Tóm tắt các nghiên cứu được trao giải thưởng Alexandre Yersin 2022

Năm nay (2022), Hội đồng Khoa học của Helvietmed đã chọn được 7 công trình nghiên cứu để trao giải thưởng “Alexandre Yersin Award for Outstanding Medical Publication“. Dưới đây là tóm tắt các nghiên cứu đó để công chúng (ngoài khoa học) và báo chí có thể hiểu ý nghĩa.

Đặng Quang Vinh, et al. Intracytoplasmic sperm injection versus conventional in-vitro fertilisation in couples with infertility in whom the male partner has normal total sperm count and motility: an open-label, randomised controlled trial. Lancet 2021; 397(10284):1554-1563.

Tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn (tên tiếng Anh là Intracytoplasmic sperm injection và viết tắt  ICSI) và thụ tinh trong ống nghiệm (IVF) là hai phương pháp được sử dụng trong thụ tinh nhân tạo. Trong thời gian gần đây, nhiều trung tâm trên thế giới đang có xu hướng sử dụng ICSI ngày càng nhiều.

Công trình thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên này có mục đích so sánh tỉ lệ sanh con sống sót (viết tắt là “sanh sống”) giữa phương pháp ICSI và IVF. Kết quả cho thấy tỉ lệ sanh sống giữa hai phương pháp không khác nhau. Kết quả nghiên cứu, được công bố trên một trong những tập san y khoa số 1 trên thế giới, là một “chất vấn” xu hướng sử dụng ICSI trên thế giới, và có thể sẽ gây tác động trong chuyên ngành ở qui mô toàn cầu. 

Vương Thị Ngọc Lan, et al. In-vitro maturation of oocytes versus conventional IVF in women with infertility and a high antral follicle count: a randomized non-inferiority controlled trial. Human Reproduction 2020;35:2537-2547.

Nuôi noãn trưởng thành (IVM) là một kỹ thuật thay thế IVF dành cho nhóm phụ nữ có nhiều nang noãn trên buồng trứng. Lợi điểm chính của IVM so với IVF là không cần phải tiêm nhiều thuốc kích thích buồng trứng, an toàn, đơn giản hơn và giảm được chi phí điều trị cho các cặp vợ chồng hiếm muộn. Trong IVM, các bác sĩ chọc hút thu nhận noãn từ những nang noãn nhỏ, nuôi trưởng thành noãn bên ngoài cơ thể, sau đó thụ tinh với tinh trùng để tạo phôi.

Chúng tôi cùng nhóm nghiên cứu ở Bỉ (Free University of Brussels) phát triển kỹ thuật CAPA-IVM. Để chứng minh hiệu quả của qui trình CAPA-IVM, chúng tôi thực hiện thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn so sánh kết quả thai kỳ và kết quả sơ sinh giữa kỹ thuật CAPA-IVM và IVF  trên các phụ nữ có nhiều nang noãn nhỏ trên buồng trứng tại Việt Nam. Kết quả cho thấy kết quả thai kỳ và trẻ sơ sinh sau chuyển phôi từ kỹ thuật CAPA-IVM không thua kém so với IVF.

Kết quả chính của nghiên cứu được công bố trên Human Reproduction là tập san uy tín nhất của ngành Hỗ trợ sinh sản. Chúng tôi cũng đã báo cáo kết quả này tại nhiều hội nghị chuyên ngành khu vực và quốc tế. Sau khi kết quả này công bố, nhiều nước trên thế giới đã bắt đầu triển khai kỹ thuật CAPA-IVM.

Hoàng Khương Duy, et al. Mechanography assessment of fall risk in older adults:the Vietnam Osteoporosis Study. Journal of Cachexia, Sarcopenia and Muscle 2021;12:1161-1167.

