Tin mừng ngày Quốc Khánh Úc: Huân chương Australia

Ngày Quốc Khánh Úc năm nay (26/1/2022) đối với tôi là một ngày rất đáng nhớ trong đời: tôi được Tổng toàn quyền Úc (Đại diện Nữ Hoàng) trao Huân chương Australia (Order of Australia) [1]. Tôi chợt nhớ nhiều kỉ niệm cũ và viết cái note này như là một lời tâm tình.

Tin vui đến một cách hoàn toàn bất ngờ từ tháng 10 năm ngoái [2]. Nhưng cái bất ngờ hôm đó cộng thêm cái bất ngờ về sự trùng hợp hôm nay! Đúng vào ngày này của 40 năm trước (26/1/1982) tôi đặt chân đến Úc bắt đầu hành trình của một ‘thuyền nhân‘. Từ bất ngờ này đến bất ngờ khác làm cho cái Tết năm nay thiệt là có ý nghĩa.

Huân chương Australia ghi nhận For significant service to medical research, particularly in the field of osteoporosis and fracture prevention, and to tertiary education” (tạm dịch là  “Cống hiến quan trọng cho nghiên cứu y khoa, đặc biệt là lãnh vực phòng chống loãng xương và gãy xương, và cho giáo dục đại học”).

Loãng xương

Cái citation trên làm tôi rất vui. Vui là vì nỗ lực và đóng góp cho chuyên ngành loãng xương 30 năm qua đã được ghi nhận (như tôi viết trong cái note bằng tiếng Anh [3]). Loãng xương là một bệnh lí với đặc điểm chánh là suy giảm lượng chất khoáng trong xương, suy thoái vi cấu trúc xương, dẫn đến tăng nguy cơ gãy xương. Gãy xương, đặc biệt là gãy xương đùi, tăng nguy cơ tử vong và  giảm tuổi thọ. Cùng với sự gia tăng dân số cao tuổi, loãng xương được xem là một gánh nặng y tế quan trọng toàn cầu.

Tôi bỏ ra hơn 30 năm để tìm cách giảm nguy cơ gãy xương và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân. Lãnh vực nghiên cứu tôi theo đuổi là ‘precision medicine’ (có thể hiểu nôm na là y học chính xác). Y học chính xác dựa vào gen và các yếu tố môi trường để đánh giá nguy cơ mắc bệnh chính xác và để tăng hiệu quả điều trị. Nhờ hàng loạt cơ hội và may mắn tôi đã đạt được những thành tựu giúp ích cho chuyên ngành và cho đời. Chúng tôi góp phần định nghĩa lại loãng xương, viết lại một phần trong sách giáo khoa về loãng xương và mất xương, khám phá gen liên quan đến loãng xương, tạo ra chữ kí gen cho loãng xương, xây dựng mô hình tiên lượng gãy xương đầu tiên trên thế giới và giúp quản lí bệnh loãng xương tốt hơn, v.v.

Hai mươi năm trước tôi viết một bài xã luận chỉ ra rằng loãng xương là một bệnh lí không được chẩn đoán đúng mức, thiếu điều trị, và chưa được ghi nhận đúng mức. Dù đã có nhiều tiến bộ trong 20 năm qua, nhưng rất tiếc là những gì tôi viết vẫn còn tính thời sự. Do đó, chúng tôi còn rất nhiều thách thức phải vượt qua. Những thách thức này đòi hỏi phải có nghiên cứu khoa học.

Nghiên cứu y khoa

Tôi xem huân chương này là một ghi nhận tầm quan trọng của nghiên cứu y khoa. Nước Úc chỉ có 25 triệu dân, nhưng là một ‘cường quốc’ khoa học, đặc biệt là nghiên cứu y khoa. Trong số 16 khôi nguyên Nobel người Úc, có đến 8 người là các nhà khoa học y khoa. Úc đạt được thành tựu đó là vì Nhà nước đã có những chiến lược hợp lí, những đầu tư xứng đáng, và đào tạo được một ‘lực lượng’ khoa học hùng hậu.

