‘Phương Án II’ và Tang thương Cát Lái

Thời nay, ít ai biết rằng cảng Cát Lái vào thập niên 1970s từng là nơi chứng kiến hơn 200 người chết vì đã tìm đường vượt biên theo tổ chức của Nhà nước. Tôi không chắc là ngài Thủ tướng có biết chuyện tang thương này.

Dạo đó (1978), Nhà nước lên một kế hoạch đưa người Hoa vượt biên theo cách thức có tên là “Phương Án II”. Theo đó, Nhà nước thu vàng và tiền của dân để đóng tàu cho họ vượt biên, với lời hứa là công an sẽ không ngăn cản hay bắn chết khi họ còn trong vùng biển Việt Nam. Sự ra đời của Phương Án II (PA2) này được ghi lại trên giấy trắng mực đen của Ban 69:

Cay cú trước thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp cách mạng giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc của nhân dân ta, bọn bành trướng Bắc Kinh sử dụng bọn Pôn-pốt đánh phá ta từ phía Tây nam, đồng thời âm mưu dùng đội quân thứ năm để gây bạo loạn lật đổ từ bên trong phối hợp với hành động chiến tranh từ bên ngoài, gây ra vụ ‘nạn kiều’ tạo nguyên cớ cho cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc. Phối hợp với các thế lực đế quốc, phản động quốc tế, chúng mở chiến dịch tuyên truyền nói xấu ta; vừa kích động người Hoa chạy về Trung Quốc với cái chúng gọi là ‘nạn kiều’. Để phá tan một nguy cơ có thể gây ra tình hình phức tạp về chính trị, Trung ương chủ trương giải quyết đối với người Hoa với ba phương án: cho họ ra nước ngoài theo con đường Liên Hợp Quốc HCR (gọi tắt là PA1); cho họ ra nước ngoài làm ăn (gọi tắt là PA2); cho họ đi các địa phương sản xuất theo khả năng của họ (gọi tắt là PA3). Nhưng họ chọn con đường đi làm ăn ở nước ngoài, Trung ương giao cho Bộ Nội vụ trực tiếp tổ chức thực hiện PA2 này”.

Chỉ non 1 năm (từ 8/1978 đến 6/1979) có 15 tỉnh thành tổ chức vượt biên theo PA2. Số người ra đi là khoảng 134000 người, và Nhà nước thu được 16181 kg vàng cùng 164505 USD, 538 xe hơi, 4154 căn nhà hay gian nhà. (Tuy nhiên, địa phương báo cáo chỉ có 60,000 người đi, và Nhà nước đã thu về 5612 kg vàng cùng 57000 USD, 235 xe hơi, 1749 nhà và gian nhà). Báo cáo láo đã có từ thời đó.

Một trong những sự kiện bi thảm nhứt trong những chuyến tàu vượt biên bán chánh thức này là vụ Cát Lái. Giữa tháng 7/1979, dưới sự canh gác của công an, một nhóm người chờ lên tàu vượt biên. Chiếc tàu vượt biên mới đóng có 3 tầng, dài 30 m và rộng chỉ 10 m. Những người mua vé tầng dưới thì do diện tích quá nhỏ, nên cảm thấy ngột ngạt, và họ phải trèo lên tầng trên. Số người ở tầng trên quá nhiều làm cho con thuyền bị mất cân bằng, chao đảo, dẫn đến hỗn loạn trên thuyền, và sau cùng là chìm. Đa số những người đi trên tàu là người Hoa làm nghề buôn bán, nên họ không biết bơi lội. Thật ra, dù biết bơi lội thì họ vẫn khó sống sót, nhứt là khi ở trong 2 tầng dưới của tàu.

Phải đến 3 ngày sau, nhà chức trách mới kéo con tàu lên. Nhà chức trách đếm được 227 người chết, chỉ có chừng 40 người sống sót. Một viên sĩ quan cứu hộ kể về những trường hợp mẹ con cùng chết:

“Chúng tôi vét sạch hòm ở các quận. Khâm liệm xong vẫn còn dư mấy cái vì có bốn trường hợp phải chôn đôi bởi các bà mẹ trước khi chết ôm chặt lấy con mà chúng tôi thì không nỡ tháo khớp tay họ ra để chia lìa tình mẫu tử”.

Nhưng Cát Lái không hẳn là sự kiện duy nhứt, vì trong thực tế có vài sự kiện Cát Lái khác ở các tỉnh Bến Tre (1 tàu chìm, 54 người chết); Long An (1 tàu chìm, 38 người chết); Nghĩa Bình (1 tàu chìm, 78 người chết); và bi thảm nhứt là Tiền Giang (3 tàu chìm, 504 người chết). Tính chung, Phương Án II đã trực tiếp hay gián tiếp gây cho 902 cái chết.

Chuyện buồn quá khứ, chỉ nhắc lại để biết và hiểu một chút về câu nói sự thành công của người Việt [còn sống sót] ở Mĩ là “thành công của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước”. 

____

PS: Những con số trong cái note này trích từ cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” (chương “Nạn Kiều”) của Huy Đức.

Thành công của người Việt ở Mĩ có liên quan đến chánh sách của Việt Nam?

Nếu là ông PMC, tôi sẽ không nói câu này: “Thành công của người Việt tại Mỹ cũng là thành công của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước“. Tôi cố gắng tìm trong nhóm bạn bè và bà con ở Mĩ, ai thành công nhờ vào chánh sách của VN, nhưng kết quả là zero.

Hãy lấy trường hợp anh bạn tôi là một trường hợp tiêu biểu. Năm 1982, sau khi được trả tự do từ tù ‘cải tạo’ anh vượt biên sang Mã Lai, và chừng 1 năm sau thì đến Mĩ định cư. Sang Mĩ, thời gian đầu, cũng như các đồng hương khác, anh làm trong các hãng xưởng một thời gian. Sau đó chừng 2 năm, anh bảo lãnh vợ con từ Việt Nam sang Mĩ và cả gia đình đoàn tụ. Sau đoàn tụ, anh quay lại đại học và xong chương trình cử nhân khoa học máy tính. Phải 20 năm sau gia đình anh mới thật sự ổn định và thoải mái, khi 2 đứa con đã tốt nghiệp từ trường y UCSF và một đứa tốt nghiệp cũng về khoa học máy tính như anh. Bây giờ thì anh đã nghỉ hưu, có cuộc sống tương đối sung túc, nhưng anh chưa bao giờ về Việt Nam và đến cho cuối đời chắc anh sẽ không về lại quê hương.

Đối với anh và con cái, Mĩ là đại ân nhân, là quê hương. Sự thành công của gia đình anh bạn tôi chẳng có liên quan gì với mấy chánh sách bên Việt Nam. Sự thành công của anh là do môi trường tự do và bình đẳng ở Mĩ, do thể chế không kì thị ở Mĩ — không có dính dáng gì với Việt Nam.

Một chút về sự hình thành cộng đồng người Việt ở Mĩ

Hiện nay, cộng đồng người Việt ở Mĩ có chừng 2.2 triệu người. Con số này tăng gần gấp 2 lần so với năm 2000 khi đó chỉ có 1.2 triệu người. Đa số họ đến đây vào thập niên 1970-1990 (ước tính tầm 800,000 người) với tư cách người tị nạn hoặc HO. Những người trong làn sóng đầu tiên này bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang, nên con số người Việt ở Mĩ tăng khá nhanh sau đó. Đa số họ đi từ miền Nam. Trong mấy năm gần đây, người từ miền Bắc cũng tìm đường sang Mĩ và ở lại.

Trong làn sóng di cư đầu, ngoài những chuyên gia và quan chức VNCH và cựu quân nhân, nhiều người Việt xuất thân từ nông dân và trình độ học vấn hạn chế. Thế nhưng người Việt có gen ‘resilience’ nên họ đã nhanh chóng ổn định cuộc sống và đóng góp cho xã hội Mĩ. Anh bạn của tôi là một trường hợp tiêu biểu về quá trình định cư của người Việt ở Mĩ.

Cộng đồng người Việt ở Mĩ còn non trẻ so với các cộng đồng Á châu khác (như Phi Luật Tân, Tàu, Ấn Độ). Do đó, so với các cộng đồng này, cộng đồng người Việt chưa phải là ‘sáng giá’ lắm đâu. Về trình độ học vấn, 32% người Việt ở Mĩ tốt nghiệp đại học (con số này cho thế hệ sanh ở Mĩ là 55%). Con số 32% đó tương đương với toàn dân số Mĩ, nhưng thấp hơn các cộng đồng Á châu khác (54%). Những con số này phải đặt trong bối cảnh những người tị nạn thế hệ đầu đến Mĩ là những người thuộc thành phần khó khăn.

