Nhân ngày 30/4: Nhớ lại những ngày đầu trên đất Úc

Hôm qua ngồi ‘tán dóc’ trên bàn cà phê cùng với một anh làm PR cho đại học, anh ta nói “Anh là một người phụ bếp nổi tiếng” rồi cười ha hả. Ý anh ấy nói là trong một lần trả lời phỏng vấn, tôi kể lại những ngày đầu ở Úc tôi làm phụ bếp. Chuyện đúng 40 năm trước, nhưng không bao giờ phai nhoà trong kí ức, nên nhân ngày 30/4 tôi lại kể chuyện xưa hầu … ‘mua vui cũng được một vài trống canh.

Ngày 30/4/1975, một ngày lịch sử, ngày mà có triệu người vui và triệu người buồn. Tôi nằm trong nhóm triệu người buồn [1].

Cabramatta Hostel

Tôi tới Phi trường Sydney đúng vào ngày Quốc Khánh 26/1/1982. Đó là một buổi sáng nóng bức lắm. Nhóm tị nạn chúng tôi chỉ chừng 20 người (nếu tôi nhớ không lầm) xuống máy bay sau cùng, và được nhân viên di trú của Liên Hiệp Quốc và Úc quản lí chặt chẽ. “Chặt chẽ” hiểu theo nghĩa không được đi đâu linh tinh, mà phải tập trung đúng vào nơi được chỉ định. (Thật ra, có cho đi thì cũng chẳng biết đi đâu). Chúng tôi đứng xếp hàng tề chỉnh, chờ hướng dẫn của các nhà chức trách.

Nhìn lại thì đúng là một nhóm người … ô hợp. Người thì quần áo chỉnh chu mượt mà (chắc là có viện trợ của thân nhân khi còn ở trại tị nạn), nhưng đa số thì quần áo tạm bợ, lếch thếch, chẳng giống ai. Ai cũng đen đúa và còn đọng bùn phèn vì thời gian ở trong trại tị nạn khá lâu. Tóc tai thì chẳng ra sao cả, nhìn rất ư là thảm hại. Hành lí thì hầu hết chẳng có gì. Riêng tôi thì chỉ có một cái cặp màu xanh của UNHCR cấp, mà trong đó chỉ có 3 bộ đồ, kể cả một cái áo ấm do một người Thái cho làm kỉ niệm khi tôi còn ở cái làng chài Budi. Không một đồng xu dính túi. Tôi nghĩ lúc đó, các hành khách Tây nhìn chúng tôi chắc là thương hại lắm.

Chờ một chút thì cũng đến lúc … lên đường. Lần này, chúng tôi được ‘lùa’ lên một chiếc xe bus lớn. Xe chạy bon bon (thời đó còn ít xe chứ không như bây giờ xe quá nhiều) qua những con đường mà sau này tôi mới biết là Henry Lawson Drive và Hume Highway về hướng Cabramatta. Ấn tượng của tôi về nước Úc lúc đó là … nghèo nàn. Xe chạy trên con đường hai bên là cây cối um tùm, nhưng thỉnh thoảng cũng có nhà dân. Nhà dân thì đa số làm bằng chất liệu fibro nhưng cũng có nhà gạch. Nhà nào cũng có một cái sân phía trước và cỏ được chăm sóc rất tốt. Hoàn toàn không có một building nào cả.

Đi qua những con đường như vậy làm tôi tự hỏi “Họ đưa mình đi đâu đây?” Lúc đó, trong trí tưởng tượng của tôi, thành phố Úc chắc như Los Angeles, New York, Chicago mà tôi hay thấy trong phim Mĩ. Mà nếu không cỡ đó thì thành phố Úc phải như Bangkok ‘phồn hoa đô hội’ hay ít ra là phải hơn Sài Gòn chứ. Nhưng hoàn toàn chẳng thấy ‘phồn hoa đô hội’ gì cả, chẳng thấy một cái building, còn đường xá thì vắng bóng người, chỉ thấy vài chiếc xe qua lại. Tôi nghĩ chắc là họ cho mình về vùng quê rồi. Thôi, vậy cũng được. Mình thân phận tị nạn, có nơi tá túc là may lắm rồi, còn đòi hỏi gì nữa chứ. Tôi thầm nghĩ vậy, và tôi nghĩ đa số các bạn khác cũng nghĩ vậy.

Xe chạy một hồi (hơn 30 phút) thì tới một khu mà sau này tôi mới biết là Cabramatta. Khu này có nhiều dãy nhà gạch màu nâu đen mà sau này tôi mới biết đó là Cabramatta Hostel (không phải “hotel”, mà là “hostel”) được xây dựng chỉ nhằm phục vụ cho người tị nạn và di dân. Người di dân từ nhiều nơi, bao gồm các nước như Nam Tư, Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô cũ, Hồng Kông, Macao, v.v. Còn nhóm tị nạn thì chỉ có Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Chúng tôi được sắp xếp ở từng phòng, mỗi gia đình 1 phòng; nếu độc thân thì share phòng với người khác. Phòng ốc rất chỉnh chu và rất sạch sẽ, y như khách sạn 3 sao. Nội qui của hostel là không được nấu nướng trong phòng, nhưng hình như được hút thuốc (thời đó chưa có cấm hút thuốc).

Đó là nơi tôi định cư đầu tiên ở Úc: Cabramatta Hostel. Hostel này cách thị trấn Cabramatta chỉ chừng 15 phút đi bộ. Thời đó, Cabramatta là một ngoại ô bán nông thôn, bán thành thị. Nói theo tiếng Anh là “Sleepy suburb” – ngoại ô ngủ. Mà, ngủ thật, vì trung tâm ngoại ô chỉ là một con đường chánh (đường John Street) với vài quán lèo tèo. Các con đường chung quanh thì chỉ là nhà dân. Ga xe lửa làm bằng gỗ (chứ không hoành tráng như ngày nay) và lâu lâu (vài chục phút) mới có một chuyến xe. Rất ít người ở ngoài phố, nên gọi là ‘thị trấn’ cho oai, chứ thật ra chẳng mấy ai đi chợ do rất ít shop. Tuy nhiên, Cabramatta có một cái “Pub”, là nơi bán bia rượu — không thể thiếu được ở bất cứ ngoại ô nào bên Úc.  

Đa số người tị nạn sau khi tìm được việc làm họ rời Hostel và mướn nhà ở Cabramatta. Đó chính là lí do tại sao Cabramatta sau này trở thành “thủ đô” của người Việt tị nạn ở Úc. Không chỉ người Việt, mà người Cam Bốt và Lào cũng theo người Việt định cư ở đây. Năm đó (1982), tôi nhớ chỉ có 2 tiệm chạp phô bán thực phẩm Á châu, chủ yếu là hàng nhập từ Thái Lan. Do đó, khi chúng tôi thèm món ăn Á châu thì phải tới hai tiệm này để mua mì, nước nắm, gạo, v.v. về nấu nướng (dĩ nhiên là sai qui định của Hostel). Đàn ông, thanh niên thèm bia thì ra Pub mua bia về nhậu. Một thùng bia Toohey (nổi tiếng thời đó) hình như chỉ có 5 đôla thôi (ngày nay là 50 đôla). Vậy mà chỉ 15 năm sau người Việt tị nạn ở đây đã biến một “sleepy Cabramatta” thành một trong những khu đô thị sầm uất nhứt Sydney, đẩy giá mướn shop lên gần ngang hàng với trung tâm thành phố Sydney!

Cuộc đời gắn liền với “St Vinnie”

Chỉ sau 1 ngày là chúng tôi đã làm xong thủ tục thường trú tại Úc. Tôi nhìn lại tờ giấy di trú thì thấy ở mục “Công dân” họ để trống, tức là lúc đó tôi là một người vô quốc tịch. Sau khi làm thủ tục, họ nói phải chờ một thời gian thì Sở An Sinh Xã Hội mới cấp tài trợ tạm thời. Trong khi không có tiền mua sắm thì họ nhờ một nhóm từ thiện có tên là St Vincent de Paul giúp đỡ.

