Khoá học nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế

Chúng tôi hân hạnh thông báo đến các bạn khóa học 6 ngày về Nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế sẽ được tổ chức tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng (TDTU) từ 6/11/2022 đến 12/11/2022. Đây là khoá học tiếp theo khoá học vào tháng 4 năm nay tại TDTU.

Khóa học này có mục tiêu chánh là trang bị kiến thức về qui trình và nguyên lí nghiên cứu khoa học, và kĩ năng soạn bài báo khoa học thích hợp cho công bố quốc tế. Chúng tôi nhắm đến các học viên là sinh viên sau đại học, nghiên cứu sinh, và bất cứ ai có ý định làm nghiên cứu khoa học. Sau khi hoàn tất khoá học, chúng tôi kì vọng rằng học viên sẽ:

  • Hiểu các khái niệm cơ bản về nghiên cứu khoa học và phương pháp luận
  • Nhận ra những chủ đề nghiên cứu, phát biểu câu hỏi nghiên cứu theo công thức PICOT
  • Biết đánh giá một câu hỏi nghiên cứu
  • Biết viết đề cương nghiên cứu
  • Hiểu khái niệm ‘bias’ và ‘confounder’
  • Hiểu phương pháp phân tích dữ liệu
  • Biết viết một bài báo khoa học cho công bố quốc tế
  • Biết tiếng Anh trong nghiên cứu khoa học
  • Biết tiêu chuẩn đứng tên tác giả và cách viết cảm tạ
  • Biết chọn tập san cho công bố khoa học (tránh tập san dỏm).

THÔNG TIN KHÓA HỌC

Khai giảng

06/11/2022

Thời gian

Buổi sáng 8h00 – 11h30
Buổi chiều 13h30 – 16h30

Thời lượng

6 ngày

06/11/2022 – 12/11/2022

Hình thức

OFFLINE: Trường đại học Tôn Đức Thắng (19 Nguyễn Hữu Thọ, P.Tân Phong, Q.7, TP. Hồ Chí Minh)

ONLINE: nền tảng Zoom

Nội dung khoá học

Khóa học sẽ bao gồm 16 bài giảng, được chia làm 2 phần. Phần 1 (8 bài giảng) liên quan đến phương pháp nghiên cứu khoa học. Phần 2 (8 bài giảng) tập trung vào kĩ năng công bố quốc tế. Chương trình cho từng ngày như sau:

Ngày 6/11

  • Bài giảng 1: Tổng quan qui trình nghiên cứu: qui trình, ý tưởng, đánh giá. Bài giảng trình bày qui trình của một công trình nghiên cứu khoa học, cách phát hiện chủ đề nghiên cứu, cách phát biểu câu hỏi nghiên cứu theo công thức PICOT, và tiêu chuẩn FINER.
  • Bài giảng 2: Các mô hình nghiên cứu. Bài giảng sẽ giới thiệu các mô hình nghiên cứu cắt ngang, đoàn hệ, thí nghiệm can thiệp, và vài mô hình nghiên cứu không cần labo (dry lab research), thế mạnh và thế yếu của mỗi mô hình nghiên cứu.
  • Bài giảng 3: Khái niệm bias và confounder.  Rất nhiều nghiên cứu khoa học không có giá trị hay kết luận sai vì vấn đề sai lệch và nhiễu. Bài giảng quan trọng này sẽ giới thiệu khái niệm bias (thiên lệch) và nhiễu (confounder) trong các nghiên cứu khoa học qua các ví dụ thực tế.

Ngày 7/11

  • Bài giảng 4: Thu thập và quản lí dữ liệu. Chất lượng dữ liệu là yếu tố hết sức quan trọng cho một nghiên cứu có giá trị. Người ta có câu “Đầu vào là rác thì đầu ra cũng là rác”, dữ liệu nhiễu thì đầu ra cũng chỉ là nhiễu. Do đó, kiểm tra chất lượng dữ liệu là khâu rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học. Bài giảng sẽ giới thiệu một số nguyên tắc trong việc thu thập dữ liệu bằng bộ câu hỏi, những nguyên tắc quản lí số liệu sao cho việc phân tích dễ dàng hơn.
  • Bài giảng 5: Phân tích dữ liệu 1. Phân tích dữ liệu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển hoá dữ liệu thô thành thông tin. Bài giảng này sẽ cung cấp một tổng quan các phương pháp phân tích dữ liệu như phân tích mô tả, phân tích suy luận, và các mô hình trong phân tích.
  • Bài giảng 6: Giới thiệu JASP. Chương trình JASP là một phần mềm hoàn toàn miễn phí được xây dựng trên nền tảng ngôn ngữ R. Đối với những ai từng dùng SPSS sẽ rất dẽ làm quen với JASP vì giao diện menu.

Ngày 8/11

  • Bài giảng 7: Hiển thị dữ liệu. Bài giảng sẽ giới thiệu 4 nguyên tắc Tufte trong hiển thị dữ liệu và thực hiện qua chương trình JASP. Các biểu đồ phổ biến như biểu đồ phân bố, biểu đồ hộp, biểu đồ tương quan, v.v. sẽ được giới thiệu trong bài giảng.
  • Bài giảng 8: Phương pháp ước tính cỡ mẫu. Trong nghiên cứu khoa học, ước tính cỡ mẫu là một bước rất quan trọng vì liên quan đến ngân sách nghiên cứu và ý nghĩa của kết quả. Ở Việt Nam nhiều nghiên cứu được ước tính cỡ mẫu không đúng phương pháp vì không bám sát mục tiêu nghiên cứu. Do đó, bài giảng này sẽ hướng dẫn các yếu tố (hay thông tin) cần thiết để ước tính cỡ mẫu cho các mô hình nghiên cứu cắt ngang, bệnh chứng và đoàn hệ.
  • Bài giảng 9: Đề cương nghiên cứu. Đề cương nghiên cứu là một văn bản quan trọng hệ thống hoá ý tưởng, phương pháp, và kế hoạch nghiên cứu. Tuy nhiên, nhiều người không biết cách viết đề cương nghiên cứu. Do đó, bài này sẽ trình bày cách viết một đề cương nghiên cứu qua từng phần. Mỗi phần sẽ được minh hoạ bằng một hay vài ví dụ thực tế để học viên có thể thực hành theo.

Ngày 9/11: NGHỈ

Ngày 10/11

  • Bài giảng 9: Cấu trúc IMRaD của một bài báo khoa học. Bài giảng sẽ giới thiệu cấu trúc chuẩn của một bài báo khoa học là IMRaD. Những bước cần chuẩn bị cho việc soạn một bài báo khoa học. Phần nào cần viết trước và phần nào cần viết sau sẽ được bàn luận trong bài giảng.
  • Bài giảng 10: Cách viết phần Dẫn nhập và Bàn luận. Phần Dẫn nhập của một bài báo khoa học là lí do tồn tại của bài báo, nên cần phải được quan tâm đúng mức. Bài giảng sẽ giới thiệu công thức viết dẫn nhập có tên là CaRS (creating a research space). Bàn luận là phần khó viết nhất trong một bài báo khoa học. Trong bài giảng này, học viên sẽ học một công thức đơn giản (gồm 6 đoạn văn) nhưng rất hiệu quả trong việc cấu trúc phần bàn luận.
  • Bài giảng 11: Cách viết phần Phương pháp. Bài giảng sẽ giới thiệu những thông tin liên quan đến thiết kế nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp đo lường, phương pháp phân tích, v.v. cho một bài báo khoa học. Mỗi mục sẽ được minh họa bằng những câu văn quen thuộc hay những mô tả đã được công bố trên các tập san khoa học nổi tiếng trên thế giới.