Nói đến quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Mĩ mà không đề cập đến Little Sàigon là một sai sót. Ngày xưa, theo như bà con tôi kể lại, khu vực mà nay gọi là Little Saigon chỉ là một vùng bán nông thôn, bán thành thị, nhưng từ ngày có người Việt về đây thì vùng này đã biến thành một khu đô thị sầm uất, mang đậm bản sắc Việt. Đến Little Saigon là đến một Sài Gòn thu nhỏ.

Để được địa danh ‘Little Saigon’ cũng là một quá trình vận động và cạnh tranh giữa người Việt và người Tàu. Người Tàu khi đó vận động đặt tên “China Town” hay “Asian Town” cho khu vực nay là Phước Lộc Thọ. Còn người Việt thì trong  “Ủy Ban Thương Mại Việt Nam” thì đề nghị lấy tên “Little Saigon”. Tháng 6/1988, Thống Đốc tiểu bang California cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon Next Exit” dựng ở các xa lộ 405 và 22 dẫn vào các đường Brookhurst, Magnolia. Người có công đầu trong việc đặt tên Little Saigon là kí giả Du Miên, và người ủng hộ nhiệt tình nhứt là Dân biểu Richard Longshore (đã qua đời năm 1988).Kể sơ qua về sự hình thành của cộng đồng người Việt ở Mĩ như thế để cho thấy rằng quá trình phát triển đó không có dính dáng gì với chánh phủ Việt Nam.

Cộng đồng người Việt ở Mĩ là ai?

Theo BBC thì ông PMC nói trong ‘cuộc gặp mặt một số người Việt tại Mỹ ở thủ đô Washington DC ngày 14/5’ năm 2022. Nhiều bạn đọc trong nước có lẽ nghĩ rằng khi các quan chức cao cấp VN khi sang thăm những nước phương Tây như Mĩ thì họ sẽ gặp ‘cộng đồng người Việt’ ở địa phương. Nhưng không phải đâu.

Các vị ấy chỉ gặp những người có liên quan với nhà cầm quyền mà thôi. Đó là những du học sinh được tuyển chọn, những người làm ăn ở trong nước, những người từ miền Bắc qua Mĩ định cư trong mấy năm gần đây, hay nói chung là chỉ gặp ‘phe ta’. Điều này cũng dễ hiểu, vì phe ta nói cùng ngôn ngữ, cùng hành vi, suy nghĩ cùng nhịp điệu, và quen biết nhau cả. Nhưng những người này không đại diện cho tuyệt đại đa số người Việt ở Mĩ và chắc chắn không đại diện cho người tị nạn ở Mĩ.

Các quan chức Việt Nam khó mà gặp và trò chuyện với những người đã và đang xây dựng cộng đồng người Việt tị nạn ở Mĩ. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Những người trong cộng đồng và các quan chức Việt Nam không có cùng suy nghĩ về Việt Nam, không cùng ‘ngôn ngữ’, không chia sẻ lịch sử cận đại, nên rất khó có điểm chung (commonality). Còn những cách nói sáo ngữ như ‘Khúc ruột ngàn dặm’ thì thú thiệt là hoàn toàn vô nghĩa.

Tuy không có cùng điểm chung như thế, nhưng người Việt ở Mĩ đóng góp khá nhiều cho lượng kiều hối về Việt Nam. Theo báo TT thì năm 2021, số kiều hối về Việt Nam là 18 tỉ USD. Trong số này, kiều hối từ Mĩ là khoảng 11 tỉ USD, chiếm 61% tổng số. Đó là một khoản viện trợ không hoàn lại rất lớn cho Việt Nam. Đó là những đồng tiền từ mồ hôi, nước mắt, và máu của người Việt ở Mĩ, và chắc chắn không có sự đóng góp của Chánh phủ Việt Nam.

Tôi ước gì có một ngày một quan chức cao cấp như ông PMC đến Little Saigon thẳng thắn và chân tình chia sẻ những khác biệt về quan điểm với đồng hương và lắng nghe ‘music’ của đồng hương như ông Nguyễn Văn Thiệu đã từng làm trước đây. Nếu ngày đó chưa đến thì khoảng cách giữa cộng đồng người Việt tị nạn ở nước ngoài và Chánh phủ trong nước vẫn còn xa diệu vợi. Chỉ khi nào có một buổi gặp gỡ như thế thì người Việt chúng ta mới là một khối đoàn kết và mới có hoà giải dân tộc.

______

PS: Nói về chánh sách của ‘Đảng và Nhà nước’ liên quan đến người vượt biên không thể nào không nhắc đến cái gọi là “Phương Án II”, một chủ trương của BCT nhằm tổ chức vượt biên bán chánh thức cho người Hoa ở miền Nam. Đã có ít nhứt 902 người chết trên sông hay biểu vì cái Phương Án II này, và vụ tang thương nhứt là Cát Lái, nơi chứng kiến 227 người vượt biên bị chết.

Chỉ non 1 năm (từ 8/1978 đến 6/1979), số người ra đi theo Phương Án II là khoảng 134000 người, và Nhà nước thu được 16181 kg vàng cùng 164505 USD, 538 xe hơi, 4154 căn nhà hay gian nhà. (Tuy nhiên, địa phương báo cáo chỉ có 60,000 người đi, và Nhà nước đã thu về 5612 kg vàng cùng 57000 USD, 235 xe hơi, 1749 nhà và gian nhà).

Kể chuyện đi nhận Huân chương Australia

Hôm nay (13/5) là một ngày đáng nhớ trong đời: tôi đi dự lễ investiture (thụ phong) ở Phủ Toàn Quyền [1] để nhận Huân chương Australia. Buổi lễ diễn ra khá đơn giản nhưng trang trọng, và để lại nhiều cảm xúc trong tôi. Tôi đóng vai phóng viên báo chí mô tả buổi lễ để các bạn biết một chút về nước Úc.

Hôm nay, lễ thụ phong ‘Order of Australia’ do Toàn quyền tiểu bang New South Wales, bà Margaret Beazley QC AC, chủ trì. Xin nói thêm rằng Úc không/chưa phải là nước cộng hoà, nên người đứng đầu quốc gia không phải là tổng thống, mà là Nữ Hoàng Anh. Người đại diện cho Nữ Hoàng cấp quốc gia là Governor-General (Tổng Toàn quyền), còn người đại diện cho Nữ Hoàng cấp tiểu bang là Governor (Toàn quyền). Trên danh nghĩa chánh thức, Huân chương Australia là do Nữ Hoàng trao, nhưng bà ấy ở xa (và mới bị Covid) nên các vị Toàn quyền thay bà làm việc lễ nghi đó.

Đây là hình chụp từ vimeo với bà Toàn quyền tiểu bang New South Wales tên là Margaret Beazley QC AC trong buổi lễ thụ phong ngày 13/5/2022. Buổi lễ được livestream tại https://livestream.com/blive/investitureceremonymay2022/videos/231096959 (Phần của tôi là từ phút 14:10 đến 16:20)

Lễ thụ phong

Buổi lễ diễn ra khá đơn giản, nhưng không kém phần trang trọng. Mỗi người được trao huân chương có thể mời 2 người thân vào lễ đường. Ban tổ chức rất cẩn thận, họ in thiệp mời cho từng khách mời và khách phải có thiệp này mới được cho vào lễ đường. Nhà tôi đi 4 người, nhưng chỉ có 2 người là được vào lễ đường, còn 2 người thì ngắm hoa và biển hay theo dõi qua livestream.

Khi bước vào đại sảnh thì người ta tách ra 2 khán phòng. Phòng đầu dành cho thân nhân, phòng sau dành cho những người nhận huân chương. Cách sắp xếp này có ý nghĩa rằng những người có vinh dự hôm nay là nhờ sự hỗ trợ và chăm sóc của người thân trong gia đình, và do đó người thân phải được ưu tiên ngồi khán phòng đầu.

Hôm nay có 28 người được trao huân chương. Trong số này, 1 người là AO, 5 người là AM, và số còn lại là OAM và huân chương trao cho những cá nhân can đảm cứu người. Nhóm người AM/AO thì được xếp ngồi hàng ghế đầu trong khán phòng dành cho người nhận huân chương. Tôi ngồi bên cạnh cô Catherine Cox (một ngôi sao thể thao) và ông Nicolas Parkhill (người có công trong việc chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS).

Danh sách những người được trao Huân chương Australia vào ngày 13/5/2022 tại Phủ Toàn Quyền New South Wales. Trong số 28 người được trao Huân chương, có 1 người nhận Huân chương AO, 5 người AM. Trong số 5 người nhận AM, có hai ông chánh án toà án tối cao.