Vào thời điểm này, tôi dĩ nhiên là người vui mừng, nhưng tâm trí tôi thì hướng về các đồng nghiệp trong cộng đồng nghiên cứu y khoa ở Úc. ít ai biết rằng chúng tôi — dù mang hàm giáo sư hay học vị bác sĩ và tiến sĩ — đều rất khổ. Người mới tốt nghiệp tiến sĩ và nếu may mắn có một vị trí hậu tiến sĩ thì rất khó có một sự nghiệp vững vàng. Lí do đơn giản là mỗi người chỉ ‘sống’ được có 12 tháng, vì sau đó không ai biết có tài trợ để ‘sống’ tiếp trong vị trí hậu tiến sĩ. Ngay cả sau khi đã thành danh và đạt cấp giáo sư thì nỗi khổ càng nhân lên gấp bội, vì trách nhiệm phải xin tài trợ khắp nơi. Mà, xác suất được tài trợ chỉ chừng 9% (thay vì 12% của 10 năm trước). Ngay cả khi may mắn có được tài trợ khoa học thì cũng chỉ đủ để trả 60% lương, phần còn lại 40% là nhờ vào các nhà mạnh thường quân và đại học. Chúng tôi rất khổ.

Thế nhưng chúng tôi có niềm đam mê khoa học. Chúng tôi có mục tiêu và theo đuổi mục tiêu đến cùng. Chúng tôi tin vào sự xuất sắc. Đó chính là lí do tại sao nhiều bác sĩ và tiến sĩ làm nghiên cứu không lương. Có bác sĩ tự bỏ tiền túi ra theo đuổi nghiên cứu khoa học.

Có thể những gì chúng tôi làm mới nghe qua thì có vẻ xa rời thực tế, nhưng lợi ích lâu dài thì khó thấy. Có ai ngờ rằng mRNA được ứng dụng cho việc bào chế vaccine cho Covid-19. Đâu có ai biết được những ý tưởng như trò chơi mà sau này được ứng dụng trong khoa học kinh tế. Có ai ngờ rằng những phát triển về mô phỏng được ứng dụng để dự báo diễn biến đại dịch Covid-19 vừa qua. Những vốn liếng và kiến thức khoa học đó đã giúp cho chúng ta có thuốc và vaccine chống Covid-19 rất nhanh. Do đó, tôi xem những đồng nghiệp trong cộng đồng nghiên cứu y khoa là những ‘anh hùng trầm lặng’.

Do đó, tôi rất đồng ý với ông Bộ trưởng Y tế Úc, Greg Hunt, khi ông nói rằng cộng đồng nghiên cứu y khoa Úc đang có một cơ hội vàng để trở thành một lãnh đạo toàn cầu. Trong chuyên ngành loãng xương, Úc đã là một lãnh đạo toàn cầu vì có những nhà nghiên cứu lừngd anh trên thế giới. Thế nhưng tôi nghĩ ông và chúng tôi nên làm nhiều hơn là nói: chúng ta nên kiến tạo một hệ thống để nuôi dưỡng các nhà khoa học sáng giá để thực hiện mục tiêu trở thành lãnh đạo thế giới.

Từ trái sang phải: Giáo sư John Eisman (mentor của tôi, người vào đại học năm 15 tuổi); Giáo sư Peter Croucher (nay là Phó viện trưởng Viện Garvan); Giáo sư John Hewson (từng là Lãnh tụ Đảng Tự Do của Úc). Hình này chụp nhân dịp buổi lễ khai mạc Sáng kiến Osteoporosis Australia mà tôi đóng góp một phần.

Quê hương thứ hai

Khi nhận bất cứ phần thưởng nào, tôi đều nghĩ đến chuyện ân tình. Ơn đầu tiên là nước Úc, nơi đã mở rộng vòng tay đón hàng trăm ngàn ‘thuyền nhân’ trong lúc khó khăn nhứt vào thập niên 1970-1980. Không có Úc tôi không có như ngày hôm nay — và đó là điều chắc chắn.