Ngày 11/11

  • Bài giảng 12: Cách viết phần Kết quả. Kết quả là trái tim của một công trình nghiên cứu. Nhưng viết phần Kết quả có khi là một thách thức đáng kể cho những người mới vào nghiên cứu, vì không biết viết cái gì trước và cái gì sau, hay viết sao cho thuyết phục. Bài giảng này sẽ trình bày một số phương pháp và nguyên tắc quan trọng trong việc mô tả kết quả nghiên cứu. Phần đầu sẽ bàn về cách viết. Phần hai hướng dẫn cách thiết kế bảng số liệu và những biểu đồ có phẩm chất cao.
  • Bài giảng 13: Cách viết bản Tóm tắt. Bài báo khoa học đòi hỏi phải có một abstract (tóm tắt), thường giới hạn trong 250 đến 300 từ. Tóm lược một bài báo 20-30 trang thành 250-300 từ là một thách thức. Bài giảng này sẽ giới thiệu hai dạng abstract: loại có cấu trúc và loại không có cấu trúc. Bài giảng cũng sẽ bàn về những chiến lược cụ thể để viết phần abstract sao cho đầy đủ thông tin trong vòng 250-300 từ.
  • Bài giảng 14: Nguyên tắc đặt tựa đề bài báo khoa học.  Tựa đề bài báo khoa học là một yếu tố rất quan trọng, có khi quyết định sự thành bại của bài báo, nhưng rất ít được các tác giả chú ý. Bài giảng này sẽ giới thiệu những nguyên tắc trong việc đặt tựa đề, cùng những điều không nên làm khi đặt tựa đề. Một số nghiên cứu khoa học về tựa đề bài báo cũng sẽ được trình bày để minh họa cho các nguyên tắc chung.

Ngày 12/11

  • Bài giảng 15: Tiếng Anh trong khoa học. Tiếng Anh là một khó khăn đáng kể cho các nhà nghiên cứu mà tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Tiếng Anh trong khoa học càng là một loại ‘ngôn ngữ’ khá đặc thù. Trong bài giảng này, chúng tôi sẽ giới thiệu nguyên lí IDEA cho viết văn khoa học dùng tiếng Anh.
  • Bài giảng 16: Chọn tập san khoa học. Chọn tập san thích hợp để công bố kết quả nghiên cứu đang là một vấn đề thời sự, vì có quá nhiều tập san “dỏm” trên thế giới. Điều nguy hiểm hơn nữa là có những tập san nằm ở biên giới dỏm và thật. Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đã trở thành nạn nhân của những tập san dỏm. Bài giảng này sẽ giới thiệu các tiêu chuẩn để giúp các bạn phân biệt tập san dỏm và tập san thật, cùng những tiêu chí để chọn tập san chuyên ngành thích hợp cho nghiên cứu.

Giảng viên

Gs Nguyễn Văn Tuấn: Giám đốc trung tâm công nghệ y tế và trưởng labo nghiên cứu loãng xương; Giáo sư xuất sắc (Distinguished Professor) của Đại học Công nghệ Sydney (UTS); Giáo sư kiêm nhiệm của Đại học New South Wales và Đại học Notre Dame Australia; và Giáo sư xuất sắc của Đại học Tôn Đức Thắng. GS Tuấn từng là hay đang là biên tập học thuật (Academic Editor) cho nhiều tập san y khoa như J Bone Miner Res, Osteoporosis Int, Bone, Scientific Reports, PLoS ONE, Current Osteoporosis Reports, Therapeutic Advances in Musculoskeletal Disease, và là chuyên gia bình duyệt cho rất nhiều tập san y khoa trên thế giới, kể cả New England Journal of Medicine, Lancet, JAMA, BMJ, Ann Int Med, Nature, Science, v.v.

Ts Trần Sơn Thạch: Giảng viên dịch tễ học của Đại học Công nghệ Sydney và Đại học New South Wales, và nhà nghiên cứu y khoa thuộc Viện nghiên cứu y khoa Garvan. TS Thạch là tác giả của nhiều bài báo khoa học được công bố trên những tập san lừng danh trên thế giới (như JAMA, New England Journal of Medicine, PLoS Medicine, eLife, v.v.) và là người bình duyệt cho nhiều tập san khoa học trên thế giới.

Ts Lê Thị Thanh Loan: Chuyên môn Thống kê Kinh tế, Phân tích định lượng; hiện là Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế và Kinh Doanh thuộc Trường Đại học Tôn Đức Thắng.

Ghi danh tại đường link dưới đây:

https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLScp3hGnDPqIQDWKsbIWcYYaR-m4IU2dhqZmd9oaMPt_5Hp-VQ/viewform

Học phí: Học viên thông thường (5 triệu đồng); viên chức và giảng viên của ĐH Tôn Đức Thắng (4.5 triệu);  sinh viên, học viên cao học – thạc sĩ  (4 triệu).

Liên lạc: Mọi thắc mắc xin vui lòng liên hệ qua địa chỉ email: ibep@tdtu.edu.vn hoặc số điện thoại/Zalo: 083 4447 288 (Ms. Hoà)

Link chánh thức: https://ibep.com.vn/dao-tao-thuc-chien/nghien-cuu-khoa-hoc-va-cong-bo-quoc-te

Luận án áo ngực và tiêu chuẩn FINER

Một trong những tranh cãi chung quanh luận án ‘áo ngực’ là nghiên cứu đó có xứng tầm tiến sĩ. Có người nói rằng nghiên cứu đó chỉ xứng tầm học sinh trung học. Nói vậy e rằng quá đáng. Trong cái note này tôi xin chia sẻ tiêu chuẩn FINER để đánh giá một nghiên cứu khoa học

Nếu các bạn tìm một bộ tiêu chuẩn cho luận án tiến sĩ thì sẽ thấy rất … chung chung. Chẳng hạn như ở Đại học UNSW (Úc), qui định chung của một luận án cấp tiến sĩ là có đóng góp nguyên thuỷ vào kiến thức chuyên ngành (original contribution to knowledge). Đóng góp ‘nguyên thuỷ’ ở đây có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Đại khái, khái niệm ‘original contribution’ bao gồm những khía cạnh sau đây:

(a) ứng viên phải là người tự tạo ra dữ liệu mới từ một ý tưởng mới (chớ không lấy dữ liệu của người khác); hoặc

(b) ý tưởng nghiên cứu mới nhưng dùng dữ liệu cũ [có thể là] của người khác; hoặc

(c) phương pháp mới hay cách làm mới nhưng ý tưởng thì không mới; hoặc

(d) phương pháp mới nhưng dùng dữ liệu thứ phát; hoặc

(e) cách diễn giải mới mà trước đây chưa ai nghĩ tới.

Có khi người ta thêm một câu rằng luận án tiến sĩ phải là một ‘showcase’ rằng ứng viên đã gặt hái được kĩ năng nghiên cứu khoa học và kĩ năng này sẽ giúp cho ứng viên trở thành một nhà nghiên cứu độc lập trong tương lai. Tóm lại, hiểu một cách khái quát, luận án cấp tiến sĩ phải thể hiện một sự đóng góp nguyên thuỷ và kĩ năng nghiên cứu khoa học.

Tiêu chuẩn FINER

Riêng cá nhân tôi thì hay bàn đến 5 tiêu chuẩn của một nghiên cứu cấp tiến sĩ được tóm gọn bằng 5 chữ cái FINER. Đây là ý tưởng của một người bạn và đồng nghiệp của tôi và đã được đề cập trước đây trong cuốn “Cẩm nang nghiên cứu khoa học” do tôi soạn và xuất bản ở Việt Nam. Vậy FINER là gì? Xin trả lời ngắn gọn:

F là viết tắt của chữ feasibility (tính khả thi): Một công trình nghiên cứu cấp tiến sĩ phải mang tính khả thi, hiểu theo nghĩa có thể làm trong thời gian 3 năm với nguồn lực và tài nguyên đang có. Đây là tiêu chuẩn quan trọng nhứt cho đề cương nghiên cứu, bởi vì nếu nghiên cứu không khả thi thì rất không công bằng cho nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, nghiên cứu sinh có thể tham gia vào một chương trình nghiên cứu dài hạn và tập trung vào một lãnh vực chuyên biệt trong vòng 3 năm thì cũng có thể xem là mang tính khả thi.

I là interesting (thú vị):  Một nghiên cứu thú vị có nghĩa là câu hỏi nghiên cứu mang tính thách thức, một ý tưởng mà đồng nghiệp có khi thấy giật mình và thốt lên ‘Wow’ (vì họ chưa nghĩ tới). “Thú vị” còn có nghĩa là cách tiếp cận câu hỏi nghiên cứu được xem là ‘đẹp’ hay ‘elegant’.

N là novelty (cái mới): Những nghiên cứu có giá trị thường đóng góp thông tin mới, dữ liệu mới. Một nghiên cứu chỉ đơn thuần lặp lại những gì người khác đã làm (tiếng Anh gọi là nghiên cứu ‘me too) không xứng đáng để tốn tiền và công sức. Cái mới trong nghiên cứu có thể là mới về ý tưởng, mới về cách tiếp cận, mới về phương pháp, mới về kết quả, hoặc mới về cách diễn giải. Ngày nay, rất khó có một nghiên cứu hoàn toàn mới, mà chỉ mới trong một hay hai khía cạnh trên. Do đó, một câu hỏi nghiên cứu không cần phải hoàn toàn mới và nguyên thủy, nhưng cần phải có cách tiếp cận hay phương pháp mới.