Chúng tôi được hướng dẫn rất kĩ về nghi thức buổi lễ. Họ có người đóng vai bà Toàn quyền và người đóng vai nhận huân chương. Hai ‘diễn viên’ này diễn cách chào bà Toàn quyền như thế nào, cách đi đứng, và cách xưng hô sao cho đúng. Trước khi gặp bà Toàn quyền, người ta còn kiểm tra một lần nữa quần áo có chỉnh chu chưa. Cái cô lo phận sự này chỉnh sửa cái trouser của tôi thẳng thóm đâu ra đó. Tôi nghĩ thầm ‘Gặp bà Toàn quyền chứ ai mà quan trọng thế’. Nghĩ vậy thôi, chứ tôi vẫn để cho cô ấy làm phận sự của mình.

Mở đầu buổi lễ là một người Trợ lí Toàn quyền làm Master of Ceremony (MC). Người MC lần này tên là Michael Miller mời các khách đứng lên để chào đón bà Toàn quyền vào lễ đường để bắt đầu buổi lễ.

Bà Toàn quyền, bằng một ngôn ngữ người thổ dân, ghi nhận chủ nhân truyền thống của mảnh đất mà bà đang đứng. Kế đến, bà nói về lịch sử và ý nghĩa của Huân chương Australia. Bà cho biết Huân chương Australia chỉ mới được thiết lập từ ngày 14/2/1975 (tức trước ‘biến cố 1975’ ở Việt Nam chỉ 3 tháng). Cần nói thêm rằng trước đó thì công dân Úc chỉ nhận huân chương bên … Anh. Người đề nghị Nữ Hoàng thiết lập Huân chương Australia chính là Thủ tướng Gough Whitlam, một người thuộc đảng Lao Động. Theo tầm nhìn của ông Whitlam, Úc cần có một hệ thống tưởng thưởng và vinh danh những công dân Úc có những thành tựu quan trọng hay phụng sự xã hội xuất sắc. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng huân chương đó phải có chữ ‘Australia’, và do đó, mới có danh hiệu ‘Order of Australia’.

Có lẽ các bạn tò mò muốn thấy cái Huân chương Australia nó ra làm sao, nên tôi chụp hình cho các bạn xem. Như các bạn thấy Huân chương Australia giống như cái huy hiệu gồm 2 phần: phần trên là cái Emblem, và phần dưới là cái Insignia. Cái emblem có hình cái vương miện có tên là Crown of Saint Edward (có nghĩa là ‘Vương miện của Thánh Edward’). Cái Insignia thì phần chính là hai vòng tròn có hai cành mimosa phía trên, và khắc chữ ‘Australia’ ở phía dưới.
Đây là tờ ‘testamur’ về Huân chương Australia. Tạm dịch: Với sự phê chuẩn của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị, Nữ Hoàng của Australia và Chủ Quyền của Huân Chương Australia, tôi hân hạnh bổ nhiệm ông làm Thành Viên Dân Sự của Huân Chương Australia.
 
Với những chữ trên văn bản này, tôi bổ nhiệm ông làm Thành Viên Dân Sự của Huân Chương đã đề cập trên và cho quyền ông được giữ và thụ hưởng tước vị của sự bổ nhiệm cùng với thành viên của Huân chương và tất cả đặc quyền kèm theo Huân chương.
 
Được chứng thực tại Phủ Toàn Quyền, Canberra dưới dấu thị thực của  Huân Chương Australia vào Ngày Hai Mươi Sáu của Tháng Một Năm 2022.
 
Thừa lệnh của Tổng Toàn Quyền
 
 
Thư kí Hội đồng Huân Chương Australia

Bà Toàn quyền nói gì với tôi?

Sau đó là phần trao huân chương, và đây cũng chính là lúc bà Toàn quyền vất vả nhứt. Cứ mỗi người được trao huân chương, người MC xướng danh người đó và đọc bản ‘citation’ ngắn về công trạng trong khi người đó đứng ở ‘cánh gà’; sau đó đương sự được mời ra đứng bên cạnh bà Toàn quyền để bà gắn huân chương trên áo. Cái citation là do họ soạn, và họ không thể nào đọc hết những thành tích hay chức vụ, nên họ chỉ chọn những thông tin cần nhấn mạnh theo ưu tiên và cái nhìn của họ.

Sau khi gắn huân chương, bà Toàn quyền nói vài câu ngoại giao với người được ‘thụ phong’, nhưng hình như không được phát thanh, nên chỉ có hai người biết mình nói gì. Trong trường hợp của tôi, bà chúc mừng về những ‘achievements’ liên quan đến loãng xương và những việc bên đại học; tôi đáp lời rằng chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để giảm tử vong ở những bệnh nhân loãng xương. Bà quay sang chủ đề loãng xương rồi hỏi đùa rằng (tôi dịch nôm na):

“Ông thấy tôi như vầy có cần phải chạy bộ mỗi ngày không?”

Tôi cũng trả lời vừa đùa vừa thật:

“Tôi thấy bà ok lắm, nhưng sống trong cái khung cảnh tuyệt vời này, tại sao bà không chạy bộ quanh vườn mỗi sáng và mỗi chiều?”

Bà cười nói “Good idea” (Ý tưởng hay). Rồi bà bảo tôi quay về ống kính để chụp hình lưu niệm.

Sau buổi lễ là một buổi tiệc nhẹ do bà Toàn quyền thiết đãi tất cả những thân nhân và người nhận huân chương (chắc cỡ 100 người). Thực đơn bao gồm những đặc sản của Úc, đặc biệt là New South Wales, và rượu vang.

Trong buổi tiệc, bà Toàn quyền tìm đến gặp tôi để hỏi han thêm. Bà hỏi tôi đi đến Úc bằng ghe lớn hay ghe nhỏ; tôi nói ghe nhỏ. Bà cười nói “Vậy ông là ‘thuyền nhân’ hả?” Tôi tự hào nói “Yes”. Bà nói rằng thời thập niên 1980 bà làm trạng sư (bà là luật sư cấp QC) và rất quan tâm đến vấn đề tị nạn và thuyền nhân từ Việt Nam. Bà biết vài trường hợp thuyền nhân con nít đến đây hoàn toàn chẳng có tiếng Anh tiếng U gì, mà sau này đều thành tài, có người hành nghề luật sư như bà. Còn gặp thuyền nhân ‘academic’ như tôi thì bà mới gặp lần đầu.

Bà Toàn quyền tiết lộ rằng một vị đại sứ Úc ở Việt Nam từng nói với bà là có nhiều ‘thuyền nhân’ ở Úc không bao giờ quay về Việt Nam, và việc tôi quay về quê hương thứ nhứt và có những việc làm có ý nghĩa là một ‘welcome development’ (phát triển đáng mừng). Tôi giải thích cho bà biết tại sao nhiều thuyền nhân ở Úc không về lại Việt Nam (vì họ hoặc là không còn thân nhân bên đó, hoặc là họ không thích thể chế chánh trị bên đó, hoặc là họ ra đi trong hoàn cảnh quá bi đát). Tôi thì nói tôi về là vì công việc hợp tác giữa các đại học và hợp tác khoa học, chứ tôi thì đã là công dân Úc 40 năm nay rồi và biết rất rõ tại sao mình là công dân Úc.

Buổi lễ và tiệc diễn ra đúng 120 phút. Sau đó là ‘bà con’ đi tham quan trong dinh thự của bà Toàn quyền, tha hồ chụp hình. Người thì ra ngoài vườn chụp hình, người thì chụp trong phòng, và làm quen với nhau. Nói chung, những người nhận huân chương Australia là thuộc thành phần elite của xã hội Úc, nên họ cũng muốn kết bạn với nhau và hỗ trợ khi cần.

Anh tôi thì nói đùa rằng ở Úc cả 40 năm, đây là lần đầu được Toàn Quyền New South Wales thiết đãi thì tội gì không uống một li rượu để làm kỉ niệm. Chắc sẽ khó có lần thứ hai được uống rượu miễn phí từ Phủ Toàn Quyền :).

Riêng tôi thì vì còn 2 người em chờ ngoài kia, nên sau buổi tiệc là ra ngoài để đón hai đứa đi Opera House, và sau đó là đi ăn mừng trong nhà hàng nổi tiếng ‘Meat and Wine’ (Khách sạn InterContinental).

Ở trên tôi có viết là dự buổi lễ này để lại nhiều cảm xúc. Năm nay có hai sự trùng hợp có ý nghĩa. Ngày ông Tổng toàn quyền công bố Huân chương Australia (26/1/2022) cũng là ngày tôi tới Úc 40 năm trước (26/1/1982). Ngày đi dự lễ thụ phong thì chỉ 1 tuần sau sinh nhật của tôi, và cũng là tuần tôi được trao chức danh mới. Còn gì có ý nghĩa hơn để kỉ niệm 40 năm trên quê hương mới bằng Huân chương Australia.