Image for post
Photo: https://www.centreforideas.com/temporaryep1

Do đó, có thể nói rằng tất cả chúng tôi đều chịu ơn nước Úc. Thật ra, tôi nghĩ khi chánh phủ Úc khi tiếp nhận chúng tôi, họ chẳng bao giờ nghĩ đến việc được đền ơn đáp nghĩa. Thế nhưng, người Việt chúng ta mang trong máu tư tưởng ‘Uống nước nhớ nguồn‘ nên đã phấn đấu để đóng góp cho đất nước này tươi đẹp hơn, và đó chính là một đền đáp ân nghĩa vậy.

Tự thâm tâm, tôi xem cái huân chương này có ý nghĩa hơn những giải thưởng và huy chương khác mà các hiệp hội chuyên môn và đại học trao tặng. Huân chương này có ý nghĩa cho cộng đồng nhiều hơn là cho tôi. Huân chương ghi nhận một đóng góp của tôi cho nước Úc, và tôi là một thành viên trong cộng đồng người Việt ở đây, nên nó cũng chính là một ghi nhận về sự đóng góp của cộng đồng người Việt cho nước Úc. Một cái vui khác là mình góp thêm một ‘Nguyen’ vào thành tựu của quê hương thứ hai.

Ngày này đúng 40 năm trước (261/1982) tôi tới Úc và bắt đầu một cuộc đời mới của một ‘boat people’, mà tôi có ghi lại đôi lời trước đây [4]. Mười năm đầu thì loay hoay định cư; 10 năm sau thì an cư và làm lại cuộc đời; 10 năm kế tiếp là thời gian phấn đấu để có chỗ đứng trong xã hội mới; và 10 năm sau đó là chuẩn bị lui vào hậu trường để nhường bước cho thế hệ sau. Thành ra, 40 năm mới nghe qua thì có vẻ dài, nhưng chỉ là một thoáng thời gian mà thôi.

Trong cái quãng thời gian đó, tôi không bao giờ, dù chỉ vài giây, nghĩ đến giải thưởng hay vinh dự, này nọ. Những ngày mới qua đây thì phải quần quật làm việc ngày đêm để kiếm sống và gởi tiền về nhà bên Việt Nam. Đến lúc ổn định một chút thì đến chuyện học hành. Học hành xong lại phải lo phấn đấu để tồn tại trong môi trường cạnh tranh ác liệt. Cuộc sống có quá nhiều khúc quanh và thách thức mới ở mỗi giai đoạn. Thì giờ đâu mà nghĩ đến giải thưởng với huân chương.

Thế nhưng cũng giống như người trồng trái cây, gieo hột tốt một thời gian thì sẽ có ngày hưởng trái ngọt, những cống hiến hết mình vì tha nhân sẽ có ngày được tha nhân hồi đáp. Những gì mình sở hữu chính là những gì mình cho đi.

Viện Garvan và bạn bè quốc tế

Trong thời gian 40 năm ở Úc, thì tôi đã có 30 năm gắn bó với Viện nghiên cứu y khoa Garvan. Đó là một thời gian tương đối dài. Ở Garvan tôi gặp và học hỏi rất nhiều từ những người lừng danh trong thế giới y khoa. Có thể nói Garvan là nơi đã định hình tôi, là một phần trong cuộc đời và sự nghiệp của tôi. Không có Garvan tôi không có được những câu trong cái citation trên. Nhưng tôi cũng đóng góp vào lịch sử phát triển của Garvan và có thể nói không ngoa rằng tôi là một phần của lịch sử Garvan.

Những ngày ở Garvan vào giữa thập niên 1990

Cơ duyên tôi đến với Garvan là qua một buổi phỏng vấn với Gs John Eisman vào đầu năm 1991. Lúc đó, dự án nghiên cứu Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study (DOES) mới bắt đầu, nên có rất nhiều việc cần làm. Tôi làm ngày đêm cho dự án. Qua dự án DOES chúng tôi đã có nhiều đóng góp tiền phong cho chuyên ngành: khám phá gen, xác định ngưỡng mật độ xương cho chẩn đoán loãng xương, xây dựng mô hình tiên lượng, định nghĩa lại khái niệm mất xương, đánh giá nguy cơ tử vong sau gãy xương. Chúng tôi góp phần viết lại sách giáo khoa về loãng xương. Chúng tôi trở thành một trong những nhóm nghiên cứu quan trọng nhứt trên thế giới.

