Thông báo lớp học phân tích dữ liệu cơ bản (basic data analysis)

Tôi rất hân hạnh giới thiệu một lớp học (workshop) về phương pháp phân tích dữ liệu (Basic Data Analysis) do Viện Chính Sách và Kinh tế thuộc Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức, từ ngày 16/4/2022 đến 21/4/2022. Đây là workshop đầu tiên sau 2 năm chúng tôi ‘vắng bóng’ ở Việt Nam vì tình hình dịch bệnh. Kính mời các bạn tham dự. Lớp học vừa trực tiếp vừa trực tuyến (online). Chi tiết dưới đây:

Giới thiệu

Chúng tôi hân hạnh thông báo đến các bạn lớp tập huấn (workshop) 6 ngày về phương pháp phân tích dữ liệu cơ bản (Basic Data Analysis) sẽ được tổ chức tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng từ 16/4/2022 đến 21/4/2022.

Phân tích dữ liệu là một môn học quan trọng trong Khoa học Dữ liệu (Data Science). Để hoán chuyển một rừng dữ liệu thô thành những thông tin có ích, phương pháp phân tích dữ liệu là chìa khoá. Trong nghiên cứu khoa học và các chương trình học sau đại học, phân tích dữ liệu là một kĩ năng rất quan trọng để bảo đảm kết quả nghiên cứu có thể công bố trên các tập san quốc tế. Không chỉ trong nghiên cứu khoa học, mà ngay cả các hoạt động quản lí cũng cần đến phân tích dữ liệu, và kết quả phân tích có thể giúp cho việc định hướng chính sách.

Thế nhưng trong thực tế, rất nhiều sinh viên sau đại học và các chuyên gia thiếu các kĩ năng cơ bản về phân tích dữ liệu. Nhiều người ứng dụng sai phương pháp và dẫn đến kết luận sai. Một số thì phân tích bằng những mô hình phức tạp nhưng vì thiếu kiến thức cơ bản nên diễn giải sai kết quả phân tích. Workshop này sẽ lắp vào khoảng trống kĩ năng đó cho các bạn đang cần những phương pháp cơ bản để biến dữ liệu thành thông tin.

Học viên sẽ được thực hành trên bộ dữ liệu thực tế bằng ngôn ngữ lập trình R. Là một ngôn ngữ lập trình có mã nguồn mở, miễn phí và có thể mở rộng, R ngày càng trở nên thịnh hành hơn hẳn các phần mềm phân tích dữ liệu hiện hữu. R sẽ giải quyết được bài toán về chi phí khổng lồ cho cho các Đại học và doanh nghiệp trong việc mua bản quyền truy cập phần mềm phân tích dữ liệu – một yêu cầu tất yếu trong công tác quản lý, nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Chính vì vậy, sử dụng ngôn ngữ R là giải pháp hiệu quả và sẽ sớm trở thành xu hướng chung.

Mục tiêu và kì vọng

Mục tiêu chung của khoá học là tiếp cận các khái niệm, phương pháp phân tích dữ liệu cơ bản và hiển thị dữ liệu (data visualization). Chúng tôi kì vọng học viên sau khi xong lớp học sẽ:

  • Có thể sử dụng ngôn ngữ R và JASP cho phân tích và trình bày dữ liệu
  • Hiểu các phương pháp phân tích mô tả
  • Có khả năng trình bày dữ liệu phức tạp bằng các biểu đồ trực quan
  • Hiểu mô hình hồi qui tuyến tính và mô hình hồi qui logistic

Học viên

Lớp học được thiết kế dành cho các sinh viên đại học năm cuối, sau đại học, nghiên cứu sinh, nhà khoa học, nhà quản lí, người có nhu cầu phân tích dữ liệu. Học viên không cần có (a) kiến thức cơ bản về thống kê học; và (b) kĩ năng cơ bản về ngôn ngữ R.

Nội dung

Khóa học sẽ bao gồm khoảng 15 bài giảng, dữ liệu nghiên cứu thực tế trong lĩnh vực y học, giáo dục, kinh tế và xã hội (tùy theo học viên). Tài liệu khóa học được soạn bằng tiếng Anh, nhưng giảng bằng tiếng Việt. Học viên sẽ thực hành mỗi ngày. Buổi sáng giảng về lí thuyết, buổi chiều thực hành trên dữ liệu thực tế. Lớp học vừa trực tiếp vừa trực tuyến (online)

Chương trình dự kiến cho từng ngày như sau: 

NGÀY I: GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ R VÀ JASP

  • Giới thiệu R: giới thiệu ngôn ngữ R, cách đọc dữ liệu vào R, môi trường vận hành, biên tập dữ liệu với chương trình tidyverse.
  • Giới thiệu RStudio và RMarkdown: giới thiệu môi trường RStudio và ngôn ngữ ‘Markdown’ sẽ được sử dụng xuyên suốt trong khoá học
  • Giới thiệu chương trình JASP: đây là một software mới được xây dựng trên nền tảng R, nhưng rất dễ sử dụng cho những ai quen với menu

NGÀY II: PHƯƠNG PHÁP HIỂN THỊ DỮ LIỆU (DATA VISUALIZATION)

  • Nguyên tắc hiển thị dữ liệu: giới thiệu 4 nguyên lí Tufte trong biểu đồ và minh hoạ bằng một số biểu đồ đơn giản.
  • Biểu đồ đơn giản với ggplot2 – phần 1: học phương pháp soạn biểu đồ chất lượng cao và đẹp. Phần 1 sẽ tập trung vào biểu đồ phân bố (histogram), biểu đồ thanh (bar chart) và biểu đồ hộp (box plot).
  • Biểu đồ đơn giản với ggplot2 – phần 2: phần này sẽ tập trung vào biểu đồ tương quan và những biểu đồ liên quan.

NGÀY III: PHÂN TÍCH MÔ TẢ (DESCRIPTIVE ANALYSIS)

  • Phân tích mô tả – biến liên tục, biến phân loại: học cách dùng các chương trình như table1, compareGroups và JASP cho những phân tích mô tả (trung bình, trung vị, tỉ lệ, độ lệch chuẩn, khoảng tin cậy 95%).
  • So sánh hai nhóm – t-test, Chi-squared test: phương pháp kiểm định giả thuyết về sự khác biệt giữa hai nhóm đối với biến liên tục (t-test) và biến phân nhóm (kiểm định Ki bình phương).