E là ethics (đạo đức): Nghiên cứu khoa học phải đáp ứng tiêu chuẩn về đạo đức (hay y đức nếu là nghiên cứu y khoa). Nếu nghiên cứu mang tính quá xâm phạm cơ thể bệnh nhân, hoặc phơi nhiễm bệnh nhân với các yếu tố nguy hiểm khó chấp nhận được thì không thể là có đạo đức được.  

R là relevance (tác động): Đây là tiêu chuẩn quan trọng, nhứt là đối với khoa học ứng dụng. Một trong những đặc điểm của một nghiên cứu tốt là tính liên quan, có ảnh hưởng, có tác động. Có thể nói rằng tác động là tiêu chuẩn quan trọng nhất của một nghiên cứu ứng dụng. Một cách tốt nhứt để xác định nghiên cứu có tác động hay không là tưởng tượng đến những kết quả có thể thu thập được, và xem xét các khả năng mà kết quả đó có thể đóng góp vào sự phát triển kiến thức, hay ảnh hưởng đến thực hành lâm sàng, ảnh hưởng đến chánh sách y tế, hay đóng góp vào việc soạn thảo phác đồ điều trị mới, hoặc mở ra một định hướng nghiên cứu mới.

Về luận án áo ngực

Quay lại câu hỏi luận án ‘áo ngực’ mà báo chí làm ồn ào có đáp ứng tiêu chuẩn của một luận án tiến sĩ. Tôi đã đọc luận án [1] và nghĩ là nội dung luận án (dữ liệu, cách tiếp cận, phương pháp) có thể đáp ứng tiêu chuẩn một luận án tiến sĩ. Tại sao tôi nghĩ vậy? Tại vì:

(a) Chủ đề nghiên cứu hợp lí, dù mới nghe qua thì có vẻ ‘lạ’. Thật ra, dã có hàng trăm nghiên cứu trong chủ đề này đã được xuất bản trên thế giới. Có thể nó lạ đối với vài người, nhưng rất chánh thống đối với giới khoa học. Cứ đọc phần Dẫn nhập của luận án sẽ thấy trên thế giới đã có vài luận án tiến sĩ trong chủ đề áo ngực rồi.

(b) Thiết kế nghiên cứu cũng rất đúng chuẩn mực khoa học, có thể trả lời những câu hỏi mà tác giả nêu ra.  Tác giả dùng mô hình ‘cross-sectional’ cho nghiên cứu và như thế là hoàn toàn khả thi. Tác giả có lí giải rõ ràng về số lượng nữ sinh theo công thức thống kê chuẩn.

(c) Nghiên cứu đã tạo ra những dữ liệu mới cho Việt Nam. Dữ liệu khoa học là vàng, và dữ liệu mới càng quí báu. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các phương tiện đo lường như GE Druck DPI (Mĩ), máy Scan3D MB2019, và software Geomagic Design X với những thông số kĩ thuật nghiêm chỉnh. Những dữ liệu thu thập được từ nghiên cứu này xứng đáng một luận án tiến sĩ (chứ không phải như vài người nhận xét là chỉ đáng nghiên cứu của học sinh phổ thông — nói như vậy là quá đáng).

(d) Phương pháp phân tích ok. Tác giả đã sử dụng một số mô hình phân tích dữ liệu như phân tích thành phần (principal component analysis), phân tích cụm (cluster analysis), mô hình Bayesian Model Averaging để chọn các đặc điểm quan trọng. Nói chung, tôi thấy tác giả đã dùng các phương pháp phân tích hoàn toàn thích hợp và hiện đại.

(d) Cách trình bày kết quả phân tích nói chung là ok, nhưng tôi nghĩ có thể làm cho tốt hơn. Có khá nhiều dữ liệu và kết quả mà tôi không thể mô tả hết ở đây (không cần thiết), một số kết quả mang tính mô tả còn lại là các kết quả phân tích tương quan bằng [chủ yếu] mô hình hồi qui tuyến tính.

Cách viết cũng có thể cải tiến cho dễ hiểu hơn. Những mệnh đề như “độ tiện nghi áp lực của áo ngực”, “kích thước ngực đặc trưng”, “Ứng dụng phân tích thành phần chính PCA”,  “vector kỳ vọng”, v.v. không phải dễ hiểu và có thể diễn tả rõ ràng hơn. Chẳng hạn như công thức tính ‘hiệp phương sai’ (trang 67) cũng có thể viết lại cho dễ hiểu hơn. Trong phần mô tả phương pháp phân tích mô tả (trang 69), tác giả có vẻ lẫn lộn giữa các tham số trong quần thể (parameter) và chỉ số thống kê tính toán từ mẫu (gọi là statistic) nên đã dùng kí hiệu chưa đúng qui ước.

Ngoài ra, cũng có vài chỗ cần xem xét lại hay giải thích cho rõ ràng hơn. Chẳng hạn như phần phân tích phương sai (trang 88), cần phải giải thích tại sao bậc tự do là 39, và mục đích của bảng này là để nói lên điều gì. Ngoài ra, chỉ số F không thể là 0 được. Những cách viết như “Kết quả phân tích ANOVA Pr(>F) < 0,05” là rất khó hiểu. Trong thực tế Pr(>F) không có ý nghĩa; chỉ có “P < 0,05” là có ý nghĩa. Cũng cần nói thêm rằng khi tác giả kiểm định nhiều giả thuyết thì ngưỡng P < 0.05 là khá dễ dãi; đáng lí ra nên là P < 0.05/k (k là số giả thuyết) thì mang tính thuyết phục hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là những điểm nhỏ, và những điểm này không làm thay đổi nội dung và kiết luận của luận án.

Có vài chỗ liên quan đến cách dịch tiếng Anh sang tiếng Việt tôi thấy nên xem lại. Chẳng hạn như dịch chữ ‘pressure’ sang tiếng Việt là ‘áp lực’ thì có lẽ không đúng; theo tôi ‘áp suất’ thì đúng hơn. Nhưng nói thật là tôi cũng không chắc chắn mấy về đề nghị này.

Tóm lại, tôi thấy luận án án “nh hưởng của đặc điểm nhân trắc ngực nữ sinh Bắc Việt Nam tới áp lực và độ tiện nghi áp lực của áo ngực” chẳng có vấn đề gì phải ồn ào, mà đáng lí ra là nên khen tác giả đã thực hiện được một nghiên cứu / thí nghiệm rất khó khăn. Dữ liệu khoa học là vàng. Trong luận án này, tác giả đã cung cấp những dữ liệu quan trọng về nhân trắc học liên quan đến ngực của phụ nữ Việt Nam (chứ chẳng riêng gì miền Bắc Việt Nam). Tôi nghĩ những kết quả này nên đúc kết thành một bài báo khoa học để công bố trên các tập san có bình duyệt trong chuyên ngành.

___________

[1] Toàn văn của luận án: https://husteduvn-my.sharepoint.com/personal/sdhhusteduvn/layouts/15/onedrive.aspx?ga=1&id=%2Fpersonal%2Fsdh%5Fhust%5Fedu%5Fvn%2FDocuments%2FNCS%2FLuan%20an%20Tien%20si%2F2022%2F08%2F19

PS: Sẵn đây xin thông báo rằng một khoá học về nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế sẽ diễn ra tại Đại học Tôn Đức Thắng từ ngày 6/11 đến 12/11. Trong khoá học này chúng tôi sẽ nói về tiêu chuẩn FINER, nguyên lí đặt tựa đề bài báo khoa học, và phương pháp viết bài báo cho công bố quốc tế. Kính mời các bạn ghi danh theo địa chỉ sau đây:

Giải Nobel Y Sinh Học năm 2022: Ôn cố tri tân

Hôm nay, Hàn lâm viện Thuỵ Điển trao giải thưởng Nobel Y sinh học cho Giáo sư Svante Pääbo (người Thuỵ Điển đang làm việc ở Đức) [1] vì có công khám phá hệ gen của người cổ đại và giúp chúng ta hiểu hơn về quá trình tiến hoá của nhân loại. Tôi gọi giải thưởng Nobel Y sinh học năm nay là thuộc loại ‘ôn cố tri tân’.