Ở người cao tuổi, té ngã là một vấn đề y tế quan trọng vì té ngã có thể làm cho bệnh nhân bị gãy xương, mắc các biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong.  Công trình nghiên cứu này có mục tiêu là tiên lượng nguy cơ té ngã ở người trên 40 tuổi. Công trình nghiên cứu này nằm trong Dự án Vietnam Osteoporosis Study (VOS) và được thiết kế như là một “mô hình đoàn hệ”, với 600 người được theo dõi trong 2 năm. Các nhà nghiên cứu dùng công nghệ “Jumping mechanography” để đo lường vận tốc nhảy, mức độ thăng bằng, và nhiều chỉ số cơ học khác cho mỗi cá nhân. Họ phát hiện rằng những người có vận tốc nhảy thấp là những người dễ bị té ngã. Nghiên cứu này là một cách tân trong công nghệ đánh giá té ngã và kết quả có thể giúp cho việc tầm soát người có nguy cơ té ngã cao. Kết quả nghiên cứu được công bố trên một tập san hàng đầu trong chuyên ngành nội khoa và lão khoa. 

Nguyễn Lâm Vương, et al. Combination of inflammatory and vascular markers in the febrile phase of dengue is associated with more severe outcomes. eLife 2021 Jun 22;10:e67460.

Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm khá nguy hiểm do virus Dengue gây ra, và muỗi là con vật truyền virus Dengue từ người sang người. Bệnh nhân sốt xuất huyết do virus Dengue có diễn biến khó tiên lượng. Do đó, tiên đoán sớm người sẽ bị bệnh nặng từ những người mắc sốt xuất huyết là rất quan trọng trong điều trị và phân bổ nguồn lực y tế. Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học tìm thấy 10 chỉ số xét nghiệm liên quan đến sốt xuất huyết trung bình-nặng và xác định được các tổ hợp xét nghiệm tốt nhất giúp tiên đoán trẻ em và người lớn sẽ bị bệnh nặng. Kết quả này sẽ giúp phát triển các bộ xét nghiệm giúp bác sĩ chẩn đoán sớm người mắc sốt xuất huyết có thể bị bệnh nặng. Kết quả nghiên cứu được công bố trên eLife, một trong những tập san khoa học có uy tín cao nhất và ‘kén chọn’ nhất trên thế giới.

Lương Quốc Chính, et al. Survival after out-of-hospital cardiac arrest, Viet Nam: multicentre prospective cohort study. Bull World Health Organ 2021;99:50-61.

Ngừng tuần hoàn (hay “ngưng tim” hay đột tử do ngưng tim) có thể xảy ra ngoài bệnh viện. Một số nơi có dịch vụ cấp cứu trước bệnh viện (Trung tâm Cấp cứu 115 và dịch vụ cấp cứu tư nhân) hoạt động, nhưng do kinh nghiệm và trang thiết bị cấp cứu thường hạn chế, nên không thể ứng phó kịp thời. Nghiên cứu này có mục tiêu xác định những yếu tố liên quan đến sống sót sau ngưng tuần hoà ngoài bệnh viện.

Nghiên cứu được thực hiện trong thời gian 5 năm (từ 2/2014 tới 12/2018). Kết quả cho thấy tỷ lệ cấp cứu thành công ngừng tuần hoàn trước bệnh viện chỉ 19%; tỷ lệ bệnh nhân sống sót khi nhập viện (24%), sống sót khi ra viện (14%) và sống sót với chức năng thần kinh tốt (~6%) cũng rất thấp. Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy: nếu có người chứng kiến bệnh nhân ngừng tuần hoàn, nếu bệnh nhân được cấp cứu ngừng tuần hoàn và khử rung tim trước bệnh viện (bởi người xung quanh hoặc nhân viên y tế) và nếu bệnh nhân được áp dụng kỹ thuật kiểm soát thân nhiệt theo mục tiêu (hạ thân nhiệt) trong bệnh viện sau cấp cứu ngừng tuần hoàn thành công thì bệnh nhân lại có cơ hội sót cao hơn (sống sót tại phòng cấp cứu, sống sót khi vào viện hoặc sống sót khi ra viện). Ngược lại, nếu bệnh nhân được cấp cứu và vận chuyển tới khoa cấp cứu bằng dịch vụ cấp cứu 115 sẽ không làm gia tăng cơ hội sống sót cho người bệnh. Điều này có thể do xe cấp cứu 115 không đến kịp khiến cho việc cấp cứu ngừng tuần hoàn bị trì hoãn.