Sẵn đây xin giới thiệu các bạn một cuộc phỏng vấn của cô Thuỳ Linh thuộc đài SBS ở Úc nhân ngày tôi được huân chương.

“Mục đích đào tạo tiến sĩ không phải cho bộ máy công quyền”

Xin giới thiệu các bạn một bài trả lời phỏng vấn cho báo GDVN. Trong bài này tôi nói về vài nét khác biệt trong chương trình đào tạo tiến sĩ giữa VN và nước ngoài.

____

https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/gs-nguyen-van-tuan-muc-dich-dao-tao-tien-si-khong-phai-cho-bo-may-cong-quyen-post226364.gd

Phóng viên: Từ những lùm xùm về luận án tiến sĩ vừa qua, Giáo sư đánh giá như thế nào về chất lượng, cách đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam hiện nay? Đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài có sự khác biệt gì so với Việt Nam không, thưa ông?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:Tôi không đánh giá được vì không có những dữ liệu cụ thể. Tuy nhiên, phẩm chất đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội, đã là một vấn đề được nêu ra từ cả 20 năm trước.

Từ hơn 15 năm trước, đã xuất hiện những luận án với những chủ đề na ná nhau, chỉ khác nơi làm nghiên cứu. Rồi những đề tài nghiên cứu tiến sĩ làm công chúng trố mắt ngạc nhiên vì dường như tính khoa học không mấy cao.

Còn quy trình đào tạo tiến sĩ ở chúng ta thì khác nhiều so với các nước phương Tây. Chẳng hạn như ở Úc, các nghiên cứu sinh tiến sĩ phải học toàn thời gian (giống như người đi làm) dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của giáo sư, còn ở Việt Nam tôi thấy quy định đào tạo khá lỏng lẻo vì nghiên cứu sinh vừa học mà vẫn đi làm, hình như không khác mấy giữa học và làm.

Các đại học Úc không có buổi lễ bảo vệ luận án, mà luận án được gửi cho các giáo sư ngoài trường đại học (kể cả nước ngoài) để bình duyệt. Tuy không viết ra trên giấy trắng mực đen, nhưng các nghiên cứu sinh ở Úc đều phải công bố ít nhất 2 bài báo khoa học trước khi được phép viết luận án. Ở Việt Nam, các nghiên cứu sinh phải gửi 50 phiếu xin ý kiến nhận xét luận án tóm tắt của nghiên cứu sinh, còn ở các nước phương Tây thì không có quy định này.

Đây không phải lần đầu tiên dư luận bàn về vấn đề này, tuy nhiên gần đây dư luận đang có những cái nhìn sâu hơn về chất lượng đào tạo tiến sĩ nhờ chủ trương công khai thông tin của các cơ quan quản lý. Vậy Giáo sư đánh giá như thế nào về chủ trương này?

Giáo sư Nguyễn văn TuấnChủ trương công khai luận án đã được đề nghị từ hơn 20 năm trước, nhưng chỉ mới thực hiện gần đây. Thật ra, chủ trương này cũng bình thường trong học thuật, vì các đại học phương Tây đã làm như vậy lâu rồi.

Dĩ nhiên, công bố luận án là một tiến bộ vì nó giúp công chúng có thể biết tầm quan trọng của nghiên cứu mà ứng viên đã làm. Tuy nhiên, cho dù luận án được công bố thì để đánh giá nghiêm túc đòi hỏi phải có chuyên môn và thời gian. Nếu không là người trong chuyên ngành và có kinh nghiệm tốt thì khó biết được luận án có đóng góp gì mang tính khoa học.

Nếu công bố luận án mà không công bố dữ liệu gốc làm cơ sở cho luận án thì cũng khó biết được nghiên cứu sinh đã làm đúng hay sai. Do đó, nhiều đại học nước ngoài còn đề ra yêu cầu công bố dữ liệu gốc kèm theo luận án.

Thực tế hiện nay, nhiều địa phương dường như đang có chính sách khuyến khích cán bộ công chức có bằng tiến sĩ. Ví dụ như Hà Nội có ban hành Nghị quyết về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020- 2025 và những năm tiếp theo”. Theo đó, Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2025, 40% cán bộ Thường vụ Thành ủy quản lý có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Giáo sư đánh giá như thế nào về mục tiêu này của Hà Nội?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi biết chủ trương này, nhưng tôi nghĩ khác. Mục tiêu của đào tạo tiến sĩ là kiến tạo một cộng đồng học thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học. Văn bằng tiến sĩ có thể ví von như là một passport hay chứng chỉ để làm nghiên cứu khoa học (giống như bằng bác sĩ để hành nghề y). Mục đích của đào tạo tiến sĩ không phải cho bộ máy công quyền.

Cái điểm cốt lõi của học vị tiến sĩ, và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác, là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị. Do đó, học tiến sĩ vì muốn theo đuổi sự nghiệp hành chính, quản trị kinh doanh, hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì e rằng là một sai lầm.

Mấy năm gần đây, các nước phương Tây có chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp (professional doctorate) nhằm đáp ứng yêu cầu của kĩ nghệ và chính phủ, nhưng luận án vẫn theo đáp ứng 2 tiêu chuẩn quan trọng là tính nguyên thuỷ (có cái mới) và tầm quan trọng.

Giáo sư có đề xuất gì với các cơ sở đào tạo tiến sĩ và các cấp quản lý để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong đào tạo tiến sĩ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi không có đề xuất gì cả, vì tôi nghĩ chỉ mất thì giờ mà thôi. Tôi nghĩ quy trình đào tạo và tiêu chuẩn học vị tiến sĩ cần cải cách từ lâu rồi. Cách tốt nhất là tổ chức một uỷ ban chuyên trách nghiên cứu và cải cách toàn diện chương trình đào tạo tiến sĩ sao cho đúng với chuẩn mực ở các nước tiên tiến.

Tôi nghĩ đầu vào rất quan trọng. Việc đánh giá một đề tài nghiên cứu có xứng đáng tầm tiến sĩ hay không cần phải dựa vào những tiêu chuẩn khoa học, chứ không phải phải tuỳ tiện hay theo suy nghĩ cá nhân. Ngoài ra, cần có những tiêu chuẩn cụ thể cho một luận án tiến sĩ, và bộ tiêu chuẩn này có thể tìm thấy đây đó của các hiệp hội khoa học quốc tế.

Hiện nay, đã có quy định nghiên cứu sinh phải công bố 2 bài báo khoa học để được bảo vệ luận án. Nhưng cần phải bổ sung là tập san phải ‘chính thống’, chứ những tập san dỏm hay gần dỏm hay không thuộc một hiệp hội khoa học thì không nên công nhận.

Có những quy định mà theo tôi là không cần thiết. Chẳng hạn như quy định về số trang của luận án; về số tài liệu tham khảo trong nước bao nhiêu, nước ngoài bao nhiêu,… là không cần thiết.

Cũng không cần phải có buổi lễ bảo vệ luận án và càng không cần phải gửi 50 phiếu xin ý kiến nhận xét luận án tóm tắt của nghiên cứu sinh. Nhưng cần phải gửi luận án cho các giáo sư nước ngoài hay ngoài trường đại học đánh giá và bình duyệt.

Phải cải cách để học viên có thì giờ và tập trung tâm trí vào khoa học hơn là đối phó hành chính. Phải cải cách để cái bằng tiến sĩ từ Việt Nam có ý nghĩa quốc tế và người cầm cái bằng đó có thể tự tin và cạnh tranh xin postdoc (hậu tiến sĩ) từ các đại học thuộc các nước tiên tiến.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.

Đặng Lường

Góc nhìn: Xứng tầm tiến sĩ

Xin giới thiệu đến các bạn một ý kiến khác liên quan đến luận án tiến sĩ. Bài này tôi viết trong mục Góc nhìn của VNexpress. Bài này nhấn mạnh một thực trạng về những báo cáo tổng kết được chuyển thành luận án tiến sĩ !

***

https://vnexpress.net/xung-tam-tien-si-4460916.html

Gần đây, tôi nhận được một câu hỏi tương tự từ nhiều người “Thế nào là một luận án xứng tầm tiến sĩ” – vấn đề không mới nhưng đang thời sự trở lại sau những ồn ào liên quan đến luận án “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La”.

Nhiều người chia sẻ thắc mắc với tôi: “Sao luận án tiến sĩ mà có vẻ đơn giản quá?”. Tôi không bình luận gì về luận án cụ thể này. Vấn đề là ở chỗ, có hơn 10 luận án tương tự lặp lại đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông…” ở các tỉnh A, B, C… khác. Nghĩa là có ít nhất 10 tiến sĩ đã tốt nghiệp từ đề tài cầu lông.

Những luận án trên giống như những báo cáo tổng kết một chương trình hành động hơn là những công trình nghiên cứu khoa học.

