Nhân ngày 30/4: Nhớ lại những ngày đầu trên đất Úc

Hôm qua ngồi ‘tán dóc’ trên bàn cà phê cùng với một anh làm PR cho đại học, anh ta nói “Anh là một người phụ bếp nổi tiếng” rồi cười ha hả. Ý anh ấy nói là trong một lần trả lời phỏng vấn, tôi kể lại những ngày đầu ở Úc tôi làm phụ bếp. Chuyện đúng 40 năm trước, nhưng không bao giờ phai nhoà trong kí ức, nên nhân ngày 30/4 tôi lại kể chuyện xưa hầu … ‘mua vui cũng được một vài trống canh.

Ngày 30/4/1975, một ngày lịch sử, ngày mà có triệu người vui và triệu người buồn. Tôi nằm trong nhóm triệu người buồn [1].

Cabramatta Hostel

Tôi tới Phi trường Sydney đúng vào ngày Quốc Khánh 26/1/1982. Đó là một buổi sáng nóng bức lắm. Nhóm tị nạn chúng tôi chỉ chừng 20 người (nếu tôi nhớ không lầm) xuống máy bay sau cùng, và được nhân viên di trú của Liên Hiệp Quốc và Úc quản lí chặt chẽ. “Chặt chẽ” hiểu theo nghĩa không được đi đâu linh tinh, mà phải tập trung đúng vào nơi được chỉ định. (Thật ra, có cho đi thì cũng chẳng biết đi đâu). Chúng tôi đứng xếp hàng tề chỉnh, chờ hướng dẫn của các nhà chức trách.

Nhìn lại thì đúng là một nhóm người … ô hợp. Người thì quần áo chỉnh chu mượt mà (chắc là có viện trợ của thân nhân khi còn ở trại tị nạn), nhưng đa số thì quần áo tạm bợ, lếch thếch, chẳng giống ai. Ai cũng đen đúa và còn đọng bùn phèn vì thời gian ở trong trại tị nạn khá lâu. Tóc tai thì chẳng ra sao cả, nhìn rất ư là thảm hại. Hành lí thì hầu hết chẳng có gì. Riêng tôi thì chỉ có một cái cặp màu xanh của UNHCR cấp, mà trong đó chỉ có 3 bộ đồ, kể cả một cái áo ấm do một người Thái cho làm kỉ niệm khi tôi còn ở cái làng chài Budi. Không một đồng xu dính túi. Tôi nghĩ lúc đó, các hành khách Tây nhìn chúng tôi chắc là thương hại lắm.

Chờ một chút thì cũng đến lúc … lên đường. Lần này, chúng tôi được ‘lùa’ lên một chiếc xe bus lớn. Xe chạy bon bon (thời đó còn ít xe chứ không như bây giờ xe quá nhiều) qua những con đường mà sau này tôi mới biết là Henry Lawson Drive và Hume Highway về hướng Cabramatta. Ấn tượng của tôi về nước Úc lúc đó là … nghèo nàn. Xe chạy trên con đường hai bên là cây cối um tùm, nhưng thỉnh thoảng cũng có nhà dân. Nhà dân thì đa số làm bằng chất liệu fibro nhưng cũng có nhà gạch. Nhà nào cũng có một cái sân phía trước và cỏ được chăm sóc rất tốt. Hoàn toàn không có một building nào cả.

Đi qua những con đường như vậy làm tôi tự hỏi “Họ đưa mình đi đâu đây?” Lúc đó, trong trí tưởng tượng của tôi, thành phố Úc chắc như Los Angeles, New York, Chicago mà tôi hay thấy trong phim Mĩ. Mà nếu không cỡ đó thì thành phố Úc phải như Bangkok ‘phồn hoa đô hội’ hay ít ra là phải hơn Sài Gòn chứ. Nhưng hoàn toàn chẳng thấy ‘phồn hoa đô hội’ gì cả, chẳng thấy một cái building, còn đường xá thì vắng bóng người, chỉ thấy vài chiếc xe qua lại. Tôi nghĩ chắc là họ cho mình về vùng quê rồi. Thôi, vậy cũng được. Mình thân phận tị nạn, có nơi tá túc là may lắm rồi, còn đòi hỏi gì nữa chứ. Tôi thầm nghĩ vậy, và tôi nghĩ đa số các bạn khác cũng nghĩ vậy.

