Khác biệt giữa người miền Nam và miền Bắc về Nga

Nhân đọc bài viết “Người Việt trong xiềng xích” [1] của Tuấn Khanh, tôi nhớ đến một nghiên cứu trước đây cũng cho thấy quả thật nhận thức xã hội khá khác biệt giữa người dân hai miền đất nước.

Tác giả Kiyohisa Shibai làm nghiên cứu bằng bộ câu hỏi liên quan đến 3 khía cạnh xã hội – chính trị, quan hệ quốc tế, và kinh tế. Có 2 nhóm tình nguyện viên miền Nam (575 người) và Bắc (425). Kết quả thì có nhiều và rất thú vị, nhưng ở đây tôi chỉ trích ra những kết quả liên quan đến nhận thức về Nga.

Khi được hỏi ‘giả tưởng’ rằng nếu được tái sanh, thì muốn sanh ở quốc gia nào. Kết quả cho thấy:

  • 12% nhóm miền Bắc chọn Nga, nhưng chỉ có 8% nhóm miền Nam chọn Nga.
  • 11.7% nhóm miền Bắc chọn Mĩ, và tỉ lệ này là 12% trong nhóm miền Nam (không khác nhau).
  • Thú vị hơn là 28% nhóm miền Bắc chọn Nam Hàn, nhưng chỉ 13% nhóm miền Nam chọn nước này.
  • Chỉ có 7% nhóm miền Bắc chọn Úc để “tái sanh”, nhưng tỉ lệ này ở nhóm miền Nam là 12%.

Khi hỏi nước Nga có đáng kết bạn (country of friendship) thì tỉ lệ ở nhóm miền Bắc là 20%, cao gấp hai lần nhóm miền Nam (11%).

Khi được hỏi Mĩ có đáng kết bạn, thì 23% nhóm miền Bắc đồng ý, còn nhóm miền Nam là 35%.

Riêng câu hỏi Tàu có đáng kết bạn thì không có khác biệt đáng kể giữa miền Bắc (5%) và miền Nam (4%).

Do đó, nếu nhiều bạn ở miền Bắc ủng hộ Nga trong cuộc chiến Nga – Ukraine thì chúng ta cũng không quá ngạc nhiên.

Vive la difference!  

____

Nguồn: Kiyohisa Shibai. Vietnamese Characteristics of Social Consciousness and Values — National Character, Differences between North and South, and Gaps Between the Vietnam War Generation and the Post-War Generation. Behaviormetrika Vol.42, No.2, 2015, 167–189.

Bài viết của Nhạc sĩ Tuấn Khanh

https://www.rfa.org/vietnamese/news/blog/chained-vn-02252022094312.html

Người Việt trong xiềng xích

Cuộc chiến Ukraine và Nga diễn ra cách hàng ngàn cây số, nhưng ngay tại Việt Nam, lời tranh cãi không ngớt chuyện lẽ phải thuộc về ai cũng diễn ra với nhiều lớp người, ở nhiều nơi, nhiều lý lẽ. Thậm chí điều đó xuất hiện trên cả báo chí Nhà nước một cách lộ liễu.

Chẳng hạn, tờ VTC Now, trong các bài tường thuật về diễn biến xung đột biên giới Nga và Ukraine đã im lặng xóa bỏ tất cả những lời chỉ trích Tổng thống Nga Putin, nhưng lại để nguyên các nhận định về sai lầm của Ukraine khi dám chống lại Nga. Kể cả những ngôn ngữ tấn công Tổng thống Ukraine là Volodymyr Zelensky cũng được giữ lại một cách phiến diện.

Ở Việt Nam, không khó để nhận ra một kiểu tình cảm tuyệt đối với nước Nga, trong các hoạt động quốc tế, và thậm chí là sự sùng bái cá nhân đối với riêng Putin, mà điều đó không chỉ ở những người dân bình thường, mà cả quan chức hay giới làm báo có dính líu cuộc đời với nước Nga.

“Dính líu”, là một cách nói, và sự mô tả hoàn toàn đặc biệt dành cho hàng chục ngàn người Việt Nam ở phía Bắc, từng đi du học, lao động hợp tác hay có một thời gian sinh sống ở Nga. Ở các quán cà phê vỉa hè, những cuộc tranh cãi ở quán nhậu, rất dễ nhận ra đa số những người phía Bắc thường dành cảm tình cho nước Nga.

Nhưng nước Nga, con người Nga hôm nay, hoàn toàn khác Putin hay chủ nghĩa đại đế nguy hiểm vẫn âm thầm phát triển kể từ sau năm 1989. Rất nhiều người ngộ nhận một tình yêu với nước Nga và một bộ máy cầm quyền độc tài và thâm hiểm lúc này. Loại tình cảm thiên vị ấy, là một loại xiềng xích vẫn kéo lê theo ngày tháng, tựa như nhiều nhà buôn tiểu ngạch từ Trung Quốc về Việt Nam, làm giàu từ đó, và không thể ngừng ngợi ca về sự phát triển giàu có của đất nước này, bỏ quên những câu chuyện hiện thực đầy u tối.

Rất nhiều người dẫn chứng và biện luận về việc Nga tấn công Ukraine là chuyện hợp lý. Họ nói bằng lịch sử bị bóp méo lẫn các hiểu biết cá nhân bị tuyên truyền qua nhiều ngày tháng. Một cuộc xâm lăng ở rất xa đang được bào chữa tận tình từ Việt Nam, và ngôn ngữ giận dữ đổ trút vào những ai chống lại âm mưu thống trị này là những kẻ “ngu dốt” hay không “thức thời”. Một bạn trẻ ở miền Nam, đúc kết những điều đang diễn ra, đối chiếu lịch sử của nước Việt bằng một câu ngắn “Thật khó hiểu, khi Nga đưa quân vào xâm lược thì được gọi là chính nghĩa, trong khi Mỹ hỗ trợ đồng minh và rút đi, sách giáo khoa gọi là xâm lược”.

Cuộc chiến vệ quốc của Ukraine đang mở ra nhiều điều thật khó xử ở Việt Nam. Chính quyền Hà Nội hoàn toàn bối rối và nói nước đôi với sự kiện này. Những người sống ở miền Nam thì đa phần phản đối cuộc xâm lăng trơ trẽn. Một lớp người miền Bắc – dù được học hay sống ở Liên Xô cũ – chính trực lên tiếng chỉ trích nhưng cũng gần như chìm vào làn sóng cổ vũ kỳ lạ.

“Miền Bắc Việt Nam với hàng chục ngàn người đi lao động hay du học ở Liên Xô cũ, và luôn mang một tình cảm về đất nước đã giải thoát mình khỏi giai đoạn đất nước nghèo khó hoặc chiến tranh. Cộng thêm tình trạng bị tuyên truyền hàng thập niên về một quốc gia “hữu nghị cộng sản” hiền lành hơn Trung Cộng, khiến dẫn đến một tình cảm và những người dân ở phía nam Việt Nam gọi là “cuồng Nga”. Đây cũng là một điểm khác biệt để cho thấy rằng nền giáo dục phi chính trị của Nam Việt Nam hoàn toàn khác biệt với nền giáo dục ở miền Bắc. Nền giáo dục VNCH dù có khuynh hướng nghiêng về phương Tây nhưng sẵn sàng chỉ trích, nếu như phương Tây làm sai”, một nhà quan sát thời sự giấu tên nhận định trong một buổi sáng đọc tin chiến sự qua làn khói súng ở phía Đông.

Ông Putin lên truyền hình và ra vẻ buồn phiền, nói rằng Lenin đã dựng lên Ukraine hôm nay, nhưng đất nước này đã phản bội và giật sập tượng của “người”. Ông Putin nói như một nhà chính trị Marx-Lenin tuyệt đối. Nhưng cũng chính ông, từ khi được chuyển giao quyền lực từ Boris Yeltsin, chính là người hủy diệt dần mọi hoạt động của đảng cộng sản. Chính Zyuganov, nhà lãnh đạo cộng sản kỳ cựu ở Nga từng tuyên bố vào năm 2020, rằng Putin đang muốn tiêu diệt đảng cộng sản Nga trong một quy trình “phát xít hóa đất nước”. 

Nhưng ngay cả sự tráo trở đó của Putin cũng không thuyết phục nổi những lớp người “cuồng Nga” đang tồn tại ở Việt Nam.

Rất nhiều người cũng đặt câu hỏi thắc mắc rằng, chỉ trong vài thập niên của cuộc nội chiến Việt Nam, miền Bắc tiếp nhận các đồng minh cộng sản của mình tham gia, cùng với sự tuyên truyền không mệt mỏi về Trung Quốc và Liên Xô, hậu quả đó đã tạo ra những xiềng xích tư duy đến mức nào cho hàng triệu người Việt. Loại xiềng xích mà nhà thơ Việt Phương đã viết ra những câu thơ ai oán “Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy Sỹ / Trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ / Sự ngây thơ đẹp tuyệt vời và ngờ nghệch làm sao”, để rồi ông cũng nhận không ít búa rìu dư luận đấu tố vì những nhận định thành thật đó. Dĩ nhiên, vòng vây tuyên truyền tô hồng cho những hình ảnh chủ đích, không phải ai ở miền Bắc cũng có cơ may thoát được xích xiềng như nhà thơ Việt Phương từng viết “Mở đài địch như mở toang cánh cửa / Nghe nó chửi ta mà tin ở ngày mai”.

Trên các diễn đàn, trên Facebook… những lời phản đối cuộc xâm lược của Nga, so sánh nó như cuộc chiến 1979 từ Trung Quốc, đang xuất hiện từ rất nhiều người ở miền Nam, và những người trẻ đang lớn lên và rũ bỏ những xích xiềng nô lệ của cha ông họ đã từng phải chịu. “Ủng hộ Nga xâm lược, cũng là ủng hộ Trung Quốc xâm lược Việt Nam trong tương lai”, một người trẻ ở Hà Nội, nói rõ quan điểm của mình trên trang nhà.

Đất nước Việt Nam luôn chịu đựng ngàn nghịch lý. Từ việc sách giáo khoa và hàng ngũ dư luận viên dốt nát cứ gọi Mỹ là kẻ thù, trong khi nhà cầm quyền thì không ngớt công du và mong mỏi có mối quan hệ bền chặt. Cũng như người dân đã từng phải chống lại sự xâm lược từ Trung Quốc, nhưng nay vẫn chật vật khi nhắc về kẻ xâm lược. Những loại xiềng xích của quá khứ vẫn còn trói chặt tâm hồn của nhiều lớp người Việt. Xiềng xích tuyên truyền trói chặt đến mức có hẳn một đám đông reo hò ủng hộ kẻ ác đang xua quân để chiếm đoạt một quốc gia khác như lẽ thường tình.

Chất, không phải lượng, làm nên một giáo sư

Xin giới thiệu đến các bạn một bài ‘ý kiến’ tôi viết cho báo Tuổi Trẻ về vấn đề công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư (GS/PGS) ở Việt Nam. Mấy ngày qua, dư luận báo chí ồn ào chung quanh vấn đề các ứng viên GS/PGS công bố nghiên cứu của họ trên các tập san dỏm (predatory journals). Các ứng viên và cả một chủ tịch hội đồng ngành giáo dục học thì nói rằng họ không biết đó là tập san dỏm. Nhưng trong bài này tôi muốn nhìn vấn đề ở góc cạnh lớn hơn: đó là sự lệ thuộc vào số lượng bài báo khoa học để đề bạt chức danh GS/PGS. Tôi nghĩ sự lệ thuộc đó chỉ nhận dạng những ứng viên tầm thường, chứ không phát hiện được nhân tài.

______

Bộ tiêu chuẩn công nhận chức danh giáo sư, phó giáo sư (GS/PGS) đã trải qua nhiều thay đổi, nhưng về bản chất thì vẫn không thay đổi: lệ thuộc vào con số. Chẳng hạn như Quyết định 37/2018 qui định rằng ứng viên chức danh PGS phải là tác giả chính của ít nhất 3 bài báo khoa học trên các tập san “uy tín”; ứng viên GS là 5. Ngoài ra còn có những qui định về chuyển đổi và tính điểm khá phức tạp, nhưng tất cả vẫn đặt nặng định lượng hơn là phẩm chất.

Những qui định mang tính định lượng như thế thật ra là khá thấp so với mặt bằng khoa học ở Việt Nam ngày nay. Chẳng những thấp mà cách hành văn chung chung của bộ tiêu chuẩn đó còn mở đường cho nhiều chiêu trò và lạm dụng. Không định nghĩa rõ thế nào là một “bài báo khoa học” thì ứng viên có thể dùng các bài không phải là nghiên cứu nguyên thuỷ mà vẫn có thể đáp ứng tiêu chuẩn một cách dễ dàng. Sự mập mờ về khái niệm “tập san uy tín” là cơ hội để ứng viên liệt kê các bài báo trên các tập san dỏm hay các tập san chất lượng rất thấp để đạt được tiêu chuẩn đề ra. Ứng viên cũng có thể dùng tiểu xảo như công bố hàng chục bài báo nho nhỏ và tầm thường trên một tập san vô danh nào đó thuộc danh mục Scopus hay ESCI trong một thời gian rất ngắn để vượt qua tiêu chuẩn. Đó chính là những lùm xùm trong mỗi đợt xét duyệt chức danh GS/PGS trong thời gian gần đây.

Con số bài báo khoa học phản ảnh mức độ hoạt động khoa học của một ứng viên chứ không phải là thành tựu của nghiên cứu khoa học, càng không nói lên phẩm chất khoa học. Tiêu chuẩn công nhận chức danh GS/PGS đặt nặng vào lượng mà bỏ qua phần chất, đó là một sai lầm.

Trong khoa học, phẩm chất và tầm ảnh hưởng của nghiên cứu quan trọng hơn số bài báo khoa học. Ở các đại học nước ngoài, các hội đồng bổ nhiệm không khi nào đề cập đến số bài báo khoa học mà nhấn mạnh đến phẩm chất khoa học. Thường bộ tiêu chuẩn ghi rõ rằng ứng viên giáo sư phải có những đóng góp quan trọng vào chuyên ngành với tầm ảnh hưởng cấp quốc gia (nếu là PGS) và cấp quốc tế (nếu là GS). Riêng cấp GS, ứng viên còn phải chứng minh rằng họ đóng vai trò lãnh đạo trong các hội đoàn quốc tế. Chính phẩm chất khoa học, tầm ảnh hưởng và lãnh đạo làm nên một giáo sư.

Một ứng viên giáo sư có thể có hàng trăm bài báo khoa học, nhưng nếu những bài báo đó chỉ xuất hiện trên những tập san khoa học tầm thường (chỉ số ảnh hưởng thấp) thì ứng viên đó có xứng đáng với chức danh GS/PGS? Theo qui định hiện hành ở Việt Nam thì câu trả lời, thật nghịch lý, là… xứng đáng!