Ngày hôm sau tôi được dẫn tới cửa hàng St Vincent de Paul, cũng gần Cabramatta Hostel. Hội từ thiện St Vincent de Paul được sự đóng góp tiền bạc của các nhà hảo tâm, và họ còn được dân chúng cho quần áo và đồ gia dụng. Hội chọn ra những bộ quần áo và những món hàng còn tốt để cho người nghèo khó. Những người tị nạn như tôi lúc đó được xem là “người nghèo khó” nên được các hội từ thiện như St Vincent de Paul ‘chiếu cố’. Tôi được cấp 30 đôla (nếu tôi nhớ không lầm), một số tiền không hề nhỏ lúc đó. Số tiền này được dùng để mua quần áo và giầy dép. Dĩ nhiên, chỉ là đồ ‘second hand’ (tức đã qua sử dụng) thôi. Nói là ‘second hand’ nhưng cái áo chemise và cái quần tôi mua được rất tốt, chẳng khác gì đồ mới. Còn đôi giày thì trời ơi quá xịn luôn! Tôi giữ những đồ vật này suốt mấy chục năm sau như là kỉ niệm những ngày đầu tới Úc.

Nghĩ cũng hay: đời tôi gắn liền với họ St Vincent. Tôi được nhà từ thiện St Vincent de Paul cưu mang trong những ngày đầu đến Úc. Sau đó, tôi gắn bó suốt 30 năm liền với Bệnh viện St Vincent’s. Tôi như có duyên với St Vincent hay sao ấy, và tôi rất tự hào mình là một thành viên của “St Vinnie” (đó là cái tên thân thiện mà các ‘thần dân’ của St Vincent’s đặt cho).

Bệnh viện St Vincent’s, nơi tôi gắn bó hơn 30 năm trời trong nhiều vai trò, trước khi chuyển sang đại học UTS (ảnh Wikipedia)

Học tiếng Anh: “DymockOxford

Sau khi được trợ cấp, việc đầu tiên tôi nghĩ đến là mua một cuốn từ điển tiếng Anh. Hồi thời còn ở trại tị nạn, tôi học tiếng Anh từ cuốn từ điển Longman và Oxford rất hiệu quả, do đó khi qua đây tôi phải tìm mua cho được cuốn từ điển Oxford. Nhưng ở Sydney, chỉ có mấy nhà sách lớn ngoài Sydney mới có bán, chứ vùng bán thành thị như Cabramatta thì không có tiệm sách. Tôi đón chuyến xe lửa (thật ra là xe điện) từ Cabramatta đi Sydney (tức trung tâm thành phố). Sau khoảng 1 giờ, tôi cũng đến ga Town Hall.

Xe lửa thời đó là loại Red Rattler mà thế hệ ngày nay không hay ít ai biết đến. Nó chỉ có 1 tầng, không có máy lạnh, và ghế thì không tiện nghi như ngày nay. Xe chạy rất ồn ào. Nếu trời nóng thì mở cửa sổ gió vào vù vù. Từ Cabramatta đi Sydney, xe lửa ngừng đón khách ở mỗi ga, và có chừng 30 ga như thế. Do đó, thời gian từ Cabramatta đi Sydney phải mất cả 60 phút!

Xe lửa “Red Rattler” thời thập niên 1980 và 1990 ở Sydney. Tôi đã đi làm trên những chiếc xe như thế này suốt 20 năm trời.

Bước lên đường George ở trung tâm Sydney, tôi như người nhà quê ra tỉnh (mà đúng như vậy). Nhìn chung quanh building nào cũng cao vút, cứ nhìn sự hoành tráng của các tòa nhà này chắc chẳng khác gì mấy người bộ đội miền Bắc mới vào Sài Gòn nhìn building mà rớt nón cối. “Ấn tượng” nhất là cái tòa nhà Victoria được xây theo kiểu sandstone, trông rất có duyên và đúng với nghĩa hoành tráng. Người ta thì đi lại tấp nập, hình như ai cũng bận rộn. Điểm đến của tôi là nhà sách Dymock mà bà giáo nói có bán sách. Bà còn dặn là lên khỏi ga Town Hall là sẽ thấy. Nhưng giữa cái nơi ‘phồn hoa đô thị’ này, nhà sách Dymock nó nằm ở đâu.

Tôi hỏi hết người này đến người kia để biết nhà sách Dymock ở đâu. Ai cũng tử tế dừng lại nghe tôi hỏi, nhưng khổ nỗi tôi đọc chữ Dymock sai nên họ không giúp được gì. Khi một ông tương đối già dừng lại, tôi nói rằng tôi tìm nhà sách Dymock. Tôi đọc là “Đai-Mốc”. Ông già chăm chú lắng nghe và cố tìm trong kí ức nhà sách này ở đâu, nhưng ông chịu thua. Ông hỏi tôi đánh vần tên nhà sách, và tôi sẵn sàng làm ngay. Khi tôi đánh vần xong thì ông vỗ trán kêu lên: “Ah, Đi-Mịk”! Tôi ngỡ ngàng và tự hỏi sao tiếng Anh gì mà phức tạp thế. Rồi, ông ấy chỉ đường cho tôi đến nhà sách, cách đó chẳng bao xa.

Đến nhà sách lại học thêm một bài học phát âm tiếng Anh. Nhà sách Dymock rất lớn, có đến ba tầng, sách nhiều ơi là nhiều. Trong cái thế giới đó thì khó tìm cuốn từ điển, nên tôi phải hỏi người bán sách. Tôi tự tin nói “tôi muốn mua cuốn từ điển Oxford”. Tôi đinh ninh rằng chiếc xe Ford mình đọc là “Fo.d”, vậy thì Oxford đọc là “Ox-Fo.d”. Ở Việt Nam ai cũng đọc như vậy mà. Anh chàng bán sách gãi đầu không biết tôi tìm từ điển gì. Anh ta lại kêu tôi viết xuống tờ giấy trắng, và khi tôi viết xong thì anh ta kêu lên “Ah, Ox-fớd”! Cuốn từ điển đó theo tôi cũng năm tháng, và đến nay đã 37 năm tôi vẫn còn giữ nó trên kệ sách như là một kỉ niệm về học tiếng Anh, dù ngày nay tôi ít khi nào đụng đến nó.

Đến đây thì tôi nghĩ không thể chủ quan trong cách phát âm tiếng Anh được. Không phải như tiếng Pháp, viết sao thì đọc giống vậy, còn tiếng Anh thì nhìn thấy như vậy mà đọc thì không phải vậy. Sau này tôi còn phát hiện rất nhiều chữ mà nếu không có cọ sát với xã hội ở đây thì rất khó phát âm đúng. Những chữ tiêu biểu đó là allowance, kibosh, celtic, candidate, niche, và những cái tên như Beauchamp, Worcester, Chloe, Bohun, Murray, McMahon, v.v.

Làm phụ bếp

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Có lúc đi theo nhóm, có lúc đi một mình. Dạo đó, hễ có việc gì là lao vào làm, chứ không có lựa chọn. Người khá tiếng Anh thì xin đi làm lựa thư trong bưu điện, người kém tiếng Anh thì xin việc làm ở mấy hãng xưởng (thời đó Úc còn nhiều hãng lắm). Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Ở xứ này, không có kinh nghiệm thì người ta không muốn nhận mình vào làm, có lẽ vì ngại mất thì giờ và tiền bạc để huấn luyện.

Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn co1 tên “Belmore Hotel” với kiến trúc hơi lạ làm mình dễ nhớ. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent’s đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent’s toạ lạc, để xin việc.

Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp có tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây, kì này tôi làm gan nói là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. “Làm ở đâu?” Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là xắt củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là rửa chén, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 10 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi niu xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả.

Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và xắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi. Vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là ngày đầu tiên khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất lớn, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi: “Tao phải lột hết hai bao này à?” Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói: “Dĩ nhiên, đó là công việc của mày mà!” Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn tôi vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Mày có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã khai từng làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Georgina Ramsey và thú nhận là tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm nhà bếp. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc vì cái tội tày trời đó, nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai chỉ mới đến Úc có 2 tháng!), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc. Bà ta còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. cũng có cùng số phận như tôi. Tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên!

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 300 giường. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xào nấu sơ qua và giao cho bếp chính chế biến tiếp. Có khi tôi còn được bếp chính giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn!

Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì quan trọng. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Trước khi thức ăn đem cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Tôi còn nhớ họ có cái thước cứ cắm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Thử nghề ở “The Regent”

Lúc đó, khách sạn Regent mới mở ở Circular Quay, và họ cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê. Gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v. Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác.

Khi vào nhà bếp tôi gặp vài người quen từ trại tị nạn bên Thái Lan. Trong đó có thằng em tên Trạng, nó chỉ được nhận làm trong khâu rửa chén. Nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục bếp chính (thực là bếp phụ thôi) và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chứ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén to đùng. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi hai job và lại làm việc ca đêm mà còn đi học.

(Xin mở ngoặc thêm, khách sạn The Regent (nay là Sangri-La), nơi dành cho các khách VIP từ nước ngoài. Hôm đi ăn với anh bạn Nicholas Nguyên ở Sydney Harbour, tôi cũng chỉ qua khách sạn và nhắc kỉ niệm xưa với anh ấy).

Mua xe hơi

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đô-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người “Mr Đu” cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (nhà bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng.

Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977 (tức mới 5 năm tuổi), giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nỗi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Đây là cái xe tôi mua đầu tiên ở Úc. Đó là chiếc Toyota Corona (sau này thay thế bằng Camry). Năm 1982 tôi mua nó với cái giá 7000 đôla, lúc đó nó đã 5 tuổi. Máy Nhật 18-RC huyền thoại, rất êm và rất bền. Tôi sử dụng nó cả 20 năm trời sau đó và vẫn chạy ‘ngon lành’.

Ra toà

Có xe đi lại rất tiện vì không còn lệ thuộc vào xe lửa công cộng nữa. Lúc đó tôi đã đi học, nên lái xe đi làm, xong việc làm thì lái xe đến trường cách St Vicent’s chừng 30 km. Thời đó, đường phố Sydney ít xe, chứ không phải nhiều và kẹt xe thường xuyên như bây giờ, nên lái xe rất thoải mái.

Vậy mà tai nạn vẫn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s, đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện gần đó là Prince Alfred Hospital. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặc đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe.

Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tánh xong, ông hỏi tôi có luật sư không, tôi nói không. Ông hỏi: “Mày có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Thời đó, bằng lái xe cũng chỉ là tạm thôi (loại màu đỏ).

Đến phiên tôi trả lời. Tòa quay sang hỏi tôi có đồng ý với bản luận tôi không. Trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would be injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.”

Quan tòa và cảnh sát lại nói gì đó mà tôi không hiểu. Ông tòa quay sang lại hỏi tôi. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì đâu còn câu nào khác. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười và nói “Thằng này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”!

Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi không có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thời đó, bằng màu đỏ mà vi phạm giao thông là mất luôn, sau này phải thi lại. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe. Suốt 40 năm qua tôi chưa bao giờ dính dáng vào tai nạn xe.

Nhớ nhà

Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam. “Một lần đi là một lần vĩnh biệt / một lần đi là mãi mãi chia phôi.” Do đó, ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Mấy năm sau có vài lần đi công tác bên Singapore và Âu châu và tạt ngang qua Thái Lan, tôi cứ nhìn về quê nhà đau đáu. Có lần quá cảnh ở Khách sạn “The Montien” ở Bangkok, đứng trên tầng 20 nhìn về Việt Nam và biết chỉ có 1 giờ bay thôi, nhưng chưa thể về được, và buồn vô hạn.

Trong cái bối cảnh đó, có người sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: “Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi.” Nhạc sĩ Việt Dzũng (đã qua đời) thì có bài “Một chút quà cho quê hương”, còn Đức Huy với bài “Khóc một dòng sông” (Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều / nhất là những buổi chiều mưa rơi / Cũng may Cali trời mưa ít không như Sài Gòn / Nếu không tôi đã khóc một dòng sông …) mà mỗi lần Ngọc Lan trình bày là nhiều người khóc một cách tự nhiên. Có một ca khúc của Nguyệt Ánh (không nhớ tựa đề) nhưng lời ca thì tôi còn nhớ đến nay, trong đó có đoạn:

Ôi me yêu ơi,

con lang thang giữa phố đông người

Tuy phố đông người,

nhưng con lạc loài một bóng đơn côi.

Ngay cả cái nóng bên này cũng làm mình nhớ nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!

Một mình anh lê bước trên đời,

Nắng nơi đây cũng là nắng ấm,

Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương.

Ca khúc Nắng quê hương của Nguyệt Ánh qua tiếng hát của Ngọc Lan

Phải nói, thời đó có những sáng tác về nỗi nhớ Sài Gòn và Việt Nam rất hay vì tác giả viết ra từ cảm xúc rất thật của họ. Phải chi bây giờ có ai đó [dám] làm một luận án về văn học và âm nhạc thời tị nạn đó thì hay biết mấy, vì đó là một giai đoạn rất đáng ghi vào sử sách Việt Nam.

Ca khúc Mưa Sài Gòn còn buồn không anh, một sáng tác của Nguyệt Ánh qua tiếng hát Lâm Nhật Tiến (trung tâm Asia).

Bây giờ thì người tị nạn đã có thể về quê tương đối bình thường, nên những lời nhạc trên hơi lỗi thời, và ít người còn ca những bài đó nữa. Tuy nhiên, với tôi những lời nhạc trên dù đã được viết ra hơn 30-40 năm về trước nhưng cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp 30/4.

Ca khúc Một chút quà cho quê hương, một sáng tác nổi tiếng của Viêt Dũng qua tiếng hát Khánh Ly (trung tâm Asia).

Người tị nạn (refugee) khác với người di cư (immigrant). Người tị nạn là người tuyệt vọng, vô quốc tịch, không có tài sản, và họ bị “bứng” khỏi quê hương qua một biến động lịch sử. Người di cư có quốc tịch, họ có tài sản, và họ ra đi một cách tự nguyện. Người tị nạn do đó thường mang trong mình những chấn thương tinh thần. Người tị nạn lúc nào cũng bị ám ảnh bởi căn cước tính của mình. Do đó, mỗi năm cứ đến ngày 30/4 là có dịp đọc những câu chuyện của đồng hương khắp nơi trên thế giới. Chuyện tù cải tạo, chuyện vượt biên, chuyện tị nạn, v.v. Nếu tất cả những câu chuyện này mà tập hợp lại thì sẽ thành một cuốn sách hay.

Người tị nạn sống giữa hai thế giới. Một bên là quê hương, nơi chôn nhao cắt rốn; một bên là quê hương tạm dung. Người tị nạn thường bị giằng xé tâm tư, một bên là kí ức của quê hương đầy biến động và đau khổ, một bên là đất nước tạm dung giàu có nhưng chưa chắc là thoải mái. Thành ra, người tị nạn đã xa rời quê hương, nhưng trong tâm tưởng họ chưa bao giờ rời quê hương. Họ ở đây, nơi tạm dung, mà không phải ở đây. Họ thành đạt về kinh tế, họ có thể có địa vị trong xã hội nơi tạm dung, nhưng cái tâm thế của họ thì vẫn còn chông chênh.

_____

[1] Nhiều khi tôi tự hỏi: nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam sẽ ra sao. Khó đoán ngược lịch sử ở bình diện lớn, nhưng có thể nói rằng chế độ mới đã kéo lùi sự tiến bộ của miền Nam Việt Nam cả nửa thế kỉ.