NGÀY IV: PHÂN TÍCH LIÊN QUAN (ASSOCIATION ANALYSIS)

  • Mô hình hồi qui tuyến tính đơn giản (simple linear regression model): giới thiệu phương pháp phân tích tương quan và mô hình hồi qui đơn giản cùng cách diễn giải kết quả phân tích.
  • Phân tích dao động dư (residual analysis): kiểm tra giả định mô hình hồi qui tuyến tính và ứng dụng trong thực tế.
  • Mô hình hồi qui đa thức (polynomial regression): giới thiệu mô hình hồi qui đa thức cho những trường hợp liên quan phi tuyến tính.

NGÀY V: MÔ HÌNH HỒI QUI ĐA BIẾN (MULTIPLE LINEAR REGRESSION)

  • Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến (multiple linear regression model): mô hình hồi qui với nhiều biến độc lập.
  • Cách chọn biến độc lập cho mô hình hồi qui đa biến: giới thiệu phuơng pháp BMA trong việc tìm những biến liên quan cho mô hình hồi qui đa biến.
  • Cách đánh giá tầm quan trọng của biến độc lập trong mô hình hồi qui đa biến: giới thiệu phương pháp ‘relative importance’ để đánh giá tầm quan trọng của các biến tiên lượng trong mô hình.

NGÀY VI: MÔ HÌNH HỒI QUI LOGISTIC (LOGISTIC REGRESSION FOR BINARY OUTCOME)

  • Mô hình hồi qui logistic đơn giản: giới thiệu khái niệm odds và odds ratio, cùng mô hình hồi qui logistic cho những trường hợp biến phụ thuộc là nhị phân (binary data).
  • Mô hình hồi qui logistic đa biến: mô hình hồi qui logistic đa biến và phương pháp tìm biến liên quan (không phải stepwise).

Giảng viên

Giảng viên phụ trách lớp học bao gồm các nhà khoa học thực nghiệm có kinh nghiệm lâu năm về nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế:

Tôi (Nguyễn Văn Tuấn)

Ts Lê Thị Thanh Loan: Chuyên ngành Thống kê Kinh tế, phân tích định lượng trong kinh tế. Hiện là Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế và Kinh Doanh thuộc Trường ĐH Tôn Đức Thắng.

Ts Trần Sơn Thạch: Giảng viên Đại học New South Wales và nhà nghiên cứu y khoa  thuộc Viện nghiên cứu y khoa Garvan. 

Ts Hà Tấn Đức: Trưởng khoa can thiệp đột quỵ, Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ.

Học phí: 5 triệu đồng mỗi học viên. Giảng viên, viên chức TDTU: 4.5 triệu. Sinh viên tại các trường đại học (có thẻ sinh viên): 4 triệu.

Đăng kí và liên lạc

  • Học viên sẽ đăng kí từ ngày ra thông báo đến hết ngày 10/4/2022.
  • Lệ phí khóa học: 5 triệu đồng/học viên (bao gồm sách, tài liệu giảng dạy, và teabreak trong suốt 6 ngày học). Học phí cho sinh viên là 4 triệu đồng.

Mọi thông tin vui lòng liên hệ: Viện Chính sách Kinh tế và Kinh doanh, số 19, Đường Nguyễn Hữu Thọ, P. Tân Phong, Q.7, TP. HCM; Email: ibep@tdtu.edu.vn. 

Thông tin liên hệ của người phụ trách: Nguyễn Phúc Huy, SĐT: 0343994226.

Ghi chú, khi nhận thông tin đăng ký cần hỏi rõ học viên thuộc lĩnh vực nào. Có thể tạo câu hỏi trong form đăng ký.

Đăng kí qua web: https://ibep.com.vn/dao-tao-thuc-chien/workshop-phan-tich-du-lieu-co-ban

Giới thiệu Tuyển tập II Chân dung Văn học Nghệ thuật và Văn hóa của Ngô Thế Vinh

Tôi hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc cuốn sách Tuyển tập II Chân dung văn học nghệ thuật và văn hóa của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Đây là một công trình mang tính ‘anthology’ giới thiệu 15 văn nghệ sĩ và nhà văn hóa thành danh thời trước 1975 ở miền Nam Việt Nam. Những tác phẩm, chân dung và chứng từ trong tuyển tập này minh chứng cho một nền văn nghệ nhân bản, năng động và đột phá đã bị bức tử sau biến cố 30/4/1975. Do đó, tuyển tập là một nguồn tham khảo quý báu về di sản của nền văn nghệ và giáo dục thời Việt Nam Cộng Hòa.

Để cảm nhận đầy đủ ý nghĩa của Tuyển tập này, cần phải điểm qua diễn biến của nền giáo dục và văn nghệ miền Nam thời Việt Nam Cộng Hòa trước và sau 1975. Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chỉ tồn tại vỏn vẹn 20 năm. Nhưng trong một quãng thời gian tương đối ngắn ngủi đó, VNCH đã để lại một di sản quý báu về một nền giáo dục mà ngày nay có người ‘tiếc nuối vô bờ bến’. Nền giáo dục VNCH được xây dựng trên ba trụ cột Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng. Nhân Bản là lấy con người làm gốc, là cứu cánh chứ không phải phương tiện của đảng phái nào. Trụ cột Dân Tộc là nền giáo dục đó có chức năng bảo tồn phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc. Trụ cột Khai Phóng là nền tảng để nền giáo dục tiếp nhận những thành tựu và kiến thức khoa học kỹ thuật trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ và các giá trị văn hóa nhân loại, giúp cho Việt Nam hội nhập thế giới.