Giáo sư Svante Pääbo

‘Ôn cố tri tân’ là ôn lại chuyện ngày xưa để hiểu rõ chuyện ngày nay. Chuyện ngày nay là đại dịch Covid-19. Có khi nào các bạn thắc mắc tại sao có những người bị nhiễm SARS-Cov-2 (sẽ viết tắt là nCov) nặng hơn người khác, thậm chí tử vong. Dĩ nhiên là có nhiều yếu tố có thể giải thích cho ‘hiện tượng’ này, nhưng hoá ra gen là một trong những yếu tố đó. Và, người phát hiện ra gen có liên quan đến bệnh trạng Covid-19 chẳng ai khác hơn là khôi nguyên giải Nobel Y sinh học năm nay: Giáo sư Svante Pääbo.

Trong một bài báo ngắn công bố trên Nature vào năm 2020 [2], Giáo sư Hugo Zeberg và Giáo sư Pääbo, qua phân tích DNA, phát hiện rằng một gen ở Nhiễm sắc thể số 3 có liên quan đến nhiễm nCov nặng. ‘Nặng’ ở đây là bị nhập viện, thở máy, hay tử vong. Một biến thể của gen này được tìm thấy ở 63% người Bangladesh, và những người mang biến thể gen này có nguy cơ tử vong cao gấp 2 lần người dân trong cộng đồng.

Điều thú vị là gen này có nguồn gốc từ hệ gen của tông người Neandertals hơn 30,000 năm trước. Một số (khoảng 3-6%) chúng ta (tức người Đông Nam Á) cũng mang người người biến thể gen này.

Để hiểu hơn câu chuyện ‘ôn cố tri tân’ của Gs Svante Pääbo, chúng ta cần phải điểm qua các tông người. Tất cả chúng ta, bất cứ dân tộc nào trên thế giới, đều có tổ tiên xuất phát từ Phi châu. Người tinh khôn (Homo sapiens) có mặt ở Phi Châu vào khoảng 300,000 năm trước. Người Neandertals cũng xuất phát từ Phi Châu và sống ở Âu Châu và Tây Á vào khoảng 400,000 năm trước.

Mô hình di dân cổ đại giải thích rằng khoảng 70,000 năm trước, có nhiều nhóm người tinh khôn rời Phi Châu và tản mát đi khắp nơi trên thế giới, kể cả Đông Nam Á. Những nhóm nguời này tồn tại song song với người Neandertals hơn 10 ngàn năm, nhưng ít ai biết mối liên hệ giữa 2 nhóm tông người này. Tuy nhiên, khoa học biết rằng tông người Neandertals đã bị tuyệt chủng vào khoảng 30,000 năm trước.  

Vì họ đã tuyệt chủng, nên rất khó tìm về nguồn cội. Chỉ có một cách là phân tích DNA từ xương của họ. Nhưng chiết xuất DNA từ những tông người này rất khó vì nó đã bị tan huỷ và có thể bị nhiễm bởi DNA từ các nguồn khác. Công trình nghiên cứu dẫn đến giải Nobel cho Gs Pääbo chính là cách chiết xuất DNA cổ đại từ những tông người như Neandertals. Gs  Pääbo tập trung vào phân tích mitochondrial DNA (một chất liệu di truyền sản xuất năng lượng trong tế bào), và ông đã giải trình tự mitochondrial DNA từ một xương có tuổi 40,000 năm và chỉ ra rằng nó khác với mitochondrial DNA của con người hiện đại và loài tinh tinh.

Bước kế tiếp, ông và đồng nghiệp ứng dụng công nghệ hiện đại để giải trình tự DNA của hệ gen người Neandertal, và công trình này đã được công bố vào năm 2010. Nhóm nghiên cứu phát hiện rằng tổ tiên của người tinh khôn và Neandertals tồn tại khoảng 800,000 năm trước. Khoảng 1-4% hệ gen của người Âu châu và Á châu ngày nay có nguồn gốc từ gen của người Neandertals.

Qua giải trình tự gen, Gs Svante Pääbo và đồng nghiệp khám phá một tông người có tên là Denisovan. Họ giải trình tự hệ gen từ xương ngón tay 40,000 năm tuổi từ Siberia và chỉ ra rằng hệ gen này rất khác với người tinh khôn và Neandertals. Có thể 6% DNA của chúng ta (người Đông Nam Á) là xuất phát từ tông người Denisovan.

Những nghiên cứu của Gs Svante Pääbo và đồng nghiệp cùng sự tiến bộ của công nghệ giải trình tự gen đã cho ra đời một lãnh vực khoa học mới có tên là paleogenomics. Khoa họcpaleogenomics phân tích và tái thiết lập hệ gen của các loài vật đã tuyệt chủng.

Ứng dụng khoa học paleogenomics giúp cho chúng ta hiểu hơn về quá trình tiến hoá của nhân loại. Chẳng hạn như một biến thể của gen EPAS1 (tìm thấy ở người Denisovan) giúp cho người ta sống sót ở những vùng cao. Do đó, ngày nay biến thể EPAS1 thường hay thấy ở người Tây Tạng. 

Đại dịch COVID-19 đã tạo điều kiện cho một khám phá thú vị và giải thích tại sao một số bệnh nhân bị nhiễm SARS-Cov-2 nặng hơn người khác. Hoá ra, những người này (bị nhiễm nặng) mang trong người một mảng DNA trong Nhiễm sắc thể số 3 từ người Neandertals. Khoảng 50% người Nam Á (như Bangladesh và Ấn Độ) và 16% người Âu châu có biến thể gen này trong hệ DNA.

Giải Nobel Y sinh học thường được trao cho những công trình mang tính phương pháp (ví dụ như MRI, CT, PCR, Knock-out model, v.v.) chứ ít khi nào cho những công trình mang tính mô tả. Tuy nhiên, công trình giải mã hệ gen của người Neandertals cũng có thể xem là một phương pháp, bởi vì họ phải sử dụng công nghệ giải trình tự gen và sáng chế ra phương pháp ‘bioinformatic’ mới. Thật ra, giải Nobel năm nay cũng có thể xem là một sự ghi nhận đầu tiên về đóng góp rất quan trọng của phương pháp bioinformatic (tin sinh học).  Bioinformatic thực chất là sự ‘giao thoa’ giữa thống kê học và khoa học máy tính giúp chúng ta khai thác và hiểu các dữ liệu sinh học.

Phương pháp giải trình tự gen và bioinformatic đã giúp giải trình tự gen của các tông người cổ đại và giúp chúng ta biết mình là ai, xuất phát từ đâu, và tại sao chúng ta tồn tại và đau khổ như ngày hôm nay. Đó là một ‘ôn cố tri tân’ vậy.

Bài đã đăng trên báo Người Lao Động: https://nld.com.vn/danh-cho-ban-doc-vip/phan-tich-dac-biet-ve-giai-nobel-y-sinh-2022-20221004095940791.htm

___

[1] Vài dòng về Giáo sư Svante Pääbo

Ông sanh ra tại Stockholm vào ngày 20/4/1955 trong một gia đình trung lưu. Thân phụ ông là Sune Bergström (một nhà khoa học chuyên về sinh hoá) từng được trao giải Nobel Y sinh học năm 1982 vì có công khám phá prostaglandins, một hormone trong hệ nội tiết. Thân mẫu ông là Karin Pääbo, cũng là một nhà sinh hoá học. Ông tốt nghiệp tiến sĩ từ Đại học Uppsala vào năm 1986. Trong thời gian 1986–1987, ông làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ tại Viện Sinh học Phân tử II thuộc Đạo học Zürich (Thuỵ Sĩ). Từ năm 1987–1990, ông làm nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ sinh hoá tại Đại học California, Berkeley (Mĩ). Năm 1990 ông được Đại học Uppsala trao bằng Tiến sĩ Khoa học (Docent). Năm 1997, ông được bổ nhiệm làm giám đốc viện di truyền tiến hoá Max-Planck (Đức) và giáo sư danh dự của Đại học Leipzig.