Báo cáo tổng kết không cần dựa vào một giả thuyết khoa học, và phương pháp đo lường thường không đáp ứng các tiêu chuẩn của phương pháp khoa học (scientific method). Những quan sát ở một địa phương có thể chỉ mang tính đặc thù của địa phương đó, chứ không mang tính quy luật, vốn là một tiêu chuẩn của khoa học tính. Thế nhưng, ở Việt Nam có rất nhiều báo cáo như thế được hoán chuyển thành luận án tiến sĩ. Đó là sự ngộ nhận.

Khác với báo cáo hành chính, một luận án tiến sĩ là thành quả của một hay vài nghiên cứu khoa học. Mỗi nghiên cứu có mục đích chính là kiểm định một giả thuyết khoa học. Nhà khoa học không thể chứng minh một giả thuyết là đúng hay sai, mà chỉ có thể kết luận dữ liệu phù hợp hay không phù hợp với giả thuyết.

Hai tiêu chuẩn quan trọng của một luận án cấp tiến sĩ là tính nguyên thủy (originality) và tầm quan trọngTính nguyên thủy đòi hỏi luận án phải có ít nhất một cái mới. Cái mới có thể là ý tưởng, hoặc cách tiếp cận vấn đề, hoặc phương pháp, hoặc dữ liệu, hoặc cách diễn giải dữ liệu. Trái với cách nhiều người mỉa mai, luận án tiến sĩ vẫn có thể là một nghiên cứu dạng “bình cũ, rượu mới” (hiểu theo nghĩa một ý tưởng cũ được làm mới bằng cách tiếp cận mới).

Tầm quan trọng có thể hiểu rằng kết quả nghiên cứu sản sinh ra tri thức khoa học, và tri thức đó có ảnh hưởng hay tác động trong và ngoài chuyên ngành khoa học, hay chính sách công, hay xã hội.

Mục đích chính của đào tạo tiến sĩ là kiến tạo một đội ngũ nhà khoa học chuyên nghiệp, những người có khả năng làm nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong đại học. Trong một khảo sát đối với những giáo sư hướng dẫn luận án tiến sĩ ở Anh, khi được hỏi mục đích của đào tạo tiến sĩ là gì, thì đa số giáo sư (72%) xem đào tạo tiến sĩ là chuẩn bị cho họ một sự nghiệp nghiên cứu khoa học trong môi trường đại học, và ứng dụng kỹ năng trong môi trường ngoài đại học.

Ở Việt Nam, mục tiêu đào tạo tiến sĩ đã bị lệch, thể hiện qua phân bố tiến sĩ trong và ngoài khoa học. Việt Nam hiện có hơn 25.000 tiến sĩ, nhưng đa số không làm việc trong các đại học. Số liệu năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố cho thấy chỉ khoảng 8.500 giảng viên đại học (trong số 60.000) có bằng tiến sĩ. Ngoài ra, trong số 10.000 giáo sư và phó giáo sư, khoảng 50% không làm việc trong các đại học hay viện nghiên cứu. Sự lệch lạc về mục tiêu đào tạo có lẽ do hiểu sai bản chất của luận án tiến sĩ như đề cập trên.

Hơn 200 năm qua, người theo học tiến sĩ thường theo đuổi những nghiên cứu, nói theo tiếng Anh là “blue sky” (trời xanh), tức những ý tưởng “trên trời”, có khi chẳng liên quan gì với thực tế trong tương lai gần; tạm gọi những tiến sĩ đó là tiến sĩ hàn lâm (academic doctorate). Và, khi nói đến tiến sĩ người ta nghĩ ngay đến nhóm tiến sĩ này.

Tuy nhiên, chương trình đào tạo tiến sĩ ngày nay đa dạng hơn chứ không đồng dạng như trước. Với sự phát triển kinh tế và vai trò của doanh nghiệp gần đây, các đại học bị áp lực phải thay đổi cách đào tạo tiến sĩ sao cho đáp ứng nhu cầu của kỹ nghệ và doanh nghiệp. Nhu cầu của doanh nghiệp và kỹ nghệ là có những chuyên gia cao cấp tầm tiến sĩ nhưng nghiên cứu của họ phải mang tính ứng dụng cao. Xuất phát từ nhu cầu này, các đại học phương Tây cho ra đời chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp (Professional Doctorate hay Vocational Doctorate).

Tiến sĩ hướng nghiệp tập trung vào những nghiên cứu mang tính ứng dụng cao. Các nghiên cứu sinh tiến sĩ hướng nghiệp là những người có kinh nghiệm thực tế trong chuyên ngành và họ muốn nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng để thăng tiến trong sự nghiệp. Các chủ đề mà tiến sĩ hướng nghiệp nghiên cứu thường là đánh giá những lý thuyết mới hay cách hành nghề mới; nghiên cứu tìm giải pháp cho một vấn đề phức tạp; ứng dụng nghiên cứu khoa học vào một lĩnh vực chuyên môn; hoặc thiết kế một chương trình nghiên cứu nhằm mở rộng kiến thức chuyên ngành.

Do đó, những năm gần đây, các đại học phương Tây, kể cả Đại học New South Wales và Đại học Công nghệ Sydney (Australia), có những chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp cho ngành giáo dục (Doctor of Education), kỹ thuật (Doctor of Emgineering), y tế công cộng (DrPH), điều dưỡng (Doctor of Nursing Practice), quản trị kinh doanh (Doctor of Business Administration)…

Các đại học Việt Nam cũng nên xem xét triển khai chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp và phân biệt với tiến sĩ hàn lâm. Tuy nhiên, dù là tiến sĩ hàn lâm hay tiến sĩ hướng nghiệp, thì luận án tiến sĩ vẫn phải đáp ứng hai tiêu chuẩn nguyên thủy và tầm quan trọng. Hai tiêu chuẩn này bảo đảm một luận án tiến sĩ phải thể hiện một đóng góp mới cho tri thức khoa học.

Nếu một luận án không đáp ứng hai tiêu chuẩn này thì không thể xứng tầm tiến sĩ.

Những luận án ‘salami’

Xin chia sẻ một ý kiến về câu chuyện ‘luận án cầu lông’ [1] mà báo chí đang tốn nhiều giấy mực. Đã có ít nhứt là 10 luận án tiến sĩ cầu lông có tựa đề na ná nhau. Hơn thế nữa, có ít nhứt 30 luận án tiến sĩ với tựa đề như “Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng tổ chức …” Những luận án na ná nhau như vậy làm tôi nhớ đến khái niệm ‘Salami Science’ — khoa học salami.

Những ngày qua, những luận án tiến sĩ với tiêu đề na ná nhau như “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức” và “Đảng bộ tỉnh lãnh đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng” làm cho công chúng có lí do đặt câu hỏi về tiêu chuẩn của học vị tiến sĩ và vai trò của những người gác cổng học thuật.

Văn bằng tiến sĩ có nguồn gốc từ phương Tây và các thiết chế học thuật phương Tây có đề ra những qui trình và tiêu chuẩn cho các nghiên cứu cấp tiến sĩ. Theo đó, một nghiên cứu cấp tiến sĩ phải thể hiện một hay vài đóng góp quan trọng và nguyên thuỷ trong một lãnh vực khoa học. “Quan trọng” ở đây hiểu theo nghĩa kết quả nghiên cứu có tác động tích cực, như làm thay đổi nhận thức về một vấn đề, làm thay đổi chính sách hay mở ra một địa hạt nghiên cứu mới. Tính ‘nguyên thuỷ’ hiểu theo nghĩa nghiên cứu phải có cái mới: mới về ý tưởng, phương pháp, dữ liệu, hay cách diễn giải dữ liệu. Nói tóm lại, một nghiên cứu cấp tiến sĩ phải sản sinh ra tri thức khoa học vừa mới vừa quan trọng.

Một tri thức được xem khoa học phải đáp ứng 3 tiêu chuẩn: phổ quát, khái quát hoátái lập. Tri thức khoa học được đúc kết từ dữ liệu thực tế, và dữ liệu phải được thu thập bằng phương pháp khoa học. Những luận án vừa đề cập trên tuy có vài dữ liệu và đưa ra một số kiến nghị, nhưng đó không phải là tri thức khoa học.

Cần phải nói thêm để nhấn mạnh rằng những dữ liệu được thu thập từ một phong trào hay được tổng kết từ một chương trình hành động theo một chính sách công nào đó không thể xem là ‘dữ liệu khoa học’. Những luận văn được viết từ những dữ liệu như thế không thể xem là nghiên cứu khoa học, vì những dữ liệu đó không thể đúc kết thành tri thức khoa học. Thế nhưng trên thực tế, nhiều báo cáo như vậy đã được hoán chuyển thành những luận án tiến sĩ!