Ngoài giáo dục, VNCH còn để lại một di sản đồ sộ về văn học – nghệ thuật. Người viết bài này cảm thấy mình may mắn vì lớn lên và được thụ hưởng những tác phẩm trong nền văn học đậm chất nhân văn đó, được tiếp xúc với những tư tưởng mới từ phương Tây qua những sách dịch và sách triết học. Nếu phải mô tả một cách ngắn gọn nền văn nghệ đó, tôi sẽ tóm tắt trong bốn chữ: nhân bản, tươi tắn, năng động, đột phá. Tính nhân bản và tươi tắn có thể thấy rõ qua những tác phẩm thơ và nhạc được giới thanh niên yêu thích. Tính năng động và đột phá được minh chứng qua những diễn đàn quan trọng như tạp chí Bách Khoa, từng làm say mê chúng tôi một thời. Nhà văn Võ Phiến từng nhận xét rằng, “Trước và sau thời 1954 – 1975, không thấy ở nơi nào khác trên đất nước ta, văn học được phát triển trong tinh thần tự do và cởi mở như vậy.”

Tuy nhiên, sau biến cố 1975, nhà cầm quyền mới với chủ trương “chuyên chính vô sản” đã có nhiều biện pháp nhằm hủy diệt những di sản đó. Với sự phụ họa của một số cây bút ngoài Bắc và một số người ‘nằm vùng’ trong Nam, họ kết án rằng nền văn nghệ VNCH là “văn học thực dân mới” hay “văn học tư sản” có mục đích phục vụ cho thực dân. Họ quy chụp cho các tác giả miền Nam là “những tên biệt kích văn hóa“, “phản động và suy đồi“, “thù địch với nhân dân“, “phục vụ đắc lực nhất cho Mỹ Ngụy“. Không chỉ vu khống và quy chụp, nhà cầm quyền còn phát động nhiều chiến dịch lùng sục tịch thu và tiêu hủy sách báo cũ, và bắt giam nhiều tác giả nổi tiếng trong các trại tập trung để ‘cải tạo tư tưởng‘. Chiến dịch tiêu diệt di sản của nền văn nghệ VNCH được thực hiện một cách có tổ chức và kéo dài đến 20 năm.

Hậu quả của sự vùi dập đó là một thế hệ người Việt hoặc là không hiểu biết gì về nền văn nghệ VNCH, hoặc là hiểu biết một cách méo mó do chánh sách tuyên truyền gây ra.

Tuy nhiên, trong thời gian chừng 10 năm trở lại đây, quan điểm của giới cầm quyền về nền văn nghệ VNCH đã thay đổi đáng kể. Theo thời gian, họ đã nhận thức rằng nền văn nghệ thời VNCH là một di sản văn nghệ của dân tộc. Theo đó, nhiều tác phẩm văn học và sách khảo cứu văn hóa thời VNCH đã được tái xuất bản, và khá nhiều nhạc phẩm sáng tác từ trước 1975 đã được ‘cho phép’ lưu hành. Nhiều tác giả từng bị vu cáo là ‘biệt kích văn hóa’ cũng được ghi nhận đúng đắn. Theo một ước tính gần đây, đã có chừng 160 tác giả thời VNCH đã được ‘phục dựng’.

Song song với sự ghi nhận giá trị của nền văn nghệ VNCH, người ta cũng bắt đầu tìm hiểu và đánh giá đúng hơn về nền giáo dục VNCH. Ở miền Bắc Việt Nam trước 1975 và Việt Nam sau 1975 nền giáo dục không có triết lý giáo dục. Người ta loay hoay đi tìm một triết lý giáo dục cho Việt Nam, nhưng dù đã có nhiều cố gắng mà vẫn chưa đi đến một sự đồng thuận, có lẽ vì sự chi phối quá nặng nề của thể chế toàn trị.

Những nhận thức mới đó và sự loay hoay đi tìm một triết lý giáo dục hiện nay gián tiếp nói lên rằng nền văn nghệ và giáo dục VNCH đã đi trước thời đại.

Trong bối cảnh đó, Tuyển tập chân dung văn nghệ sĩ của Nhà văn Ngô Thế Vinh là một đóng góp có ý nghĩa. Tuyển tập I bao gồm ‘chân dung’ của 16 tác giả và 2 nhà giáo: Mặc Đỗ, Như Phong, Võ Phiến, Linh Bảo, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu, Nhật Tiến, Nguyễn Đình Toàn, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn-Xuân Hoàng, Hoàng Ngọc Biên, Đinh Cường, Nghiêu Đề, Nguyên Khai, Cao Xuân Huy, Phùng Nguyễn, Phạm Biểu Tâm và Phạm Hoàng Hộ. Trong Tuyển tập II, bạn đọc sẽ ‘gặp’ 15 tác giả:  Nguyễn Tường Bách & Hứa Bảo Liên, Tạ Tỵ, Trần Ngọc Ninh, Lê Ngộ Châu, Nguyễn Văn Trung, Hoàng Tiến Bảo, Lê Ngọc Huệ, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đoàn Văn Bá, Mai Chửng, Trần Hoài Thư & Ngọc Yến, Phan Nhật Nam, John Steinbeck, và đặc biệt là Dohamide (Đỗ Hải Minh).

Viết chân dung của những tác gia là một việc rất khó khăn, nhưng Nhà văn Ngô Thế Vinh đã có một ‘công thức’ dung hòa giữa thông tin về cá nhân và thông tin về tác phẩm của họ. Không giống như các tuyển tập văn học khác thường chú trọng vào tác phẩm, Nhà văn Ngô Thế Vinh tập trung vào tác giả và hoàn cảnh sáng tác. Do đó, mỗi tác giả được mô tả bằng một tiểu sử ngắn, những tác phẩm chánh, và đặc biệt là những tâm tư cũng như hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm. Qua những thông tin đó, có thể dễ dàng phác họa các tác giả như sau:

  • Nguyễn Tường Bách: nhà cách mạng gian truân & Hứa Bảo Liên: nhà văn gốc Hoa mang tâm hồn Việt.
  • Tạ Tỵ: một họa sĩ tiên phong và một nghệ sĩ đa tài.
  • Trần Ngọc Ninh: một đời mang ước vọng duy tân cho Việt Nam.
  • Lê Ngộ Châu: linh hồn của diễn đàn Bách Khoa khai phá những cái mới.
  • Nguyễn Văn Trung: lập thuyết gia cánh tả nhiều lận đận.
  • Hoàng Tiến Bảo: một nhân cách lớn.
  • Lê Ngọc Huệ: điêu khắc gia làm tỏa sáng sự mầu nhiệm Mân Côi.
  • Nghiêm Sỹ Tuấn: một tấm gương trí thức – y sĩ dấn thân thời chiến.
  • Đoàn Văn Bá: một tấm gương sáng về lòng dũng cảm và y đức của một y sĩ.
  • Mai Chửng: một tượng đài của cây lúa miền Tây.
  • Trần Hoài Thư & Ngọc Yến: người nâng niu và bảo tồn di sản văn học nghệ thuật VNCH.
  • Phan Nhật Nam: một cây bút nhà binh sắc bén và phân định chánh trị rạch ròi.
  • Dohamide: một nhà khảo cứu văn hóa Chàm ôn hòa và đầy trăn trở.
  • John Steinbeck: nhà văn cánh hữu với những trang viết thật về cuộc chiến Việt Nam.

Một trong những nhân vật mà tôi nghe nhiều trước đây, nhưng qua Tuyển tập này mới biết hơn: đó là ông Lê Ngộ Châu, chủ bút Tạp chí Bách Khoa. Có thể xem ông là một nhà báo. Có thể ông không lừng danh như các tác giả Mai Thảo, Du Tử Lê, Doãn Quốc Sỹ, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, v.v…, nhưng ông là người giúp cho họ nổi tiếng qua tạp chí Bách Khoa. Đối với tôi, tạp chí Bách Khoa là một diễn đàn trí thức quan trọng nhứt nhì ở miền Nam về văn hóa, văn nghệ, xã hội, kinh tế, và cả chánh trị. Qua 426 số báo từ 1957 đến 1975, Bách Khoa đã giới thiệu hơn 100 tác giả đến công chúng, những người sau này trở thành nổi tiếng. Những người tử tế ngoài Bắc trước 1975 nhận xét rằng Bách Khoa là một tạp chí nghiêm chỉnh, ngôn ngữ đàng hoàng, và là diễn đàn giúp họ hiểu các vấn đề ở miền Nam. Qua Tuyển tập II, độc giả sẽ biết rằng ông Lê Ngộ Châu là ‘linh hồn’ của tạp chí Bách Khoa.

Nếu ông Lê Ngộ Châu là người tạo ra di sản văn hóa, thì Nhà văn Trần Hoài Thư và phu nhân Nguyễn Ngọc Yến là người phục hồi di sản đó. Nhà văn Trần Hoài Thư từng là một nhà giáo, quân nhân, đi tù cải tạo, và khi sang Mỹ thì thành chuyên gia về điện toán. Nhưng trước và trên hết, Trần Hoài Thư là người của văn chương. Ông  khởi sự viết văn từ năm 1964, và từng có bài trên tạp chí Bách Khoa. Dù bị chi phối bởi ‘cơm, áo, gạo, tiền’ trong đời sống ở Mỹ, nhưng hai vợ chồng Trần Hoài Thư và Nguyễn Ngọc Yến dành nhiều thời gian cất công sưu tầm, hệ thống hóa, điện toán hóa, và kết quả là một thư mục quý báu về các tác phẩm văn học ở miền Nam Việt Nam trước 1975. Ông thổ lộ rằng … nhờ văn chương mà tiếng chuông ngân vang, như những niềm vui lẫn tự hào kỳ diệu. Nhờ văn chương mà ta quên đi thân phận nhục nhằn, nhờ văn chương mà ta thấy ta cao lớn hơn bao giờ.”  Có thể nói một cách tự tin rằng so với những bài viết về Trần Hoài Thư trước đây, bài viết về Trần Hoài Thư trong Tuyển tập II là đầy đủ nhứt. Bài viết còn có những bức hình rất cảm động về đôi uyên ương này trong tuổi xế bóng. Sự tận tụy cho văn học của họ thật đáng ngưỡng phục.

Một học giả khác có nhiều đóng góp cho văn hóa học thuật trước 1975 là Giáo sư Nguyễn Văn Trung. Ông cũng là người có nhiều ảnh hưởng đến tư tưởng của sinh viên thời trước 1975 như tôi. Tuy thời đó (thập niên 1960 – 1970) ông còn tương đối trẻ, nhưng rất năng động trong các hoạt động văn hóa và học thuật. Ở tuổi 28, ông cùng với các đồng nghiệp ở Đại học Huế sáng lập ra các tạp chí nổi tiếng Đại Học (1958 – 1964). Sau đó, ông sáng lập các tạp chí như Hành Trình sau này là Đất Nước (1964 – 1966) và Trình Bầy (1970 – 1972). Có thể nói ông là một trí thức thiên tả, nên các tạp chí do ông phụ trách cũng mang màu sắc tả khuynh. Chẳng hạn như tạp chí Hành Trình tuyên bố chủ trương ‘làm cách mạng xã hội không cộng sản’. Hành trình trí thức của ông khá lận đận trong một Việt Nam với nhiều chao đảo. Nhưng những lận đận của một trí thức như ông là một bài học kinh nghiệm cho thế hệ trí thức tương lai.

Một nhân vật quan trọng được đề cập trong Tuyển tập là nhà văn người Mỹ John Steinbeck, người được trao giải Nobel văn học năm 1962. Có thể xem John Steinbeck là một trí thức cánh hữu, vì ông công khai ủng hộ sự tham chiến của Mỹ ở Việt Nam. Ông tin rằng, Nhà văn phải tin tưởng rằng điều hắn đang làm là quan trọng nhất trên thế giới. Và hắn phải giữ ảo tưởng ấy cho dù khi biết được điều đó là không thực.” Ông không tin vào những bản tin về cuộc chiến Việt Nam của giới báo chí cánh tả, nên ông xung phong đi Việt Nam vào cuối năm 1966 để tận mắt nhìn thấy cuộc chiến và ghi lại cảm nhận cho riêng mình. Những cảm nhận và nhận định đó sau này được sưu tập thành một cuốn sách ‘Dispatches from the War’ (xuất bản 2012). Như Nhà văn Ngô Thế Vinh nhận xét rằng những trang ông viết là một bài học cho các thế hệ tương lai.