Phải đi vòng quanh các nước như Singapore, Thái Lan, và Mã Lai mới thấy Việt Nam mình nghèo và lạc hậu ra sao. Ngay cả hôm nay, Việt Nam tuy có khá hơn chút, nhưng nhìn kĩ thì không khá chút nào đâu vì kinh tế lệ thuộc vào vài ba tập đoàn nước ngoài, và chúng ta đa số chỉ là những kẻ gia công lương thấp mà thôi.

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975. Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị. Ông tự nhận là người “có cảm tình với ‘cách mạng'”. Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi kí. Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi kí viết về những gì xảy ra sau 1975.

Trong cuốn hồi kí ông ghi lại những thất bại sau 1975. Đó là sự mất đoàn kết, phân chia giai cấp, thiếu kỉ luật, suy sụp kinh tế. Ông viết về một xã hội sa đoạ, với tham nhũng tràn lan, ăn cắp, và buôn lậu, và kì thị Bắc – Nam. Ông tóm tắt về một thời mà có lẽ ngày nay ít ai quan tâm hay biết đến:

• Sự ngạo mạn của những người ‘thắng cuộc’: những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả. “Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ”. Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài, còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

• Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét. Ông viết “Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến.”

• Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết: “Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn ‘nằm vùng’ cũng không ưa bọn tập kết về đó.”

• Khinh miệt: ông so sánh: “[…] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc […] cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!”

Điệu buồn phương Nam

Hôm về Việt Nam tôi được tặng nhiều sách, trong đó có cuốn “Điệu buồn phương Nam“, mà tôi rất muốn giới thiệu đến các bạn xa gần, đặc biệt là dân miền Tây (kể cả Kiên Giang), đọc nhân ngày 30/4.

Điệu buồn phương Nam là tập hợp 57 đoản văn và truyện ngắn của tác giả Kim Chi. Theo lời giới thiệu của tác giả Trần Văn Chánh, Kim Chi tốt nghiệp ngành quản lí môi trường và đang làm việc cho một đại học ở Bình Dương, tức chẳng dính dáng gì đến văn chương. Thật vậy, tác giả không phải — và cũng không tự nhận mình — là một nhà văn, mà chỉ là một người mê văn chương và viết văn như là một thú tiêu khiển.

Kim Chi sanh ra và lớn lên ở huyện Gò Quao thuộc tỉnh Kiên Giang. Tính ra thì Kim Chi là đồng hương của tôi, và Gò Quao chỉ cách huyện tôi chừng 20 km mà thôi. Mặc dù Gò Quao là một nơi được xếp vào nhóm nghèo khó, nhưng qua hé lộ gián tiếp, tác giả xuất thân từ một gia đình khá giả. Ở trang 163, tác giả viết “Khác với ‘bọn địa chủ tham lam độc ác’ vẫn được mô tả trong văn học cách mạng, ông nội tôi rất yêu nước.” Một câu văn ngắn như thế không chỉ tiết lộ gia thế, mà còn gián tiếp phản bác những luận điệu tuyên truyền dối trá về những người được gọi là ‘địa chủ’ ngày xưa ở miền Tây.

Lớn lên từ một vùng đất tương đối mới và hoà quyện mình vào văn hoá sông nước, nên những bài bút kí, tuỳ bút và truyện ngắn của Kim Chi phản ảnh đời sống và sinh hoạt của người miền Tây, đặc biệt là chung quanh Gò Quao và vùng lân cận như U Minh. Đó là những mối tình dân dã trong làng, những cuộc hôn nhân miệt quê, những tình duyên éo le, những phiên chợ quê cùng những nét văn hoá đặc thù miền sông nước, v.v. Có những câu chuyện (như “Tưởng bở”, “Hận đống rơm”) làm cho độc giả thấy tức cười vì sự ngây ngô của các nhân vật, nhưng cũng có những chuyện về sự biến thái tình người sau 1975 hay trong thời ‘chuyển tiếp’ làm cho độc giả thấy trăn trở về đạo đức truyền thống miệt quê bị sứt mẻ. Những nhân vật và những cá tánh được mô tả trong sách rất đậm nét đời thường. Độc giả sẽ bắt gặp những người như Ba Cọp, Ba Bò, Tư Đờn, Sáu Hô, Chín Móm, v.v. mà bất cứ ai lớn lên ở miền Tây đều có thể liên tưởng đến những người hàng xóm của mình. Tác giả không đặt nặng việc phân tích tâm lí của các nhân vật, mà chỉ kể chuyện và quan sát.

Tất cả những câu chuyện được viết bằng một văn phong trong sáng, rặc Nam bộ, y như cách nói chuyện của người miền Tây. Độc giả sẽ thích thú khi bắt gặp những câu văn và những chữ đậm chất miền sông nước như tui, ảnh, chỉ, dìa, gởi, hổng, đặc khừ, làm phước, chắc ăn như bắp, v.v. Hãy đọc một đoạn tác giả mô tả nhà gần trường học:

Nhà tui chỉ cách trường Cấp III có 7 cây số nhưng tui phải trọ học vì lội bộ thì qua nhiều cầu khỉ tui đi hông giỏi, không lọt cầu này thì té mương kia. Chèo xuồng thì tui hông rành, cà rịch cà tang, tới trường là trễ. Mới đầu má cũng định cất cho tui cái chòi gần trường giống như lũ học trò xứ tui nhưng má sợ tui hư nên cuối cùng má mới gởi cho người bà con bên nội, nhà chỉ cách trường một con kinh.” (trang 124).

Đọc đoạn văn trên là biết ngay của người miền Tây. Rất tiếc là những phương ngữ này đang dần dần biến mất trên văn đàn và báo chí. Thật ra, ngay cả chính tác giả cũng thỉnh thoảng tỏ ra ‘hương đồng gió nội bay đi ít nhiều’ khi dùng những chữ như ‘tiểu thư’ thay vì ‘tiểu thơ’ (trong “Hồi đó tôi có dáng vẻ rất tiểu thư“, trang 148), hay thậm chí “Zậy là” (trang 149) hay “dzô dziên” (trang 130). Cũng có thể sự đánh mất cái chất văn miền Tây đó là do bàn tay của người biên tập quyển sách.

Tác giả còn tỏ ra là một người hóm hỉnh và có phần lí lắc. Trong bài “Ghen kiểu … Tây” (trang 58), tác giả bắt đầu bằng một câu văn như sau: “Không biết tại sao nhưng quả thực người miền Tây, kể cả Tây đui hay Tây xịn, đều có tính cách rất là phóng khoáng và nghệ sĩ. Riêng dân miền Tây quê tui thì phóng khoáng và nghệ sĩ cả trong chuyện đánh ghen.”

Hoặc có những truyện mà tác giả kết thúc bằng một câu văn làm cho độc giả phải … ngẩn ngơ. Chẳng hạn như trong truyện “Chân tình” (trang 88), tác giả viết về một chị cựu học sinh của trường Marie Curie (một trường danh giá ở Sài Gòn) đem lòng thương một chàng trai trẻ hơn chị đến 10 tuổi, giúp cho anh này ăn học thành tài, thậm chí còn đứng ra cưới vợ và nuôi con cho anh ta. Rồi khi anh ta trở thành giám đốc, chị làm tạp vụ cho anh ấy, để rồi chính anh ấy cho chị nghỉ hưu:

Rồi một ngày kia chị nhận được quyết định về hưu từ tay anh. Anh đưa cho chị mà không nói thêm gì, chỉ lạnh nhạt chào rồi vội vã bước lên xe cùng vợ con cho một chuyến du lịch dài ngày. Chị thu xếp đồ đạc về quê, ở nhờ nhà một người chị gái cũng không chồng như chị” (Trang 91).

Độc giả Kiên Giang sẽ đọc thấy những địa danh quen thuộc như sông Cái Lớn (mà tác giả viết là “Cái lớn”), Miệt Thứ, xóm Cái Bần Lớn, Cả Bần, chợ Chà Quơn, chợ Thuỷ Liểu, v.v. Tôi tin rằng người Kiên Giang, đặc biệt là Gò Quao, sẽ rất thích thú khi thấy hay tự tìm thấy mình trong những địa danh đặc thù đó xuất hiện trên trang giấy và trong các bài tản văn.