Những luận án có nội dung na ná nhau như trên thường được đề cập đến như là một dạng ‘Khoa học salami‘ (salami science). Giống như cây xúc xích salami (một loại nem chua ở phương Tây) được cắt ra thành nhiều lát mỏng, và các lát đều giống nhau về chất liệu cũng như hình thể, chủ đề “phát triển môn cầu lông cho công nhân viên chức” hay môn nào đó nữa có thể viết thành những luận án giông giống nhau về nội dung, chỉ khác nhau ở địa phương thực hiện. Đó là một dạng ‘khoa học salami’, và dĩ nhiên đó là một vi phạm về đạo đức khoa học.

Theo tôi thấy Việt Nam rất cần cải cách hệ thống đào tạo tiến sĩ và nên bắt đầu bằng tiêu chuẩn cho một học vị tiến sĩ. Hiện nay có nhiều người hiểu sai lệch về học vị tiến sĩ và xem các báo cáo tổng kết như là một luận án tiến sĩ.

Thế nào là một học vị tiến sĩ và những tiêu chuẩn nào cần thiết cho một học vị tiến sĩ? Năm 1987, một nhóm nhà khoa học trong lãnh  vực sinh học phân tử đã ngồi lại với nhau, vạch định ra những tiêu chuẩn cụ thể cho một học vị tiến sĩ trong lãnh vực này.  Sau thêm 2 năm tham khảo từ nhiều nhóm nghiên cứu trên khắp thế giới, năm 1989 họ hoàn tất một bản thảo về các tiêu chuẩn cho học vị tiến sĩ. Năm 1999 các tiêu chuẩn này lại được sửa đổi chút ít và công bố trên các tập san khoa học liên quan và được các chuyên ngành khác chấp thuận về nguyên tắc.

Theo đó, các tiêu chuẩn cho một tiến sĩ bao gồm 2 nhóm liên quan đến kiến thức và kĩ năng. Kiến thức bao gồm am hiểu về khoa học và kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực. Kĩ năng bao gồm kĩ năng phát hiện vấn đề, kĩ thuật thiết kế và thử nghiệm khoa học, kĩ năng phân tích và kĩ năng truyền thông (kể cả xuất bản khoa học). Các tiêu chuẩn này có thể dùng làm khung tham khảo để thiết lập một bộ tiêu chuẩn tiến sĩ ở Việt Nam.

Công bằng mà nói câu chuyện “phát triển môn cầu lông cho công chức viên chức” xảy ra là một sự thất bại trong việc gác cổng học thuật. Thất bại đó bắt nguồn từ sự ngộ nhận về tri thức khoa học, về bản chất của một luận án tiến sĩ  và thiếu một bộ tiêu chuẩn cho một tiến sĩ, đó là chưa nói đến chuyện tiêu cực hay cơ chế dung dưỡng việc “làm đẹp” cho cái ghế bằng những học vị, học hàm. Nhưng đó cũng là một cơ hội để cải cách hệ thống đào tạo tiến sĩ đúng với chuẩn mực quốc tế.

___

[1] https://tuoitre.vn/nhung-luan-an-salami-2022050707453587.htm

[2] Video clip giải thích về tiêu chuẩn cho luận án tiến sĩ:

Bàn về ngày sanh

Cảm tạ các bạn đã gởi lời chúc mừng sinh nhật. Nhà văn Mĩ Mark Twain nói rằng trong mỗi cuộc đời của chúng ta, có 2 ngày quan trọng nhứt: ngày mình được sanh ra, và ngày mình hiểu tại sao mình có mặt trên cõi đời này. Tôi chắc rằng cái ngày mình sanh ra là quan trọng, nhưng tôi chưa biết ngày thứ hai là ngày nào …  Nhân dịp này tôi muốn chia sẻ vài kỉ niệm thời thơ ấu ở miệt quê.

Ngày mình sanh ra là quan trọng, vì không chỉ đánh dấu thời điểm mình có mặt trên thế giới này, mà còn là ngày mình có được một hình hài hoàn chỉnh. Hình hài đó chỉ có 1 trên thế giới, vì không ai trên thế giới này có hình thể như chúng ta. Không chỉ hình hài mà còn có cả linh hồn đã tìm được một nơi cư trú. Hình hài là linh hồn làm cho mỗi chúng ta là một cá nhân (không phải ‘đối tượng’) đặc thù trên đời này, và điều đó có ý nghĩa rất quan trọng.

Sự ra đời của mình còn là niềm hạnh phúc và hi vọng của cha mẹ và người thân. Ngày tôi ra đời vào thập niên 1950, ông ngoại tôi (người Phù Mỹ, Bình Định), nghe nói là biết xem tử vi, tiên đoán rằng ‘thằng này lớn lên sẽ làm quan.’ Có thể đó không phải là một tiên đoán, mà là ước vọng của người cao tuổi, muốn thấy con cháu mình làm … quan. Thời dó, làm quan là oai quá rồi, nên quan là hình tượng và ước mơ của người dân quê. Tôi đoán vậy.

Vấn đề là đặt tên cũng thể hiện một niềm hi vọng. Trong gia đình tôi, cậu tư nổi tiếng là người hay chữ, nên cậu hay đặt tên cho cháu. Chẳng hiểu cậu nghĩ gì mà đặt tên cho tôi là “Tuấn”. Chắc cậu Tư tôi kì vọng rằng thằng cháu sẽ là một đứa khôi ngô tuấn tú như cách nói của người Việt. Sau này tôi mới biết Tuấn là một cái tên khá phổ biến ở người Việt mình. (Sau này, tôi được dòng họ phong cho danh hiệu “hay chữ”, nên tôi thay thế cậu tư đặt tên cho con cháu. Tôi tìm những cái tên hay và khác người, rồi tìm hiểu lịch sử và nguồn gốc, rồi đề nghị tên.)

Tôi lớn lên trong tình thương của bà con chòm xóm. Hàng xóm nhà tôi là những người Khmer nhân hậu, sống cuộc đời nông dân thuần tuý. Bên phải nhà tôi là nhà của Củ Hương, còn bên trái là nhà của Ý Hai. Ai cũng có một khu vườn thiệt lớn, còn căn nhà thì được cất gọn lỏn trong khu vườn đầy cây trái. Mỗi lần nhà hàng xóm làm bánh hay có lễ lạc là tôi có dịp thưởng thức những món ăn độc đáo của người Khmer. Một trong những món tôi rất thích là cơm ống, loại cơm tấm trộn với dừa nạo, có khi cả lá dứa, và nấu trong ống tre. Ngon không tả được. Một món khác tôi cũng rất thích là cốm dẹp, một món ăn đơn giản được làm từ gạo nếp còn xanh vào những ngày rằm. Tôi nhớ hoài những đêm trăng giúp bà còn giã nếp trong cối đá trước khi chế biến. Nói chung, tôi lớn lên trong một thời thanh bình, y chang như nhạc sĩ Lam Phương mô tả trong một ca khúc nổi tiếng:

‘Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát

Ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát

Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời.’

Kỉ niệm đậm nét của tôi là thời học tiểu học. Để đi học, tôi phải bơi xuồng qua bên kia sông, rồi từ đó đi bộ đến trường tiểu học. Trường học thì rất gần chợ quê. Con đường từ nhà tôi đến trường chỉ non nửa cây số, nhưng thời đó còn ít nhà dân lắm và cây cỏ còn khá um tùm. Tôi vẫn còn nhớ ở đầu cầu, có một bụi tre lớn mà dân làng đồn nhau là có … ma. Thành ra, cứ mỗi lần đi ngang đó là tôi chạy, không dám nhìn kĩ xem trong đó có gì. Chạy sao cho đến Nhà thờ thì mới an tâm. Giờ nghĩ lại thấy tức cười, vì có ma miếc gì đâu, chỉ toàn là những lời đồn đại bậy bạ.

Tôi không biết trường tiểu học được xây vào năm nào, nhưng chắc chắn là dưới thời TT Ngô Đình Diệm. Hiệu trưởng của trường là thầy P, và nhà thầy ở sát bên trường. Con của thầy cũng đều là thầy cô trong trường. Ấn tượng của tôi về thầy P là một người chừng 50 tuổi, áo lúc nào cũng trong quần và mang giầy (dù ở miền quê), lúc nào cũng đội cái nón phớt, mặt rất nghiêm nghị. Đám học trò tụi tôi rất sợ thầy. Nói đúng ra là sợ cái uy của thầy. Người trong làng ai cũng gọi thầy là “Thầy”. Tôi theo má đi chợ mà gặp thầy là phải tự động khoanh tay chào; nếu không là bị nhắc nhở ngay: “Sao mày gặp thầy mà không chào?” Sau năm 1975, tôi nghe tin buồn rằng cả nhà thầy đều bị … “mất dạy”. Cái ngôi trường mà cả gia đình thầy gắn bó mấy chục năm giờ đây không còn là của thầy nữa. Thầy chắc buồn lắm nên qua đời vài năm sau đó. Còn các con thầy cũng bỏ nghề giáo và bỏ quê để lang thang ở Sài Gòn và có người đã qua đời trong nghèo khổ.