Tuyển tập dành nhiều trang cho họa sĩ Tạ Tỵ, và hai nhà điêu khắc Lê Ngọc Huệ và Mai Chửng. Những trang viết về Tạ Tỵ thật hấp dẫn, vì cuộc đời và sự nghiệp đa dạng. Ông nổi tiếng là một họa sĩ, nhưng ông còn là người lính của hai chiến tuyến khác nhau, là tù nhân, là người tị nạn, và cũng là nhà văn. Cá nhân tôi biết đến Tạ Tỵ qua cuốn Phạm Duy Còn Đó Nỗi Buồn xuất bản trước năm 1975 và sau này là cuốn hồi ký Đáy Địa Ngục viết về những năm tháng ông đi tù cải tạo. Đó là những tác phẩm viết ra bởi ‘người trong cuộc’, nên chất chứa nhiều nỗi niềm về thân phận của người lính sau cuộc chiến và thân phận lưu vong.

Tuyển tập II có một tác giả mà tôi nghĩ rất mới đối với nhiều người: Dohamide hay Đỗ Hải Minh. Dohamide là người gốc Chàm (nay gọi là ‘Chăm’), là một nhà khảo cứu về văn hóa và dân tộc Chàm. Từ năm 1962, ông là một trong những tác giả có nhiều bài viết khảo cứu về văn hóa Chàm cho tạp chí Bách Khoa. Tác giả Ngô Thế Vinh nhận xét rằng “Dohamide với suốt một cuộc đời đau đáu đi tìm về cội nguồn, chỉ mong sao phục hồi được nền văn hóa Champa như một căn cước của dân tộc Chăm nhưng rồi cuối đời Dohamide cũng phải đứng trước những ‘Cộng đồng Chăm đôi bờ’.” Tại sao đứng trước đôi bờ? Tại vì cộng đồng Chàm bị giằng co giữa một bên là mối hận ‘mất nước’ đòi ly khai và một bên là hòa nhập vào đại gia đình dân tộc Việt Nam. Dohamide muốn dùng văn hóa và những thành quả khảo cứu của ông để thuyết phục giới trẻ không bị lôi cuốn vào những trào lưu cực đoan. Trong bối cảnh căng thẳng giữa các sắc tộc, những học giả độc lập và ôn hòa như Dohamide có thể giúp cho các sắc tộc hiểu nhau hơn, và nhà cầm quyền hoạch định những chánh sách đem lại công bằng và nhân văn cho các sắc tộc.

Những trang viết về các nhân vật Nguyễn Tường Bách & Hứa Bảo Liên, Trần Ngọc Ninh, Hoàng Tiến Bảo, Nghiêm Sỹ Tuấn, Đoàn Văn Bá, và Phan Nhật Nam cũng giàu hàm lượng thông tin. Đó là những bài viết có nhiều dữ liệu mới chưa từng được công bố trước đây, giúp cho người đọc hiểu hơn về những suy tư đằng sau các tác phẩm của họ.

Một đặc điểm độc đáo của Tuyển tập là những hiện vật, hình ảnh, và thủ bút của tác giả. Những chứng từ mang tính lịch sử này rất đáng để thế hệ sau sử dụng làm chất liệu cho các nghiên cứu về văn học và văn hóa thời Việt Nam Cộng Hòa. Trong thời gian gần đây, một người cầm quyền chánh trị cao nhứt ở trong nước phàn nàn rằng Việt Nam thiếu những tác phẩm hay và lớn, thì Tuyển tập này sẽ giúp cho người đó suy nghĩ lại.

Nhà văn Ngô Thế Vinh là một bác sĩ, nên văn phong của anh mang dáng dấp khoa học: trong sáng. Độc giả sẽ không tìm thấy những ngôn từ hoa mỹ hay những ví von thái quá trong Tuyển tập; thay vào đó là những trang mô tả sự việc đã xảy ra như thế nào, ở đâu, và lúc nào. Văn phong trong tuyển tập không có những mỹ từ, nhưng là những chữ chính xác, và do đó, độc giả chỉ có thể hiểu theo logic đường thẳng.

Nền văn nghệ và giáo dục VNCH là tập hợp nhiều tác giả và tác phẩm. Qua hai tuyển tập chân dung văn nghệ sĩ, Nhà văn Ngô Thế Vinh dìu dắt độc giả đi qua một hành trình văn học và văn hóa, và gặp những tác giả tiêu biểu đã có những đóng góp mang tính khai phá trong nền văn học nghệ thuật đó. Là một người trong cuộc và chứng nhân của cuộc chiến vừa qua, tác giả mô tả hành trình văn nghệ đã qua như là người thư ký của thời cuộc. Nhưng là một người lưu vong lúc nào cũng trăn trở về quê hương, tác giả nhìn lại hành trình văn nghệ đã qua bằng một lăng kính mới, một cách hiểu mới, và đó chính là một đóng góp có ý nghĩa của Tuyển tập.

Vinh danh trong Nghị Viện tiểu bang New South Wales

Tôi rất hân hạnh được biết rằng tháng vừa qua, trước Nghị Viện tiểu bang New South Wales, hai Dân biểu Tania Mihailuk và Wendy Lindsay có lời vinh danh những đóng góp của tôi cho đất nước này. Sự việc cũng rất là tình cờ (vì tôi không được báo trước) nhưng làm mình xúc động về tấm thịnh tình của hai bà dân biểu mà tôi chưa bao giờ gặp ngoài đời. 

Hôm thứ Ba, tôi nhận được một cú điện thoại từ cô thư kí của bà Tania Mihailuk nói rằng bà ấy đã có lời phát biểu gọi là “Statement of Recognition” trước Hạ nghị viện về những đóng góp của tôi cho y học và giáo dục đại học của Úc. Cô ấy còn nói thêm là bà ấy sẽ kí một bằng khen cho tôi. Nghe thật cảm động, và tôi cũng chẳng biết nói gì ngoài lời cảm ơn. Hôm sau, một ông phụ tá cho dân biểu Wendy Lindsay gọi điện báo cho biết là bà cũng đã có một phát biểu vinh danh tôi trước Hạ nghị viện về dịp tôi được trao Huân chương Australia. Lại thêm một giây phút cảm động và cảm ơn rối rít. Sự vinh danh này được ghi trong ‘Hansard’ (giống như biên bản vĩnh viễn của Nghị Viện). Tôi có dịch dưới đây để các bạn không am hiểu tiếng Anh đọc cho biết.