Xe chạy một hồi (hơn 30 phút) thì tới một khu mà sau này tôi mới biết là Cabramatta. Khu này có nhiều dãy nhà gạch màu nâu đen mà sau này tôi mới biết đó là Cabramatta Hostel (không phải “hotel”, mà là “hostel”) được xây dựng chỉ nhằm phục vụ cho người tị nạn và di dân. Người di dân từ nhiều nơi, bao gồm các nước như Nam Tư, Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô cũ, Hồng Kông, Macao, v.v. Còn nhóm tị nạn thì chỉ có Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Chúng tôi được sắp xếp ở từng phòng, mỗi gia đình 1 phòng; nếu độc thân thì share phòng với người khác. Phòng ốc rất chỉnh chu và rất sạch sẽ, y như khách sạn 3 sao. Nội qui của hostel là không được nấu nướng trong phòng, nhưng hình như được hút thuốc (thời đó chưa có cấm hút thuốc).

Đó là nơi tôi định cư đầu tiên ở Úc: Cabramatta Hostel. Hostel này cách thị trấn Cabramatta chỉ chừng 15 phút đi bộ. Thời đó, Cabramatta là một ngoại ô bán nông thôn, bán thành thị. Nói theo tiếng Anh là “Sleepy suburb” – ngoại ô ngủ. Mà, ngủ thật, vì trung tâm ngoại ô chỉ là một con đường chánh (đường John Street) với vài quán lèo tèo. Các con đường chung quanh thì chỉ là nhà dân. Ga xe lửa làm bằng gỗ (chứ không hoành tráng như ngày nay) và lâu lâu (vài chục phút) mới có một chuyến xe. Rất ít người ở ngoài phố, nên gọi là ‘thị trấn’ cho oai, chứ thật ra chẳng mấy ai đi chợ do rất ít shop. Tuy nhiên, Cabramatta có một cái “Pub”, là nơi bán bia rượu — không thể thiếu được ở bất cứ ngoại ô nào bên Úc.  

Đa số người tị nạn sau khi tìm được việc làm họ rời Hostel và mướn nhà ở Cabramatta. Đó chính là lí do tại sao Cabramatta sau này trở thành “thủ đô” của người Việt tị nạn ở Úc. Không chỉ người Việt, mà người Cam Bốt và Lào cũng theo người Việt định cư ở đây. Năm đó (1982), tôi nhớ chỉ có 2 tiệm chạp phô bán thực phẩm Á châu, chủ yếu là hàng nhập từ Thái Lan. Do đó, khi chúng tôi thèm món ăn Á châu thì phải tới hai tiệm này để mua mì, nước nắm, gạo, v.v. về nấu nướng (dĩ nhiên là sai qui định của Hostel). Đàn ông, thanh niên thèm bia thì ra Pub mua bia về nhậu. Một thùng bia Toohey (nổi tiếng thời đó) hình như chỉ có 5 đôla thôi (ngày nay là 50 đôla). Vậy mà chỉ 15 năm sau người Việt tị nạn ở đây đã biến một “sleepy Cabramatta” thành một trong những khu đô thị sầm uất nhứt Sydney, đẩy giá mướn shop lên gần ngang hàng với trung tâm thành phố Sydney!

Cuộc đời gắn liền với “St Vinnie”

Chỉ sau 1 ngày là chúng tôi đã làm xong thủ tục thường trú tại Úc. Tôi nhìn lại tờ giấy di trú thì thấy ở mục “Công dân” họ để trống, tức là lúc đó tôi là một người vô quốc tịch. Sau khi làm thủ tục, họ nói phải chờ một thời gian thì Sở An Sinh Xã Hội mới cấp tài trợ tạm thời. Trong khi không có tiền mua sắm thì họ nhờ một nhóm từ thiện có tên là St Vincent de Paul giúp đỡ.