Đề ra số lượng bài báo khoa học như là một tiêu chuẩn đã dẫn đến hàng loạt hành vi vi phạm đạo đức khoa học và đạo đức công bố. Những hành vi này bao gồm: công bố trên tập san dỏm, hoặc những tập san có chất lượng rất thấp mà bất cứ nhà khoa học nghiêm túc nào đều không muốn có tên trên đó; trả tiền cho các ‘tác giả ma’ soạn giùm bài báo; mua bài báo khoa học; trả tiền cho các nhóm chuyên giả tạo dữ liệu để có ‘nghiên cứu’; tra tấn dữ liệu cho đến khi có kết quả theo ý muốn; thậm chí giả tạo danh tánh chuyên gia bình duyệt để tự duyệt bài báo của mình. Tất cả những hành vi đáng ngờ đó chỉ nhằm đạt được số bài báo theo qui định để được công nhận chức danh GS/PGS. Nhưng loại bài báo khoa học đó không tạo ra kiến thức mới mà chỉ làm nhiễu khoa học.

Những qui định hiện hành về công bố khoa học trong việc xét duyệt công nhận chức danh PGS/GS còn nhiều khiếm khuyết. Dựa vào các danh mục như Scopus và Pubmed hay ESCI một cách vô điều kiện dễ dẫn đến sai lầm về việc đánh giá và nhận dạng tập san dỏm. Sự lệ thuộc vào số lượng bài báo gián tiếp khuyến khích nghiên cứu chất lượng thấp, làm ảnh hưởng xấu đến uy tín khoa học quốc gia. Bộ tiêu chuẩn mới cần phải soạn chặt chẽ hơn, khoa học hơn, đặt phẩm chất khoa học là tiêu chuẩn số 1 và xem tác động của của nghiên cứu là một thước đo của thành tựu cho việc công nhận các chức danh giáo sư.

Link: https://tuoitre.vn/chat-khong-phai-luong-lam-nen-mot-giao-su-20220225073011606.htm

Trà (Chè) Shan Việt Nam

Trà là một thức uống rất phổ biến ở người Việt chúng ta (chỉ sau nước uống), nhưng ít ai biết được lịch sử và khoa học của trà [1]. Cuốn sách mới “Cây Chè Shan Rừng Việt Nam” của Giáo sư Nguyễn Quốc Vọng sẽ giúp cho các bạn thưởng thức tách trà đầy đủ hơn và thú vị hơn.

Cuốn sách là tập hợp những nghiên cứu của tác giả về chè Shan ở các vùng miền núi Việt Nam. Sau hai chương lược sử về trà/chè và công nghiệp trà Việt Nam, tác giả bàn về cây chè và chất lượng trà Shan Việt Nam, và một chương (viết bằng tiếng Anh) phân tích các thành tố hoá học trong trà Shan. Qua cuốn sách, bạn đọc sẽ có một cái nhìn tổng thể về quá trình hình thành và phát triển kĩ nghệ chè trên thế giới và Việt Nam. Bạn đọc cũng sẽ làm quen với những khái niệm như ‘Trà Đạo’ bên Nhật, cùng những thương hiệu như Twining và Lipton xuất phát từ đâu. Có lẽ đây là cuốn sách bàn về khoa học trà đầy đủ nhứt hiện nay ở Việt Nam, và do đó có thể là một nguồn tham khảo quí báu cho bất cứ ai muốn tìm hiểu về trà.

Một chút lịch sử trà/chè

Một nội dung của cuốn sách thu hút sự chú ý của tôi là chương viết về ‘trà sử’. Qua chương này, bạn đọc sẽ biết rằng trà là một thức uống có nguồn gốc rất xa xưa (gần 5000 năm trước) và được đề cập đến trong cổ xử Trung Hoa. Học giả Lục Vũ (Lu Yu), sống vào đời Đường (733-804) được xem là ‘Tổ sư’ của trà vì ông là người đầu tiên viết cả 3 cuốn sách về nguồn gốc, giống, cách trồng, cách chế biến, cách uống trà, và lợi ích của trà. Sách này được xem là ‘Trà kinh’. Bạn đọc còn biết rằng từ Trung Hoa, trà được lan truyền sang Nhật qua các thiền sư, nhưng ở Nhật, trà được nâng lên thành ‘Trà Đạo’. Và, cũng chính tại Nhật là nơi khai trương Đại Trà Quán (Tokyo) đầu tiên trên thế giới.

Vào giữa thế kỉ 16, qua một thương nhân Hoà Lan, trà được du nhập từ Trung Hoa sang Âu châu và trở thành một thức uống sang trọng và đắt tiền, chỉ dành cho giới quí tộc. Tại Anh, ông Thomas Twining mở trà quán ở Luân Đôn (1787) và cái tên này sau đó trở thành một thương hiệu trà cao cấp cho đến ngày nay. Nhưng vì là loại hàng cao cấp, nên Trung Hoa muốn độc quyền kiểm soát sự xuất khẩu trà, và thế là người Anh lập trang trại ở bang Assam (Ấn Độ, lúc đó là thuộc địa của Anh) để trồng chè và xuất khẩu sang Anh, và cạnh tranh với Trung Hoa. Năm 1837, Hắc trà Ấn Độ được lần đầu tiên xuất khẩu sang Luân Đôn. Năm 1890, Thomas Lipton (người Anh) mua một đồn điền ở Tích Lan (Sri Lanka ngày nay) để sản xuất Hắc trà giống như Ấn Độ để cung cấp cho thị trường Anh. Kể từ đó, trà Lipton nổi tiếng cho đến nay.

Còn Việt Nam thì sao? Trong cổ sử Trung Hoa các học giả không có một chữ nào dành cho cây chè ở Việt Nam. Trong sách của Lục Vũ, ông chỉ nhắc đến trà từ ‘Phương Nam’. Chẳng hạn như ông viết “Qua lô [chè phương Nam] cũng giống như ‘dính’ [chè phương Bắc] mà búp nhi đăng đắng. Người ta pha nước uống thì tỉnh mỉnh, suốt đêm khó ngủ. Giao Châu và Quảng Châu rất quí thứ chè ấy. Mỗi khi có khách quí đến thì pha mời.” Chú ý rằng Giao Châu từng là lãnh thổ của Việt Nam ngày xưa.

Trong thực tế thì Việt Nam đã trồng chè và dùng trà như là một thức uống từ hơn 1000 năm trước và từng là vật dùng để tiến công vua Tàu. Trà cũng từng được ghi chép trong sách của các tác giả như Lê Tắt, Nguyễn Trãi và Lê Quý Đôn. Trong “An Nam Chí Lược”, tác giả Lê Tắc chép: “Tháng 5 năm thứ 8 (tức năm 975, niên hiệu Khai Bảo), Liễn (tức Đinh Liễn, con trai Đinh Bộ Lĩnh) tiến cống vua nhà Tống (Tống Thái Tổ) vàng, lụa, sừng tê, ngà voi, trà thơm“. Trong “Dư Địa Chí” (1435), Nguyễn Trãi có đề cập đến loại trà Tước Thiệt, ngày nay gọi là trà móc câu. Chúa Trịnh Sâm là người rất thích uống trà, và tự ông pha trà đãi khách. Lê Quý Đôn, trong “Vân Đài Loại Ngữ” cũng có viết về cây chè ở xứ Thanh Hoá “mọc xanh um đầy rừng; thổ nhân hái lá đem về giã nát, rồi phơi trong râm cho khô; đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên.

Năm 1890, người Pháp lập một công ti có tên là Chaffanjon tại Cẩm Khê (Phú Thọ) và Đức Phổ (Quảng Nam) để trồng chè và sản xuất trà. Tuy nhiên, vì chiến tranh triền miên sau đó nên kĩ nghệ trà ở Việt Nam không phát triển. Mãi đến 1990 thì kĩ nghệ trà ở Việt Nam mới được phục hồi và mở rộng. Cho đến nay, Việt Nam là một trong 5 nước hàng đầu trên thế giới về xuất khẩu trà.

Khoa học trà/chè

Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis. Tuy nhiên, chè lá nhỏ ở Trung Hoa thuộc giống Camellia sinensis var. sinensis, còn chè Assam ở Ấn Độ (còn gọi là ‘Trà đen’) là Camellia sinensis var. assamica. Còn cây chè Shan thì có tên là Camellia sinensis var. Shan (hay chè Duy Thịnh).

Cây chè Shan rất khác với chè chúng ta hay thấy ở vùng Tây Nguyên, thường là thấp (chừng 30-50 cm). Cây chè Shan là loại cây cổ thụ có thể sống hàng trăm năm, cao đến vài mét, và người hái chè phải leo lên cây. Cây chè Shan thường mọc ở vùng cao nguyên, cao trên 1200 mét trên mặt biển, và mây mù bao quanh. Trái với chè thường, cây chè Shan không dùng bất cứ hoá chất hay phân bón nào. Ở Việt Nam, cây chè Shan thường tìm thấy ở vùng Tây Bắc và Đông Bắc (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang và Yên Bái).

Tại sao gọi là ‘Shan’? Theo tác giả, người địa phương gọi ‘Shan’ là sơn/núi. Giống chè này mọc ở trên núi nên gọi là ‘Chè Shan’. Vì có ở trong rừng, nên cây chè Shan còn có tên tiếng Anh là “Wild Shan tea tree”. Trong nhóm này, chỉ có chè Shan tuyết (snow Shan tea) là được dùng nhiều nhứt ở Việt Nam. Lá chè Shan Việt Nam có thể chế biến thành 6 loại trà: trà trắng, trà vàng, trà xanh, trà đỏ (hồng trà), trà đen, và bánh trà đen lên men. Ngoài 6 loại trà Shan trên, còn có một loại khác là ‘trà măng’, trà đuôi rồng, trà móng rồng.

Lá chè tươi chứa rất nhiều thành phần hoá học. Sau khi hái khỏi cuống, các chất này tự biến hoá thành nhiều hợp chất mới. Sau khi qua chế biến, các hợp chất mới lại chuyển hoá một lần nữa thành những hợp chất mới. Những hợp chất này tạo nên mùi thơm, vị và màu sắc. Chẳng hạn như tannin tạo nên vị chát, caffein tạo nên vị đắng, L-theanine làm nên vị ngọt, catechin tạo nên màu sắc, v.v. Chính 3 yếu tố này (mùi thơm, vị và màu sắc) quyết định chất lượng của trà.

Ngoài các hợp chất trên, trà còn hàm chứa nhiều chất khoáng và dinh dưỡng: vitamin A, C, E; methylxanthines (caffein); nitrogen; amino acids; Gallic acid; Saponin; carbohydrate; và catechin. Một số các hoạt chất này (như vitamin C, carbohydrate và catechin) có tác dụng tích cực đến sức khoẻ.

Trong sách, tác giả trình bày dữ liệu đo lường nồng độ của một số hoá chất giữa các loại trà Shan từ Suối Giàng (Yên Bái), Bản Liên (Lào Cai), Finho (Hà Giang), Tà Xùa (Sơn La), Mộc Châu, Bạch Phụng Shan, Cao Bổ (Hà Giang), Phú Đa (Phú Thọ), v.v. Như chúng ta có thể đoán được, có sự khác biệt về thành phần khoáng chất và dinh dưỡng chất giữa các loại trà vừa kể. Chẳng hạn như nồng độ catechin, EGGG và Tannin ở trà Tà Xù là cao nhứt so với các loại trà khác. Tuy nhiên, không rõ sự khác biệt này là do cách lấy mẫu hay là phản ảnh đặc điểm thổ nhưỡng và sinh học của mỗi loại trà.

Trà và sức khoẻ

Trà là một thức uống phổ biến vào hàng thứ hai trên thế giới (chỉ sau nước uống). Vì mức độ phổ biến của trà trong dân số, cho nên các nhà nghiên cứu y khoa rất quan tâm đến tiềm năng phòng chống bệnh tật của trà. Một số nghiên cứu trên động vật cho thấy trà có khả năng chống ung thư và tác dụng tích cực đến tim mạch, xương, và hệ chuyển hoá.

Vài năm gần đây, tác dụng của trà đến sức khoẻ con người đã được nghiên cứu và thử nghiệm với nhiều kết quả rất tích cực. Nhìn chung, uống trà, đặc biệt là trà xanh, có tác dụng:

• giảm cao huyết áp, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch;
• giảm nguy cơ mắc các bệnh ung thư;
• giúp kiểm soát bệnh tiểu đường;
• giảm nguy cơ loãng xương và gãy xương ở người cao tuổi;
• phòng chống cảm cúm.

Trà xanh còn có thể kéo dài tuổi thọ. Cách đây hơn 15 năm, một công trình nghiên cứu qui mô về tác dụng của trà được thực hiện ở quận Miyagi (thuộc vùng Đông Bắc nước Nhật), nơi mà khoảng 80% dân số có truyền thống uống trà xanh. Các nhà nghiên cứu phân tích so sánh giữa hai nhóm (uống trà xanh và không uống trà xanh) cho thấy ở nam giới, những người uống trà xanh trên 4 tách mỗi ngày có nguy cơ tử vong thấp hơn nhóm không uống trà xanh khoảng 12% (ở nam giới) và 20% (ở nữ giới). Các nhà nghiên cứu kết luận rằng uống trà xanh có thể giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch [2]. Đây là công trình nghiên cứu lớn và có ảnh hưởng nhứt nhì trên thế giới.

Về tác giả

Tác giả Nguyễn Quốc Vọng là một giáo sư kiêm nhiệm (Adjunct Professor) thuộc Đại học RMIT (Úc). Ông là một cựu học sinh Trường Quốc Học (Huế), Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn, và tốt nghiệp tiến sĩ về nông học từ Đại học Tokyo (1977), một trong những đại học danh giá nhứt thế giới. Sau một vài năm làm việc ở Nhật, ông và gia đình di cư sang Úc vào năm 1980 và làm nghiên cứu viên cho Bộ Nông nghiệp tiểu bang New South Wales. Ông có công giúp phát triển ngành rau quả Á châu và trà xanh, đem về cho Úc hàng triệu đôla. Năm 2007 ông quyết định về Việt Nam làm cố vấn cho Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, và sau khi hoàn tất công việc, ông quay về Úc. Ông là tác giả của hơn 250 bài báo nghiên cứu công bố trên các tập san khoa học trên thế giới.

Tác giả Nguyễn Quốc Vọng trong ngày ra mắt sách ở Sydney hôm 15/2/2022

Tóm lại, “Cây Chè Shan Rừng Việt Nam” là một đóng góp có ý nghĩa cho khoa học chè ở Việt Nam. Đây là một công trình tâm huyết của tác giả. Để có những dữ liệu trình bày trong sách, tác giả phải bỏ ra khá nhiều thời gian và công sức để đi thực địa ở những vùng đồi núi xa xôi, làm quen với những người thuộc sắc tộc thiểu số (như H’mong, Tày, Dao, Thái, Nùng) thu thập mẫu và phân tích. Dĩ nhiên, cuốn sách này không thể nào đầy đủ (như tác giả chỉ ra ở phần đầu), nhưng tác giả hi vọng sẽ là ‘điểm khởi đầu’ cho nhiều nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa trong tương lai.