Hồi nào đến giờ tôi tưởng các dân biểu chỉ tranh luận chánh trị trong nghị trường, chớ không hề biết rằng họ còn có quyền phát biểu tuyên dương và vinh danh cá nhân trong cộng đồng.  Tôi chưa bao giờ gặp hai bà dân biểu, nhưng dĩ nhiên là nghe qua những việc làm của họ. Bà Tania Mihailuk thì rất nổi tiếng trong cộng đồng người Việt ở đây vì bà hay giúp đỡ cho cộng đồng những lúc khó khăn. Bà là người của đảng Lao Động (giống như đảng Dân Chủ bên Mĩ vậy). Bà Wendy Lindsay là người của đảng Tự Do (giống như đảng Cộng Hoà bên Mĩ) và cũng là người nổi tiếng trong cộng đồng vì những hoạt động xã hội. Rất dễ nói họ làm vì cuộc bầu cử sắp tới (năm nay), nhưng tôi muốn nghĩ rằng họ làm thật sự vì cộng đồng.

Dân biểu Tania Mihailuk

Cũng có thể họ muốn nói với cộng đồng rằng một nước Úc đa văn hoá là môi trường tốt để mọi người có thể đóng công sức mình và thành công. Trong thực tế thì đúng như vậy. Tôi hay nói rằng nếu không có Úc thì mình không có như ngày hôm nay. Cái con dấu “Accepted” của phái đoàn Úc trong trại tị nạn Songkla 41 năm trước đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của cuộc đời. Lúc đó tôi nghĩ mình sẽ không có cơ hội đi Úc vì trả lời câu hỏi nào cũng … trớt quớt. Muốn đi học lại? Tiếng Anh vầy mà học hành gì. Muốn làm ruộng? Tiền đâu mà anh làm. Chỉ khi đến lí do muốn thấy con Kangaroo thì mới có được sự may mắn. Đúng là tình cờ. Rồi 40 năm sau, người ta xướng tên mình trong Nghị viện cũng là một sự tình cờ.

Dân biểu Wendy Lindsay (East Hills)

Viết đến đây tôi chợt nhớ câu nói của bà Condoleeza Rice (cựu Ngoại trưởng Mĩ) rằng cuộc sống là những sự ngạc nhiên và tình cờ, mình không bao giờ biết người mình sắp gặp sẽ làm thay đổi cuộc đời mình một cách vĩnh viễn. Nhìn lại quãng đời mình, tôi thấy ứng nghiệm với câu này, vì hết gặp người này đến người nọ — có khi là ân nhân nhưng cũng có khi là bất nhân — và mỗi lần gặp làm mình thay đổi hẳn về tầm nhìn và hướng đi.

Hôm nọ, trong buổi lễ trao giải thưởng cho các em học sinh xuất sắc, có người hỏi tôi rằng thời gian nào trong đời người là làm được nhiều việc nhứt. Tôi nói rằng kinh nghiệm của tôi không phải là tiêu biểu, bởi vì tôi đến đây ở tuổi thanh niên và không có một hành trình suôn sẻ như các em lớn lên ở đây. Nhưng tôi nhìn lại thì thấy những năm trong độ tuổi 25 đến 50 là có dịp làm nhiều nhứt. Đó là độ tuổi sau tiến sĩ đến trung niên. Đó là thời gian mình có nhiều ý tưởng, phấn đấu và xác định căn cước khoa học, và do đó có thì giờ và động cơ. Nhưng sau 50 tuổi (nhứt là sau 60 tuổi) thì, nếu đã đạt thành tựu, sẽ bị vào vai trò quản lí. Trong vai trò mới, người ta bắt đầu “meldown”, nên khó có thì giờ để tập trung ‘suy nghĩ những câu hỏi trời xanh’ (blue sky thinking). Thành ra, tôi khuyên là nên tận dụng quãng thời gian 25-50 tuổi để cống hiến hết mình — đó là thời gian gieo hạt, để sau đó (sau tuổi 50) thì gặt hái kết quả.

_____

Dịch lời phát biểu của bà Tania Mihailuk, ngày 15/2/2022:

Link tiếng Anh: https://www.parliament.nsw.gov.au/Hansard/Pages/HansardFull.aspx#/DateDisplay/HANSARD-1323879322-121970/HANSARD-1323879322-122088

“Tôi nhân dịp này chúc mừng Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn được trao Huân chương Australia (AM) vì những cống hiến xuất sắc cho nghiên cứu y khoa, phòng ngừa loãng xương và gãy xương, và giáo dục đại học. Giáo sư Nguyễn nhận được danh dự tuyệt vời này đúng vào ngày mà ông đặt chân đến Úc từ Việt Nam 40 năm trước. Đóng góp của Giáo sư Nguyễn trong lãnh vực loãng xương đã có những tác động quan trọng đến di truyền và dịch tễ học. Qua việc phát hiện gen thụ thể vitamin D và xây dựng mô hình để cá nhân hoá nguy cơ gãy xương, đóng góp của Giáo sư Nguyễn trong y học ngày nay được trích dẫn toàn cầu trong công tác phòng chống loãng xương. Tôi rất vui mừng trước thành tựu chuyên môn đó xuất phát từ một cư dân trong cộng đồng chúng ta. Một lần nữa, tôi chúc mừng Giáo sư Nguyễn về sự ghi nhận xứng đáng và quí báu đó.”