Ngày hôm sau tôi được dẫn tới cửa hàng St Vincent de Paul, cũng gần Cabramatta Hostel. Hội từ thiện St Vincent de Paul được sự đóng góp tiền bạc của các nhà hảo tâm, và họ còn được dân chúng cho quần áo và đồ gia dụng. Hội chọn ra những bộ quần áo và những món hàng còn tốt để cho người nghèo khó. Những người tị nạn như tôi lúc đó được xem là “người nghèo khó” nên được các hội từ thiện như St Vincent de Paul ‘chiếu cố’. Tôi được cấp 30 đôla (nếu tôi nhớ không lầm), một số tiền không hề nhỏ lúc đó. Số tiền này được dùng để mua quần áo và giầy dép. Dĩ nhiên, chỉ là đồ ‘second hand’ (tức đã qua sử dụng) thôi. Nói là ‘second hand’ nhưng cái áo chemise và cái quần tôi mua được rất tốt, chẳng khác gì đồ mới. Còn đôi giày thì trời ơi quá xịn luôn! Tôi giữ những đồ vật này suốt mấy chục năm sau như là kỉ niệm những ngày đầu tới Úc.

Nghĩ cũng hay: đời tôi gắn liền với họ St Vincent. Tôi được nhà từ thiện St Vincent de Paul cưu mang trong những ngày đầu đến Úc. Sau đó, tôi gắn bó suốt 30 năm liền với Bệnh viện St Vincent’s. Tôi như có duyên với St Vincent hay sao ấy, và tôi rất tự hào mình là một thành viên của “St Vinnie” (đó là cái tên thân thiện mà các ‘thần dân’ của St Vincent’s đặt cho).

Bệnh viện St Vincent’s, nơi tôi gắn bó hơn 30 năm trời trong nhiều vai trò, trước khi chuyển sang đại học UTS (ảnh Wikipedia)

Học tiếng Anh: “DymockOxford

Sau khi được trợ cấp, việc đầu tiên tôi nghĩ đến là mua một cuốn từ điển tiếng Anh. Hồi thời còn ở trại tị nạn, tôi học tiếng Anh từ cuốn từ điển Longman và Oxford rất hiệu quả, do đó khi qua đây tôi phải tìm mua cho được cuốn từ điển Oxford. Nhưng ở Sydney, chỉ có mấy nhà sách lớn ngoài Sydney mới có bán, chứ vùng bán thành thị như Cabramatta thì không có tiệm sách. Tôi đón chuyến xe lửa (thật ra là xe điện) từ Cabramatta đi Sydney (tức trung tâm thành phố). Sau khoảng 1 giờ, tôi cũng đến ga Town Hall.

Xe lửa thời đó là loại Red Rattler mà thế hệ ngày nay không hay ít ai biết đến. Nó chỉ có 1 tầng, không có máy lạnh, và ghế thì không tiện nghi như ngày nay. Xe chạy rất ồn ào. Nếu trời nóng thì mở cửa sổ gió vào vù vù. Từ Cabramatta đi Sydney, xe lửa ngừng đón khách ở mỗi ga, và có chừng 30 ga như thế. Do đó, thời gian từ Cabramatta đi Sydney phải mất cả 60 phút!

Xe lửa “Red Rattler” thời thập niên 1980 và 1990 ở Sydney. Tôi đã đi làm trên những chiếc xe như thế này suốt 20 năm trời.

Bước lên đường George ở trung tâm Sydney, tôi như người nhà quê ra tỉnh (mà đúng như vậy). Nhìn chung quanh building nào cũng cao vút, cứ nhìn sự hoành tráng của các tòa nhà này chắc chẳng khác gì mấy người bộ đội miền Bắc mới vào Sài Gòn nhìn building mà rớt nón cối. “Ấn tượng” nhất là cái tòa nhà Victoria được xây theo kiểu sandstone, trông rất có duyên và đúng với nghĩa hoành tráng. Người ta thì đi lại tấp nập, hình như ai cũng bận rộn. Điểm đến của tôi là nhà sách Dymock mà bà giáo nói có bán sách. Bà còn dặn là lên khỏi ga Town Hall là sẽ thấy. Nhưng giữa cái nơi ‘phồn hoa đô thị’ này, nhà sách Dymock nó nằm ở đâu.