Sự nghiệp khoa học của ông chỉ ‘khởi sắc’ trong những năm đầu thế kỉ 21, tức sau 15 năm tốt nghiệp tiến sĩ. Năm 2002, ông phát hiện một gen (có tên là FOXP2) có liên quan đến khả năng sử dụng ngôn ngữ. Năm 2006 là năm quan trọng khi nhóm nghiên cứu do ông lãnh đạo công bố hệ gen của tông người Neanderthals, và sau được tạp chí Time vinh danh là 1 trong 100 người có ảnh hưởng lớn nhứt trong năm. Những năm sau đó, ông tập trung vào lãnh vực nghiên cứu hệ gen của các tông người cổ đại và khám phá ra tông người được định danh là ‘Denisovan’ vào năm 2010 (Denisova là tên của một hang động ở Siberia).

Ông là tác giả và đồng tác giả của hơn 400 bài báo khoa học. Một số (20) bài báo quan trọng được công bố trên Nature, Science, Cell, và PNAS, và được trích dẫn hơn 1000 lần, có bài được trích dẫn hơn 4000 lần. Theo dữ liệu của Scopus, chỉ số H của ông là 133.  Ông được trao nhiều giải thưởng danh giá. Những giải thưởng quan trọng phải kể đến giải Gottfried Wilhelm Leibniz Prize (1992), một giải thưởng cao quí của Đức, vì những công trình liên quan đến chiết xuất DNA cổ đại. Năm 2000, ông được bầu làm viện sĩ Hàn lâm viện khoa học Thụy Điển. Năm 2008, ông được trao Huân chương “Pour le Mérite for Sciences and Arts” (Đức) vì những đóng góp quan trọng cho di truyền học. Năm 2016 ông trở thành viện sĩ Hoàng gia học viện của Anh. Ngoài ra, ông còn được trao nhiều giải thưởng khác từ Mĩ, Anh, Thuỵ Điển và Đức.

Trong một cuốn sách xuất bản vào năm 2014, Svante Pääbo cho biết ông là người ‘bisexual’ (có nghĩa là vừa là đồng tính luyến ái nhưng có gia đình). Ông thành hôn với Linda Vigilant, một nhà di truyền học, và có 2 con. Hai vợ chồng là đồng tác giả của nhiều bài báo đã được công bố trên những tập san quan trọng.

[2] https://www.nature.com/articles/s41586-020-2818-3

Giới thiệu sách “Như cơn gió thoảng”

Tôi hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một cuốn sách mới có tựa đề là “Như con gió thoảng” (và tiêu đề là “Nghĩ về những qui luật trong cuộc sống”) của tôi có thể giúp các bạn ‘mua vui cũng được một vài trống canh’. Đây là cuốn sách tập hợp những bài viết liên quan đến những bài học ở đời, những thói đời, những thiên kiến, những sai sót, và những qui luật sống. 

Vài năm trước tôi bị bệnh. Có thể nói là “bạo bệnh.” Tôi không nghĩ ra tại sao mình mắc bệnh. Những phân tích sinh hoá chẳng giúp gì. Triệu chứng lâm sàng không rõ ràng, và làm cho tôi đoán đủ thứ. Nhưng cuối cùng thì bác sĩ cũng đi đến một chẩn đoán đúng, và điều trị tiến triển ok. Tôi bắt đầu ghi chép trên note của điện thoại, như là một nhựt kí điện tử. Tôi ghi chép cẩn thận triệu chứng, kết quả xét nghiệm, nước tiểu, màu da, mức độ đau, mức độ khó chịu, v.v. 

Nhưng có một khía cạnh tôi không ghi: diễn biến tâm lí. Tôi không ghi sự thay đổi về hành vi của mình, mà chỉ quan tâm đến khía cạnh sinh học và lâm sàng. Nhưng tôi cảm nhận được là mình có thay đổi về nhận thức thế giới chung quanh và quan điểm về sự sống và cái chết. Thế là tôi viết lại những cảm nghĩ của mình về cái mong manh giữa sống và chết, về những điều làm mình đau khổ. 

Tôi tiếp tục viết loạt bài này như là nhựt kí trong thời gian phong toả từ đầu tháng 7/2020 đến giữa tháng 10/2021. Đó là một quãng thời gian tương đối ngắn, nhưng lại là cơ hội tốt để đọc sách và đọc báo. Từ những cuốn sách viết về tâm lí người Việt đến sách bàn về những thói và tật của người Việt. Từ sách tôi tìm đến những nghiên cứu về tâm lí học và thấy mình học được nhiều điều hay để có thể chia sẻ cùng các bạn. 

Tôi chia cuốn sách thành 4 phần: ở đời, thói đời, thiên kiến và qui luật sống. Trong phần I, tôi bàn về những điều làm cho chúng ta có cuộc sống hạnh phúc, những điều làm chúng ta ‘kẹt’, và những bài học hay ở đời. Phần II cuốn sách bàn về những tật và thói mang tính tiêu cực của con người, cùng những nhận xét của người nước ngoài và tiền nhân về người Việt. Phần III là những hiện tượng tâm lí chúng ta hay thấy trong cuộc sống như thiên kiến tiêu cực, thiên kiến một chiều, thiên kiến chứng thực, v.v. Phần sau cùng tôi bàn về về những qui luật phổ quát của thành công (vốn là một bài điểm sách) và sự khác biệt giữa sếp và lãnh đạo. 

Tôi hi vọng rằng bạn đọc sẽ tìm thấy trong sách một số ý tưởng và thông tin có ích giúp tăng năng lượng tích cực trong cuộn sống. 

Link youtube giới thiệu sách

Sách 312 trang, giá bán chừng 100,000 đồng, có bán tại:

  • Nhà sách Fahasa
  • Trẻ
  • Minh Khai
  • tiki.vn
  • metabooks.vn
  • Và nhiều nhà sách khác mà tôi chưa rõ. 

Giới thiệu sách “Suy nghĩ thống kê”

Tôi rất hân hạnh giới thiệu đến bạn đọc một cuốn sách mới của tôi. Cuốn sách có tựa đề là “Suy nghĩ thống kê trong đời thường” do nxb Tổng Hợp xuất bản vài ngày trước. Đây là một cuốn sách tôi đã ấp ủ nhiều năm qua, nhưng mãi đến nay mới viết xuống và có dịp chia sẻ cùng bạn đọc. 

Đây là một cuốn sách tôi xếp vào nhóm giải trí. Sách giải trí cũng có đôi ba thể loại: loại vui, loại đọc xong rồi quên, loại đọc xong là học được vài điều. Cuốn sách này thuộc loại thứ 3, có nghĩa là sách vừa giải trí vừa học. Hay nói cụ thể hơn là học từ những câu chuyện trong sách.

Đó là những câu chuyện rất thực tế nhưng để lại hay cho ra đời những bài học, thậm chí khái niệm mới. Chẳng hạn như chuyện về án oan sai vì hiểu sai xác suất, là chuyện cân con bò (con bò giờ rất nổi tiếng) và từ đó có khái niệm ‘trí khôn đám đông’, chuyện xét nghiệm chất lượng bia Guinness, chuyện ‘trung bình nhân’ cho ra đời khái niệm số trung bình, chuyện thí nghiệm uống trà sữa cho ra đời khoa học thống kê, v.v. Ngoài ra, còn có những câu chuyện liên quan đến sự nghiệp và cá tánh của các nhà khoa học lừng danh như Francis Galton, Ronald Fisher, Karl Pearson, David Cox, C. R. Rao, v.v. Sự nghiệp của họ cùng những câu chuyện mang tính huyền thoại cũng là những bài học cho chúng ta. 

Nội dung cuốn sách được chia thành 5 phần: 

  • Phần 1: Xác suất và đời sống
  • Phần 2: Trung bình và người trung bình
  • Phần 3: Qui luật thống kê
  • Phần 4: Nhiễu, sai lệch, và nghịch lí thống kê
  • Phần 5: Nhân vật thống kê 

Tôi có cảm hứng viết cuốn sách này từ rất lâu, sau khi phát hiện rằng cách giảng dạy hay nhứt là qua … kể chuyện. Qua những câu chuyện chúng ta biết rõ hơn về những khái niệm trừu tượng. Những câu chuyện còn giúp làm giàu thêm kinh nghiệm trong cuộc sống. Chẳng hạn như mỗi ngày chúng ta bước lên xe gắn máy đi làm là chúng ta đã chấp nhận một rủi ro, thậm chí tử vong. Vậy thì làm sao chúng ta có thể đo lường cái rủi ro đó? Cuốn sách này sẽ giới thiệu khái niệm “vi tử” đến bạn đọc để làm thước đo rủi ro  cho vài hành động và hành vi hàng ngày. Hiểu khái niệm vi tử và so sánh giúp cho chúng ta bình thản hơn trong cuộc sống.  