Không chỉ là những địa danh quen thuộc, mà ngay cả cách đặt tên cho con cái cũng rất gần gũi với người miền Tây. Trong truyện “Độc chiêu” tác giả viết về một gia đình có những người con được đặt tên theo thứ tự: Chơi, Bời, Tiền, Bạc, Ngàn, Triệu, Được, Sang, Giàu! Đọc những tên đó làm tôi nhớ đến gia đình bác Ba Tễ (là chỗ quen biết rất thân với Ba Má tôi) đặt tên cho con là Quyết, Chiến, Sinh, Bình, Tồn, và Tiến. Nhưng sau 1975, bác lại sanh thêm hai người con nữa, và thế là bác đặt tên Yên, Lành. Vậy là tôi có những người anh và chị mà tên đọc lên như là một câu văn: Quyết Chiến Sinh Bình Tồn Tiến Yên Lành. Những cách đặt tên như thế cũng nói lên ước vọng của người dân miền Tây trong thời chiến.

Tóm lại, Điệu buồn phương Nam là một tập đoản văn nhẹ nhàng viết về những sinh hoạt đời thường ở miền quê Tây Nam Bộ sau 1975. Đã có nhiều người viết về miền Tây Nam Bộ, nhưng Kim Chi khác với những tác giả khác ở văn chương dày đặc những phương ngữ Nam Bộ cùng một văn phong tự nhiên, và chính đặc điểm này làm cho tác giả trở thành một người kể chuyện vừa gần gũi vừa có duyên và có khi hỏm hỉnh.

Đối với các bạn nào yêu văn chương Nam Bộ hay muốn tìm hiểu về tâm lí và tánh khí của người miền Tây thì Điệu buồn phương Nam nên có mặt trong tủ sách gia đình.

Kể chuyện miền Tây 4/2022

Việt Nam sau trận đại dịch có nhiều đổi thay: vật đổi sao dời, người còn kẻ mất. Dưới đây là vài ghi chép sau một chuyến đi 10 ngày ở Sài Gòn và miền Tây. Tôi thấy nông thôn miền Tây mình ngày nay giống như nông thôn Thái Lan của 40 năm trước.

Sau 2 năm vì dịch bệnh, tôi có một chuyến ‘xuất ngoại’, và chuyến này lại đi Việt Nam. Vậy mới hay! Chuyến đi vì công việc và đầy ấp lịch làm việc, nhưng tôi cũng may mắn đi lại một vài ngày ở miền Tây. Trước hết là về quê Kiên Giang, ra Rạch Giá thăm bạn bè. Sau là đi Cần Thơ, băng ngang qua Hậu Giang (trước 1975 là Chương Thiện) để đến Tây Đô Cần Thơ. Rồi lưu lại Cần Thơ 2 đêm để dự hội thảo, và lại hẹn hò bè bạn. Sau đó là lên Sài Gòn làm việc suốt 7 ngày liền, trước khi bay về Sydney.

Cần Thơ sau đại dịch Covid-19 và ‘review’ Khách sạn VinPearl Cần Thơ

Rất vui là gặp lại bạn bè, ai cũng sống sót qua trận đại dịch. Ở Úc, ngày đầu vào làm labo/office và họp mặt, tụi tôi thường hay nói đùa (mà thật) là chúng ta đã may mắn cón sống sót qua cơn đại dịch. Một số đồng nghiệp đã vĩnh viễn ra đi vì Covid, nhưng một số lớn khác thì về hưu non hay nằm trong diện gọi là VSP (tức là cho nghỉ việc trước khi xong hợp đồng). Ở đại học tôi công tác, số người ra đi vì VSP lên đến con số 600 người, và rất nhiều người có hàm giáo sư, giảng sư, giảng viên. Thành ra, còn sống sót — theo cả hai nghĩa đen và bóng — là một phước đức ông bà để lại rồi. Gặp lại các bạn ở VN còn sống sót là mừng lắm rồi.

Nhiều bạn gặp tôi và nhận xét rằng “Ông vẫn vậy.” Không hẳn đâu. Bề ngoài thì vẫn vậy, nhưng sức khỏe cũng có vài thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Chẳng hạn như lên cân. Chẳng hạn như nồng độ LDL tăng bất chợt. Chẳng hạn như khi Bs Phương ‘đè’ ra chụp CT thì tôi mới thấy xương mình bị thoái hóa khá bộn. (Nó đúng với khái niệm “Skeletal Age” mà tôi đề xướng). Do đó, nhìn bề ngoài ổn định, đi lại nhanh nhẹn, ai cũng tưởng là ok, nhưng “thấy vậy mà không phải vậy”. Dù gì thì tôi cũng phải cảm ơn các bạn đã tận tình chăm sóc tôi trong thời gian ngắn ở Sài Gòn.

Sau 10 ngày ở trong nước, tôi thấy gì và nghĩ gì? Nhiều bạn hỏi tôi câu đó. Chính tôi cũng tự hỏi mình như vậy. Câu trả lời là ‘chẳng thấy gì cả’. Thấy sao hết được khi mình chỉ có 10 ngày, và trong thời gian đó thì 7 ngày là ở trong phòng học rồi. Thành ra, những gì tôi ghi lại dưới đây chỉ là cảm nhận thôi: cảm nhận của một người có dịp về quê và trò chuyện cùng bà con, bạn bè.

Một buổi nhậu ở miền Tây. Sau khi đi thăm ruộng xong thì mặt trời đã lên cao, và bà con bắt đầu gầy sòng. Hôm về quê, anh họ tôi bắt cá và làm lẩu mắm và mắm ruột đãi tôi. Đây chỉ là một góc sân nhà của anh họ tôi (bà nội anh ấy là chị ruột bà ngoại tôi), rất mát mẻ vì đầy bóng cây. Con rạch này chỉ có chừng 100 căn nhà và đại đa số thuộc dòng họ tôi, nhưng khi đại dịch tới thì cả xóm bị xáo trộn cả.
 
Tôi hay khoe với bạn bè ở Úc và Sài Gòn là khi nào có dịp về Rạch Giá với tôi, tôi sẽ dẫn vào con rạch này để thăm nhà bà con. Muốn nhậu ở nhà nào cũng được, vì đa số là bà con cả và ai cũng chào đón tôi.

Đường về miền Tây

Trước hết là chuyện đường xá. Tôi lúc nào cũng quan tâm đến con đường từ Sài Gòn về miền Tây, bởi đó là vùng đất bị thiệt thòi nhứt nhì ở Việt Nam. Trước đây, đường từ SG về Rạch Giá (chừng 260 km) mất khoảng 5-6 tiếng đồng hồ. Chỉ có một đọan ngắn là đường cao tốc Trung Lương (40 km), và sau đó là đoạn đường đau khổ trên Quốc Lộ 1. Đường thì hẹp, xe cộ thì đông, chưa kể xe gắn máy thì dập dìu nối đuôi trên khắp nẻo đường, rồi hai bên là nhà dân và hàng quán rất gần mặt lộ, vô cùng nguy hiểm. Thành ra, chuyến về miền Tây nào đối với tôi cũng là một nỗi kinh hoàng.