Hôm giới thiệu sách ở Sydney, tác giả tỏ ra ưu tư trước tương lai của trà Shan ở Việt Nam. Theo tác giả, Trà Shan Việt Nam tự nó đã là một thương hiệu có bản sắc văn hoá, lịch sử và khoa học riêng, không cần gì phải bắt chước trà Tàu hay Nhật cả. Bởi vì cây chè Shan chỉ có ở vùng núi cao thuộc các tỉnh Đông Tây Bắc, nơi có thể chịu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, và thách thức đặt ra là làm sao bảo vệ được cây chè Shan ở đây. Hiện nay, thu nhập của các sắc tộc thiểu số, những chủ nhân của trà Shan, còn rất thấp, và Nhà nước cần có chánh sách giúp nâng cao thu nhập cho họ. Đó là những ưu tư và thách thức mà Chánh phủ cần phải lắng nghe và có chiến lược thích hợp.

Bạn bè hôm ra mắt sách ở Sydney

Mỗi ngày chúng ta thưởng thức trà, thường là trong một không gian yên tĩnh, nhưng ít khi nào chúng ta nghĩ về lịch sử, văn hoá và khoa học trong tách trà trước mặt. Những thông tin và tư liệu trong cuốn sách này giúp chúng ta biết trà đến từ đâu, văn hoá trà ra sao, và khoa học tính đằng sau lá chè là gì, và do đó giúp cho chúng ta thưởng thức tách trà đầy đủ hơn và tròn trĩnh hơn. Đọc xong cuốn sách, bạn đọc sẽ thấy tự hào rằng Việt Nam đã có một lịch sử trà khá lâu đời, và những so sánh kiểu trà Việt không ngon bằng trà Tàu không chỉ vô duyên mà còn là một mặc cảm đáng thương. Người Việt chúng ta có câu “tách trà là đầu câu chuyện”, thì những dữ liệu và thông tin trong cuốn sách này chính là những câu chuyện tuyệt vời cho đối ẩm về trà Shan.


[1] ‘Trà’ hay ‘chè’? Thường, chúng ta hiểu rằng người miền Nam và Trung gọi là ‘trà’, còn ngoài Bắc là ‘chè’. Nhưng tác giả Nguyễn Quốc Vọng thì đề nghị phân biệt hai chữ này như sau: ‘chè’ là khi lá còn trên cây, còn ‘trà’ là đã làm thành thành phẩm. Do đó, chúng ta có thể nói ‘lá chè’, ‘cây chè’, nhưng ‘tách trà’.

[2] Kuriyama S, et al. Green tea consumption and mortality due to cardiovascular disease, cancer, and all causes in Japan. JAMA 2006; 296:1255-1265.

Một cõi đi về: những bài học

Tuần qua tôi bắt đầu quay lại campus và nhận được khá nhiều điện thư, điện thoại, thư từ chúc mừng của nhiều nhân vật trong chánh trường mà tôi chưa bao giờ gặp ngoài đời. Phải nói là một tuần tràn trề năng lượng tích cc. Thành ra, nhân dịp cuối tuần tôi viết vài dòng cảm ơn đi và nghĩ về nhng bài học trong đi, vi hi vọng ‘mua vui cũng được một vài trống canh.’

Năm mi, năng lượng mi

Sau cả 6 tháng trời làm việc ở nhà và nay quay lại khuôn viên đại học, tôi thấy mình như có thêm năng lượng mới. Tôi được sự quan tâm của nhiều VIP, những người mà tôi ít khi nào tương tác trước đây và chưa bao giờ gặp ngoài đời. Nào là Toàn quyền tiểu bang NSW (Governor), bộ trưởng liên bang, dân biểu liên bang, thượng nghị sĩ tiểu bang và liên bang, giám đốc y tế vùng Tây Nam, hiệu trưởng đại học, báo chí địa phương, báo chí đại học, v.v. Họ gởi email, thư giấy, hoặc điện thoại chúc mừng. Có hai tổ chức dân sự mời tôi tham gia như là ‘patron’ cho họ. Bộ Y tế liên bang mời làm thành viên tư vấn về chánh sách y tế cho người già. Thật là vinh hạnh cho ‘kẻ hèn’ này!

Thư chúc mừng của Toàn Quyền tiểu bang New South Wales

Tôi còn nhận được khá nhiều lời chúc mừng từ các bạn gốc Việt mà tôi cũng chưa từng có hân hạnh gặp ngoài đời. Đó là các bạn cựu sinh viên trong chương trình Colombo thời VNCH và nay đã thành danh trong xã hội Úc. Một số là thuộc nhóm đàn anh tôi. Thật là cảm động khi nhận email chúc mừng của các bạn ấy nhân dịp tôi được trao Huân chương Australia. Xin mượn cái note này để nói lời cảm ơn chân thành đến các bạn.

Ra đi và trở về

Những dịp như vầy tôi hay nhớ tới lời của sếp cũ tôi: ‘you have gone a long way’ (ngươi đã đi qua một đoạn đường dài). Cứ mỗi lần nhận giải thưởng này nọ là sếp tôi nói/viết câu đó như là một lời nhắc nhở mình xuất phát từ đâu và thuở nào.

Đoạn đường đời khởi đầu vào năm 1982 từ cái nhà bếp bệnh viện St Vincent’s, để rồi 10 năm sau lại quay về đó nhưng lần này thì ở Viện Garvan. Hơn một lần tôi muốn bay xa khỏi Úc và tìm cơ hội bên trời Âu, trời Mĩ. Nhưng như là một định mệnh, một cái duyên tiền định, tôi lại quay về Garvan, nơi mình khởi đầu. Nhớ lần quay về đó, tôi gặp CO (cùng thời học PhD với tôi) và anh này cũng như tôi, tức tìm cơ hội bên trời Âu, và lại quay về Garvan. Hai đứa đã luống tuổi gặp nhau trong cùng hoàn cảnh và đồng thốt lên: cannot get away from it (không thể thoát khỏi nơi này). Ấy vậy mà hơn 20 năm sau tôi lại ‘thoát’, nhưng lần này thì không đi xa mà chỉ băng qua một con đường thôi. Nghĩ đi nghĩ lại, hành trình tôi đi qua giống như là ‘một cõi đi về’.

Cái câu của Trịnh Công Sơn còn ứng nghiệm cho cả chuyện đi và về quê hương thứ nhứt nữa. Ngày đó (45 năm trước), bất cứ ai lên thuyền ra đi là chấp nhận 2 viễn cảnh: một là chết trên biển, và hai là sống sót và ‘một lần đi là mãi mãi chia phôi.’ Không ai nghĩ đến ngày mình sẽ có ngày ‘thăm đồng lúa vàng, thăm con đò ven sông.’ Thế rồi, thế sự đổi thay, tôi không những có dịp về thăm đồng lúa vàng và thăm con đò ven sông, mà còn làm được nhiều việc cho Việt Nam. Đó cũng là ‘một cõi đi về’ vậy.

Hôm nọ, khi bà làm về PR (truyền thông) của Đại học UTS phỏng vấn tôi để viết một bài [1], bà hỏi từ ngày tôi vượt biên, tôi có về Việt Nam không. Ui chao, tôi có dịp kể chuyện Việt Nam cho bà ấy nghe những cơ duyên, những cuộc hạnh ngộ, cùng những việc tôi làm ở bên nhà. Bà ấy kinh ngạc rồi nói chắc sẽ để dành câu chuyện Việt Nam cho một bài khác. Nhưng bà ấy hỏi bằng cách nào mà tôi làm nhiều việc bên kia và bên này như thế. Tôi nói nhờ các bạn đồng nghiệp bên Việt Nam tin tưởng và cộng tác tôi mới làm được nhiều việc.

Nhng bài học đi

Những dịp như thế này nhiều khi tôi cũng nhìn lại và hỏi mình đã học được gì từ cuộc sống đã qua. Tôi nghĩ đoạn đường đời vừa qua cũng giống như một hành trình khai phá và khám phá. Khai phá hiểu theo nghĩa một cuộc phiêu lưu. Từ Việt Nam sang Úc, và từ Úc đi mọi nơi là những chuyến phiêu lưu và mình có dịp trải nghiệm.

Trong những cuộc phiêu lưu đó, tôi khám phá nhiều điều thú vị, không chỉ trong công việc, mà còn là ở đời. Đời có thể đẹp như mơ, nhưng cũng có thể ‘Đi không như là mơ‘ và ‘nhân gian chưa tng độ lượng‘. Đi qua dòng đời chúng ta gặp những người thân, bạn bè, người tốt, nhưng chúng ta cũng gặp cả những kẻ xấu trá hình bè bạn. Mỗi lần tiếp xúc là mỗi bài học để mình trưởng thành. Mỗi lần vấp ngã cũng là mỗi lần làm nên mình.

Vậy tôi học gì từ đoạn đường đã qua? Tôi nghĩ đến 5 bài học như sau:

Bài học 1: đừng so sánh với ai, vì mỗi chúng ta là một người đặc biệt và hãy trân trọng sự thật đó.

Hôm cuối năm, tôi đi dự tiệc trong khoa và có một bạn giảng viên trẻ than phiền rằng năm vừa qua là năm thảm hại của cô ấy và cô ấy thấy mình chẳng bằng ai trong khoa. Tò mò hỏi thì tôi mới biết là trong năm qua cô ta xin tài trợ chỗ nào cũng thất bại, công bố khoa học thì chẳng đến đâu, xin giải thuởng cũng chẳng được, v.v. Tôi nói lời an ủi rằng hãy nghĩ về tương lai dài, hãy hỏi mình sẽ để lại cái gì cho đời, hơn là chạy theo những cái nhứt thời để làm mình khổ.

Nhiều người trong chúng ta, đặc biệt là người trẻ, hay so đo, hơn thua với nhau. Trong khoa học, họ đo lường với nhau bằng những thước đo như số bài báo đã công bố, chỉ số này, chỉ số kia, số tiền tài trợ xin được, v.v. Không phải lỗi của họ, mà là của hệ thống. Hệ thống nó buộc họ phải chạy theo mấy con số đó, và làm cho họ trở thành những người đau khổ bởi so sánh hơn thua. Tôi nghĩ so sánh rất ư là phi lí. Để tôi giải thích như sau.

Lãnh vực nghiên cứu mà tôi theo đuổi là ‘precision medicine’ (tạm gọi là ‘Y học chính xác‘). Quan điểm của Y học chính xác là mỗi người chúng ta là một cá nhân đặc thù (unique). Không có ai trong thế giới ~8 tỉ người này giống mình. Mình cũng chẳng giống ai. Tại sao? Tại vì mỗi chúng ta có một hoàn cảnh, khả năng, và lối sống riêng. Tôi có thể cùng tuổi, cùng chiều cao, cùng cân nặng, có cùng học vấn, cùng việc làm với một ai đó, nhưng tôi rất khác với người đó bởi vì tôi tóc đen, da vàng và sanh ra từ miền quê. Nói cách khác, tập hợp những đặc tính như gia đình, gen, cơ thể, tinh thần, lối sống, tri thức, sở thích, kĩ năng, trải nghiệm, v.v. làm cho mỗi chúng ta là đặc thù.

Tính đặc thù đó làm cho mọi so sánh về tài năng trở nên vô nghĩa. Nhiều người sợ rằng có nhiều người khác tài giỏi hơn họ. Họ hay so sánh ông A giỏi hơn bà B, hay bà C là người giỏi nhứt thế giới. Nhưng đó là so sánh vô nghĩa, bởi vì mỗi chúng ta là một cá nhân đặc thù thì đâu có ai để mà so sánh. Mỗi người tốt hơn mọi người khác, bởi không có bất cứ 2 người nào như nhau. Bạn là bạn, không ai tốt hơn bạn.

Chúng ta hay bị ám ảnh tìm người giỏi nhứt, tức là người nổi tiếng nhứt, đẹp nhứt, có khả năng nhứt, làm giỏi nhứt, v.v. Tại sao? Nhận ra và tôn trọng sự đa dạng có nghĩa là làm nổi bậc những ưu điểm và các đặc điểm, cá tánh, kĩ năng và lối sống. Hãy nhìn vào kính và hỏi: ai có thể làm những gì bạn làm theo cách tốt nhứt trong điều kiện bạn có. Câu trả lời là: không có ai. Do đó, hãy khám phá ưu điểm của bạn, khám phá những gì bạn làm tốt nhứt.

Bài học 2: gia đình chúng ta rộng lớn hơn chúng ta nghĩ.  

Hai chữ ‘gia đình’ thường được hiểu là quan hệ huyết thống, nhưng trong khoa học, gia đình còn có nghĩa là quan hệ chuyên môn. Gia đình của chúng ta là các thầy cô (mentors), đồng nghiệp, nghiên cứu sinh. Nói rộng hơn, gia đình của chúng ta là các hội đoàn khoa học. Nhận thức được điều này giúp cho chúng ta biết cách sống và tương tác với đồng nghiệp một cách tử tế.

Xin kể các bạn một chuyện cũ. Thuở đó tôi còn tương đốu trẻ, mới bước vào ‘bộ lạc’ loãng xương, và rất hăng hái. Tôi đọc một bài báo và thấy có vài cái sai khá hiển nhiên, và thế là tôi viết một bài commentary (bình luận) chỉ ra những cái sai đó, rồi đưa cho thầy tôi xem. Ổng xem qua rồi mỉm cười và nói: nhng gì ngươi chỉ ra là ok, nhưng ngươi có nghĩ đến 20 năm sau không? Rồi ông nói cho biết rằng tác giả bài tôi phê bình là một ‘trưởng lão’ trong ‘bộ lạc’, rằng những chữ tôi dùng trong bài commentary là không thích hợp cho một người trẻ nói với người lớn, rằng tôi phải biết trước biết sau, v.v. Nói chung là một bài giảng morale. Nói xong, ổng nói thay vì gởi cho tập san, ổng sẽ biên tập lại bài commentary và gởi riêng cho tác giả.

Thật là một quyết định của bậc thầy! Tác giả (là ông cụ) viết thư (thời đó chưa có email) cám ơn tôi và còn mời tôi hợp tác. Sau này, chúng tôi viết chung 1 bài có ảnh hưởng khá. Sau này, chính ông cụ tác giả đó đã giúp cho tôi rất nhiều trong sự nghiệp, mỗi lần cần giới thiệu là tôi nhờ ổng. Tôi xem ổng như là một người trong đại gia đình vậy.

Thành ra, trong khoa học, ‘gia đình’ là cộng đồng bè bạn, đồng nghiệp, thầy cô và các hiệp hội chuyên môn mà chúng ta tương tác. Hiểu rõ như vậy để ứng xử tốt với đồng nghiệp. Hãy là thành viên tốt trong gia đình đó!

Bài học 3: tìm hạnh phúc cho mình bằng cách đem hạnh phúc cho người khác.

Ai trong chúng ta cũng muốn có một cuộc đời riêng và một cuộc sống hạnh phúc. Nhưng ‘hạnh phúc’ là gì? Mỗi người có một định nghĩa riêng theo góc nhìn của họ, và khó có một đồng thuận về cách hiểu. Người thì nghĩ hạnh phúc là có nhiều tiền, con cái thành đạt; kẻ thì cho rằng hạnh phúc là có cuộc sống tiện nghi; lại có người nghĩ rằng hạnh phúc chẳng cần nhiều tiền mà là giàu trải nghiệm; vân vân.