Dịch lời tuyên dương của bà Wendy Lindsay (East Hills), phát biểu vào lúc 17:32 ngày 24/2/2022: 

Link tiếng Anh: https://www.parliament.nsw.gov.au/Hansard/Pages/HansardResult.aspx#/docid/HANSARD-1323879322-122929

“Vào ngày Quốc Khánh Úc năm 1982, một thanh niên tên là Tuan Van Nguyen đến Úc như là một người tị nạn. Giống nhưng những người tị nạn ở Úc thời đó, anh thanh niên khởi đầu cuộc sống ở đây chỉ một cái áo trên lưng và không một đồng xu dính túi. Tuan Van Nguyen được sanh ra và lớn lên ở một làng quê vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thuộc miền Nam Việt Nam.  Ba Má anh ấy là những người nông dân trồng lúa, nhưng họ đặt nặng việc học hành cho con cái. Những giá trị gia đình đó đã giúp cho Tuấn, quê hương thứ hai và cộng đồng y học quốc tế rất tốt. Người thanh niên đó đã bỏ ra 30 năm làm nghiên cứu tại Viện nghiên cứu y khoa Garvan. Mối liên hệ của anh với Viện Garvan bắt đầu từ một cuộc phỏng vấn với Giáo sư John Eisman, người đã thuyết phục anh làm nghiên cứu y khoa vì sẽ giúp ích cho hàng triệu người.

Vào lúc đó, dự án nghiên cứu Dubbo Osteoporosis Epidemiology Study mới khởi động, và Giáo sư Eisman cần một chuyên gia về dịch tễ học và một chuyên gia về thống kê học để làm trong dự án. Ông phát hiện Tuấn có thể làm 2 việc và bổ nhiệm vào cả hai chức vụ đó. Tuấn hoàn tất luận án tiến sĩ từ nghiên cứu Dubbo. Từ đó, anh theo đuổi chuyên ngành loãng xương, tìm hiểu tại sao người ta gãy xương và làm cách nào để có thể tiên lượng nguy cơ gãy xương cho một cá nhân. Chương trình nghiên cứu của anh xây dựng trên giả thuyết rằng nguy cơ gãy xương của một cá nhân là xuất phát sự suy giảm sức chịu đựng của xương do mất xương, suy thoái cấu trúc xương, và rằng quá trình mất xương và suy thoái chất lượng xương là do gen quyết định.

Vào thời đó, mối liên quan giữa gen và loãng xương gần như chẳng ai biết đến hay chú ý. Loãng xương là một bệnh lí phổ biến, ảnh hưởng đến 1/3 phụ nữ và 1/10 nam giới tuổi 50 trở lên. Loãng xương dẫn đến gãy xương. Gãy xương có thể làm cho người ta chết sớm và giảm tuổi thọ. Mục tiêu nghiên cứu của Giáo sư Nguyễn là cải thiện tuổi thọ cho những người bị loãng xương, và giúp cho họ tự phòng ngừa nhằm giảm nguy cơ gãy xương. Năm 2000, Tuấn được bổ nhiệm giám đốc labo nghiên cứu di truyền dịch tễ học loãng xương tại Viện Garvan. Nghiên cứu của anh định hình mối liên quan giữa gãy xương và tử vong, và phát hiện gen có liên quan đến gãy xương. Một trong những thành tựu quan trọng của anh là chuyển giao những kết quả nghiên cứu thành một mô hình tiên lượng có tên là “Garvan Fracture Risk Calculator” để ước lượng nguy cơ gãy xương cho một cá nhân. Mô hình này đã được triển khai trên một trang web, trên các ứng dụng điện thoại di động và được sử dụng bởi bác sĩ và bệnh nhân khắp thế giới. 

Ông Nguyễn đã công bố hơn 320 bài báo khoa học, và một số bài báo được đánh giá là tiên phong trong chuyên ngành, nhận được những bài xã luận khen ngợi. Các bài báo của ông Nguyễn đã được trích dẫn hơn 32,000 lần. Trong lãnh vực y khoa, ông là một trong những nhà khoa học có nhiều trích dẫn nhứt trên thế giới. Ông được mời nói chuyện trong các hội nghị quan trọng về loãng xương trên khắp thế giới. Trong thời gian 15 năm qua, ông đã giảng cho nhiều chương trình tập huấn về loãng xương, y học thực chứng, phương pháp nghiên cứu, phương pháp viết bài báo khoa học, dịch tễ học, thống kê sinh học ở Thái Lan và Việt Nam. Những chương trình tập huấn rất nổi tiếng của ông đã thu hút và giúp nâng cao năng lực khoa học cho hàng ngàn bác sĩ, chuyên gia y tế và khoa học. Ông còn đóng góp trong việc xét duyệt các đơn xin tài trợ nghiên cứu khoa học ở Úc và trên thế giới. 

Ông đã đào tạo 15 nghiên cứu sinh tiến sĩ, kể cả 4 tiến sĩ ở Việt Nam. Tất cả nghiên cứu sinh của ông nay đã là những người thành danh trong y khoa và khoa học. Hiện nay, ông Nguyễn hướng dẫn cho 3 nghiên cứu sinh. Những nghiên cứu sinh của ông đã công bố nghiên cứu trên những tập san có tác động cao, và được trao nhiều giải thưởng cấp quốc tế. Ông Nguyễn còn hợp tác nghiên cứu rộng rãi ở trong nước Úc và quốc tế, và được trao chức danh Giáo sư Xuất sắc và Giáo sư Thỉnh giảng của nhiều đại học ở nước ngoài.

Hôm nay, tôi rất hân hạnh phát biểu trước Hạ Nghị Viện về Giáo sư Nguyễn, đúng vào ngày Quốc Khánh 40 năm trước, ngày mà ông đặt chân đến Úc. Ông Nguyễn đã được trao Huân chương Australia vì những đóng góp quan trọng cho nghiên cứu y khoa, loãng xương và giáo dục đại học. Giáo sư Nguyễn là một ánh sao về sự thành công trong quốc gia đa văn hoá của chúng ta và là một tấm gương tuyệt vời của sự thành công trong cộng đồng người Việt ở vùng cử tri East Hills của tôi. Tôi chức mừng ông nhân dịp ông nhận danh dự vào ngày Quốc Khánh, và tuyên dương những đóng góp của ông cho nghiên cứu khoa học trải dài qua nhiều thập niên.”

Bài báo có “trích dẫn khủng” nên hiểu như thế nào?

