm tố cáo ông Lê Thanh Minh Tùng ra trước cơ quan pháp luật.

Xin cám ơn chia sẻ của “tu sĩ”!

Liên hệ với ông Lê Văn Bích (trưởng ấp Lập Thành) để lắng nghe những chia sẻ về lùm xùm tại Thiền am bên bờ vũ trụ, ông Bích cho biết trong 2 năm qua đã nhiều lần tham gia xử lý các vụ việc liên quan.

“Trong suốt thời gian chống dịch Covid-19, tình hình bận rộn nên tôi chưa nắm rõ. Thế nhưng, nhiều lần tôi đến nơi để vận động cho các chú tiểu đi học, họp hành,… thì cửa nhà luôn đóng kín mít. Họ đều rất ít giao tiếp với xung quanh nên mọi người không rõ tình trạng như thế nào…” – ông Bích nói thêm.

Theo Doanh Nghiệp và Tiếp Thị