Tôi thì nghĩ hạnh phúc là giúp cho người khác thành công. Nói cách khác, hạnh phúc của mình là mình đã đem lại hạnh phúc cho người khác. Những gì chúng ta cho đi cũng chính là những gì chúng ta nhận lại. Đó chính là lí do tại sao tôi thích giúp người mà có khi chưa bao giờ gặp người ta ngoài đời. Tôi có khi viết thư giới thiệu cho mấy nghiên cứu sinh gốc Tàu không phải trong labo tôi. Trong khi viết cái note này thì tôi nhận được email từ một em ở Đà Nẵng. Email viết như sau (chỉ trích một đoạn):

Nhân dịp năm mi Nhâm Dần, em xin kính chúc Thầy và gia đình một năm mi thật nhiều niềm vui, luôn mạnh khỏe và mong Thầy luôn lan tỏa nhng năng lượng tích cc, đầy nhiệt huyết vi nghiên cu khoa học cho các thế hệ.


Em xin đ
ược t gii thiệu về mình, em là […] Đại học Đà Nẵng, chuyên ngành […] Em gi message mi mong muốn được gi li cảm ơn chân thành nhất đến Thầy. Đọc đến đây chắc Thầy sẽ có chút ngạc nhiên đúng không Thầy. Chuyện là cách đây 8 năm khi em đang làm nghiên cu sinh tại một trường đại học Pháp […], trong lúc em đang hoang mang, loay hoay vi một m số liệu hỗn độn của các thc nghiệm nhưng vẫn không thể nào xây dng một mô hình về tiêu hao năng lượng trong một hệ phát hiện té ngã được thc thi trên hệ thống hybrid software/hardware. Trong khoảng thi gian năm 2013, tình c em đã xem được 1 số video của Thầy trên blog và trên youtube […] đặc biệt là bài toán về việc xây dng mô hình thể hiện mối quan hệ gia các thông số có tác động đến tình trạng loãng xương như tuổi tác, gii tính,… Tất cả, nhưng điều này đã giúp em có được các ý tưởng cho bài toán của mình và đã hoàn thành nghiên cu sinh vào năm 2015. […]”

Bài học 4: nghĩ tích cc, đng bị c chế bi nhng chuyện đâu đâu.  

Tôi nghĩ có lúc các bạn (cũng như tôi) từng bị người khác, kể cả bạn bè và đồng nghiệp, chỉ trích rằng mình bất tài, vô dụng, dở hơn họ, xấu hơn họ, ngu hơn họ, v.v. Có khi họ chính là bạn mình, hay người mình từng giúp đỡ. Mỗi chúng ta đều có trải nghiệm đó. Những người chỉ trích đó chắc chắn có cảm giác tốt khi họ bôi nhọ và đẩy chúng ta xuống bùn đen. Chúng ta trở thành miếng mồi cho cái tôi của họ.

Bạn đừng buồn và đừng chú ý đến những gì họ nghĩ gì về mình, mà hãy tập trung làm tốt công việc mình theo đuổi. Bạn cũng nên tránh xa những kẻ đó, vì họ không đem lại năng lượng tích cực cho đời sống của mình. Hãy kết bạn với người mới và tích cực và giữ một tinh thần lạc quan.

Viết đến đây tôi nhớ đến câu nói bất hủ của Richard Feynman (tôi dịch nôm na) [2]: “Bạn không có bổn phận phải sống đúng theo những gì người khác nghĩ về bạn phải như thế này hay như thế kia. Bạn không có bổn phận phải giống như những gì họ kì vọng; đó là sai lầm của họ, chứ không phải nhược điểm của bạn“.

Bài học 5: tình thương là thc tế duy nht.

Tôi chú ý trong buổi lễ phong hàm đại tá cho một nữ quân nhân Mĩ gốc Việt, người ta cho người của gia đình chị ấy gắn quân hàm một bên cầu vai, còn người đại diện của Chánh phủ / quân đội gắn một bên cầu vai. Tôi thấy nghi lễ đó rất hay vì nó nhắc nhở rằng không có tình thương của gia đình thì chị ấy đã không có ngày hôm nay.

Không có tình thương gia đình, chúng ta — bạn và tôi — không thể sống được. Có lần thầy cũ tôi lúc sắp vào bệnh viện để điều trị ổng nói đại khái rằng chỉ có tình thương là quan trọng trong đời. Lúc đó tôi chẳng hiểu sao ổng nói vậy, vì nó có vẻ quá hiển nhiên. Sau này nghĩ lại thì đúng như thế: chỉ có tình thuơng là thực tế, các thứ khác (như danh vọng, sự nghiệp, tiền tài) đều là ảo.

Mỗi chúng ta sanh ra trong tình thương của ba má, cùng sự bảo bọc của ông bà và anh em, bà con. Khi lớn lên, chúng ta hay muốn quay về cái thời điểm ấm cúng đó. Nếu chúng ta muốn như vậy thì người khác cũng vậy, và điều này hàm ý rằng chúng ta nên trao tình thương cho tha nhân. Trao bằng cách nào? Một ánh mắt, một cái sờ tay, một câu nói, một cử chỉ trìu mến đều có hiệu quả truyền tải tình thương. Chọn chữ mà nói/viết sao cho không làm cho người ta bị xúc phạm và tổn thương. Câu chuyện trên về thầy tôi là một bài học quí giá vậy.

***

Tóm lại, tôi xin tỏ lời cảm ơn đến tất cả các bạn xa gần đã có lời chúc mừng trong ngày vui của tôi. Và, cũng xin nhân dịp này viết ra đôi ba lời tâm tình, cùng những bài học mà tôi rút ra trong đoạn đường đã qua. Mỗi chúng ta dù ở phương trời nào và làm gì đều có điểm xuất phát, và một ngày nào đó chúng ta quay về điểm xuất phát đó (đi và về). Cuộc đời là một hành trình khai phá và khám phá, và những bài học tôi rút ra trong hành trình đó là (i) chúng ta đừng nên quá quan tâm mình giỏi hay dở vì mỗi chúng ta là một cá nhân đặc thù; (ii) gia đình khoa học của chúng ta rộng hơn là gia đình huyết thống; (iii) làm việc vì phúc lợi của người khác tức là đem lại hạnh phúc cho mình; (iv) nghĩ tích cực và đừng sống vì kì vọng của người ta; và (v) là đem tình thương đến cho gia đình và tha nhân.

__________

[1] https://www.uts.edu.au/news/tech-design/anniversary-honour-lifes-work-osteoporosis

[2] Richard Feynman: “You have no responsibility to live up to what other people think you ought to accomplish. You have no responsibility to be like they expect me to be. It’s their mistake, not your failing.”

Viễn cảnh 2022: Tung hoành với Sông Cờ Đỏ, Trung Quốc vắt kiệt nguồn nước Châu Á

Ngô Thế Vinh

Dẫn Nhập _ Các dân tộc sống trên lục địa Châu Á ở hạ lưu các dòng sông từ Tây Tạng và Trung Quốc chảy xuống, trên 1,6 tỉ người này đã phải gánh chịu hết cả thiệt hại kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp và môi trường các hạ vực đã bị thoái hóa dần dần suốt nhiều thập niên qua trong khi Trung Quốc hưởng hết ích lợi nhờ thủy điện vì trên thượng nguồn họ xây hàng trăm con đập, tàng trữ hàng trăm tỉ mét khối nước, giam hãm 90% phù sa và thay đổi toàn diện dòng chảy môi sinh trên toàn lưu vực. Nhưng tham vọng Trung Quốc chưa dừng lại, Trung Quốc đã bắt đầu xây một đại công trình mang tên Sông Cờ Đỏ, dài trên 6.180 km để hàng năm chuyển dòng lấy 60 tỉ mét khối nước ngay từ nguồn không cho xuống hạ lưu sông Mekong, Salween và Brahmaputra. Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc là một mối đe doạ tiềm tàng to lớn, với khả năng gây ra tội ác cho nhân loại – imminent threat to humanity. Trung Quốc tránh không ký bất cứ một hiệp ước hợp tác sông ngòi quốc tế nào, để họ đơn phương thực hiện những tham vọng của mình. Không một siêu cường nào trên thế giới ngạo mạn khai thác dòng nước bất chấp cuộc sống của bao nhiêu triệu cư dân hạ lưu như thế.  Việt Ecology Foundation

*

Bắc Kinh có khả năng dùng “vũ khí nước” như một đòn ngoại giao bắt 25% dân số thế giới làm con tin / holding hostage. Khác với những hồ chứa đập thuỷ điện, vừa giữ nước vừa xả nước, Sông Cờ Đỏ là một chiến lược đổi dòng lấy nước – có nghĩa là 100% lượng nước này sẽ bị mất đi – không bao giờ được đền bù,  đối với các quốc gia hạ nguồn. [1]

Hình 1: Quốc gia Tây Tạng, nơi phát xuất những con sông lớn của Châu Á: (1) Dương Tử, (2) Hoàng Hà, (3) Indus, (4) Sutlej, (5) Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, (6) Irrawaddy, (7) Salween, (8) Mekong. [nguồn: Bản đồ cập nhật của Michael Buckley, Meltdown in Tibet, Palgrave MacMillan 2014] [3]

CƠ THỂ HỌC CÁC CON SÔNG LỚN CHÂU Á

Các con sông lớn như mạch sống của toàn Châu Á đều bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng, còn được mệnh danh là Cực Thứ Ba của Trái Đất.

_ Đông Tây Tạng: phía đông là khởi nguồn của hai con sông lớn hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Trung Quốc: (1) sông Dương Tử 6.500 km dài nhất Châu Á chảy về hướng đông theo suốt chiều ngang lãnh thổ Trung Hoa tới Thượng Hải – Shanghai, (2) sông Hoàng Hà thì chảy về hướng bắc rồi chuyển sang hướng đông tới Thiên Tân – Tianjin, và cả hai cùng đổ ra biển Trung Hoa.

_ Tây Tây Tạng: phía tây bắc,(3) sông Indus(4) sông Sutlej chảy về hướng tây nam và giao thoa với ba con sông khác để hình thành vùng châu thổ Punjab giữa hai nước Ấn và Hồi. Phía tây nam(5) sông Yarlung Tsangpo là “con sông cao nhất thế giới”, với các ghềnh thác xuyên dãy Hy Mã Lạp Sơn, rồi chảy qua Ấn độ, Bhutan và Bangladesh, con sông đổi tên là sông Brahmaputra trước khi đổ vào Vịnh Bengal, Ấn Độ Dương. 

_ Nam Tây Tạng: phía nam là ba con sông (6) sông Irrawaddy(7) sông Salween chảy xuống Miến Điện theo hướng bắc nam trước khi đổ vào Biển Andaman. Riêng con (8) sông Mekong chảy qua nhiều quốc gia  với nhiều tên khác nhau, từ Tây Tạng: có tên Dza-Chu có nghĩa “nguồn nước của đá”, tiếp tục chảy về hướng nam băng qua những hẻm núi sâu của tỉnh Vân Nam với tên Trung Hoa là Lan Thương Giang / Lancang Jiang “con sông xanh cuộn sóng”, qua đến biên giới Lào Thái mang một tên khác Mae Nam Khong “con sông mẹ”, xuống Cam Bốt lại mang một tên khác nữa Tonle Thom “con sông lớn”, cuối cùng chảy qua Việt Nam mang tên Cửu Long với hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu đổ ra Biển Đông trước kia bằng chín cửa sông, nhưng nay chỉ còn bảy. [Hình 1] 

TÂY TẠNG KHÔ HẠN CHÂU Á CHẾT

Và cũng dễ hiểu tại sao, bằng mọi giá Trung Quốc phải chiếm cho bằng được Tây Tạng – vùng cao nguyên chiến lược vô cùng quan trọng, giàu có về nguồn nước, phong phú về tài nguyên thiên nhiên – đó cũng là “định mệnh sinh học – biological destiny” của Tây Tạng, một quốc gia nhỏ bé với chưa tới 1,5 triệu dân bản địa (thống kê 1965, dân số gốc Tây Tạng 1,321,500; Leo A. Orleans, The China Quarterly Jul-Sep, 1966) và đang bị Hán hoá, người Tây Tạng nay đã trở thành thiểu số ngay trên đất nước mình.

Phải chứng kiến tốc độ tàn phá sinh cảnh Tây Tạng, ngay nơi đầu nguồn,  các con sông lớn Châu Á đang bị Trung Quốc khai thác một cách triệt để với những đập thuỷ điện, cùng với nạn phá rừng tự sát / suicidal deforestation, tới các kế hoạch khai thác hầm mỏ đại quy mô, gây ô nhiễm nguồn nước. Hiện tượng biến đổi khí hậu với khí thải từ các nhà máy đốt nhiên liệu hoá thạch đang gây hiệu ứng nhà kính khiến khối băng tuyết tưởng như vô tận nơi cực thứ ba trái đất đang nhanh chóng bị đẩy lùi và tan rã.

Cũng để thấy rằng, những con sông Châu Á từng nguyên sinh trong thế kỷ trước thì nay đã biến dạng suy thoái và không còn như xưa nữa.

Cảnh tượng ấy khiến Đức Dalai Lama đang lưu vong phải thốt lên lời kêu cứu và ông đã chọn ưu tiên bảo vệ môi sinh thay vì những vấn đề chính trị nóng bỏng. Trong một lần gặp gỡ với Đại sứ Hoa Kỳ Timothy Roemer ở New Delhi, thủ đô Ấn Độ vào tháng 8/2009, Đức Dalai Lama nói rằng:  

“Lịch trình chính trị có thể hoãn lại 5 -10 năm nhưng cộng đồng quốc tế cần tập trung quan tâm tới biến đổi khí hậu trên Cao nguyên Tây Tạng: khối băng tuyết đang tan rã, nạn phá rừng, và ô nhiễm nguồn nước do những dự án khai thác hầm mỏ, là những vấn đề cấp thiết, không thể chờ đợi.” [nguồn: Wikileaks Cables, the Guardian 10 Aug. 2009]

Bắc Kinh xác nhận là sẽ xây thêm các con đập thuỷ điện lớn trên thượng nguồn sông Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, trước khi con sông xuyên quốc gia ấy chảy sang Ấn Độ, Bhutan và Bangladesh. Brahmaputra là dòng sông huyết mạch của ba quốc gia này

Khi các công trình hoàn tất, tổng công suất / total capacity của những con đập thủy điện trên Cao nguyên Tây Tạng sẽ “nhiều lần lớn hơn” công suất con đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam): 22.500 megawatts, lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử.