Ai là ‘khách hàng’ của cuốn sách này? Tôi viết cuốn sách này cho đại chúng, chứ không phải chỉ cho giới khoa học. Đây không phải là một cuốn sách mang tính kĩ thuật, cũng chẳng có công thức gì cả. Do đó tất cả ai cũng đọc được. Từ người sinh viên đang vất vả vì các khái niệm thống kê, nhà khoa học đang thắc mắc trị số P có nghĩa là gì, đến anh lái xe ôm đang đọc báo và hỏi thông tin có lí không. Mỗi câu chuyện được thuật lại bằng một văn phong giản dị và ngắn để bạn đọc dễ theo dõi. 

Xin trân trọng giới thiệu cuốn “Suy nghĩ thống kê trong đời thường” đến các bạn. 

Phiên bản youtube:

___

PS: Sách có bán tại:

https://nxbhcm.com.vn/34/suy-nghi-thong-ke-trong-doi-thuong-5995

www.netabooks.vn

www.sachkhaiminh.com

www.tiki.vn

Số trang: 392

Giá bán: 130,000 – 136,000 đồng

Chương trình CME DXA và sức khoẻ xương

Các bạn đang làm trong lãnh vực cơ xương? Các bạn đang tìm đề tài “không đụng hàng” cho nghiên cứu khoa học? Các bạn muốn tìm hiểu về công nghệ dual-energy X-ray absorptiometry (DXA)? Chúng tôi hân hạnh thông báo một lớp học CME chủ đề “DXA và Sức Khỏe Xương” sẽ được diễn ra ở ĐHYK Phạm Ngọc Thạch vào ngày 21/9-22/9/2022.

Máy DXA đời mới

Bối cảnh

Loãng xương là một bệnh lí có nguyên nhân từ sự suy giảm của mật độ xương và suy thoái cấu trúc xương. Chẩn đoán loãng xương dựa vào giá trị của mật độ xương (BMD) được đo bằng máy DXA (dual-energy X-ray absorptiometry). Thông thường, người phụ trách đo BMD phải có chứng chỉ của hiệp hội International Society for Clinical Densitometry (ICSD).

Nhưng ở Việt Nam, tuyệt đại đa số bác sĩ và kĩ thuật viên phụ trách DXA đều không qua đào tạo ICSD. Do đó, các bác sĩ và kĩ thuật viên thiếu kiến thức và kĩ năng về nguyên lí vận hành của máy DXA, nên việc đo lường BMD không được chính xác hay diễn giải không đúng.

Ngoài ra, nhiều bệnh viện và trung tâm chưa sử dụng hết công năng của máy DXA cho việc chẩn đoán béo phì và gãy xương. Đa số chỉ sử dụng DXA đo BMD mà không có thêm ứng dụng nào khác.

Ứng dụng DXA cho nghiên cứu béo phì và tim mạch

Mục tiêu

Do đó, Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch tổ chức một lớp học CME chuyên đề “DXA và sức khoẻ xương: từ căn bản đến nghiên cứu khoa học.” Mục tiêu chung của chương trình CME này là cung cấp kiến thức và kĩ năng căn bản DXA, diễn giải kết quả đo lường BMD và thành phần cơ thể. Sau khi xong chương trình CME, học viên sẽ:

  • Hiểu về nguyên lí của máy DXA;
  • Hiểu ý nghĩa của khái niệm “bone mineral density” là gì;
  • Hiểu ý nghĩa của chỉ số T và chỉ số Z, và chẩn đoán loãng xương chính xác;
  • Sử dụng máy DXA để đo thành phần cơ thể (lượng cơ và lượng mỡ);
  • Sử dụng máy DXA để đánh giá nguy cơ gãy xương;
  • Sử dụng DXA để đánh giá trabecular bone score (TBS).

Học viên

Chương trình CME được thiết kế cho các học viên là bác sĩ, chuyên gia về chẩn đoán hình ảnh, kĩ thuật viên, và sinh viên y năm cuối.

Chứng chỉ CME sẽ do Trường ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch cấp.

Thời gian

Ngày 21 – 22/9/2022  

Địa điểm

Trường Đại học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

2 Dương Quang Trung

Phường 12, Quận 10, TPHCM

Liên lạc ghi danh

Nguyễn Phạm Phương, ĐT 097-695-7670

Email: phongqlkh.ttncys@pnt.edu.vn

Học phí 2 triệu đồng.

Chương trình ngày 21/9/2022

Bài giảng 1: Giới thiệu về nguyên lí của dual-energy X-ray absorptiometry (KS Nguyễn Huy Đạt và Nguyễn Phước Quang Tuấn)

Bài giảng 2: Kĩ thuật đo lường mật độ xương (BS Mai Duy Linh)

Bài giảng 3: Chỉ số T và chỉ số Z (GS Nguyễn Văn Tuấn)

Bài giảng 4: Đánh giá sự thay đổi mật độ xương (GS Nguyễn Văn Tuấn)

Bài giảng 5: Sử dụng VFA để đánh giá nguy cơ gãy xương (BS Hồ Phạm Thục Lan)

Bài giảng 6: Đo lường thành phần cơ thể (BS Hồ Phạm Thục Lan)

Bài giảng 7: Đo lường trabecular bone score (BS Hồ Phạm Thục Lan)

Bài giảng 8: Đo lường vôi hoá động mạch, hip structure analysis và BSA (BS Mai Duy Linh)

Bài giảng 9: Ứng dụng DXA cho các ý tưởng nghiên cứu khoa học (GS Nguyễn Văn Tuấn)

Ngày 22/9: Thực hành trên máy DXA

Phần 1 từ 8 AM đến 11 AM: Nhóm học viên 1 thực hành đo BMD ở các vị trí cơ thể, đo TBS, BSI, VFA, v.v.

Phần 2 từ 1 PM đến 4 PM: Nhóm học viên 2 thực hành đo BMD ở các vị trí cơ thể, đo TBS, BSI, VFA, v.v.

Ghi danh: https://docs.google.com/forms/d/14f_AZ3hK3LG7TyvqJOd567CpxkJPfJPFxO7FoHjYvtc

Đọc hồi kí “Sống và Viết ở Hải Ngoại” của Nguyễn Hưng Quốc

Nguyễn Hưng Quốc là một nhà phê bình văn học xuất sắc ở hải ngoại. Mới đây, anh cho xuất bản cuốn hồi kí nhan đề “Sống và Viết ở Hải Ngoại” với nhiều ‘tiết lộ’ mang tính chứng từ của một thời, kể cả tiết lộ về chuyện anh không được về Viêt Nam. Cái note này muốn giới thiệu cuốn hồi kí đến các bạn.

Vào cuối thập niên 1980s, Nguyễn Hưng Quốc (tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn) xuất hiện trên văn đàn hải ngoại một cách sáng chói vì anh đem lại một luồng gió mới trong phê bình văn học. Những ai đã chán với cách phê bình văn học theo cảm tính về một tác phẩm, nhiều sáo ngữ về bối cảnh, và nghiêng về những câu chuyện cá nhân, đột nhiên tìm thấy một cách phê bình văn học mới mẻ, có phương pháp luận rõ ràng, có khoa học tính, và có khi cả định lượng. Trước đây, đã có một nhà phê bình nổi tiếng là Đặng Tiến ở Pháp, nay văn đàn hải ngoại có thêm một Nguyễn Hưng Quốc. Nhà văn Võ Phiến cho rằng “Người xứ An Nam ta chưa có nhà lí luận văn học nào mà viết đẹp như Nguyễn Ngọc Tuấn. Nhiều đoạn đọc mà mê.” Quả đúng như vậy.

Nhưng trong thế giới khoa bảng, Nguyễn Ngọc Tuấn còn là một nhà nghiên cứu và giảng viên môn Việt Học tại Đại học Victoria (Úc) và có nhiều đóng góp đáng kể cho việc duy trì môn Việt Học ở Úc. Anh từng được Hội đồng Nghiên Cứu Khoa học Úc (ARC: Australian Research Council) cấp tài trợ cho nghiên cứu về tiếng Việt và văn học Việt. Cần nói thêm rằng ARC chỉ tài trợ cho những nhà nghiên cứu có hạng và có tiềm năng. Sự thành công trong việc được ARC tài trợ là một minh chứng về khả năng học thuật của Nguyễn Hưng Quốc.