Đường từ Tây đi Sài Gòn sau đại dịch Covid-19

Nói chuyện đường xá miền Tây, tôi nhớ chuyện xưa có lần tôi diện kiến ông NPTrọng (lúc đó hình như là Chủ tịch Quốc hội). Ông ấy hỏi tôi có ‘nguyện vọng’ gì; tôi nói chẳng có nguyện vọng gì cả (tôi không ưa chữ ‘nguyện vọng’), chỉ có yêu cầu ­­mà thôi: yêu cầu xây dựng đường cao tốc về miền Tây. Ổng nói ‘Tôi thấy đường miền Tây cũng tốt mà‘. Tôi kinh ngạc khi nghe ổng nói như vậy, và tôi biết dạo đó ổng chưa bao giờ đi thăm miền Tây. Mà nếu có đi thăm thì với kiểu cách tự mãn và tự cao đó chẳc gì ổng đã nói được với ai. Tuy nhiên, tôi nói vừa đùa vừa thật rằng ‘Có lẽ anh chưa đi về miền Tây bằng xe đò, vì nếu anh đi thì sẽ biết đấm lưng tự động nó như thế nào‘. Sợ ổng không hiểu nên tôi giải thích thêm rằng: ‘Đường xá miền Tây xấu lắm vì mấy chục năm qua chưa được Nhà nước quan tâm, dù đó là nơi nuôi cả nước‘. Dĩ nhiên là ổng đâu làm được gì và cũng không thể nói khác tôi, nên ổng bảo viên thư kí ghi lại lời phản ảnh. Tôi thì thừa hiểu ghi lại vậy cho vui thôi, chứ chuyện đâu thì cũng sẽ vào đấy. Nói chung, những cuộc gặp gỡ kiểu này chỉ là ngoại giao và làm mất thì giờ với nhau thôi.

Đó là câu chuyện của nhiều năm trước, còn nay thì đã có chút thay đổi tích cực rồi. Ngày nay, đường từ SG về quê tôi ở Kiên Giang là 4 giờ đồng hồ, rút ngắn chừng 2 giờ. Lí do là các cây cầu lớn như Vàm Cống (do Hàn Quốc tài trợ, thiết kế và xây) và Cao Lãnh (ADB và Úc tài trợ và thiết kế) đã được đưa vào sử dụng, cộng với đường cao tốc mới. Vẫn đi qua đoạn đường Trung Lương, nhưng từ đó nối liền với Quốc Lộ 1A, và băng qua Đường Xuyên Á về tới Rạch Giá. Tuy gọi là ‘cao tốc’ nhưng xe chạy chỉ với tốc độ 70-80 km/giờ mà thôi. Nhiều đoạn đường vẫn còn gập ghềnh lắm, chẳng phải là ‘cao tốc’ gì đâu. Dù gập ghềnh như vậy, nó cũng rút ngắn thời gian đáng kể cho hành khách. Trong tương lai gần, khi đoạn đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận đưa vào sử dụng thì đường từ SG về Rạch Giá có thể chỉ còn 3 tiếng đồng hồ. Đó là một thay đổi tương đối tích cực.

Môi trường miền quê

Cũng như những năm trước, tình trạng ô nhiễm môi sinh ở miền quê càng ngày càng nặng nề và nghiêm trọng hơn. Những con sông hoặc là đã chết, đang chết hay sắp chết. Không chỉ là những con sông, mà còn là những kênh rạch, là nguồn sống của người dân miệt quê cũng bị ô nhiễm trầm trọng. Cá tôm dưới sông rạch không còn nữa, hay có còn thì cũng chỉ là những con nhỏ xíu mà thôi. Ngày xưa, mỗi lần dỡ chà là mỗi lần tiệc đình đám, vì bắt được những con tôm càng lớn và cá thì ôi thôi đủ loại. Thời đó, chẳng ai ăn mấy con cá nhỏ hay cá lòng tong, nhưng ngày nay thì tất cả đều không thoát bàn tay của con người.

Sợ nhứt là vấn đề sử dụng chất trừ sâu ở đồng ruộng. Làm ruộng là phải dùng hóa chất trừ sâu, diệt cỏ. Như là một qui luật Darwin, sâu cỏ càng ngày càng tiến hóa độc hại hơn và phức tạp hơn, và nông dân buộc phải dùng thuốc trừ sâu diệt cỏ ‘mạnh’ hơn. Hậu quả là hệ sinh thái ở miền Tây bị tổn hại. Cá tôm trên đồng ngày càng hiếm, một phần là do tình trạng “xiệt điện”, nhưng phần lớn là do làm dụng thuốc trừ sâu. Anh họ tôi nói, có những loại thuốc trừ sâu diệt cỏ từ Tàu độc hại đến nổi một con ếch nhảy xuống vũng nước mới xịt thuốc là có thể chết ngay! Nghe mà phát kinh.

Dư chất của thuốc từ sâu diệt cỏ trên ruộng sẽ đi đâu? Sẽ chảy xuống sông. Vậy là sông đã ô nhiễm thì càng ô nhiễm hơn. Bởi vậy, có cá tôm nào mà sống nổi trong môi trường đó. Sông là nguồn sống của con người, mà sông ô nhiễm thì chúng ta dễ đoán được hậu quả của sức khỏe cộng đồng ra sao. Ở miền quê ngày nay có rất nhiều “bệnh lạ” (theo cách nói của dân miệt quê) nhưng thật ra là những bệnh là hậu quả của ô nhiễm môi trường. Ung thư càng ngày càng phổ biến ở các cộng đồng miền Tây. Tôi chỉ ngồi quán cà phê chừng 1 tiếng đồng hồ là đã nghe qua ít nhứt 10 câu chuyện về bệnh ung thư và những cái chết vì ung thư ở dân làng tôi. Một anh hàng xóm mới qua đời ở tuổi 72 vì ung thư phổi và tiểu đường. Tôi nghĩ tình trạng xuống cấp về môi trường là một trong những mối đe dọa lớn nhứt đến kinh tế và sức khỏe ở Việt Nam. Điều đáng nói là dân chúng chẳng mấy ai quan tâm và quan chức thì càng ít quan tâm vì họ có mối bận tâm khác.

Cống ngăn mặn

Ở tỉnh tôi có cái cống ngăn mặn sông Cái Lớn, mà có khi báo chí gọi là “Siêu Cống”. Tôi chưa có dịp ghé quá cái cống này, nhưng biết rằng nó rất lớn. Lúc có dự án xây dựng thì đã có các chuyên gia bàn tán về tác hại của nó. Nhưng ở Việt Nam, Nhà nước đã quyết định là họ làm, còn các bàn tán, ‘góp ý’ chỉ là hoa lá cành, làm cho mấy người gọi là ‘trí thức’ thấy vui vì có tiếng nói, chứ Nhà nước vẫn làm bất chấp ý kiến của chuyên gia. Chắc chắn là trước khi xây dựng, người ta cũng làm mô phỏng và đánh giá, nhưng không rõ có sự phản biện và đánh giá độc lập hay chỉ là những tiếng nói của giới ‘trí thức cung đình’.

Cống Cái Lớn đã được đưa vào sử dụng và đúng là nó có hiệu quả ngăn mặn, giúp cho bà còn làm ruộng ở khía cạnh nào đó tốt hơn. Nhưng hậu quả là nó làm thay đổi dòng chảy của mấy con sông xuất phát từ Cái Lớn. Chẳng hạn như con sông trước nhà tôi ngày nay nó cứ lình bình, và khái niệm nước lớn nước ròng không còn nữa. Hậu quả là sự ô nhiễm càng ngày càng trầm trọng hơn, và cá tôm càng khó có nôi sinh sống. Đã có nhiều người dân than phiền là vài con sông rạch bắt đầu hôi thúi, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.

Tuy nhiên, chắc phải vài năm nữa thì cái lợi và cái hại của cái cống khổng lồ này mới đánh giá hết được.

Đô thị hóa nông thôn

Miền Tây về bản chất vẫn là miền quê, nhưng tốc độ đô thị hóa diễn ra một cách chóng mặt. Con đường từ Rạch Sỏi về quê tôi, qua Minh Lương và Chắc Kha, ngày xưa hai bên đường là đồng ruộng xanh rì, nhưng ngày nay hàng quán san sát nhau, y chang như thị xã vậy. Có những đoạn đường tôi không thể nhận ra vì hoàn toàn bị đô thị hóa.