Hình 2: Bích chương của Hội Phụ nữ Tây Tạng: Hâm Nóng Toàn Cầu trên Cao nguyên Tây Tạng; Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết. [3]


Cho dù đang có những mối lo âu về sự tồn vong của quê hương Tây Tạng nhưng Đức Dalai Lama rất quan tâm tới những vấn đề chung của nhân loại. Ông nói tới vấn đề môi sinh rất sớm với tầm nhìn xa và trong mối tương quan toàn cầu và “phải làm sao giữ xanh hành tinh này, qua thông điệp nhân Ngày Môi Sinh Thế Giới / World Environment Day [ngày 05.06.1986]:

“Hòa bình và sự sống trên trái đất đang bị đe dọa bởi những hoạt động của con người thiếu quan tâm tới những giá trị nhân bản. Hủy hoại thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là do hậu quả của lòng tham lam và thiếu tôn kính đối với sự sống trên hành tinh này… Chúng ta dễ dàng tha thứ cho những gì đã xảy ra trong quá khứ do bởi u minh. Nhưng ngày nay do hiểu biết hơn, chúng ta phải duyệt xét lại với tiêu chuẩn đạo đức là phần gia tài nào mà chúng ta thừa hưởng, phần nào chúng ta có trách nhiệm sẽ truyền lại cho thế hệ mai sau.” [3]

SÔNG CỜ ĐỎ / HỒNG KỲ HÀ 红旗河

MỘT KHỦNG LONG CỦA BẮC KINH

Từ mấy thập niên qua, ai cũng đã biết Trung Quốc đã và đang xây thêm hàng trăm đập thủy điện trên khắp các dòng sông với những hồ chứa nước khổng lồ, ngăn chặn phù sa làm đảo lộn toàn hệ sinh thái, tác động đến sinh kế của bao nhiêu triệu cư dân dưới nguồn.

Nay tiến thêm một bước đột phá nữa, Trung Quốc đang có thêm một kế hoạch vĩ mô / mega project, vô cùng táo bạo – khai mở một con sông nhân tạo: Sông Cờ Đỏ / Red Flag River, lớn nhất thế giới xuyên lưu vực, kết nối với mạng lưới sông thiên nhiên của Châu Á, nhằm chuyển nước về hướng Bắc củng cố nền an ninh nguồn nước – cũng là nguồn an ninh lương thực của Trung Quốc. Với dự án Sông Cờ Đỏ dài 6.180 km này, Trung Quốc hàng năm sẽ giành thêm được 60 tỉ mét khối nước – có nghĩa là các quốc gia khác sẽ mất đi lượng nước sinh hoạt thiết yếu này.

 Không tham khảo với các quốc gia láng giềng, có thể nói Trung Quốc với hơn 1.4 tỉ dân đã đơn phương khai mào một trận chiến môi sinh không tiếng súng và sẽ gieo hoạ cho 1,6 tỉ người thuộc các dân tộc lân bang chung sống với họ trên lục địa Châu Á.

Sông Cờ Đỏ có tham vọng chuyển 60 tỉ mét khối nước hàng năm tương đương với 21% lượng nước đầu nguồn hàng năm tại ba con sông xuyên quốc gia / transnational rivers: Mekong, Salween và Brahmaputra. Lượng nước quý giá này chính là nguồn sống, sinh kế của các dân tộc Nam Á, và Đông Nam Á vẫn phải dựa vào số nước ấy sẽ được chuyển tới vùng Tân Cương – Xinjiang phía bắc và tây bắc Trung Quốc.

Dự án Sông Cờ Đỏ xuyên lưu vực này sẽ gây chấn động dư luận nơi các quốc gia lân bang – đặc biệt là Ấn Độ, quốc gia có dân số đông thứ hai chỉ sau Trung Quốc.

Những nước dưới hạ nguồn sẽ phải rất quan tâm trước một viễn tượng có thể khó lường. Do Tây Tạng có nước chảy xuống là nhờ mưa và tuyết tan khi trời ấm, mức nước và lưu lượng sẽ cao nhất từ tháng hai cho đến tháng bảy, cho 70% tổng số nước cả năm, khi đó là thời gian tối ưu cho con Sông Cờ Đỏ dựa vào thế năng và động năng cao để chuyển dòng và chiếm đoạt nhiều nước nhất. Các nước hạ lưu cùng lúc đó lại đang vào mùa khô, vì thế sau khi Sông Cờ Đỏ hoạt động, hạn hán giáng xuống hạ lưu chắc chắn sẽ khắc nghiệt hơn nữa. Lúc đó họ chỉ còn biết dựa vào lòng tử tế của Trung Quốc, điều mà người Tây Tạng, Ngô Duy Nhĩ, Việt Nam đã từng được nếm trải.

Vì thế Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc đã tiềm tàng một mối đe doạ to lớn, gần như tội ác cho nhân loại – imminent threat to humanity. Trung Quốc đã tránh không ký bất cứ một hiệp ước hợp tác sông ngòi quốc tế nào, để họ không bị ràng buộc có thể đơn phương thực hiện những tham vọng của mình. Không một siêu cường nào trên thế giới ngạo mạn khai thác dòng nước bất chấp cuộc sống của bao nhiêu triệu cư dân hạ lưu như thế.  

Riêng Việt Nam thì sao?  Vẫn là sự im ắng “truyền thống” cho dù Sông Cờ Đỏ sẽ lấy nước sông Mekong từ ngay nơi đầu nguồn.

Trung Quốc “vĩ đại” theo nhiều ý nghĩa, thể hiện cho tinh thần Đại Hán ấy trong quá khứ đã có Vạn Lý Trường Thành, là một trong bảy kỳ quan của thế giới. Nay với tiến bộ khoa học kỹ thuật, Trung Quốc còn thực hiện thêm những công trình mới có tầm vóc thế giới: đập thuỷ điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử lớn nhất thế giới, và nay Sông Cờ Đỏ sẽ là con sông nhân tạo chuyển dòng lấy nước cũng lớn nhất thế giới với chi phí tốn kém nhất thế giới. Đây là một đại công trình làm thay đổi cả diện mạo của lục địa Châu Á. Với sẵn nguồn nhân lực, với quyết tâm và có khả năng kỹ thuật cao, Bắc Kinh có thể dư sức thực hiện Dự án Sông Cờ Đỏ này. Nhưng với cái giá nào phải trả của các quốc gia lân bang thì không được Bắc Kinh quan tâm tới.

Hình 3a: Sông Cờ Đỏ với Dự án chuyển nước vĩ mô “tam tung, tứ hoành / ba dọc, bốn ngang”; (a) đường đen mỏng: các dòng sông lớn; (b) đường đen đậm: Sông Cờ Đỏ và hai nhánh chính nối với các con sông thiên nhiên trong dự án chuyển nước nối lưu vực nam-bắc của Trung Quốc; (c) đường đen đậm đứt quãng gần: đường dẫn nước nam-bắc trong Dự án Chuyển Nước Nam-Bắc / SNWTP / South-North Water Transfer Project; (d) đường đen đậm đứt quãng xa: trong kế hoạch thực hiện. [nguồn: Bản đồ của Genevieve Donnellon-May và Mark Wang trên The Diplomat Oct. 7, 2021, với thêm ghi chú tiếng Việt của người viết]
Hình 3b:GS Vương Hạo (Wang Hao), Chủ tịch Nhóm Chuyên gia trong cuộc Hội thoại về “Sông Cờ Đỏ” – một dự án vĩ đại của Trung Quốc – đã ngạo mạn phát biểu: “Ít nhất trên quy mô ngàn năm / thiên niên kỷ, Dự án Sông Cờ Đỏ sẽ đem lại những lợi ích vượt xa hơn là những tác hại.”

LỊCH SỬ SÔNG CỜ ĐỎ VỚI “TAM TUNG TỨ HOÀNH”

Dự án này được soạn thảo bởi “nhóm nghiên cứu S4679” của Đại học Thanh Hoa / Tsinghua ở Bắc Kinh – được so sánh như một Harvard của Đông phương; do giáo sư Vương Hạo / Wang Hao là kỹ sư trưởng của Viện Nghiên Cứu Tài nguyên Nước và Thuỷ điện của Trung Quốc.

Sông Cờ Đỏ là một hệ thống thuỷ lợi với dòng chảy trọng lực / gravity flow water diversion system, lấy nước từ các con sông trên cao nguyên Tây Tạng [được mệnh danh là “nóc của thế giới” với độ cao trung bình 4.500 m trên mặt biển], dẫn vào một đường kênh chính / main channel đưa nước tới vùng Tân Cương / Xinjiang khô cằn – có khả năng “biến Tân Cương thành một California Made in China xanh tươi trù phú”, đồng thời cũng dùng con sông nhánh Chunfeng dẫn một lượng nước khổng lồ vào lưu vực Turpan tới vùng bắc Tân Cương. [Hình 3a,b]

Công trình thuỷ lợi Sông Cờ Đỏ còn đem nước tới Tân Cương và các tỉnh phía tây bắc như Cam Túc / Gansu, Ninh Hạ / Ningxia. Các tỉnh này nếu có nguồn nước sẽ trở thành một vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất nước. Ước tính là lượng nước cung cấp cho các tỉnh tây bắc sẽ nhiều hơn lưu lượng nước hàng năm của con sông Hoàng Hà / Yellow River đổ ra biển. Dự án này sẽ tạo thêm được 13,3 triệu hectares diện tích canh tác ở Tân Cương và thêm 130.000 km2 các ốc đảo / oasis xanh tươi ở vùng tây bắc Trung Quốc.

Ngoài những lợi ích về canh nông kể trên, Sông Cờ Đỏ còn bảo đảm an toàn nguồn nước cho Trung Quốc. Với Kế hoạch Dự án Chuyển Nước Nam-Bắc / SNWTP / South-North Water Transfer Project, Trung Quốc tạo được một mạng lưới nước / water grid system có tên là “tam tung tứ hoành / 三纵四横 / ba dọc bốn ngang”:

_ Tam tung / sanzhong / ba dọc: là 3 tuyến dẫn nước từ nam lên bắc; 2 tuyến trung và đông đã hoàn thành, tuyến tây đang triển khai. Khi tuyến phía tây này hoàn tất, sẽ có 17 tỉ mét khối nước được chuyển từ thượng nguồn sông Dương Tử sang sông Hoàng Hà ngay từ trên cao nguyên Tây Tạng, có khả năng phục sinh con sông Hoàng (Hà) đang bị cạn kiệt.  

_ Tứ hoành / siheng / bốn ngang: là 4 dòng sông chảy từ tây sang đông là: Hoàng Hà (Yellow river), Hoài Hà (Huai river), Dương Tử (Yangtze river) và Hải Hà (Haihe river)

Hệ thống “Tam Tung Tứ Hoành” này sẽ bảo đảm cung cấp nguồn nước cho thủ đô Bắc Kinh và các thị trấn lớn vùng bình nguyên phía bắc Trung Quốc.

Ngoài ra, Sông Cờ Đỏ còn có thêm hai kênh sông Hồng Duyên / Hongyan Hà dẫn nước đến Diên An / Yan’an phía bắc tỉnh Thiểm Tây / Shaanxi, và sông Mạc Bắc / Mobei dẫn nước vào Nội Mông và cả Bắc Kinh. Cũng qua kênh sông Mạc Bắc, Sông Cờ Đỏ cung cấp nguồn nước cho vùng đồng bằng phía bắc Trung Quốc, và qua nhánh sông Hồng Duyên cung cấp nước cho lưu vực Tứ Xuyên / Sichuan Basin. [Hình 3a,b]

Đây là một bức tranh quy hoạch thuỷ lợi cực lớn – không chỉ tạo ra một hệ thống cấp nước mới cho vùng tây bắc Trung Quốc mà còn kết nối với hệ thống mạng lưới nước quốc gia để có “bảo đảm kép” về mặt chiến lược cung cấp nguồn nước cho Bắc Kinh và vùng bắc Trung Quốc. [1]

VẪN BIỆN HỘ CHO TRUNG QUỐC

Rồi ra, chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu vẫn có một số vị tiến sĩ hay trí thức khoa bảng trong và cả ngoài nước – sẽ hành xử như những luật sư tự nguyện bào chữa cho Bắc Kinh rằng: Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc. Họ vẫn chỉ biết dựa vào một con số đơn giản, cho rằng chỉ có 16% số lưu lượng sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc. Và nay, Sông Cờ Đỏ có lấy thêm đi mấy phần trăm % của con số 16% ấy thì nạn hạn hán nếu có xảy ra cũng không phải lỗi Trung Quốc.

Thực tế vào mùa khô khi nước khan hiếm nhất, lượng nước từ Trung Quốc xuống Mekong lên tới 40% và 70%, gấp hai tới bốn lần hơn con số họ cố ý trích dẫn. [nguồn: https://www.lowyinstitute.org/the-interpreter/china-eyes-its-next-prize-mekong]

Và người ta vẫn có thể tự ru ngủ mà bảo rằng: tranh chấp nước “trên nguồn – dưới nguồn / upstream – downstream” bấy lâu vẫn là chuyện bình thường, ngay cả giữa các địa phương trong cùng một quốc gia.

Có cần nhắc với họ không là năm 2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam đã phải lên tiếng cầu cứu xin Trung Quốc xả nước từ con đập Cảnh Hồng / Jinhong để cứu đại hạn nơi ĐBSCL lúc đó, và cuối cùng cũng không đạt hiệu quả nào!

*

Hình 4: trái, Hạn hán khắc nghiệt nơi ĐBSCL năm 2016, khiến Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó phải lên tiếng cầu cứu Trung Quốc cho xả nước từ hồ chứa đập thuỷ điện Cảnh Hồng nhưng không đạt hiệu quả nào; phải, Cái bắt tay “hữu nghị” của Tập Cận Bình – lúc đó là Phó Chủ tịch TQ và TT  Nguyễn Tấn Dũng tháng 12/2011. [nguồn: trái, VN Express 3/11/2016]  

SÔNG CỜ ĐỎ VỚI TRÁI TIM BIỂN HỒ VÀ ĐBSCL

Tuy dự án Sông Cờ Đỏ S4678 không được công bố chính thức nhưng chắc chắn sẽ gây ra sự quan tâm rộng rãi. Cao nguyên Tây Tạng vốn được coi là một vùng sinh thái trù phú nhưng cũng rất mong manh và dễ bị tổn thương.

Sông Cờ Đỏ chắc chắn làm giảm thêm nguồn nước của các con sông xuyên quốc gia – trong đó có sông Mekong.

Rõ ràng, Sông Cờ Đỏ sẽ đem lại cho Trung Quốc một thứ “siêu quyền lực” bá chủ về nguồn nước  / hydro-hegemony trên toàn Châu Á, với “quyền sinh sát tắt mở vòi nước” theo ý mình – nhất là khi Bắc Kinh muốn cho các nước nhỏ “một bài học” – vẫn nói theo ngôn từ của Đặng Tiểu Bình.

Ngoài nước lớn là Ấn Độ, có đủ sức đối trọng với Trung Quốc, hầu như chưa có các quốc gia hạ nguồn nào khác chính thức lên tiếng – Riêng với Uỷ Ban Mekong Việt Nam – 23 phố Hàng Tre Hà Nội, cách ĐBSCL hơn 1.600 km, thì vẫn là sự im lặng hay hoàn toàn bị động.

Vẫn với một khuôn mẫu hành xử bấy lâu, chưa bao giờ Bắc Kinh muốn chia sẻ thông tin / hay muốn thực lòng tham khảo với các quốc gia hạ nguồn về dự án Sông Cờ Đỏ S4679, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng huỷ hoại lâu dài đối các dòng sông xuyên quốc gia này.