Cho đến nay, Nguyễn Hưng Quốc đã xuất bản khoảng 20 cuốn sách, kể cả sách tiếng Anh. Có thể nói cuốn nào của anh ấy tôi đều đọc và rất thích. Những cuốn mà tôi rất tâm đắc (như Thơ, v.v… và v.v…, Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản), và từng có bài giới thiệu (như Sống với chữ). Theo tôi biết cuốn “Văn học Việt Nam dưới chế độ cộng sản” — tuy cái tựa đề mang tính ‘dữ dội’ nhưng thật ra là một tổng quan rất công phu và tuyệt vời — được các nhà văn và nhà nghiên cứu văn học trong nước rất thích.

Nhưng đằng sau những thành tựu đó là một hành trình gian nan của người tị nạn, một con người yêu quê hương và đầy trăn trở. Những đoạn đường sự nghiệp và trăn trở đó được tác giả chắt chiu thành một cuốn hồi kí Sống và Viết ở Hải Ngoại“. Tác giả viết về con đường vào văn học mà tác giả gọi là “lộc văn”, dạy học, những bạn văn, chuyện bị cấm nhập cảnh Việt Nam, và kết thúc bằng chương viết về “vấn đề bản sắc  của người cầm bút lưu vong.” Chương nào cũng cuồn cuộn thông tin được chuyển tải bằng một văn phong sắc bén và gãy gọn.

Lộc văn

Nguyễn Hưng Quốc là một bút danh, và chữ ‘Hưng Quốc’ đã từng làm cho nhiều người lầm tưởng là tác giả có một chủ trương chánh trị, nhưng không phải. Thật ra, Nguyễn Hưng là một dòng họ ở Quảng Nam, còn “Quốc” thì chỉ là một ý nghĩ tình cờ này sinh khi còn ở Pháp. Nguyễn Ngọc Tuấn, sanh ra và lớn lên ở Quảng Nam, quê hương của những nhân vật lịch sử như Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi, Phân Châu Trinh, v.v.  

Nguyễn Hưng Quốc cho biết anh có “lộc văn” đầu đời từ quãng thời gian theo học đại học ở Sài Gòn. Tốt nghiệp từ Đại học Sư phạm TPHCM vào cuối thập niên 1970s với hạng xuất sắc qua một bài luận văn về tư tưởng yêu nước, và được Gs Lê Trí Viễn ưu ái cho ở lại đại học làm cán bộ giảng dạy.  

Nhưng thập niên 1970s, 1980s là thời của chủ nghĩa lí lịch, mà theo đó những người có liên quan với chế độ VNCH không thể tiến thân, thậm chí không thể vào học đại học. Do đó, nhiều người đã chọn con đường vượt biên. Gs Mai Quốc Liên từng khuyên chàng sinh viên Nguyễn Ngọc Tuấn rằng “Cậu ráng tìm đường đi vượt biên đi. Với lí lịch cậu bây giờ, chế độ này sẽ không sử dụng cậu đâu. Như vậy thì phí tài của cậu“.  Có lẽ nghe theo lời khuyên đó, Nguyễn Hưng Quốc đã tìm đường vượt biên.

Giữa tháng 6 năm 1985, anh đến Pulau Laut, Nam Dương. Anh được Pháp nhận cho đi định cư, và tháng 11/1985 thì anh tới Pháp bắt đầu hành trình của một người tị nạn. Ở Pháp, sau một thời gian làm phụ bếp (giống tôi), anh lại hưởng một lộc văn khác: làm việc cho tạp chí Quê Mẹ của Thi Vũ Võ Văn Ái. Khi đã ổn định cuộc sống một chút, cũng nhờ “lộc văn” mà anh đã thành công trong việc bảo lãnh vợ con từ Việt Nam sang Pháp định cư.

Lộc văn của anh ấy còn tiếp tục khi sang Úc. Qua sự bảo trợ Ts Nguyễn Xuân Thu, lúc đó là một giảng viên Việt học ở Úc, Nguyễn Hưng Quốc được sang Úc định cư vào đầu năm 1991. Ở Úc, cũng nhờ tài viết văn và những cuốn sách phê bình văn học anh viết ở Pháp, nên được nhận vào vừa giảng dạy tiếng Việt vừa theo học tiến sĩ mà không qua chương trình cao học (masters).

Trong sách, Nguyễn Hưng Quốc tiết lộ một thông tin thú vị là vào năm 1992, tổ chức của Hoàng Cơ Minh từng quyết định trao giải thưởng cho anh, nhưng anh từ chối vì không muốn dính dáng vào các tổ chức chánh trị.

Phê bình văn học

Nguyễn Hưng Quốc bắt đầu viết về văn học trong thời gian làm việc cho tạp chí Quê Mẹ ở Pháp. Những bài viết đó sau này được tập hợp và in thành một cuốn sách “Tìm hiểu nghệ thuật thơ Việt Nam” gây tiếng vang. Nhà văn Mai Thảo từng nhận xét rằng: “Bình luận về thơ ở ngoài nước hiện giờ chúng ta có một tài viết thông minh và xuất sắc: đó là Nguyễn Hưng Quốc”.

Tại sao Mai Thảo viết như vậy? Tại vì Nguyễn Hưng Quốc đem lại một cách phê bình mới mang tính khoa học hơn trước đây. Trước đây, Nguyễn Hưng Quốc phát hiện rằng văn học Việt Nam thường được nhận xét qua 3 hình thức: (i) phê bình một tác giả; (ii) phê bình một tác phẩm; và (iii) tổng kết một giai đoạn. Đọc những bài phê bình như thế thì thấy văn chương bay bổng, nhưng hình như nội dung thì có vẻ ‘định tính’, chủ quan. Đào sâu thêm quá trình hình thành văn học Việt Nam, Nguyễn Hưng Quốc nhận ra 5 đặc điểm nổi bật:

  • tính chất truyền khẩu;
  • tính chất thực dụng;
  • tính chất phản trí thức;
  • tính chất nghiệp dư; và
  • tính chất thuộc địa.

Những nhận định trên được đúc kết trong tác phẩm “Văn học Việt Nam từ điểm h(ậu h)iện đại“. Cuốn sách này gây ra vài tranh cãi vì những cái nhìn mới mẻ mà những người bảo thủ hay những người thiên về ‘nguyên trạng’ khó có thể cảm nhận được.

Nguyễn Hưng Quốc là một nhà phê bình văn học có khả năng khuấy động không khí văn học ở hải ngoại và không ngại xông vào những trận bút chiến.  Một trong những ‘ồn ào’ mà tôi từng theo dõi và thích thú là những tranh luận chung quanh bài thơ Con Cóc. Ai trong chúng ta cũng biết đó là một bài thơ dở, dở đến độ thầy cô hay lấy bài thơ ra để minh hoạ cho cái dở. Thế nhưng chỉ có Nguyễn Hưng Quốc lí luận rằng đó là một bài thơ hay! Mà, lí luận dễ hiểu chứ chẳng có gì quá siêu hình và trừu tượng. Bài viết của Nguyễn Hưng Quốc làm cho một số nhà phê bình trong nước như Đỗ Minh Tuấn và Đinh Bá Anh, cùng các cây viết ở hải ngoại như Đặng Tiến, Phạm Thị Hoài, Bùi Vĩnh Phúc, và Thuỵ Khuê tham gia tranh luận.

Bạn văn

Trong chương viết về bạn văn, bạn đọc sẽ được dịp biết qua các nhà văn nổi tiếng ở trong nước và hải ngoại. Tác giả thuật lại những kỉ niệm nho nhỏ với các ‘văn nhân’ trong nước như Nguyễn Huy Thiệp, Hoàng Ngọc Hiến, Phạm Xuân Nguyên (người mà anh xem là thân nhứt), v.v. Có chuyện vui vui là khi Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp vẽ tặng tác giả, ông chỉ ghi là “tặng Nguyễn Ngọc Tuấn” mà không dám dùng bút danh “Nguyễn Hưng Quốc”!