Những con đường làng có từ thời VNCH, sau 45 năm ‘giải phóng’, cũng được nâng cấp để xe hơi có thể đi được. Thật vậy, con đường vào làng tôi ngày xưa chỉ đi xe gắn máy, nhưng nay thì được mở rộng để 2 chiếc xe auto có thể đi được. Khi đường xá được mở rộng thì hàng quán cũng mọc lên, kéo theo các dịch vụ cho dân làng, và hệ quả là cái làng quê êm ả ngày nào nay trở nên … ồn ào. Ban ngày thì dưới sông ghe thuyền tấp nập qua lại, trên lộ thì xe cộ dập dìu; ban đêm thì karaoke vang trời, làm ‘biến dạng’ một làng quê tiêu biểu của miền Tây.

Nói cho ngay, những thay đổi trên cũng đem lại những phát triển tích cực cho người dân: kinh tế khá hơn. Đường về nhà tôi, hai bên đường có rất nhiều nhà mới xây bằng gạch và mái tole. Rất hiếm những căn nhà lá lụp xụp xưa kia. Hỏi ra mới biết là ‘tác giả’ của những căn nhà mới đó là những người công nhân làm việc ở những khu công nghiệp như Bình Dương, Long An, Sài Gòn, v.v. Đó là những người bỏ quê, bỏ đồng ruộng để đi làm công nhân trong các hãng xưởng. Làm công nhân có thu nhập tương đối ổn định hơn là làm nông dân vừa cực khổ vừa bấp bênh. Ngày xưa, khi về quê thấy căn nhà nào ‘hoành tráng’ thì đó là nhà có người đi vượt biên (Việt kiều) gởi tiền về xây. Còn ngày nay, nhà nào mới xây khang trang hơn thì thế nào cũng có yếu tố ‘vượt biên’, nhưng vượt biên trong nước.

Người hàng xóm tôi (vợ chồng anh Bình) ngày xưa có căn nhà do ba má để lại cũ kĩ nhưng ngày nay đã là một cơ ngơi khang trang, hoành tráng. Hỏi anh làm ăn ra sao, anh nói bằng tiếng Việt pha chút Khmer: “Tao nhờ hai thằng con, chớ tao làm ruộng đâu đủ tiền để xây.” Xây tốn bao nhiiêu tiền? Khoảng 1.5 tỉ đồng (tức 70,000 USD). Hỏi thằng nào ‘tài trợ’, anh nói một thằng con làm cho Viettel, một thằng làm cho công ti xây dựng ở Bình Dương và sau này về Rạch Giá, và chúng nó dành dụm tiền về xây nhà cho hai vợ chồng ảnh. Tôi nghe qua mà mừng thầm vì ít ra hai vợ chồng cũng có một cơ ngơi an hưởng tuổi già.

Trong quê tôi ngày nay có người đi làm ăn xa, rồi nay thành công và quay về giúp cho làng quê. Có người về với dự án xây cây cầu ngang sông, và lập công ti may mặc để tạo công ăn việc làm cho dân trong làng. Nghe những câu chuyện như thế làm tôi thấy ấm lòng về tấm lòng tương trợ của dân quê, và thỉnh thoảng cũng chạnh lòng nghĩ về vai trò của mình. Mình cũng đi xa, nhưng cho đến nay thì chẳng giúp ích gì cho dân làng mình …

Nhưng một người hàng xóm khác thì kém may mắn hơn và vẫn nghèo. Đó là một chị người Khmer, tuổi cỡ 70, không chồng, còn ba má chị ấy thì qua đời khá lâu, chỉ để lại vài công đất mà chị ấy cũng không có khả năng làm vì do bệnh tật. Ba má chị ấy là một ân nhân của gia đình tôi. Vì túng thiếu, chị ấy đòi bán đất hoài, nhưng tôi khuyên là không nên vì đó là mảnh đất của ba má chị ấy để lại, nên cứ giữ đó để cho người em (là thầy tu chùa Khmer). Khi nào chị ấy thiếu thì tôi tài trợ cho đến khi nào chị ấy trăm tuổi.

Mưu sinh ở miền Tây sông nước. Nhìn cái ghe tưởng như sắp chìm, nhưng rất … ok. Nhìn cảnh này thấy thương người dân xứ mình ghê nơi.

Chuyện Covid

Về Việt Nam nghe rất nhiều câu chuyện đau buồn và tang thương về Covid do chính người trong cuộc (bác sĩ, y tá) kể lại. Một trường tiểu học kia được ‘trưng dụng’ để cách li hàng 600 người, một số dương tính nCov nhưng đa số thì chỉ là phơi nhiễm (ở Việt Nam người ta gọi là ‘F1’). Chỉ có 2 bác sĩ mới ra trường và 6 y tá phụ trách. Không có thuốc điều trị. Họ chỉ cho những thuốc thông thường và nhìn người dân lần lượt ‘ra đi’. Đúng như ông bí thư TPHCM nói: tập trung người ta lại rồi đứng nhìn, chứ chẳng biết làm gì.

Nhưng vấn đề vệ sinh mới kinh khủng. Người bệnh và không bệnh nằm la liệt từ trong phòng ra ngoài góc đây, bụi cỏ. Cả trường tiểu học chỉ có 4 cái toilet cũ kĩ thì điều kiện vệ sinh cho 600 con người chỉ có thể mô tả là kinh khủng. Thế mới thấy cách chủ trương cách li thật là dã man.

Nhìn chung thì con virus Vũ Hán hoành hành ở vùng nông thôn ít hơn vùng thành thị. Trong những tháng đầu, thậm chí cả năm đầu, miền quê không bị ảnh hưởng bởi Covid. Nhưng sau khi có sự ‘hồi hương’ của những công nhân từ các khu công nghệ về quê và xét nghiệm đại trà thì Covid mới trở thành một mối quan tâm. Tuy nhiên, mức độ tác động của Covid ở miệt quê cũng không quá nặng nề như ở thành phố.

Ở miệt quê cũng có những chuyện covid cười ra nước mắt. Cái kênh LB dưới quê tôi dài chỉ chừng 2 km với chừng 100 căn nhà sống yên tĩnh. Ấy vậy mà khi những qui định về Covid về miệt quê thì cũng gây ra náo loạn và nhốn nháo một cách buồn cười. Mặc dù chẳng có ai bị Covid, nhưng người ta cho thiết lập 2 cái chốt để chận không cho người dân đi chợ hay đi lại thăm hỏi nhau. Phía sau nhà là đồng ruộng, nên thay vì đi bằng xe gắn máy, người ta đi ngang ruộng, ấy vậy mà cũng có người năng nổ ra chận lại. Chuyện người dân nhảy xuống sông trốn sau khi xét nghiệm cũng xảy ra và làm chuyện cười cho rất nhiều người. Đúng là Ngu dốt + Nhiệt tình = Phá hoại.

Tóm lại, Sài Gòn và miền Tây sau đại dịch đang dần dần ‘bình thường hóa’. Người dân hết sợ Covid rồi, vì có lẽ đa số đã bị Covid, tức là đã đạt miễn dịch cộng đồng. Đường xá Sài Gòn ngày nay chẳng khác gì so với thời tôi bước lên máy bay về Sydney vào đầu năm 2020 (tức đại dịch mới khởi phát), tức là cũng kẹt xe và rối bời. Tuy nhiên, nhiều hàng quán tôi hay lui tới thì hoặc là đã bị ‘thay tên đổi họ’, hoặc là biến mất, hoặc là đóng cửa. Đi về Rạch Giá và Cần Thơ, qua lưu lượng xe cộ và dòng người đi lại, cũng thấy tình hình kinh tế bắt đầu bình thường trở lại. Nếu lấy thang điểm từ 0 đến 10, tôi nghĩ mức độ bình thường hóa chắc cỡ 7-8.

Sài Gòn sau đại dịch Covid-19

Đó là một tín hiệu đáng mừng. Nền kinh tế khởi sắc tạo ra cơ hội cho nhiều người, nhưng chủ yếu là dân thành thị mà thôi. Còn ở miệt quê thì dù đã thay da đổi thịt từng ngày nhờ đồng tiền của công nhân, nhưng đa số vẫn ‘bán mặt cho đất, bán lưng cho trời’ và cuộc sống của họ vẫn còn chật vật. Thành ra, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn hiện nay là rất lớn. Rồi dưới áp lức dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường và xuống cấp môi sinh trong vùng ngày càng trầm trọng. Nếu là lãnh đạo có tầm thì khoảng cách nông thôn – thành thị và môi sinh phải là một mối bận tâm lớn, nhưng tôi sợ là giới lãnh đạo Việt Nam quá bận tâm đến chuyện nhiệm kì hơn là chuyện viễn kiến an sinh.