Theo ước tính của hai tác giả Genevieve Donnellon-May / Đại Học  Singapore và Mark Wang / Đại học Melbourne, thì Bắc Kinh có khả năng dùng “vũ khí nước” như một đòn ngoại giao bắt 25% dân số thế giới làm con tin / holding hostage. Khác với những hồ chứa đập thuỷ điện, vừa giữ nước vừa xả nước, Sông Cờ Đỏ là một chiến lược đổi dòng lấy nước – có nghĩa là 100% lượng nước này sẽ bị mất đi – không bao giờ được đền bù,  đối với các quốc gia hạ nguồn. [1]

_ Tình trạng “đói lũ” ở ĐBSCL đã xảy ra thường xuyên hơn trong những năm gần đây. Lũ – mùa nước nổi xuống ĐBSCL, phụ thuộc chính vào lượng nước mưa từ thượng nguồn sông Mekong. Nếu mưa ít ở lưu vực trên / upper basin, kéo theo nạn thiếu nước trong hàng trăm các hồ chứa thuỷ điện, thì khi tới mùa mưa nước sẽ bị chặn lại trong các hồ chứa – thay vì lượng nước mưa ấy ồ ạt theo dòng sông xuôi chảy xuống hạ lưu. Hậu quả là sông Mekong sẽ thiếu nước, gây tình trạng hạn hán trên toàn hệ thống sông rạch.

_ Do đó sẽ rất ngây thơ để bảo rằng 16% lưu lượng nước từ Trung Quốc là không đáng kể, và cho rằng các hồ thuỷ điện không tiêu thụ nước. Nhưng khi các hồ thuỷ điện thiếu nước, phải cần thời gian lâu để tích trữ lại lượng nước thiếu vào chuỗi các hồ chứa, những hồ chứa đập thuỷ điện đã “phá vỡ cả một chu kỳ điều hợp thiên nhiên kỳ diệu” của con sông Mekong. Không còn lũ cao / hay đỉnh lũ trong mùa mưa để con sông Tonle Sap có thể chảy ngược dòng vào Biển Hồ, tăng diện tích Biển Hồ lên gấp 5 lần (từ 2.700 km2 mùa khô tới 16.000 km2 mùa mưa). Biển Hồ được ví như một biển dự trữ nước ngọt thiên nhiên khổng lồ tiếp nước cho cả hai vùng châu thổ Tonle Sap / Cam Bốt và ĐBSCL / Việt Nam trong cả hai mùa mưa nắng.  

_ Một con sông sinh thái / river ecosystem không đơn giản chỉ có nước mà phải là một dòng chảy bao gồm các sinh vật / biotic (như cây cỏ, rong tảo, sò ốc tôm cá), những vi sinh vật / microorganisms cùng với những vật thể phi sinh khác / abiotic (như cát sỏi phù sa), tất cả cùng tương tác với nhau như một cơ thể sống.  

Tác hại của chuỗi đập thủy điện và nay với thêm Con Sông Cờ Đỏ không chỉ cướp nguồn nước mà còn huỷ hoại hệ sinh thái của con sông: chặn nguồn phù sa trong các hồ chứa – mà phù sa là yếu tố bấy lâu bồi đắp tạo dựng nên vùng đồng bằng châu thổ từ hàng bao ngàn năm. Nay cũng nguồn nước ấy khi xuống tới ĐBSCL do “bị đói phù sa”, đã dẫn tới một tiến trình đảo nghịch: thay vì bồi đắp, thì nay lại “ăn đất” gây sạt lở không chỉ các bờ sông mà cả suốt chiều dài 800km vùng ven biển.  

_ Rồi còn phải kể tới nạn đất lún do lạm dụng khai thác tầng nước ngầm, cùng với ảnh hưởng của “biến đổi khí hậu” hâm nóng toàn cầu, nước biển dâng, với các hiện tượng El Niño và La Niña khiến các vùng châu thổ là dễ bị tổn thương nhất – trong đó có ĐBSCL, và tất cả đã làm đảo lộn mọi dự đoán về thời tiết thuỷ văn để có thể kịp thời đối phó!

TRUNG QUỐC VẪN LỐI HÀNH XỬ CÔN ĐỒ

Tháng 2 năm 1972, khi TT Nixon viếng thăm Bắc Kinh, bắt tay với Mao Trạch Đông dọn đường cho một Trung Quốc mở cửa; rồi tiếp theo đó với chính sách “Đổi Mới” của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng vươn lên như một siêu cường, theo cái nghĩa “nước lớn bá quyền”, và chính Đặng Tiểu Bình đã từng giáng cho Việt Nam một bài học bằng trận chiến tranh đẫm máu nơi biên giới phía bắc (1979).

Và rồi như một chính sách nhất quán, Bắc Kinh đã có một lối hành xử rất côn đồ từ Biển Đông (với Hoàng Sa Trường Sa và với Đường Lưỡi Bò), vào tới đất liền chiếm đoạt nguồn nước, luôn luôn hăm doạ và bắt nạt các “tiểu quốc / nước bé”, bất chấp mọi trật tự và luật pháp quốc tế.  

Bằng chứng là mới đây vào tháng 10/2021 Trung Quốc đã ngang nhiên từ chối ký một “hiệp ước chia sẻ nước / water sharing treaty” với các quốc gia hạ nguồn. [1]

Chia sẻ thông tin, chấp nhận đối thoại chân thành, điều mà các chuyên gia thuỷ học Trung Quốc có thể dễ dàng làm nhưng đối lại vẫn là sự vô cảm.  Không đối thoại, không có tham khảo, trên mọi dự án lớn liên quan tới toàn vùng, cho dù Bắc Kinh biết rằng cách hành xử ấy sẽ tạo nên những mối quan hệ căng thẳng nhưng họ vẫn bất chấp. Với Trung Quốc ngày nay, chỉ có một tiếng nói của sức mạnh. Cuộc đấu tranh để sinh tồn có thể dẫn tới cuộc chiến tranh vì nước ngay trong thế kỷ 21 này.

NGÔ THẾ VINH

Mekong Delta 1995 – 2022

THAM KHẢO:

1/ _ What’s Behind China’s Latest Mega Hydro-Engineering Project. Genevieve Donnellon-May, Mark Wang. The Diplomat Oct 07, 2021.

   _ Red Flag River and China Downstream Neighbors. Genevieve Donnellon-May, Mark Wang. The Diplomat Oct 23, 2021.  

2/ Đồng Bằng Sông Cửu Long và Những Bước Phát Triển Tự Huỷ Hoại. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation May 01, 2018

vietecology.org/article/article/299

3/ Mùa Xuân Tây Tạng và Câu Chuyện Những Dòng Sông. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation. Jan 20, 2017

vietecology.org/article/article/197

4/ Thoi Thóp Trái Tim Biển Hồ, Miền Tây Đau Thắt Ngực. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation. Nov 7, 2015

vietecology.org/article/article/122

Vinh danh một đời cho nghiên cứu loãng xương

Lời giới thiệu: Tuần qua, phòng PR của Đại học UTS có một buổi phỏng vấn đối với tôi nhân dịp tôi được trao huân chương Australia. Buổi phỏng vấn dài hơn 1 giờ, xoay quanh hành trình của một refugee ở nước Úc, những gì đã làm được, những bài học và thời ấu thơ ở dưới quê. Nói chung là rất nhiều, nhưng họ biên tập lại những câu chánh và công bố trên mạng (đường link dưới đây). Tôi đã dịch sang tiếng Việt để giúp các bạn nào không am hiểu tiếng Anh dễ theo dõi.

Bản tiếng Anh và hình ảnh có thể theo dõi qua đường link dưới đây:

https://www.uts.edu.au/news/tech-design/anniversary-honour-lifes-work-osteoporosis

______

Anniversary honour for a life’s work on osteoporosis

Bốn mươi năm trước, Tuấn Nguyễn đến Úc như là một ‘thuyền nhân’, thc hiện giấc mơ nhìn thấy con kangaroo, rồi đạt được một s nghiệp bề thế trong nghiên cu y khoa. Nay là một Giáo sư Y khoa tiên lượng tại Đại học Công nghệ Sydney (UTS), và trong Ngày Quốc Khánh va qua, ông được trao Huân chương Australia (AM).

Chúc mng ông được ghi nhận trong Ngày Quốc Khánh Úc. S ghi nhận đó có ý nghĩa gì đối vi ông? 

Tôi thấy mình rất ư là vinh dự và khiêm cung. Và bất ngờ nữa. Ngày đó rất là đặc biệt đối với tôi, vì 40 năm trước đúng vào ngày 26/1/1982 tôi đến Úc như là một người tị nạn từ Việt Nam. Úc đã cho tôi (và nhiều người tị nạn Việt Nam khác vào thập niên 1980) một cơ hội để làm lại cuộc đời và đóng góp có ý nghĩa cho đất nước xinh đẹp này. Giống như nhiều người tị nạn thuộc thế hệ đó, tôi khởi đầu cuộc sống mới ở Úc chỉ với cái áo trên lưng và không một đồng xu trong túi. Không cần nói ra thì ai cũng biết, trong 40 năm qua tôi đã gặp rất nhiều khó khăn và thách thức, nhưng mỗi thách thức làm cho tôi mạnh mẽ hơn và làm nên tôi ngày hôm nay.

Ông được ghi nhận vì nhng đóng góp cho chuyên ngành loãng xương và phòng chống gãy xương. Ông đã vào chuyên ngành này như thế nào?

Vào đầu thập niên 1980, tôi ‘đầu quân’ cho bộ môn nghiên cứu xương thuộc Viện nghiên cứu y khoa Garvan. Lúc đó tôi bị ‘quyến rũ’ bởi sự phức tạp của xương và bệnh lí loãng xương, và tôi nghĩ mình có thể sử dụng kĩ năng dịch tễ học và thống kê học để giải quyết vài vấn đề quan trọng trong chuyên ngành. Tôi không đồng tình với ý tưởng chia mật độ xương thành 2 nhóm loãng xương và không loãng xương, và nghĩ rằng có một cách làm tốt hơn, đó là tập trung vào nguy cơ gãy xương của mỗi cá nhân dựa vào ‘hồ sơ’ yếu tố nguy cơ của cá nhân đó. Do đó, tôi đề xướng ý tưởng ‘cá nhân hoá cách đánh giá loãng xương’ và theo đuổi ý tưởng đó qua hàng loạt nghiên cứu.  

Nhng thành tu ông t hào nht là gì?

Tôi muốn nghĩ rằng một trong những đóng góp quan trọng cho chuyên ngành là khái niệm ‘individualised fracture risk assessment’ (cá nhân hoá đánh giá gãy xương), và việc xây dựng và triển khai mô hình đánh giá nguy cơ gãy xương có tên là Garvan Fracture Risk Calculator. Với sự triển khai mô hình đó, chúng tôi đã giúp cho hàng triệu người trên thế giới tự đánh giá sức khoẻ xương cho họ và có những hành động phòng ngừa gãy xương.

Chúng tôi là nhóm đầu tiên trên thế giới chỉ ra rằng loãng xương là bệnh lí chịu sự ảnh hưởng của di truyền. Sau đó, chúng tôi khám phá gen loãng xương đầu tiên, và kế tiếp là hàng loạt gen khác. Trong vài năm gần đây, tôi và một nghiên cứu sinh kiến tạo ra một ‘chữ kí gen’ dựa vào những khám phá đó, và chúng tôi dùng nó cho việc đánh giá nguy cơ gãy xương. Năm ngoái, tôi đề xướng khái niệm “Skeletal Age” (Tuổi xương) để chuyển tải nguy cơ loãng xương và tử vong đến công chúng. Tôi hi vọng rằng các đồng nghiệp sẽ dùng khái niệm này trong việc thảo luận với bệnh nhân về đều trị bệnh loãng xương.

Tôi cũng nghĩ rằng chúng tôi đã làm thay đổi nhận thức về loãng xương. Trước đây, giới y khoa và công chúng nói chung nghĩ rằng loãng xương là bệnh lí không quan trọng, nhưng sau này chúng tôi chỉ ra rằng loãng xương thật ra làm cho chúng ta chết sớm hơn. Phát hiện đó tôi nghĩ đã làm thay đổi nhận thức của cộng đồng y khoa và công chúng về loãng xương. Tôi nghĩ Huân chương Australia trao cho tôi nhân Ngày Quốc Khánh Úc cũng là một ghi nhận về tầm quan trọng của bệnh lí loãng xương.

Ông đã học được những bài học gì trong quãng đường đã qua?

Bài học quan trọng nhứt trong khoa học mà tôi học được là chịu khó làm việc và kiên trì. Để tôi giải thích: khoa học có những yếu tố bất định, và do đó đòi hỏi chúng ta phải kiên trì trong một thời gian dài. Đa số chúng ta theo đuổi một ý tưởng mà có lẽ chẳng có tác động lập tức trong thực tế, nhưng theo thời gian, chúng ta có thể xây dựng dữ liệu và chứng cớ để thực hiện ý tưởng. Lòng kiên trì chưa đủ; người làm khoa học còn phải làm việc rất siêng năng.

Chúng ta còn phải tập cách suy nghĩ tích cực và đam mê. Nghiên cứu khoa học là một qui trình gian khổ, mà kĩ năng giải quyết vấn đề là một kĩ năng quan trọng. Suy nghĩ tích cực gíup chúng ta làm người giải quyết vấn đề tốt hơn và giúp chúng ta vượt qua khó khăn. Đam mê giúp chúng ta duy trì nhiệt huyết trong các tình huống bất định.

Một bài học khác mà tôi học được là thành công trong khoa học có khi chỉ là … may mắn. Chúng ta thỉnh thoảng có những ý tưởng ‘trên trời’ trong một tình huống hoàn toàn ngẫu nhiên, nhưng có khi những ý tưởng như thế lại dẫn đến những ứng dụng quan trọng trong thực tế. 

Ai là người hướng dẫn trong s nghiệp của ông?

Thầy tôi là Giáo sư John Eisman, một nhân vật lừng danh trong chuyên ngành loãng xương và nội tiết học. John thiết lập Bộ môn nghiên cứu xương và khởi xướng chương trình nghiên cứu Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study tại Viện Garvan vào đầu thập niên 1990. Tôi tham gia nhóm của John vào năm 1991, và trở thành trưởng labo nghiên cứu về dịch tễ học và di truyền học vào năm 2000. Chúng tôi đã làm việc với nhau cả 30 năm, và trong thời gian đó, chúng tôi đã có nhiều đóng góp có ý nghĩa cho chuyên ngành. Qua John, tôi còn có cơ hội làm việc với nhiều chuyên gia hàng đầu trên thế giới.

Triết lí lãnh đạo của ông là gì?

Triết lí lãnh đạo của tôi là lãnh đạo bằng tấm gương điển hình, và cởi mở với câu hỏi mới, công nghệ mới, và hợp tác mới. Qua gương điển hình, tôi có thể hướng dẫn bằng hành động thay vì bằng lời nói. Trong nghiên cứu, tôi nghĩ chúng ta phải tự diễn biến, tự tái tạo mình bằng cách cởi mở với những ý tưởng mới, ứng dụng công nghệ mới, và tìm những mối quan hệ mới.