Gs John Eisman là sếp, là bạn thân thiết như trong gia đình, và cũng là mentor của tôi. Ông là một người rất thông minh (vào đại học năm chưa đầy 16 tuổi) và rất chuyên nghiệp, một người anh rất tuyệt vời.  Ông lúc nào cũng đặt chuẩn mực rất cao. Cao đến nỗi có người xem là ‘ngạo mạn’. Ông không bao giờ chấp nhận ‘trung bình’ và ‘làng nhàng’.  Ông rất ‘trung thành’ với trò, sẵn sàng bảo vệ trò trước sự tấn công của người ngoài (nhưng khi về nhà thì ông ‘đập’ trò tới nơi tới chốn). Ông giúp trò tới nơi tới chốn. Nhớ ngày tôi đệ đơn đề bạt chức vụ professor, và theo qui định phải có 2 người viết lời giới thiệu. Ông hỏi tôi ‘Mày có bạn bè là giáo sư gốc Việt viết thư giới thiệu không’, tôi nói ‘Chưa có ai là người gốc Việt làm chức professor trong ngành y ở Úc cả’. Ông nghĩ một hồi rồi nói ‘Thôi được, để tao nhờ mấy bạn trong cộng đồng Do Thái’. Không đầy 1 tuần tôi đã có cả 3 lá thư giới thiệu! Nhớ lần phỏng vấn cho chức danh Fellow của NHMRC, có người hỏi một câu tào lao mang tính kì thị vùng miền, ông tức giận đòi tôi phải viết thư phàn nàn đến NHMRC, nhưng tôi gạt đi, không muốn tranh chấp làm gì. Tuy nhiên, ông nhấc điện thoại và nói thẳng với Chủ tịch Hội đồng NHMRC và phàn nàn một cách giận dữ. Kể chuyện xưa để cho thấy sếp cũ tôi là người rất chung thuỷ với trò. Không phải riêng tôi mà bất cứ ai trong nhóm, ông đều hành xử như vậy. 

Từ Viện Garvan và qua Gs Eisman, tôi có cơ hội hợp tác với những người tài giỏi nhứt trên thế giới. Những cái tên lừng lẫy trong chuyên ngành (như Larry Riggs, Joe Melton, John Kanis, Steven Cummings, Cliff Rosen, v.v.) tôi đều quen biết và từng hợp tác. Đó cũng là những người thầy gián tiếp đã dạy và giúp tôi trưởng thành trong khoa học. Tôi chắc họ đã viết những lời nhận xét cho Hội đồng Huân chương Australia.

Qua hợp tác với những ‘trưởng thượng’ như trên, tôi được giao trọng trách trong các hiệp hội chuyên khoa. Thử nghĩ một anh chàng gốc Việt Nam từ nước Úc xa xôi mà được một hiệp hội lớn như ASBMR của Mĩ trọng dụng cho ngồi ghế leadership trong hội đồng công bố khoa học và cả ghế editor. Từ ASBMR tôi đã có dịp phục vụ trong các tập san số 1 trên thế giới khác, kể cả Journal of Clinical Endocrinology and Metabolism, Journal of Endocrine Society, Osteoporosis International, Bone, BMJ, NEJM, JAMA. Chuyện đó chỉ có thể xảy ra ở một đất nước tự do như Mĩ, nơi tôi coi như là quê hương thứ ba.

Kỉ niệm 25 năm với Viện nghiên cứu y khoa Garvan

Việt Nam

Khi rời Việt Nam vào năm 1981, tôi cũng như nhiều người khác không nghĩ đến ngày về. Ra đi trong một hoàn cảnh dao động lịch sử và trong tâm trạng tức giận, dám chấp nhận cái chết trên biển, thì đâu ai nghĩ đến ngày về. Thời đó, ai cũng mang theo tâm trạng “một lần đi là một lần vĩnh biệt, một lần đi là mất lối quay về” (nhạc của Nguyệt Ánh).