Tôi rất thích đi học, một phần là gặp bạn bè, một phần là mình học rất được. Chưa bao giờ tôi sụt xuống hạng 3. Tôi đem về nhà rất nhiều tờ giấy màu mè mà thời đó có tên là “Bằng Tưởng Thưởng”. Tôi còn nhớ thời đó bằng tưởng thưởng không giống như bây giờ, và cũng không có khẩu hiệu kiểu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Trong nhà ai cũng khen thành tích học hành của tôi, ngoại trừ anh Hai. Anh Hai tôi thì không hề ‘ấn tượng’, vì anh ấy nói ‘Mày chỉ hên thôi.’ Học cỡ nào ảnh cũng nói ‘chỉ hên‘. Sau này tôi mới biết đó là cách anh ấy cảnh cáo rằng tôi không được tự mãn, và lúc nào đặt ra những cái chuẩn cao hơn để mình vượt qua.

Hình như tôi có cái duyên với chữ và viết lách từ thời còn rất nhỏ. Thỉnh thoảng về quê, bà con và bạn học ai cũng nhắc lại nhận xét rằng hồi đó tôi ít nói nhưng có nét chữ đẹp. Tôi quen đọc sách từ lúc còn rất nhỏ, và tủ sách nhà chỉ là mấy cuốn sách Tàu của ba tôi (như Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh Hùng, Thuỷ Hử, v.v.) và sách Tự Lực Văn Đoàn của anh Hai tôi. Đọc mê mẩn và nhớ từng chi tiết trong mỗi truyện. Tôi còn cố gắng viết truyện nữa chứ, và mơ một ngày nào đó mình sẽ làm nhà văn. Câu chuyện mà má tôi hay kể với bà con là khi tôi thấy hình ông tổng thống Diệm quá sang trọng, tôi hỏi má: “Má! học cỡ nào thì được như ổng?” Má tôi phì cười nói: “Học hết sách đi!”

Cái duyên viết văn của tôi bắt đầu từ một người hàng xóm. Một hôm, củ Hương (người Khmer hàng xóm) muốn viết một lá đơn về một vụ tranh chấp đất ruộng. Vì nghe đồn tôi ‘hay chữ’ nên ổng kêu tôi viết đơn. Tôi chấp bút viết một lá đơn chừng 1 trang giấy. Chẳng biết vì cách mô tả câu chuyện trong lá đơn hay vì lẽ phải mà kết cục như củ Hương mong muốn. Sau cái đơn đó tôi có tiếng trong làng là ‘thằng hay chữ’ và chấp bút cho nhiều lá đơn khác. Khỏi nói thì các bạn cũng đoán được là tôi được cho nhiều bánh trái nhờ cái công việc viết đơn. Cái ‘nghiệp’ viết lách đó nó còn kéo dài cho đến ngày hôm nay. Tôi viết như là một thể thao trí óc thôi.

Mục đích sống là gì?

Tại sao chúng ta được sanh ra? Đó là câu hỏi Mark Twain đặt ra, nhưng tôi nghĩ câu hỏi này không nên đặt ra, bởi đâu có ai biết chắc chắn. Theo triết lí Phật bản ngã (self) chỉ là ảo giác, nên câu hỏi tại sao chúng ta được sanh ra là không cần thiết, câu hỏi sai. Nhưng theo tâm lí học phương Tây thì bản ngã là có thật, và cần phải phân tích để hiểu cái căn cước tính của mỗi người. Thành ra, đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “tại sao chúng ta được sanh ra” theo tôi là mất thì giờ vì khác điểm tham chiếu. Tốt nhứt là chúng ta chấp nhận rằng chúng ta đang sống, và cuộc sống có mục đích.

Chúng ta đang sống, và chúng ta cần phải kiến tạo cuộc sống tử tế hơn và đáng sống hơn. Để làm cho cuộc sống đáng sống hơn, chúng ta cần phải hạnh phúc và diệt khổ. Chúng ta chỉ hạnh phúc khi người chung quanh hạnh phúc. Để người chung quanh hạnh phúc, chúng ta cần phải chia sẻ và phụng sự. Suy nghĩ như thế chúng ta sẽ thấy mục đích sau cùng của cuộc sống là chia sẻ và phụng sự.

Ai cũng ghi nhận một sự thực là cuộc sống đúng là vô thường. Không có gì tồn tại mãi mãi. Tất cả đều thay đổi, hay nói theo ngôn ngữ thời nay là ‘tự diễn biến’. Bạn bè có khi thấy đó rồi mất đó. Chúng ta đã thấy biết bao trường hợp mà hôm qua thì lên xe xuống ngựa, hôm nay thì … đi tù. Thành ra, người ta có câu: ‘hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng‘ (nói theo cách nói của người phương Tây là ‘live each day as if it were your last day‘). Nói cách khác, hãy phụng sự đời mỗi ngày thì chúng ta sẽ có hạnh phúc và kiến tạo một đời sống đáng sống hơn.

Tôi nghiệm ra có 4 điều mà mỗi chúng ta có thể làm để tạo ra một cuộc  sống hạnh phúc. Đó là giúp người, chia sẻ, học hỏi, và cảm ơn.

Điều 1: Giúp người

Theo tôi, cuộc sống không phải là tìm câu trả lời cho câu hỏi ‘tôi là ai‘, mà là kiện tạo chính mình.  Một cách kiến tạo hiệu quả nhứt là giúp người khác, đặc biệt là những người trong tình huống khó khăn. Nếu không giúp được thì cũng đừng nên hại họ. Hành vi và hành động giúp đỡ người khác cũng có hiệu quả làm giàu vốn liếng tinh thần. Người phương Tây hay nói rằng không ai nghèo vì giúp đỡ người khác cả; ngược lại mình giàu hơn khi mình giúp người trong hoàn cảnh khó khăn. Câu đó rất đúng.

Từ ngày tôi được bầu vào Viện hàn lâm y học, tôi giúp khá nhiều đồng hương. Tôi chỉ viết thư giới thiệu để họ có thể sang Úc định cư. Tất cả các em này tôi chưa một lần gặp ngoài đời trước khi viết thư giới thiệu. Nam có, Trung có, Bắc có. Tôi chỉ thấy họ giỏi, có tiềm năng cho nước Úc, và nhứt là người mình với nhau, thì giúp thôi. Trong số 5 em, thì tôi giúp thành công cho 4 em. Coi như mình giúp họ đổi đời như tôi từng đổi đời cách đây 40 năm. Bốn mươi năm trước, người ta giúp mình qua đây;  giờ mình ở vị thế giúp người khác.

Điều 2: Chia sẻ

Tôi nghiệm ra rằng chia sẻ là một yếu tố rất quan trọng làm cho chúng ta sống có ý nghĩa hơn. Má tôi lúc sanh tiền hay nói câu “Chia ngọt sẻ bùi” một cách rất tự nhiên, chứ chẳng có triết lí gì cao siêu cả. Mà đúng vậy, vì bản chất của cuộc sống là chia sẻ với nhau. Chúng ta chia sẻ rất nhiều điều với người chung quanh. Tiền bạc, thức ăn, quần áo, tình cảm, tin mừng, tin buồn, v.v. đều có thể chia sẻ. Hồi còn nhỏ ở miệt quê, tôi thấy cái truyền thống chia ngọt sẻ bùi rất hay. Nhà tôi có tiệc nấu nướng là tôi có nhiệm vụ đi mời bà con và hàng xóm đến ăn uống. Hàng xóm làm bánh là cũng đem biếu cho hàng xóm khác. Tôi nghiệm ra là hành động chia sẻ như thế giúp cho cộng đồng gắn bó với nhau hơn và cuộc sống đáng sống hơn.

Tôi nghĩ truyền thống chia sẻ ở miệt quê cũng nên áp dụng trong giới có học. Nếu chúng ta có kĩ năng hay kiến thức chuyên môn, thì cũng nên chia sẻ với mọi người. Đó chính là một trong những lí do tôi thích viết và soạn bài giảng miễn phí trên mạng (dù tôi không có chức năng giảng dạy). Cứ mỗi lần nhận được email của các bạn nói rằng nhờ mấy kĩ năng tôi chia sẻ mà họ học hành tốt hơn hay được thăng tiến là tôi thấy vui trong lòng.