Tôi hỏi hết người này đến người kia để biết nhà sách Dymock ở đâu. Ai cũng tử tế dừng lại nghe tôi hỏi, nhưng khổ nỗi tôi đọc chữ Dymock sai nên họ không giúp được gì. Khi một ông tương đối già dừng lại, tôi nói rằng tôi tìm nhà sách Dymock. Tôi đọc là “Đai-Mốc”. Ông già chăm chú lắng nghe và cố tìm trong kí ức nhà sách này ở đâu, nhưng ông chịu thua. Ông hỏi tôi đánh vần tên nhà sách, và tôi sẵn sàng làm ngay. Khi tôi đánh vần xong thì ông vỗ trán kêu lên: “Ah, Đi-Mịk”! Tôi ngỡ ngàng và tự hỏi sao tiếng Anh gì mà phức tạp thế. Rồi, ông ấy chỉ đường cho tôi đến nhà sách, cách đó chẳng bao xa.

Đến nhà sách lại học thêm một bài học phát âm tiếng Anh. Nhà sách Dymock rất lớn, có đến ba tầng, sách nhiều ơi là nhiều. Trong cái thế giới đó thì khó tìm cuốn từ điển, nên tôi phải hỏi người bán sách. Tôi tự tin nói “tôi muốn mua cuốn từ điển Oxford”. Tôi đinh ninh rằng chiếc xe Ford mình đọc là “Fo.d”, vậy thì Oxford đọc là “Ox-Fo.d”. Ở Việt Nam ai cũng đọc như vậy mà. Anh chàng bán sách gãi đầu không biết tôi tìm từ điển gì. Anh ta lại kêu tôi viết xuống tờ giấy trắng, và khi tôi viết xong thì anh ta kêu lên “Ah, Ox-fớd”! Cuốn từ điển đó theo tôi cũng năm tháng, và đến nay đã 37 năm tôi vẫn còn giữ nó trên kệ sách như là một kỉ niệm về học tiếng Anh, dù ngày nay tôi ít khi nào đụng đến nó.

Đến đây thì tôi nghĩ không thể chủ quan trong cách phát âm tiếng Anh được. Không phải như tiếng Pháp, viết sao thì đọc giống vậy, còn tiếng Anh thì nhìn thấy như vậy mà đọc thì không phải vậy. Sau này tôi còn phát hiện rất nhiều chữ mà nếu không có cọ sát với xã hội ở đây thì rất khó phát âm đúng. Những chữ tiêu biểu đó là allowance, kibosh, celtic, candidate, niche, và những cái tên như Beauchamp, Worcester, Chloe, Bohun, Murray, McMahon, v.v.

Làm phụ bếp

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Có lúc đi theo nhóm, có lúc đi một mình. Dạo đó, hễ có việc gì là lao vào làm, chứ không có lựa chọn. Người khá tiếng Anh thì xin đi làm lựa thư trong bưu điện, người kém tiếng Anh thì xin việc làm ở mấy hãng xưởng (thời đó Úc còn nhiều hãng lắm). Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Ở xứ này, không có kinh nghiệm thì người ta không muốn nhận mình vào làm, có lẽ vì ngại mất thì giờ và tiền bạc để huấn luyện.

Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn co1 tên “Belmore Hotel” với kiến trúc hơi lạ làm mình dễ nhớ. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent’s đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent’s toạ lạc, để xin việc.

Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp có tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây, kì này tôi làm gan nói là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. “Làm ở đâu?” Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là xắt củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là rửa chén, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 10 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi niu xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả.

Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và xắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi. Vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là ngày đầu tiên khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất lớn, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi: “Tao phải lột hết hai bao này à?” Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói: “Dĩ nhiên, đó là công việc của mày mà!” Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn tôi vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Mày có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã khai từng làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Georgina Ramsey và thú nhận là tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm nhà bếp. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc vì cái tội tày trời đó, nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai chỉ mới đến Úc có 2 tháng!), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc. Bà ta còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. cũng có cùng số phận như tôi. Tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên!

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 300 giường. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xào nấu sơ qua và giao cho bếp chính chế biến tiếp. Có khi tôi còn được bếp chính giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn!

Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì quan trọng. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Trước khi thức ăn đem cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Tôi còn nhớ họ có cái thước cứ cắm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Thử nghề ở “The Regent”

Lúc đó, khách sạn Regent mới mở ở Circular Quay, và họ cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê. Gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v. Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác.