Tôi rất quan tâm đến vấn đề tái lập trong khoa học. Do đó, tôi khuyến khích nghiên cứu sinh phải nghiêm ngặt trong nghiên cứu và nắm vững kĩ thuật. Tôi cũng quan tâm đến tương lai của nghiên cứu sinh và cung cấp cho họ một môi trường học thuật nhằm trang bị những kĩ năng không chỉ liên quan đến nghiên cứu hôm nay của họ mà còn gíup cho họ trong sự nghiệp sau khi tốt nghiệp.

Thi thơ ấu của ông ra sao?

Tôi sanh ra và lớn lên trong một làng quê vùng Đồng bằng sông Cửu Long thuộc miền Nam Việt Nam. Ba má tôi làm nghề nông, và rất quan tâm đến giáo dục. Tôi có một tuổi thơ đầm ấm trong làng quê đó và ở trường tiểu học, nơi tôi thích học toán, lịch sử, văn chương, địa lí và công dân giáo dục. Thời đó, tôi rất thích con kangaroo và ước mơ một ngày nào đó có dịp gặp nó. Tôi không thể nào tin rằng cái ước mơ đó cũng chính là lí do tôi được cho đi định cư ở Úc.

Mối liên hệ của ông vi Việt Nam hiện nay như thế nào?

Tôi về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1999 trong vai trò của một diễn giả mời. Kể từ đó tôi về Việt Nam hàng năm (có khi 3-4 lần một năm), tham gia giảng dạy trong nhiều chương trình tập huấn khoa học cho ít nhứt 2000 bác sĩ và nhà khoa học nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho họ. Tôi thiết lập Labo nghiên cứu xương và cơ tại Đại học Tôn Đức Thắng, và thực hiện dự án nghiên cứu loãng xương có tên là Vietnam Osteoporosis Study cũng tại Đại học Tôn Đức Thắng. Tôi cũng hướng dẫn nghiên cứu sinh ở Việt Nam, một số đang theo học tại UTS.

Cuộc sống của ông gi ra sao?  

Tôi có 2 con trai đã tốt nghiệp đại học và có công việc làm riêng. Bà xã tôi thì mới nghỉ hưu. Tôi lúc nào cũng có cuộc sống bận rộn. Ngoài công việc nghiên cứu và giảng dạy, tôi còn phụ trách biên tập vài tập san y khoa và giữ các chức vụ lãnh đạo của vài hội đoàn y khoa. Đó là lí do tại sao tôi không phân biệt ngày thường với ngày cuối tuần, bởi vì bất cứ ở đâu, ngày nào cũng là ngày làm việc đối với tôi. 

Ông có li khuyên nào cho học sinh trung học hay sinh viên đại học?

Tôi khuyên rằng họ cần phải có đam mê và siêng năng. Họ không cần phải rất giỏi về toán và khoa học để làm làm khoa học tốt. Họ nên cân nhắc làm nghiên cứu bởi vì qui trình nghiên cứu là động cơ để họ suy nghĩ một cách thấu đáo và phải hợp tác với đồng môn trong tinh thần đồng đội.

Trẻ em có nên trở lại trường học?

Đó là câu hỏi làm tốn rất nhiều giấy mực ở Úc, vì có 2 phe rõ rệt: phe “Yes” và phe “No”. Sau khi xem qua bằng chứng khoa học, tôi thì nghiêng về phe “Yes” và nghĩ Việt Nam cũng nên mở cửa trường học.

Nói chung, Chánh phủ Úc đã quyết định ‘mở cửa’ biên giới mặc dù số ca dương tính vẫn còn khá cao. Các đại học cũng đã mở của campus chào đón sinh viên trong nước, và khuyến khích sinh viên nước ngoài quay lại Úc. Tôi nghĩ đó là quyết định đúng và tôi cũng đã nói từ năm ngoái rằng nếu cứ lệ thuộc vào số ca dương tính thì cả xã hội còn khổ dài dài. Chúng ta phải sống chung với con virus thôi, và đó là điều chắc chắn và vĩnh viễn.

Theo tôi biết (chỉ qua báo chí) thì các nước khác cũng có quyết định mở cửa như Úc. Thật ra, Úc làm hơi trễ so với Mĩ và các nước Âu châu. Bên Canada, tôi đọc tin thấy một tỉnh (hình như là Saskatchewan) còn có quyết định táo bạo hơn là dẹp chủ trương bắt buộc tiêm vaccine! Nói cách khác, các công sở và công ti không đòi nhân viên phải trưng bày bằng chứng đã tiêm vaccine hay có kết quả xét nghiệm âm tính để đi làm. Wow, nếu đúng thế thì đó là một quyết định rất can đảm. (Thật ra, họ đi đến quyết định này là sau khi ~80% dân số đã tiêm 2 liều vaccine và gần 60% dân số đã tiêm liều bổ sung).

Nhưng còn trẻ em và học sinh thì sao? Câu hỏi cụ thể là học sinh có nên quay lại trường học?

Ở Úc, một phe thì nhứt định nói “Không”, vì họ cho rằng các học sinh đi học lại trong trường sẽ làm bùng phát dịch, bởi vì họ tương tác với nhau rất … tích cực. Còn một phe thì “Yes”, vì họ cho rằng nếu đã mở cửa và chấp nhận sống chung với virus thì hà cớ gì không cho học sinh đi học lại. Cần nói thêm là ở Úc, đa số học sinh cũng đã được tiêm đủ 2 liều vaccine, thì lí do để không cho họ quay lại trường xem ra không mấy thuyết phục.

Tôi cũng nghiêng về phe “Yes”, và nghĩ rằng học sinh nên nhập học. Có 2 lí do chánh tại sao tôi nghĩ như vậy:

Lí do thứ nhứt: trẻ em có nguy cơ nhiễm Covid thấp hơn người lớn. Ngay từ đầu dịch, số liệu nghiên cứu cho thấy xác suất nhiễm ở trẻ em rất thấp, chỉ bằng 1/10 người lớn. Ngay cả ngày nay, khi số ca nhiễm tăng với các biến thể mới, thì trẻ em vẫn có nguy cơ nhiễm thấp hơn người lớn [1]. Không chỉ nguy cơ nhiễm thấp, khi bị nhiễm họ ít bị nhiễm nặng và nguy cơ tử vong cũng rất thấp [2]. Xu hướng này được ghi nhận ở khắp nơi trên thế giới. Chẳng ai biết tại sao trẻ em có nguy cơ nhiễm thấp, nhưng giả thuyết là do hệ miễn dịch của họ tốt hơn so với người lớn.  

Lí do thứ hai: sự lây lan virus ở trẻ không giống như ở người lớn. Chúng ta biết rằng đa số những ca lây nhiễm là qua lan truyền trong nhà/gia đình. Nhưng đối với Covid, các nghiên cứu ở Á châu cho thấy trẻ em bị nhiễm trong nhà nhưng họ không hay rất ít lây nhiễm cho người khác [2]. Ở Úc có những ca nhiễm ở trường học, nhưng điều thú vị là những ca này không lây lan cho các học sinh khác [3].

May be an image of text
Trích từ nghiên cứu trên http://www.medrxiv.org/content/10.1101/2020.03.26.20044826v1

Ý tưởng đóng cửa trường hay để học sinh học online là để kiểm soát và giảm số ca Covid trong cộng đồng. Nhưng câu hỏi đặt ra là có chứng cớ nào cho thấy đóng cửa trường học sẽ làm giảm số ca Covid? Câu trả lời là chưa có bằng chứng nào để nói vậy. Thật ra, trước đây đã có một phân tích mô hình cho thấy đóng cửa trường để giảm lây lan cúm mùa và SARS chẳng đem lại lợi ích lớn gì cả [4]. Do đó, có thể suy luận rằng đóng cửa trường càng chẳng có hiệu quả giảm lây lan Covid.

Dĩ nhiên, nói “mở cửa” trường không có nghĩa là quay về tình trạng bình thường như thời trước Covid. Chúng ta sẽ không bao giờ ‘bình thường’ theo cách đó, mà phải sống với bình thường mới. Bình thường mới trong học đường có nghĩa là rửa tay thường xuyên, vẫn giữ khoảng cách cần thiết, hạn chế tiếp xúc trực diện (face-to-face interaction) giữa thầy và trò, và giữa trò và trò. Học sinh bị cảm cúm hay có triệu chứng covid nên ở nhà.

Tóm lại, bằng chứng khoa học cho thấy nguy cơ nhiễm Covid ở trẻ em thấp hơn so với người lớn, và khi bị nhiễm họ thường bị nhẹ và ít lây lan cho trẻ em khác. Trong khi xã hội ‘mở cửa’ và chấp nhận sống chung với virus thì chẳng có lí do gì mà không mở cửa trường học cho học sinh.

_____

[1] How Common is Long COVID in Children and Adolescents? https://journals.lww.com/pidj/Fulltext/2021/12000/How_Common_is_Long_COVID_in_Children_and.20.aspx

[2] Children are unlikely to have been the primary source of household SARS-CoV-2 infections. https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2020.03.26.20044826v1

[3] https://www.ncirs.org.au/sites/default/files/2021-09/NCIRS%20NSW%20Schools%20COVID_Summary_8%20September%2021_Final.pdf [4] School closure and management practices during coronavirus outbreaks including COVID-19. https://pubmed.ncbi.nlm.nih.gov/32272089

Giáo sư David Cox (1924 – 2022)

Bất cứ ai làm nghiên cứu y khoa chắc biết đến phương pháp “logistic regression”, và “Life table” hay “Survival analysis”, nhưng ít ai biết tác giả của hai phương pháp đó là Gs David Roxbee Cox, người mới qua đời vào  ngày 18/1/2022, thọ 97 tuổi. Ông là một “siêu sao” và một tấm gương sáng của khoa học, đứng ngang hàng với những vĩ nhân như Darwin, Einstein, Faraday, và Gauss.

Giáo sư David Cox (1924 – 2022)

Một đóng góp quan trọng

Trong khoa học cũng như nghệ thuật, chỉ cần một công trình nghiên cứu hay một tác phẩm văn nghệ là đủ làm nên tên tuổi của một người. Đó chính là trường hợp của Giáo sư David Cox, người đã có những đóng góp rất lớn cho khoa học và y khoa qua chỉ một phương pháp sau này mang tên ông. Với phương pháp này, ông đã giúp cho giới khoa học có rất rất nhiều khám phá, và giúp cứu hàng triệu triệu người trên thế giới.

Đó là một bài báo 34 trang xuất bản vào năm 1972 có tựa đề là “Regression models and life-tables” [1]. Trong bài đó, ông đề xướng một phương pháp để phân tích những dữ liệu về thời gian dẫn đến một biến cố (time-to-event data). Ví dụ như trong y khoa, thời gian từ lúc chẩn đoán ung thư đến tử vong, hay từ lúc ung thử khởi phát đến tử vong được gọi là “time to event” (thời gian dẫn đến biến cố). Hiệu quả của thuốc điều trị ung thư được xác định dựa trên thời gian dẫn đến biến cố. Mà, để ước tính hiệu quả của thuốc cho loại dữ liệu này rất khó. Trong bài báo năm 1972, Gs David Cox chỉ ra một phương pháp mà sau này gọi là “Cox’s proportional hazards model” hay “Cox’s regression” để ước tính hiệu quả của thuốc trong điều kiện thời gian dẫn đến biến cố. Phương pháp này đã trở thành chuẩn mực trong nghiên cứu y khoa, nhưng cũng được ứng dụng cho rất nhiều chuyên ngành khác.  

British statistician David Cox has passed away, and his Cox regression has  influenced a full 50 years - iNEWS
Bài báo làm nên ‘lịch sử’ của Gs David Cox, được Nature xếp vào nhóm 100 công trình có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử khoa học (“top 100 most-cited papers of all time for all fields”)

Bài báo năm 1972 có mức độ ảnh hưởng rất lớn, và mở ra hàng loạt nghiên cứu khác. Rất nhiều phương pháp mới được phát triển dựa trên nền tảng của phương pháp Cox. Hầu như tất cả các nghiên cứu RCT mà biến outcome là thời gian dẫn đến biến cố đều phải sử dụng phương pháp Cox. Phương pháp Cox đã dẫn đến rất rất nhiều khám phá trong khoa học (không chỉ y khoa). Ông được trao giải thưởng Turing Award (tương đương với giải Abel và Nobel) vì đóng góp quan trọng đó. Tính đến nay, bài báo này đã được trích dẫn hơn 56,000 lần! (Một nhà khoa học có thể bỏ ra cả đời nghiên cứu với hàng trăm bài báo khoa học cũng không đạt được con số này).  

Trong một bài nói chuyện về tiến bộ y học trong thế kỉ 20, một giáo sư Mĩ lừng danh là John Ioanndidis nói rằng mô hình Cox là một trong những tiến bộ quan trọng nhứt. Mà, đúng như thế. Làm sao chúng ta có thể xác định hiệu quả của thuốc điều trị, của thuật can thiệp; làm sao chúng ta có cách chọn phương pháp điều trị tối ưu và cứu sống bệnh nhân. Ứng dụng mô hình Cox đã giúp y khoa trả lời những câu hỏi đó. Qua mô hình Cox, ông đã gián tiếp cứu vô số bệnh nhân trên toàn thế giới. Qua mô hình đó, ông cũng đã làm thay đổi cách phân tích của các nhà khoa học, kinh tế học, xã hội học, công nghệ, v.v. và giúp họ có những khám phá có ích cho đời. Nhìn như thế, chúng thấy mức độ ảnh hưởng của David Cox quả là to lớn, và khó có thể đo lường bằng chỉ số lần trích dẫn.  Do đó, không ngạc nhiên khi 3 năm trước, Tạp chí Nature xếp công trình “Cox’s model” là một trong 100 công trình có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử khoa học (“top 100 most-cited papers of all time for all fields”).

Trước công trình Cox’s model, ông đã công bố một công trình quan trọng khác nhưng ít người chú ý: đó là bài báo “The regression analysis of binary sequences“. Bài báo này mở đầu cho phương pháp hồi qui logistic (hay logistic regression). Bài này được công bố vào năm 1958 [2], và sau này được triển khai thành một cuốn sách tựa đề là “Analysis of binary data“. Công trình này cũng gây ảnh hưởng lớn trong khoa học, và sau này trở thành một trong những mô hình quan trọng của Machine Learning.

analysis binary data - AbeBooks

Không xuất thân từ thống kê học

David Roxbee Cox sanh 17/7/1924 tại Birmingham, Anh. Thân phụ ông là  chủ tiệm vàng nhỏ. Ông theo học toán ở St John College, thuộc Đại học Cambridge, nhưng ông tốt nghiệp tiến sĩ từ Đại học Leeds vào năm 1949. Thầy hướng dẫn luận án tiến sĩ của ông là Henry Daniels và Bernard Welch, nhưng cả hai không nổi tiếng bằng trò.