Một bạn phóng viên hỏi tôi về một công trình nghiên cứu [1], mà trong đó có một tác giả người Việt, được cho là thu hút rất nhiều trích dẫn (hơn 5000 lần, tính theo Google Scholar). Đúng là một con số rất ‘ấn tượng’. Nhưng tôi nghĩ con số trích dẫn ở đây cần phải hiểu một cách khác.

Bối cảnh và bài báo

Tôi biết công trình nghiên cứu đó vì tôi có viết một bài bình luận đăng trên cùng tập san [2]. Đây là một nghiên cứu rất nổi tiếng (vào năm 2020) do một nhóm bên Pháp dưới sự chủ trì của Gs Didier Raoult. Đây là một nghiên cứu thuần quan sát (không phải RCT) trên 36 bệnh nhân, và tác giả kết luận rằng Hydroxychloroquine (HCQ) và azithromycin có hiệu quả điều trị bệnh nhân Covid-19 [1]. Tổng thống Trump có lúc đã dùng nghiên cứu này để quảng bá HCQ như là một liệu pháp cho Covid-19.  

Ngay sau khi bài báo được công bố, rất nhiều người viết bình luận và chỉ ra nghiên cứu có rất nhiều vấn đề. Tất cả phản hồi đều chỉ ra những sai sót cơ bản trong thiết kế, vấn đề đánh giá outcome, sai căn bản về phân tích dữ liệu, thậm chí dữ liệu không nhứt quán. Có người (như hai tác giả Toumi và Aballe bên Pháp) viết hẳn một bài báo dài phê bình mỗi điểm trong nghiên cứu đó [3]. Hiệp hội International Society of Antimicrobial Chemotherapy (ISAC) cũng ra tuyên cáo cho rằng nghiên cứu đó không đạt tiêu chuẩn khoa học của ISAC [4]. Tôi cũng viết một bài và chỉ ra rằng tác giả đã sai trong phân tích dữ liệu và kết luận mà tôi có rất khác với tác giả [2]. Còn số bình luận nhỏ nhỏ thì nhiều vô kể. Tóm lại, công trình nghiên cứu nhận rất rất nhiều phản biện tiêu cực.

Dĩ nhiên, sau này qua nghiên cứu RCT thì chúng ta biết rằng HCQ chẳng có hiệu quả điều trị bệnh nhân Covid-19. Thậm chí, có nghiên cứu cho thấy HCQ và Azi làm tăng nguy cơ tử vong ở bệnh nhân Covid-19 [5]! Nói cách khác, kết luận của nhóm bên Pháp rất có thể sai.

Tại sao có nhiều trích dẫn?

Số lần trích dẫn một bài nhận được có khi được xem là ‘đơn vị tiền tệ’ trong sự nghiệp khoa học. Theo cách hiểu bình thường, số lần trích dẫn phản ảnh tầm ảnh hưởng của bài báo. Từ con số này mà người ta có thể tính toán các chỉ số ảnh hưởng (như chỉ số H). Chỉ số ảnh hưởng là một trong những tiêu chuẩn làm cơ sở để thăng tiến trong khoa học.

Thường, trích dẫn hiểu theo nghĩa tích cực. Chẳng hạn như một nghiên cứu mang tính đột phá và đem lại lợi ích cho chuyên ngành thì có nhiều người trích dẫn. Một sáng chế về phương pháp (như của Giáo sư David Cox với mô hình hồi qui Cox, hay Kary Mullis với phương pháp PCR) được trích dẫn rất nhiều vì đó là những nghiên cứu quan trọng. Một ví dụ khác là bài báo bàn luận về những sai sót trong nghiên cứu khoa học của Gs John Ioannidis (Why Most Published Research Findings are False) công bố vào năm 2005 mà đến nay (3/2022) đã nhận được hơn 10,000 lần trích dẫn!

Nhưng trích dẫn cũng có thể hiểu theo nghĩa tiêu cực. Trong lãnh vực y học, kinh tế học và khoa học xã hội nói chung, nhiều nghiên cứu đi đến những kết luận ‘giật gân’ mà sau này được chứng minh là sai hay không tái lập thường thu hút nhiều trích dẫn hơn những nghiên cứu đàng hoàng [6]. Đó chính là kết luận từ một phân tích trên Science Advances [6]. Có những bài báo mà kết luận gây ra nhiều tranh cãi cũng có thể nhận được nhiều trích dẫn. Trong những trường hợp này, nhiều trích dẫn không hẳn phản ảnh chất lượng nghiên cứu, mà có thể phản ảnh cái sai và bất tái lập của bài báo.

Quay lại bài báo về HCQ và Aza [1] chỉ mới công bố chưa đầy 2 năm trên một tập san hạng thấp [1] mà đã thu hút hơn 5000 trích dẫn. Câu hỏi là tại sao? Tôi nghĩ câu trả lời có thể tìm thấy trong phần trên. Bài báo đó có nhiều sai sót về phương pháp và kết quả thì không tái lập (rất có thể kết luận sai) và gây ra nhiều tranh cãi [8]. Do đó, bài báo nhận được nhiều trích dẫn, nhưng trích dẫn không phản ảnh phẩm chất khoa học của công trình nghiên cứu, mà chỉ nói lên sự bất định của HCQ trong điều trị bệnh nhân Covid-19 [2].

______

[1] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0924857920300996?via%3Dihub

“Hydroxychloroquine and azithromycin as a treatment of Covid‑19: Results of an open‑label non‑randomized clinical trial”

[2] https://www.sciencedirect.com/science/article/pii/S0924857920303757

[3] https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/20016689.2020.1758390?tab=permissions&scroll=top

[4] https://www.isac.world/news-and-publications/official-isac-statement

[5] https://journals.lww.com/jcma/Fulltext/2021/02000/Systematic_review_and_meta_analysis_of_the.19.aspx

[6] https://www.science.org/doi/10.1126/sciadv.abd1705

[7] https://www.theguardian.com/science/2021/may/21/research-findings-that-are-probably-wrong-cited-far-more-than-robust-ones-study-finds

[8] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2772921

“Misguided Use of Hydroxychloroquine for COVID-19: The Infusion of Politics Into Science”