Thế rồi, như là một định luật của vô thường, thời thế đổi thay, và và tôi đã có dịp quay về quê hương với những việc làm có ích. Cuối thập niên 1990s, tôi về Việt Nam thăm Ba Má nhưng lại có dịp đóng góp một bài giảng về loãng xương ở Khách sạn Windsor (Sài Gòn). Lần ‘ra mắt’ đó được rất nhiều đồng nghiệp chào đón nồng nhiệt. Sự nồng nhiệt của các bạn dành cho tôi làm cho mình thấy “À, đây mới là quê hương thứ nhứt”, và mình có thể làm vài việc như là bổn phận của một người con Việt.

Rồi tôi tình cờ gặp Bs Thy Khuê (ĐHYD Sài Gòn) trong một tiệm sách. Không ngờ buổi gặp gỡ đó mở đầu cho sự đóng góp của tôi ở Việt Nam. Hàng loạt chương trình workshop hè đã giúp cho hàng ngàn bác sĩ làm quen với các khái niệm tương đối mới trong nghiên cứu khoa học, làm quen với văn hoá công bố khoa học.  Rồi, các bạn miền Bắc nghe tiếng và cũng mời mọc và thế là tôi có dịp đi lại nhiều hơn và quen biết nhiều bạn ở miền Bắc. Từ Bắc, tôi lại được các bạn ở miền Trung có nhã ý mời đến chia sẻ kinh nghiệm, và làm quen với nhiều bạn.

Mỗi năm có khi tôi giảng cho cả 4 lớp học trung hạn (1-2 tuần) và cả chục lớp học ngắn hạn (1-2 ngày). Tôi giảng ở 3 miền Bắc, Trung, Nam. Tôi đi từ Hà Nội, lên Thái Nguyên, xuống Ninh Bình, qua Hải Phòng; tôi đi vào Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Phú Yên; tôi về Sài Gòn, Vũng Tàu, Tiền Giang, Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Bến Tre, v.v.  Những khoá học như thế đã giúp cho hơn 2000 bạn; một số sau này trở thành giáo sư và giữ những trọng trách trong chuyên ngành.

Lớp học này cũng được tổ chức ở ĐH Y Dược TPHCM (2006 ?) do chị PGS Nguyễn Thy Khuê tổ chức. 

Không chỉ hàng trăm khoá học, mà còn có dịp tham gia tổ chức hội nghị lớn như AFES ở Sài Gòn, hội nghị Strong Bone Asia, và hội nghị y sinh học châu Á Thái Bình Dương. Tôi đã gắn bó với Hội loãng xương TPHCM hơn 15 năm qua, và góp một phần trong việc nâng cao sự hiện diện của Việt Nam trong chuyên ngành loãng xương trên trường quốc tế qua đào tạo nghiên cứu sinh, các chương trình tập huấn, nghiên cứu, và công bố khoa học. Nhưng tôi không thể nào làm được những việc đó nếu không có sự ủng hộ và tin tưởng các các bạn trong nước.

Hình này cũng được chụp trong hội nghị loãng xương được tổ chức ở Quy Nhơn trong trung tâm hội nghị quốc tế của Gs Trần Thanh Vân. Từ trái qua phải: PGS Nguyễn Ngọc Lan (Bạch Mai), PGS Nguyễn Bích Đào (Chợ Rẫy), PGS Lê Anh Thư (chủ tịch Hội), PGS Vũ Đình Hùng (Quân Y), phu nhân Gs Trần Thanh Vân, PGS Đỗ Thị Ngọc Diệp (Dinh dưỡng), tôi, PGS Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy), Ts Võ Văn Sĩ (Chấn thương Chỉnh hình) người mà tôi rất khoái vì cái tánh Nam bộ.