Khi vào nhà bếp tôi gặp vài người quen từ trại tị nạn bên Thái Lan. Trong đó có thằng em tên Trạng, nó chỉ được nhận làm trong khâu rửa chén. Nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục bếp chính (thực là bếp phụ thôi) và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chứ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén to đùng. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi hai job và lại làm việc ca đêm mà còn đi học.

(Xin mở ngoặc thêm, khách sạn The Regent (nay là Sangri-La), nơi dành cho các khách VIP từ nước ngoài. Hôm đi ăn với anh bạn Nicholas Nguyên ở Sydney Harbour, tôi cũng chỉ qua khách sạn và nhắc kỉ niệm xưa với anh ấy).

Mua xe hơi

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đô-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người “Mr Đu” cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (nhà bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng.

Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977 (tức mới 5 năm tuổi), giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nỗi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Đây là cái xe tôi mua đầu tiên ở Úc. Đó là chiếc Toyota Corona (sau này thay thế bằng Camry). Năm 1982 tôi mua nó với cái giá 7000 đôla, lúc đó nó đã 5 tuổi. Máy Nhật 18-RC huyền thoại, rất êm và rất bền. Tôi sử dụng nó cả 20 năm trời sau đó và vẫn chạy ‘ngon lành’.

Ra toà

Có xe đi lại rất tiện vì không còn lệ thuộc vào xe lửa công cộng nữa. Lúc đó tôi đã đi học, nên lái xe đi làm, xong việc làm thì lái xe đến trường cách St Vicent’s chừng 30 km. Thời đó, đường phố Sydney ít xe, chứ không phải nhiều và kẹt xe thường xuyên như bây giờ, nên lái xe rất thoải mái.

Vậy mà tai nạn vẫn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s, đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện gần đó là Prince Alfred Hospital. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặc đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe.

Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tánh xong, ông hỏi tôi có luật sư không, tôi nói không. Ông hỏi: “Mày có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Thời đó, bằng lái xe cũng chỉ là tạm thôi (loại màu đỏ).

Đến phiên tôi trả lời. Tòa quay sang hỏi tôi có đồng ý với bản luận tôi không. Trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would be injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.”

Quan tòa và cảnh sát lại nói gì đó mà tôi không hiểu. Ông tòa quay sang lại hỏi tôi. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì đâu còn câu nào khác. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười và nói “Thằng này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”!

Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi không có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thời đó, bằng màu đỏ mà vi phạm giao thông là mất luôn, sau này phải thi lại. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe. Suốt 40 năm qua tôi chưa bao giờ dính dáng vào tai nạn xe.

Nhớ nhà

Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam. “Một lần đi là một lần vĩnh biệt / một lần đi là mãi mãi chia phôi.” Do đó, ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Mấy năm sau có vài lần đi công tác bên Singapore và Âu châu và tạt ngang qua Thái Lan, tôi cứ nhìn về quê nhà đau đáu. Có lần quá cảnh ở Khách sạn “The Montien” ở Bangkok, đứng trên tầng 20 nhìn về Việt Nam và biết chỉ có 1 giờ bay thôi, nhưng chưa thể về được, và buồn vô hạn.

Trong cái bối cảnh đó, có người sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: “Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi.” Nhạc sĩ Việt Dzũng (đã qua đời) thì có bài “Một chút quà cho quê hương”, còn Đức Huy với bài “Khóc một dòng sông” (Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều / nhất là những buổi chiều mưa rơi / Cũng may Cali trời mưa ít không như Sài Gòn / Nếu không tôi đã khóc một dòng sông …) mà mỗi lần Ngọc Lan trình bày là nhiều người khóc một cách tự nhiên. Có một ca khúc của Nguyệt Ánh (không nhớ tựa đề) nhưng lời ca thì tôi còn nhớ đến nay, trong đó có đoạn:

Ôi me yêu ơi,

con lang thang giữa phố đông người

Tuy phố đông người,

nhưng con lạc loài một bóng đơn côi.

Ngay cả cái nóng bên này cũng làm mình nhớ nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!

Một mình anh lê bước trên đời,

Nắng nơi đây cũng là nắng ấm,

Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương.