Kết quả nghiên cứu này đã nhấn mạnh rằng để cải thiện tỷ lệ sống sót cho người bệnh ngừng tuần hoàn ngoại viện, hệ thống cấp cứu trước bệnh viện tại Việt Nam cần phải được tăng cường, ví dụ: tăng cường cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện cho người bệnh bởi người xung quanh; máy khư rung tim phải luôn có sẵn và thông dụng hơn ở ngoài cộng đồng; tăng số lượng xe cứu thương của dịch vụ cấp cứu 115 nhiều hơn nữa; cải thiện hồi sức sau ngừng tuần hoàn; tăng cường sử dụng xe cứu thương tư nhân; phát triển một chương trình cấp cứu ban đầu tiêu chuẩn cho cả nhân viên y tế và cộng đồng.

Nguyễn Minh Nam, et al. A novel signature predicts recurrence risk and therapeutic response in breast cancer patients. Int J Cancer 2021 Jun 1;148(11):2848-2856.

Nghiên cứu hồi cứu này nhằm phân tích dữ liệu biểu hiện gen để xây dựng công cụ dự đoán nguy cơ tái phát và đáp ứng điều trị của bệnh nhân ung thư vú. Các tác giả đã tạo ra một “chữ ký gen ASMT” có thể dự đoán nguy cơ tái phát ung thư vú với độ đặc hiệu cao. Phát hiện này còn giúp xác định những bệnh nhân nào sẽ cho kết quả tốt khi điều trị bằng tamoxifen hoặc hoá trị.

Trần Lê Sơn, et al. Liquid biopsy uncovers distinct patterns of DNA methylation and copy number changes in NSCLC patients with different EGFRTKI resistant mutations. Scientific Reports 2021;11: 16436

Điều trị bằng thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) cải thiện đáng kể thời gian sống còn cho bệnh nhân ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC). Tuy nhiên, tình trạng kháng TKI hầu như luôn xuất hiện sau khoảng thời gian dùng thuốc. Bằng công nghệ sinh thiết lỏng, chúng tôi phát hiện nhiều kiểu đột biến gene và biến đổi methyl đặc trưng ở 122 bệnh nhân NSCLC ở Việt Nam được điều trị TKI và các biến đổi này có liên quan đến thời gian đáp ứng với thuốc. Nghiên cứu cho thấy phương pháp sinh thiết lỏng có thể giúp hiểu rõ về cơ chế phân tử  để có thể dự đoán tình trạng kháng thuốc và lựa chọn phác đồ điều trị tiếp theo cho bệnh nhân NSCLC.

Citation of winning papers

Dang Quang Vinh et al. Intracytoplasmic sperm injection versus conventional in-vitro fertilisation in couples with infertility in whom the male partner has normal total sperm count and motility: an open-label, randomised controlled trial. Lancet 2021; 397(10284):1554-1563.

This study investigated whether intracytoplasmic sperm injection would result in a higher livebirth rate compared with conventional IVF. Using a randomized controlled trial design, the authors showed that intracytoplasmic sperm injection did not improve the livebirth rate compared with conventional IVF. This finding, published in one of the world’s most prestigious journals Lancet, challenges the value of the routine use of intracytoplasmic sperm injection in assisted reproduction techniques for couples with infertility in whom the male partner has a normal total sperm count and motility.

Vuong Ngoc Lan et al. In-vitro maturation of oocytes versus conventional IVF in women with infertility and a high antral follicle count: a randomized non-inferiority controlled trial. Human Reproduction 2020;35:2537-2547.