Nhiều khi nghĩ lại tôi thấy khó tin về một người ‘boat people’ và ‘yếu tố nước ngoài’ (rất ghét chữ này) mà được giao trọng trách thiết lập labo nghiên cứu ở ĐH Tôn Đức Thắng. Tôi còn được các hội y khoa trao giải thưởng, và các đại học trao cho những chức danh danh dự. Dù chỉ là danh dự, nhưng đó là những phần thưởng ghi nhận những cống hiến nho nhỏ của tôi cho giáo dục đại học Việt Nam.

Thật ra, làm được những điều đó hay có những phần thưởng đó đòi hỏi sự tin tưởng của những người lãnh đạo và có sự hợp tác của đồng nghiệp trong nước. Không có các bạn thì chưa chắc tôi có được phần 2 (về đóng góp cho giáo dục đại học) của cái citation. Nhân dịp này tôi tri ân những bạn ở trong nước đã ưu ái giúp tôi có cơ hội đóng góp.

Bằng khen từ Hội loãng xương TPHCM. Bằng khen này được Gs Trần Ngọc Ân (Chủ tịch Hội Loãng xương Hà Nội) trao trong Hội nghị loãng xương ở Nha Trang. 

Cám ơn

Không có cái gì xảy ra trong hư vô, và tôi đã không có ngày hôm nay nếu không có sự giúp đỡ của rất nhiều người. Tôi được trao huân chương Australia là có sự đóng góp của các bạn và đồng nghiệp. Các nghiên cứu sinh trong labo ở Úc và Việt Nam là những người đã đóng góp nghiên cứu cho sự nghiệp tôi. Kể ra thì nhiều người lắm, nhưng phải đề cập đến những cái tên quan trọng: Gs John Eisman (sếp cũ tôi), Gs Philip Sambrook (thầy cũ đã qua đời), Bs Paul Kelly (đồng nghiệp cũ), Ts Gabrielle Howard, Gs Graeme Jones, Ts Nguyễn Đình Nguyên, Ts Trần Hoàng Ngọc Bích, Ts Steve Frost, Gs Chatlert Pongchaiyakul, Ts Mei Chan, Ts Phương Thảo, Bs Thục Lan, Ts Phạm Thị Mỹ Hạnh, Ts Trần Sơn Thạch, Gs Henrik Ahlborg, và Gs Shuman Yang.

Tôi đặc biệt cám ơn các đồng nghiệp và bạn bè ở Việt Nam, bởi vì đó là một phần quan trọng trong cái citation về những đóng góp của tôi. Thật vậy, khi tôi xem qua phần citation, tôi thấy Hội đồng OA (Order of Australia) có đề cập đến những việc làm ở các đại học như Tôn Đức Thắng, Đà Nẵng, Dược Hà Nội, Y Hà Nội, v.v. Họ đề cập đến công trình Vietnam Osteoporosis Study và Hội loãng xương TPHCM. Nhân dịp này tôi cám ơn các bạn ở Việt Nam đã tin tưởng và phó thác tôi làm những việc liên quan đến xây dựng năng lực khoa học trong thời gian hơn 20 năm qua.

Tôi biết rằng trong 2 năm qua Văn phòng Tổng Toàn Quyền đã liên lạc tất cả những nơi tôi từng làm việc hay từng có công trình nghiên cứu ở Úc, Mĩ, Thuỵ Sĩ, Anh, Thái Lan, Singapore, Việt Nam, v.v.  Tôi cám ơn các đồng nghiệp từ các nước đó đã viết thư ủng hộ. Tôi không được đọc những lá thư đó, nhưng tôi biết các bạn ấy đã ủng hộ tôi. Thật ra, nhiều người đã biết tôi được đề cử trước cả tôi (nhưng vì qui định bảo mật nên họ không báo cho tôi biết).

Tôi đặc biệt cảm ơn người đã đề cử tôi 2 năm trước. Tôi không được phép biết người đó là ai, nhưng chắc chắn là một ‘thiện nhân’. Tôi cũng cảm ơn Hội đồng Huân chương Australia đã làm việc cẩn thận suốt 2 năm trời trước khi có huân chương này.

Giải thưởng có thể ví von như gia vị cho một món ăn. Món ăn có gia vị thì nó thơm ngon hơn. Tương tự, thành tựu mà có giải thưởng thì thành tựu đó có dịp bay xa hơn và có ý nghĩa hơn.