Điều 3: Học mỗi ngày

Hồi ở trại tị nạn tôi nghiệm ra cách giết thì giờ bằng cách học 1 chữ mỗi ngày và thấy rất hiệu quả. Bây giờ tôi cố gắng học 1 điều hay mỗi ngày. Cái điều hay đó có khi chẳng dính dáng gì với công việc, mà có thể là sự lạc quan, tính yêu đời, hay thái độ tích cực của người mình tiếp xúc. Điều hay cũng có thể là một câu nói hay trong sách mà mình đang đọc. Đó chính là lí do tôi dự rất nhiều seminar có khi chẳng dính dáng gì đến lãnh vực nghiên cứu của mình, vì mục tiêu là chỉ để học hỏi từ diễn giả và người mình tiếp xúc.

Điều 4: Cảm ơn

Cố gắng mỗi ngày, khi có dịp, viết xuống hay nói ra một câu cảm ơn. Ở đời, chúng ta phải cảm ơn nhiều người lắm: cảm ơn người nông dân để mình có gạo ăn; cảm ơn anh tài xế xe lửa để mình đi làm dễ dàng; cảm ơn người đầu bếp quán ăn đã nấu một món mì ngon; cảm ơn người quét đường đã giúp cho đường phố sạch sẽ, v.v. Nhận một email động viên, nên cảm ơn. Lên xe lửa thấy có người nhường ghế, cũng nên cảm ơn. Vào nhà hàng và được phục vụ, thì câu nói cảm ơn là không thể thiếu được. Có những tình huống, chữ ‘cảm ơn’ vẫn chưa đủ mà phải là “cảm tạ” (cảm = xúc động, tạ = cảm ơn) mới thích hợp.

Ở phương Tây thì câu “thank you” là câu nói rất phổ biến, nhưng ở Việt Nam thì vẫn cần phải học cách nói này của phương Tây. Hai chữ “cảm ơn” hay “cảm tạ” có hiệu quả thần kì, giống như chất xúc tác cho sự hạnh phúc và thắp sáng tâm hồn vậy.

Đó là 4 điều tôi nghiệm ra về mục đích của cuộc sống. Bốn điều đó có thể tóm tắt rằng: mục đích của cuộc sống là kiến tạo hạnh phúc, và để kiến tạo hạnh phúc, chúng ta nên giúp người, chia ngọt sẻ bùi, học hỏi mỗi ngày, và cảm ơn. Tôi nghĩ rất dễ thực hành 4 điều này mỗi ngày, và nếu ai cũng làm vậy thì cuộc sống này quả thật đáng sống hơn.

Tin vui

Ở trên tôi nói có tin vui, và chắc các bạn muốn biết đó là tin gì. Vậy thì tôi xin áp dụng 4 điều trên để chia sẻ tin vui đây.

Số là 2 hôm trước tôi được để cử và phê chuẩn chức danh “Distinguished Professor” [1]. Trước đây, tôi là một “Endowed Professor,” một loại cái chức danh ở các đại học phương Tây có nghĩa là đương sự được một tổ chức hay nhà hảo tâm ngoài đại học trả lương. Những chức danh này thường có tên của tổ chức hay nhà hảo tâm trước chữ ‘Professor’. Trong trường hợp của tôi, ‘nơi khác’ đó là Hội đồng Y tế và Y khoa Quốc gia (NHMRC). Rồi mấy tháng trước, khi khoa có chỗ trống, người ta để cử tôi chức danh Distinguished Professor, và nay thì được Hội đồng đại học phê chuẩn. Quyết định phê chuẩn mới đến ngày hôm kia, trước ngày sanh chỉ 2 ngày. Thành ra, sinh nhật năm nay — mặc dù tôi không có tiệc tùng gì — đánh dấu một chặng đường.

Thư phê chuẩn chức danh “Distinguished Professor” của sếp gởi chỉ 2 ngày trước sinh nhật!

Đó là một chặng đường 4 thập niên. Như các bạn biết, năm nay (2022) ghi dấu tròn 40 năm tôi gọi Úc là quê hương thứ hai. Thời gian tôi ở đây còn dài hơn thời gian tôi ở Việt Nam. Ngày đặt chân đến đây, tôi cũng như tuyệt đại đa số các đồng hương khác, không một đồng xu dính túi. Tự do thì có đấy, nhưng tất cả chúng tôi đều đứng trước một tương lai bấp bênh và vô định. Chẳng biết mình sẽ làm gì và sống ra sao. Nhưng người Việt chúng ta có cái gen tôi gọi là ‘resilience gene’, nên những khó khăn rồi cũng vượt qua. Mọi người rồi cũng hoà nhập vào xã hội mới và đóng góp cho đất nước này tốt hơn. Riêng tôi thì có cái may mắn là còn đóng góp cho quê hương thứ nhứt nữa.

Hôm nọ, một nhà báo bên Việt Nam nhận xét rằng tôi giống như người ‘mở cửa’ cho các đồng hương khác và thể hệ sau. Ý chị ấy nói là tôi là người gốc Việt đầu tiên bước chân vào một số thiết chế học thuật ở Úc. Nghĩ lại thấy chị ấy nói cũng có lí. Chừng 15 năm trước, tôi được đề bạt chức danh Professor, và lúc đó UNSW nói rằng tôi là người gốc Việt đầu tiên đạt chức vụ này. Tôi cũng là người gốc Việt đầu tiên được trao DSc của UNSW. Khi được bầu vào Viện hàn lâm y học và Royal Society of New South Wales thì tôi là người gốc Việt đầu tiên. Tôi cũng là người gốc Việt đầu tiên trở thành Fellow của ASBMR và Editor của JBMR. Trước đây và cho đến nay, tôi là người gốc Việt đầu tiên được trao Senior Fellowship của NHMRC. Tôi nghĩ rằng những thiết chế mình đã đặt chân đến sẽ là những mục tiêu để các bạn thuộc thế hệ sau nhắm tới. Nếu một người tị nạn như tôi có thể bước vào các thiết chế đó thì tại sao các bạn thuộc thế hệ sau có điều kiện tốt hơn chắc chắn sẽ làm được.

Câu chuyện của tôi là một hành trình và những gì tôi đã học được trong hành trình đó. Aldous Huxley từng nói về trải nghiệm như sau:

Trải nghiệm không phải là những gì xảy đến với một người, mà là những gì người ta ứng xử trước những gì xảy đến với họ.” (Experience is not what happens to a man. It is what a man does with what happens to him).

Tôi ngẫm nghĩ câu này rất đúng với quãng đường mình đã đi qua. Cứ mỗi lần vấp ngã là một bài học quí báu để mình học thêm và tự thay đổi. Tôi lại nhớ đến câu nói của Richard Feynman: Bạn không có nghĩa vụ làm người của năm qua, tháng trước, hay thậm chí một ngày vừa qua. Bạn ở đây để tạo ra chính bạn một cách liên tục. Vài năm trước, một căn bệnh đến với tôi một cách khá tình cờ, mà nếu không điều trị kịp thì tôi không còn ngồi đây để viết ra những dòng chữ này. Căn bệnh đó làm cho tôi ‘humble’ với thân thể mình và buộc mình phải suy nghĩ về cuộc sống. Căn bệnh đó còn giúp tôi hiểu hơn về khái niệm mà người phương Tây gọi là “vulnerability”. Từ căn bệnh, tôi khám phá rằng những cái gọi là thành công và danh vị không quan trọng như người trẻ hay nghĩ, vì những cái đó chỉ có hiệu quả chận tiếng nói nội tâm của chúng ta mà thôi. Cái quan trọng là chúng ta làm gì để cuộc sống hạnh phúc hơn, và 4 điều tôi trải nghiệm trên hi vọng rằng sẽ giúp các bạn suy nghĩ thêm về mục đích của cuộc sống.

_____

[1] Có lẽ nhiều bạn muốn biết cái chức danh Distinguished Professor là gì, nên tôi giải thích ngắn gọn như sau. Ở các nước phương Tây, chức danh này là một dạng honor / danh dự, được trao cho những giáo sư được xem là lãnh đạo một chuyên ngành cấp quốc tế [*]. Chức danh này không phải “xin”, mà qua đề cử, và người đề cử thường là khoa trưởng. Mỗi khoa chỉ được có một số Distinguished Professor theo quota; do đó các ứng viên có tiềm năng phải xếp hàng chờ khi mấy người kia nghỉ hưu hay chết thì mới được để cử. Sau đề cử là một hội đồng thẩm định, và 4 báo cáo bình duyệt từ các giáo sư độc lập với ứng viên (thường là ở nước ngoài và phải cấp Distinguished Professor) [**]. Cũng như các chức danh khác, chức danh Distinguished Professor có thời hạn 5 năm, có nghĩa là tôi chỉ được quyền sử dụng chức danh này trong 5 năm mà thôi.

[*] https://thebestschools.org/magazine/professors-ranks

[**] https://www.gsu.uts.edu.au/policies/appoint-prof-distinguished.html