Cảm nhận chung của tôi là miền Tây ngày nay giống giống như nông thôn Thái Lan của hơn 40 năm trước. Bốn mươi năm trước, tôi đặt chân đến Thái Lan và kinh ngạc về sự phát triển nông thôn ở bên đó. Nhà cửa khang trang và đẹp (chứ không giống như nhà nghèo bên Việt Nam mình). Thời đó mà gần như nhà nào cũng có một chiếc xe bán tải chở hàng. Rất nhiều gia đình có con cái họ đi học đại học bằng xem Toyota Corolla! Đường xá (xa lộ) lớn và rất tốt.  Dĩ nhiên, nông thôn miền Tây cũng theo xu hướng đó, nhưng vẫn còn nghèo hơn Thái Lan nhiều. Tôi nhìn Thái Lan 40 năm trước, rồi nghĩ về miền Tây ngày nay và tự hỏi tại sao mình vẫn còn nghèo. Mỗi năm, miền Tây xuất khẩu được khoảng 15 tỉ USD (con số 2017, nhưng nay thì chắc cỡ 18 tỉ USD?) Không rõ số tiền đó đi về đâu, mà miền Tây suốt 45 năm sau ngày thống nhứt không có một con lộ gọi là ‘cao tốc’ và người dân vẫn còn nghèo, để lâu lâu có người lãnh đạo nhỏ một vài giọt nước mắt hay thốt ra vài chữ cảm thương. Tôi thì nghĩ dân miền Tây không cần sự thương cảm mà cần sự công bằng.

200 năm một thiết chế, 40 năm một quãng đời

Tuần qua tôi có một tin mừng trước là cho cá nhân tôi và sau là cho cộng đồng: tôi được bầu làm Fellow của Royal Society of New South Wales [1]. Tôi rất vinh hạnh là người gốc Việt đầu tiên bước chân vào cái thiết chế 200 năm tuổi này. 

Royal Society of New South Wales (RSNSW, www.royalsoc.org.au) là một viện học thuật hay cũng có thể gọi là viện hàn lâm lâu đời nhứt của Úc. Viện được thành lập y chang như phong cách và cơ cấu tổ chức của Royal Society bên Anh. RSNSW được thành lập vào năm 1821 với cái tên lúc đó là ‘Philosophical Society of Australia’, là nơi hội tụ các nhân vật elite trong xã hội bàn ‘chuyện trên mây.’ Cuối năm 1866, Viện được Nữ Hoàng Victoria ‘ban phước lành’ và đổi tên là ‘Royal Society.’ Tính đến nay RSNSW đã 200 năm tuổi.

Khác với các nước XHCN, hàn lâm viện ở các nước phương Tây không phải là một trung tâm nghiên cứu khoa học. Hàn lâm viện ở Úc (hay ở Mĩ, Anh) có thể xem là một tổ chức ‘advocacy’. Rất khó dịch một cách thoát ý chữ advocacy sang tiếng Việt, nhưng nó có thể hiểu là một tổ chức xiển dương khoa học, đóng vai trò tư vấn cho chánh phủ và xã hội nói chung về các vấn đề liên quan đến khoa học. Mà, để tư vấn có hiệu quả thì những thành viên của hàn lâm viện phải là những người có vai vế trong khoa học (nói theo tiếng Anh là ‘accomplished scientists’). Do đó, được bầu vào hàn lâm viện được xem là một phần thưởng hay một ‘honor’.

RSNSW như nói trên là nơi hội tụ của giới elite Úc trong lãnh vực khoa học, y học, nghệ thuật, và nhân văn. Khi tôi tham dự buổi lễ induction (giống như kết nạp đảng) đầu tuần thì thấy toàn là các nhân vật quyền lực trong xã hội mà mình đã nghe qua từ lâu. Đa số đều có huân chương hay giữ những chức vụ quan trọng trong chánh quyền, quân sự, khoa học, các tập đoàn kinh tế, và cộng đồng. Đa số là nam giới và hơi … già. Tôi không nghĩ mình già, nhưng quả thật đa số fellow của RSNSW đều già tuổi hơn tôi.

Hiện nay, RSNSW chỉ có chừng 400 (?) fellow, và nhìn qua danh sách tôi không thấy người gốc Việt nào. Tức là 200 năm từ ngày hàn lâm viện được thành lập và 50 năm từ ngày người Việt định cư ở Úc, tôi là người gốc Việt bước chân vào Viện này. Đó là một vinh hạnh cho cá nhân tôi, và tôi nghĩ cũng là một dấu ấn về sự hội nhập của của cộng đồng người Việt tại Úc.

Người đề cử tôi là một giáo sư của UTS, sau khi nghe tôi nói chuyện trong một seminar. Ông giáo sư này đã là Fellow của RSNSW. Quá trình bình duyệt và bầu kéo dài 6 tháng. Ngày tôi được bầu vào RSNSW, ông Hiệu trưởng UTS có một lá thư chúc mừng đọc rất ấm lòng. Anh Hiệu trưởng UNSW (trước đây là Hiệu trưởng UTS) cũng là một Fellow và cũng viết cho tôi một lá thư chúc mừng. Thật dễ thương!

Như bất cứ ai được bầu vào một hàn lâm viện như thế này, tôi phải nghĩ đến tương lai: mình sẽ đóng góp cái gì. Tôi nghĩ mình sẽ nói nhiều hơn về nghiên cứu y khoa và những khó khăn. Tôi sẽ thay mặt đồng nghiệp để nói về tình trạng các đồng nghiệp nghiên cứu y khoa đang đau khổ với chánh sách của các chánh phủ liên bang. Khi có dịp, tôi nghĩ RSNSW phải lên tiếng trước cuộc xâm lăng của Putin vào Ukraina, và cái này thì tôi rất ư là tâm huyết. Mình có may mắn bước chân vào thiết chế như thế này thì phải nói thay cho các bạn không/chưa có cơ hội.

Năm nay, như một số bạn biết, là tròn 40 năm tôi đã định cư ở đây (và 41 năm xa quê hương). Nói ‘quê hương’ thì có vẻ cảm tính, nhưng trong thực tế tôi đã gọi Úc là quê hương thứ hai 40 năm nay rồi và sẽ vẫn là quê hương của quãng đời còn lại. Bốn mươi năm nghe qua thì có vẻ là một thời gian dài, nhưng nhìn lại những chặng đường mình đã đi qua thì đúng như là một thoáng thời gian mà thôi. Ngày mình đến đây là một thanh niên, và vụt một cái, mình đã bước vào mùa thu của cuộc đời.

Bốn mươi năm qua, người Việt ở đây đã đóng góp cho xã hội Úc rất đáng kể. Hầu như trong lãnh vực nào — từ khoa học, giáo dục đến chánh trị — đều có những dấu ấn của người tị nạn. Tôi muốn nghĩ rằng mình cũng đã cống hiến và góp phần làm rạng danh cho cho quê hương thứ hai này trên trường quốc tế. Cái lợi thế của những người như tôi (có hai quê hương) là cái gì mình đóng góp cho quê hương bên này cũng có thể xem là của quê hương bên kia bởi vì mình vẫn mang họ … Nguyễn. 🙂

Bốn mươi trước, khi đặt chân đến đây mình là một ‘boat people’. Bốn mươi năm sau, kẻ boat people đó được bầu vào Royal Society of NSW. Chỉ là một thoáng thời gian, nhưng là một hành trình tương đối dài để đền ơn đáp nghĩa cho nơi đã cưu mang mình.

____

[1] https://royalsoc.org.au/submit-bulletin-documents/2022-issues/386-461-april/file