Một lần nữa, trân trọng cảm ơn tất cả các bạn và đồng nghiệp.

________________________

[1] https://honours.pmc.gov.au/honours/awards/2010203

Huân chương Australia (hay Order of Australia) là một hình thức ghi nhận cao nhứt về những cống hiến và thành tựu cá nhân.

Qui trình đề cử và xét duyệt là 2 năm. Mỗi ứng viên được một người đề cử, nhưng ứng viên không biết người đề cử là ai. Sau đề cử, nhân viên của Hội đồng OA liên lạc tất cả những nơi ứng viên đã từng theo học và làm việc để xác minh. Sau đó, Hội đồng OA họp và xem xét, rồi khuyến nghị lên Tổng Toàn Quyền. Tổng Toàn Quyền đại diện cho Nữ Hoàng Elizabeth II phê chuẩn từng ứng viên. Chỉ đến ngày được phê chuẩn thì ứng viên mới được thông báo, và do đó kết cục hoàn toàn bất ngờ. Và đến lúc đó, người được huân chương vẫn không biết ai đề cử mình!

Cấp bậc huân chương là do Hội đồng OA quyết định. Hệ thống OA có 4 bậc: OAM (Medal of the Order of Australia); AM (Member of the Order of Australia); AO (Officer of the Order of Australia); và cao nhứt là AC (Companion of the Order of Australia). Tôi được trao Huân chương hạng AM.

[2] Tôi đã biết tin vui một cách rất tình cờ từ những 3 tháng trước. Sáng hôm 19/10/2021, một cú điện thoại từ “No ID” nhưng tôi không trả lời, vì thường là loại điện thoại lừa đảo. Vài phút sau “No ID” gọi nữa, và chẳng hiểu sao tôi nhấc máy trả lời. Bên kia đường dây, một người đàn ông xưng tên (tôi quên) và nói rằng anh ta từ văn phòng của Tổng Toàn Quyền (GG) Úc, và ngập ngừng hỏi tôi có phải là “Professor Tuan Nugent” (ít ai đọc được “Nguyen” cho đúng). Tôi nói thầm trong bụng là ‘rồi, đích thị là scam’, nhưng cũng nghe xem sao. Anh ta nói tiếp là anh ta đã liên lạc 2 lần qua email mà tôi không trả lời. Tôi xin lỗi rằng có thể email bị hệ thống sàng lọc của đại học đưa vào hộp thư spam. Tôi hỏi anh ta liên lạc tôi có việc gì.

Anh ta cho biết rằng tôi được đề cử Huân chương Australia, và Hội đồng OA đã xét duyệt xong và đề nghị GG phê chuẩn. Anh ta nói tôi phải vào trang web của GG và phải bấm nút “ Accept” thì Hội đồng mới làm bước kế tiếp. Tôi vội vàng vào trang web thì thấy hàng loạt thông tin về những việc làm của mình trong và ngoài nước Úc, thậm chí bao nhiêu grant tôi được tài trợ cho nghiên cứu!

Đến bây giờ thì tôi mới biết tin vui này là thật. Thật khó mô tả cảm giác lúc đó. Có bao giờ mình nghĩ đến cái huân chương cao quí này, có giải thưởng trong chuyên ngành là mừng rồi, làm gì đến cái huân chương mà tôi thấy vài người tiền bối hay viết sau tên họ.

Tôi không biết ai đề cử vì theo qui chế văn  phòng GG không tiết lộ. Họ chỉ cho biết là đề cử từ 2 năm trước, và tôi đã qua các vòng xác minh và đánh giá, nay thì Hội đồng OA lên danh sách đệ trình cho ngài Tổng Toàn Quyền phê chuẩn cho công bố vào ngày Quốc Khánh 26/1/2022.

[3] https://tuanvnguyen.medium.com/a-note-on-the-occasion-of-being-made-member-of-the-order-of-australia-fca94f7f489f

[4] Hồi tưởng thời tị nạn: https://nguyenvantuan.info/hoi-tuong-thoi-ti-nan

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s