Ông xuất thân không hẳn từ khoa bảng, mà từ  kĩ nghệ. Trong thời gian 1944 đến 1946, ông làm việc cho hãng máy bay Royal Aircraft Establishment. Từ 1946 đến 1950, ông làm việc cho hiệp hội nghiên cứu về vải len. Nhưng sự nghiệp ông bắt đầu nổi bật khi làm nghiên cứu viên cho Labo Thống kê của ĐH Cambridge từ năm 1950 đến 1955. Từ 1956 đến 1966 ông được bổ nhiệm và giữ chức Reader (tương đương với associate professor) và sau này thành giáo sư (professor) tại Birkbeck College thuộc Imperial College London (ICL), một đại học lừng danh thế giới. Sau khi xong nhiệm kì giáo sư, ông được bổ nhiệm là chủ nhiệm (chair) về thống kê học của ICL. Năm 1988 ông được bổ nhiệm làm Warden (như hiệu trưởng) của Nuffield College, và một thành viên của Bộ môn thống kê học thuộc ĐH Oxford. Năm 1994, ông chính thức nghỉ hưu từ các chức vụ khoa bảng, nhưng vẫn còn tham gia nghiên cứu và công bố khoa học.

Cũng như phần lớn những nhà thống kê học nổi tiếng, David Cox xuất thân là dân “ngoại đạo” thống kê. Ông cho biết thời gian ông làm việc cho hãng máy bay Royal Aircraft Establishment, ông phải đương đầu với phân tích dữ liệu, nhưng ông chuyên môn về toán của ông không giúp gì cho công việc cả. Hãng máy bay thì nghĩ những người làm toán có thể làm thống kê, nhưng họ sai lầm tai hại, vì đa số những nhà toán học không am hiểu về thống kê học.

Thế là ông phải tự học về xác suất, nhưng ông phát hiện xác suất cũng không giúp ông giải quyết được những vấn đề mang tính thí nghiệm. Thế là ông quay sang học về thống kê học, nhưng khốn khổ thay, thời đó rất ít chương trình dạy về thống kê học, nên ông chỉ tự học và tham vấn các nhà thống kê học như Ronald Fisher và Dennis Lindley. Ông cho biết ông không đến với thống kê học, và thực tế ép ông vào cái vị trí phải học thống kê để … giữ việc.

Khi đã học qua thống kê học, ông tự tin tìm việc ở hiệp hội nghiên cứu vải len. Ở đó, ông có nhiều cơ hội giúp thiết kế thí nghiệm và phân tích dữ liệu để sản xuất vải len đẹp hơn và bền hơn. Ông cho biết lúc đó ngay cả những người giao việc cho ông cũng không nghĩ thống kê học có thể giúp cho các nhà khoa học thiết kế thí nghiệm tốt hơn!

Gs Cox cho biết ông có sáng kiến về mô hình “proportional hazards model” là từ thực tế. Ông cho biết rằng trước đó ông đã quan tâm đến vấn đề reliability trong kĩ thuật trong thời gian làm việc cho hãng máy bay và hiệp hội vải len, nhưng chưa nghĩ ra cách phân tích. Ông dành đến 4 năm cho công trình này. Có đêm ông thức giấc và nghĩ đến nó, nhưng rồi lại … ngủ. 

Vĩ nhân khiêm tốn

Gs David Cox là người rất khiêm tốn. Ông nói năng nhẹ nhàng, phong cách nho nhã. Tôi có cơ duyên nghe ông giảng một lần khi ông ghé qua Sydney. Không giống như những nhà khoa học khác, ông nói không cần slides. Ông nói về hành trình dẫn đến công trình lừng dang “Cox’s model” rất ư là gần gũi, và suốt một giờ đồng hồ, ông chỉ nói có vài ba thuật ngữ thống kê! Đến phần thảo luận, người ta hỏi ông nhiều về những vấn đề liên quan đến dữ liệu sống còn, và câu trả lời của ông thường là … không biết. Ông thường bắt đầu câu trả lời bằng câu “Tôi không biết”, nhưng ngay sau đó ông bàn về ý tưởng giải quyết vấn đề. Khi hỏi về trường phái Bayes, ông tỏ ra rất ngoại giao, cho rằng cả hai trường phái tần số (frequentist) và Bayes đều có ích, nhưng ông có vẻ nghiêng về Bayes trong thời đại dữ liệu lớn.

Khi được hỏi về phát triển quan trọng trong thời gian gần đây là gì, ông nghĩ rằng Dữ liệu Lớn (Big Data) là một phát triển đáng chú ý. Đáng chú ý là vì dữ liệu lớn đặt ra nhiều câu hỏi và vấn đề cho suy luận thống kê, và sẽ dẫn đến ý tưởng mới. Phần lớn những phương pháp và mô hình thống kê được phát triển cho các nghiên cứu nhỏ hay tương đối lớn, chứ không cho các vấn đề với hàng tỉ tỉ dữ liệu. Nhưng ông cũng cảnh báo rằng những phát triển quan trọng và những khám phá mang tính cơ bản sẽ, cũng như trong quá khứ, xuất phát từ những nghiên cứu nhỏ nhưng được thiết kế chặt chẽ, hơn là thu thập hàng tỉ thông tin từ hàng triệu người.

Trong sự nghiệp trải dài hơn 50 năm, ông công bố chừng 400 bài báo khoa học và 5 cuốn sách chuyên khảo. Những nghiên cứu của ông trải dài và rộng đến nổi có hai nhà khoa học là David Hand và A. M. Herzberg phải biên tập thành hai tập sách (xem cuốn “Selected papers of Sir David Cox”).

Với những đóng góp đồ sộ đó, ông được Nữ hoàng phong tước “Sir” (hiệp sĩ) vào năm 1985, và được trao hơn 20 bằng ‘Doctor of Science’ (Tiến sĩ Khoa học) từ các đại học trên khắp thế giới. Ông còn được trao rất rất nhiều giải thưởng, kể cả những giải danh giá như Turing (như đề cập trên), giải Guy, và Huy chương Copley. Với Huy chương Copley ông đứng chung với những vĩ nhân như Charles Darwin, Albert Einstein, Niels Bohr, Michael Faraday, và Carl Friedrich Gauss.

Dù Gs David Cox đã qua đời, nhưng những đóng góp quan trọng của ông sẽ còn gây ảnh hưởng tích cực đến khoa học và y khoa trong vài trăm năm nữa. Trong thời đại Precision Medicine, Data Science (Khoa học Dữ liệu) và Trí năng Nhân tạo (AI) thì mô hình Cox và hồi qui logistic sẽ còn có nhiều ứng dụng thú vị hơn nữa. 

_____

[1] Bài về Cox’s model: https://www.jstor.org/stable/2985181

[2] Bài về logistic regression: https://www.jstor.org/stable/2983890 [3] Nếu các bạn muốn tìm hiểu về mô hình Cox, thì tôi có một bài giới thiệu ở đây: https://www.youtube.com/watch?v=obYRBPgmpfM

Ngày Mồng Một nhớ những cái tết miệt quê

Hôm nay là ngày Mồng Một Tết. Nhân dịp này, tôi mến chúc các bạn xa gần một năm mới nhiều may mắn, tràn trề sức khoẻ, và hanh thông.

Thật là tình cờ vì sáng nay tôi nhận được thư chúc mừng của ông Thủ hiến (Premier) bang New South Wales. Chắc ông ấy biết mình ăn Tết nên gởi lời chúc mừng đúng vào cái ngày ‘magic’ này. Thật ra, tôi còn nhận được thư chúc mừng của bà dân biểu địa phương Tania Mihailuk. Thật là cảm động khi họ chú ý đến mình và có lời chia vui. Dĩ nhiên, ngoài chúc mừng thì đây cũng chỉ là cách kiếm lá phiếu của cử tri, nhưng là một cách vận động rất ý nhị. Xin một dịp ‘khoe’ cùng các bạn 2 thư của VIP [1,2].

Thư chúc mừng của ông Thủ hiến. Thư không có hình ông ấy; tôi thêm vào để minh hoạ.

Thư của bà Dân biểu Tania Mihailuk MP.

Những ngày này tôi thường hay nhớ về những cái Tết thời xa xưa ở miệt quê. Ở miệt quê thời nửa thế kỉ trước những ngày giáp Tết là thời gian rất bận rộn. Đầu tiên là phải chùi bóng cái lư hương. Lư hương làm bằng đồng, nên đánh bóng nó là cả một ‘công trình’ chớ không phải chuyện chơi. Thời đó phải dùng vỏ trấu (sau khi người ta xây lúa) và tro để đánh bóng, và phải mất cả ngày trời mới xong bộ lư hương. Đánh bóng xong cái ở nhà, còn phải qua nhà Ngoại đánh bóng thêm một cái nữa. Đến nhà Ngoại thì còn gặp mấy đứa em họ (vì Má tôi lớn nhứt trong nhà, nên tôi nghiễm nhiên thành anh của bọn nó, dù có khi có người lớn tuổi hơn tôi). Thôi thì biết bao nhiêu chuyện vui buồn được đem ra kể lại trong 12 tháng bôn ba vừa qua. Những câu chuyện mà mãi đến nay tôi vẫn còn nhớ.

Ở quê ngày xưa giờ khoảng 5 ngày trước Tết thì Má tôi bắt đầu gói bánh tét rồi. Cũng là một việc công phu, vì phải chuẩn bị nguyên liệu (nếp, đậu, thịt heo, lá chuối) và phải gói cho hàng trăm đòn bánh tét. Nấu xong bánh tét, một trong những việc tôi hay làm là bới xuồng chở cả trăm đòn bánh tét ‘phân phối’ (bây giờ gọi là ‘shipper’). Địa chỉ phân phối là bà con từ kinh Lô Bích xuống tận bà con gần chợ. Cứ đến nhà bà con nào là tôi chỉ có một câu: “Ba Má con gởi cậu/mợ/ông cậu/bà mợ/chú/bác/thiếm/… vài đòn bánh tét ăn lấy thảo ngày Tết.” Phải có chữ ‘Ăn lấy thảo’ nghen – Má tôi dặn như vậy. Tôi không cần nghe ‘phản hồi’ cám ơn, mà tiếp tục giao cho hết những đòn bánh tét. Có khi bà con lớn tuổi thay vì cám ơn thì hỏi tôi: ‘Về hồi nào đó mậy?’ (vì ngày xưa tôi học ở ‘thành’, nên lâu lâu mới về quê, và mỗi lần về quê là bà còn coi tôi như … công tử, chắc vì thấy nước da trắng trẻo?). Phải mất cả 2 tiếng đồng hồ mới giao xong.

Từ trái sang phải: Anh Hai tôi Nguyễn Tuấn Khải (vượt biên đầu năm 1981, nhưng tất cả những người trong chuyến đi mất tích), Má tôi, và Ba tôi (không biết ai làm photoshop cho ổng, chớ Ba tôi không có mặc đồ Tây đó). Cứ mỗi lần có tin vui là tôi nhớ đến Má tôi. Người ta hay nói ‘con gái nhờ đức cha, con trai nhờ đức mẹ’, và tôi thấy chắc đúng như vậy. Hồi sanh tiền, Má tôi hay làm phước. Con cháu gặp khó khăn là Ba Má tôi ra tay nuôi dưỡng và cho đi học. Thành ra, cứ mỗi lần đám giỗ là nhà tôi có nhiều anh em về dự. Tôi nghĩ những cái phước đức như thế được ‘gieo’ nhiều năm và tạo ra năng lượng tích cực cho con cháu. 

Hồi còn nhỏ, vào mấy ngày giáp Tết, tụi con nít tôi hay dùng đèn khí đá để đi bắt cá bóng ban đêm. Đèn khí đá, như tên gọi, là đèn dùng khí đá làm năng lượng, nó không quá sáng nhưng đủ sáng để thấy mấy con cá. Cá bóng dừa chúng hay làm nhà trong mấy rặng dừa nước. Loài cá này không thể đánh bắt bằng chài lưới vì chúng chui vào khe dừa nước, nên phải dùng tay mới bắt được. Loài cá này mà kho tiêu thì ngon không thể tả được bằng chữ. Mấy năm gần đây tôi thấy mấy rặng dừa nước dần dần biến mất và cá bóng cũng không còn bao nhiêu nữa.

Rặng dừa nước ở miền Tây. Đây là một hình ảnh rất phổ biến thời xưa nhưng nay thì càng ngày càng hiếm. Cá bóng hay ‘núp’ trong mấy rặng dừa nước này, nên còn gọi là ‘cá bóng dừa’.

Đâu có ai bước vào một dòng sông hai lần. Dòng đời thay đổi liên tục, mình chỉ là một thành phần nhỏ trong cái dòng đời đó nên mình cũng phải chấp nhận sự đổi thay. Giáo sư Richard Feynman từng nói ‘Bạn không có nghĩa vụ làm người của năm qua, tháng trước, hay thậm chí một ngày vừa qua; bạn ở đây để tạo ra chính bạn một cách liên tục.’ Ấy vậy mà tôi không hiểu nổi tại sao có người đòi đi ngược lại qui luật vô thường đó và cấm tự chuyển hoá và tự chuyển biến?!

Nhân ngày đầu năm nên ôn lại vài kỉ niệm cũ, chớ tôi không kì vọng sẽ có cái Tết như thời xa xưa nữa. Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một ca khúc bất hủ (của Nhạc sĩ Châu Kỳ) phản ảnh đúng với tâm trạng của mình:

Đón Xuân này tôi nhớ Xuân xưa
Một chiều xuân em đã hẹn hò
Như ươm tình trong cánh hoa mơ
đưa hương theo làn gió
Em nói rằng em viết thành thơ

Bước sông hồ như đắm như mơ
Trở về đây khi gió sang mùa
Mong ước tìm cô gái Xuân xưa
Cho vơi bao niềm nhớ
Có ngờ đâu Xuân vắng người thơ

Xin mời xem một video clip ca khúc này do Huyền Trân (người tôi đã giới thiệu trước đây) trình bày.

____

[1] Thư chúc mừng của ông Thủ hiến Dominic Perrottet MP (dịch):

Thưa Giáo sư Nguyễn,

Chúc mừng ông được trao Huân chương Australia trong Ngày Quốc Khánh năm 2022.

Thay mặt người dân bang New South Wales, tôi rất vui khi thấy những đóng góp của ông cho nghiên cứu y khoa, loãng xương và phòng chống gãy xương, và giáo dục đại học đã được ghi nhận.

Cám ơn sự tận tuỵ của ông cho cộng đồng và những đóng góp xuất sắc của ông.

Dominic Perrottet MP

Thủ hiến bang New South Wales

[2] Thư của bà Dân biểu Tania Mihailuk MP.

Thưa Giáo sư Nguyễn,

Tôi viết thư này để chúc mừng ông mới được trao Huân chương Australia (AM) ghi nhận những đóng góp xuất sắc của ông cho nghiên cứu y khoa, loãng xương và phòng chống gãy xương, và cho giáo dục đại học.

Những đóng góp của ông trong lãnh vực y khoa và loãng xương đã đem lại những tác động quan trọng đến di truyền học và dịch tễ học, và xứng đáng với vinh dự cao quí này.

Tôi rất vui mừng khi biết rằng người có những thành tựu chuyên môn đó là một cư dân trong cộng đồng chúng ta.

Một lần nữa, tôi chúc mừng ông về thành tựu rất quan trọng này, và cám ơn ông về những đóng góp cho y khoa.

Xin ông đừng ngần ngại liên lạc tôi qua số điện thoại 9708 3838 hay qua email bankstown@parliament.nsw.gov.au.

Kính thư,

Tania Mihailuk MP