This influential randomized controlled study (21 cites, GS) attempted to address the following question: Is one cycle of in vitro maturation (IVM) non-inferior to one cycle of conventional in IVF in terms of live birth rates in women with high antral follicle counts (AFCs)? The result showed that there was no statistically significant differences between the IVM and IVF groups in terms of the occurrence of pregnancy complications, obstetric and perinatal complications, preterm delivery, birth weight and neonatal complications. This study settles an important question that has wide implication in IVF technology.

Hoang Khuong Duy et al. Mechanography assessment of fall risk in older adults:the Vietnam Osteoporosis Study. Journal of Cachexia, Sarcopenia and Muscle 2021;12:1161-1167.

This prospective study used an innovative and sophisticated technology for fall assessment called “Jumping mechanography”. Based on approximately 600 men and women who had been followed for 2 years, the authors showed that maximal velocity was predictive of the risk of falls in this population. The study introduced a new technology for fall risk assessment.

Nguyen Lam Vuong et al. Combination of inflammatory and vascular markers in the febrile phase of dengue is associated with more severe outcomes. eLife 2021 Jun 22;10:e67460.

This observational study was designed to identify severe dengue patients by using a series of inflammatory markers. The authors generated an immunological signature that included 10 markers for predicting the risk of severe dengue patients. The finding will assist the development of biomarker panels for clinical use and could improve triage and risk prediction in dengue patients.

Luong Quoc Chinh et al. Survival after out-of-hospital cardiac arrest, Viet Nam: multicentre prospective cohort study. Bull World Health Organ 2021;99:50-61.

This study investigated factors that were associated with survival after out-of-hospital cardiac arrest. Using an observational study design, the authors showed that pre-hospital defibrillation and hypothermia therapy during post-resuscitation care were predictive of survival probability in out-of-hospital cardiac arrest. This finding has implication for the improvement in the emergency medical services.

Nguyen Minh Nam et al. A novel signature predicts recurrence risk and therapeutic response in breast cancer patients. Int J Cancer 2021 Jun 1;148(11):2848-2856.

This observational retrospective study sought to analyze gene expression profiles for predicting the recurrence of breast cancer and treatment response among breast cancer patients. The authors generated an “ASMT gene signature” that yielded high specificity in predicting the risk of breast cancer recurrence. The finding may help identify patients suitable for tamoxifen treatment and improve their outcome. 

Le Son Tran et al. Liquid biopsy uncovers distinct patterns of DNA methylation and copy number changes in NSCLC patients with different EGFRTKI resistant mutations. Scientific Reports 2021;11: 16436

This study employed plasma cell-free DNA (eg liquid biopsy) to generate a genetic and epigenetic profile in non-small cell lung cancer (NSCLC) patients. The authors found that ‘genetic mutations, genome-wide and hotspot methylation states, and genome instability are important signals associated with acquired resistance to TKI drugs.’

_______

Để có thêm thông tin, nhà báo có thể liên lạc Bs Nguyễn Quan Vinh (Chủ tịch Hội HELVIETMED) qua email Qvnguyen@swissonline.ch, hay Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (Chủ trì Hội đồng Giám khảo) qua địa chỉ tuanvan.nguyen@uts.edu.au. 

Chi tiết về giải thưởng có thể tìm hiểu thêm ở đây:

Giải thưởng cho công bố nghiên cứ y khoa xuất sắc (Alexandre Yersin Award for Outstanding Medical Publication 2022)

Hội Y khoa Việt – Thuỵ Sĩ

Hội đồng khoa học / Scientific Committee

Distinguished Professor Tuan Van Nguyen, Australia (Chair)

Professor Anh-Tuan Dinh-Xuan, France

Emeritus Professor Nu Viet Vu, Switzerland

Emeritus Professor Ezio Giacobini, Switzerland

Professor Uyen Do Huynh, Switzerland

Dr. Vincent Vinh-Hung, France

Emeritus Professor Jean-Pierre Kraehenbuhl, Switzerland

Dr. Quan-Vinh Nguyen, Switzerland

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s