Ca khúc Nắng quê hương của Nguyệt Ánh qua tiếng hát của Ngọc Lan

Phải nói, thời đó có những sáng tác về nỗi nhớ Sài Gòn và Việt Nam rất hay vì tác giả viết ra từ cảm xúc rất thật của họ. Phải chi bây giờ có ai đó [dám] làm một luận án về văn học và âm nhạc thời tị nạn đó thì hay biết mấy, vì đó là một giai đoạn rất đáng ghi vào sử sách Việt Nam.

Ca khúc Mưa Sài Gòn còn buồn không anh, một sáng tác của Nguyệt Ánh qua tiếng hát Lâm Nhật Tiến (trung tâm Asia).

Bây giờ thì người tị nạn đã có thể về quê tương đối bình thường, nên những lời nhạc trên hơi lỗi thời, và ít người còn ca những bài đó nữa. Tuy nhiên, với tôi những lời nhạc trên dù đã được viết ra hơn 30-40 năm về trước nhưng cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp 30/4.

Ca khúc Một chút quà cho quê hương, một sáng tác nổi tiếng của Viêt Dũng qua tiếng hát Khánh Ly (trung tâm Asia).

Người tị nạn (refugee) khác với người di cư (immigrant). Người tị nạn là người tuyệt vọng, vô quốc tịch, không có tài sản, và họ bị “bứng” khỏi quê hương qua một biến động lịch sử. Người di cư có quốc tịch, họ có tài sản, và họ ra đi một cách tự nguyện. Người tị nạn do đó thường mang trong mình những chấn thương tinh thần. Người tị nạn lúc nào cũng bị ám ảnh bởi căn cước tính của mình. Do đó, mỗi năm cứ đến ngày 30/4 là có dịp đọc những câu chuyện của đồng hương khắp nơi trên thế giới. Chuyện tù cải tạo, chuyện vượt biên, chuyện tị nạn, v.v. Nếu tất cả những câu chuyện này mà tập hợp lại thì sẽ thành một cuốn sách hay.

Người tị nạn sống giữa hai thế giới. Một bên là quê hương, nơi chôn nhao cắt rốn; một bên là quê hương tạm dung. Người tị nạn thường bị giằng xé tâm tư, một bên là kí ức của quê hương đầy biến động và đau khổ, một bên là đất nước tạm dung giàu có nhưng chưa chắc là thoải mái. Thành ra, người tị nạn đã xa rời quê hương, nhưng trong tâm tưởng họ chưa bao giờ rời quê hương. Họ ở đây, nơi tạm dung, mà không phải ở đây. Họ thành đạt về kinh tế, họ có thể có địa vị trong xã hội nơi tạm dung, nhưng cái tâm thế của họ thì vẫn còn chông chênh.

_____

[1] Nhiều khi tôi tự hỏi: nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam sẽ ra sao. Khó đoán ngược lịch sử ở bình diện lớn, nhưng có thể nói rằng chế độ mới đã kéo lùi sự tiến bộ của miền Nam Việt Nam cả nửa thế kỉ.

Phải đi vòng quanh các nước như Singapore, Thái Lan, và Mã Lai mới thấy Việt Nam mình nghèo và lạc hậu ra sao. Ngay cả hôm nay, Việt Nam tuy có khá hơn chút, nhưng nhìn kĩ thì không khá chút nào đâu vì kinh tế lệ thuộc vào vài ba tập đoàn nước ngoài, và chúng ta đa số chỉ là những kẻ gia công lương thấp mà thôi.

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975. Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị. Ông tự nhận là người “có cảm tình với ‘cách mạng'”. Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi kí. Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi kí viết về những gì xảy ra sau 1975.

Trong cuốn hồi kí ông ghi lại những thất bại sau 1975. Đó là sự mất đoàn kết, phân chia giai cấp, thiếu kỉ luật, suy sụp kinh tế. Ông viết về một xã hội sa đoạ, với tham nhũng tràn lan, ăn cắp, và buôn lậu, và kì thị Bắc – Nam. Ông tóm tắt về một thời mà có lẽ ngày nay ít ai quan tâm hay biết đến:

• Sự ngạo mạn của những người ‘thắng cuộc’: những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả. “Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ”. Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài, còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

• Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét. Ông viết “Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến.”

• Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết: “Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn ‘nằm vùng’ cũng không ưa bọn tập kết về đó.”

• Khinh miệt: ông so sánh: “[…] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc […] cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s