Ở hải ngoại, tác giả quen với những nhà văn nổi tiếng, trong đó có Võ Phiến, Nguyễn Xuân Hoàng, Mai Thảo (chủ bút tạp chí Văn), và Nguyễn Mộng Giác (chủ bút tạp chí Văn học). Mai Thảo là một văn tài nhưng khi qua Mĩ ông sống một cuộc sống nghèo nàn và cô đơn. Tuy nghèo, nhưng Mai Thảo lại rất hào hiệp với bạn bè, và bạn văn của ông thì không khi nào thiếu. Và, trong căn phòng nhỏ mà ông ở đó cũng chính là ‘văn phòng’ của tạp chí Văn lừng danh một thời.  Đọc những trang viết về Mai Thảo tôi mới biết bút danh Mai Thảo đến từ đâu:

“Sở dĩ tôi lấy bút hiệu Mai thảo là vì hồi nhỏ, khi đi học, ở trong trường, tôi có một thằng bạn làm thơ với bút hiệu Mai Luân. Thơ cũng vừa thôi, nhưng hồi đó, chẳng hiểu tại sao, tôi mê thơ hắn lạ lùng. Coi hắn như thần tượng. Nên mới đặt cho mình bút hiệu Mai Thảo. Cùng là Mai cả. Mai Luân. Mai Thảo. Năm đó, tôi khoảng mười lăm tuổi”.

Võ Phiến là một văn tài mà Nguyễn Hưng Quốc rất ngưỡng mộ. Anh ấy viết đến 2 cuốn sách về Võ Phiến (Võ Phiến, Nxb Văn Nghệ 1996; Thư Võ Phiến, Người Việt 2015). Võ Phiến là người từng theo Việt Minh nhưng sau này ‘dinh tê’, rồi trở thành một nhà văn lừng danh ở miền Nam. Nhưng chẳng hiểu sao sau 1975 nhà cầm quyền mới xem Võ Phiến là một ‘biệt kích văn nghệ’. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây nhà cầm quyền trong nước cho in lại một số tác phẩm của ông. Trong một lần gặp Võ Phiến ở California (lúc đó ông đã cao tuổi), ông hỏi Nguyễn Hưng Quốc:

Anh nghĩ bây giờ ở trong nước người ta có đọc tôi không, hả anh?

Nguyễn Hưng Quốc đáp: “Có chứ. Một cuốn sách của bác mới được in lại ở trong nước, được nhiều người đọc là khen lắm“.

Ông tặc lưỡi “Lạ nhỉ! Không ngờ người ta lại cho in lại sách của tôi.”

Cấm nhập cảnh Việt Nam

Bấy lâu nay, cộng đồng người Việt ở nước ngoài đồn đại rằng Nguyễn Hưng Quốc không được nhà cầm quyền cho nhập cảnh Việt Nam. Tuy nhiên, ít ai biết được câu chuyện đằng sau là như thế nào. Hai chương cuối của cuốn sách này là một tường thuật về diễn biến của sự việc.

Ngày 19/11/2005, Nguyễn Hưng Quốc dẫn một nhóm sinh viên của Đại học Victoria (Úc) về Việt Nam để làm một chuyến du khảo (study tour). Các sinh viên thì được nhập cảnh, nhưng riêng Nguyễn Hưng Quốc thì gặp trở ngại. Anh được một viên chức an ninh dẫn vào phòng chờ và được thông báo là Nhà nước Việt Nam không chào đón anh tới Việt Nam. Xin trích đoạn đối thoại giữa viên công an ở phi trường Tân Sơn Nhứt và Nguyễn Hưng Quốc:

“‘Anh tên Nguyễn Ngọc Tuấn hay Nguyễn Tuấn Ngọc?’

‘Nguyễn Ngọc Tuấn.’

‘Anh sinh ở đâu?’

‘Quảng Nam.’

‘Anh dạy đại học ở Úc, phải không?’

‘Vâng.’

‘Anh đến Việt Nam có chuyện gì không?’

‘Tôi dẫn một đoàn sinh viên Úc về Việt Nam tham quan và học tiếng Việt.’

‘Đoàn sinh viên Úc có bao nhiêu người?’

’14 người, nhưng ở đây với tôi chỉ có 11 người. Một người đã đến Hà Nội và hai người sẽ bay từ Bangkok đến Hà Nội tối nay.’

‘Xin anh chờ một lát.’

[…]

‘Tôi xin thông báo với anh biết là chúng tôi được lệnh không cho anh nhập cảnh vào Việt Nam.’

Tôi sửng sốt: ‘Cái gì? Tôi không được vào Việt Nam?’

‘Nhưng tại sao tôi không được nhập cảnh vào Việt Nam?’

‘Tôi không được biết. Tôi chỉ làm theo lệnh từ Bộ Công An’.

‘Nhưng ít ra Bộ Công An phải cho biết lí do chứ.’

‘Chúng tôi không được quyền biết. Chúng tôi chỉ là cấp thừa hành’.”

(Hết trích).

Bốn năm sau (2009), Nguyễn Hưng Quốc được Đại sứ quán Việt Nam tại Úc cấp visa để anh về Việt Nam tham dự một hội nghị về văn học ở Hà Nội. Với visa, anh ấy lại lên đường đi Việt Nam, và nghĩ lần này thì chắc sẽ hanh thông. Nhưng anh đã sai, vì lần này anh lại gặp trở ngại tại phi trường Nội Bài. Xin trích lời tác giả mô tả:

“[…] ‘Chuyện gì xảy ra cho việc nhập cảnh của tôi?’ Lê Thao [nhân viên hãng hàng không Thai Airways] đáp: ‘Em là đại diện của hãng hàng không Thái Lan. Em được công an cho biết là phải lo vé cho anh trở lại Bangkok.’

Tôi ngạc nhiên ‘Nhưng tôi có visa vào Việt Nam mà.’ Lúc ấy một trong 4-5 tên công an đứng chung quanh mới lên tiếng: ‘Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.’

Tôi lặp lại câu vừa rồi: ‘Nhưng tôi đã được toà đại sứ Việt Nam tại Úc cấp visa nhập cảnh Việt Nam rồi mà.’ Viên công an ấy lại đáp: ‘Nhưng nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.’

Tôi ngạc nhiên thật sự: ‘Nếu vậy sao Toà đại sứ Việt Nam tại Úc lại cấp visa cho tôi?’ Viên công an ấy đáp: ‘Chuyện ấy thì anh về hỏi lại Toà đại sứ ở Úc’.”

Kể từ đó đến nay (2022) đã 13 năm, Nguyễn Hưng Quốc không về lại Việt Nam. Và, có lẽ anh cũng không có dự tính về quê nhà, và anh là một cây bút lưu vong thật sự.

Không được về Việt Nam, nhưng tác giả lúc nào cũng trăn trở về quê hương và quan tâm đến những diễn biến thời cuộc ở trong nước. Anh tự xem mình là một nhà văn lưu vong và cô đơn. Anh nhận định rằng những cây viết như anh ở nước ngoài chỉ là những ‘người đứng bên lề’ đối với những sinh hoạt văn học ở trong nước, và anh đi đến kết luận “Không có ai cô đơn cho bằng nhà văn lưu vong.

Tuy nhiên, Nguyễn Hưng Quốc vẫn cầm bút, vẫn viết bằng tiếng Việt, và vẫn giãi bày những nỗi niềm của mình trước những biến động của thời cuộc:

Phần tôi, mặc dù sống ở ngoại quốc đã gần 40 năm, vẫn chủ yếu viết bằng tiếng Việt. Tiếng Việt là quê hương của tôi. Các thứ tiếng khác chỉ là những cõi lưu đày, ở đó, tôi không có quá khứ, cũng không có họ hàng. Tiếng Việt còn là thân thể của tôi. Khác với tất cả các ngôn ngữ khác mà tôi biết, cảm xúc của tôi đối với tiếng Việt, và chỉ với tiếng Việt, là những cảm giác mang tính vật lý, thậm chí, nhục thể để tôi có thể run lên với chữ, phập phồng thở với từng thanh bằng thanh trắc. Viết tiếng Việt, với tôi, là tham gia vào một cuộc giao hoan. Lặng lẽ và cô độc.”

_____

TB: Sống và Viết ở Hải Ngoại, do Lotus Media xuất bản 2022, phát hành toàn cầu trên Amazon.com

Việt Nam — Những Ngày Trở Lại của Cựu Chiến Binh Eric Henry

LGT: Tiếp theo bài viết về Phạm Duy, Nhà văn Ngô Thế Vinh mới công bố một bài viết chân dung của Tiến sĩ Eric Henry, có thể xem là một nhà ‘Phạm Duy Học’. Ông từng là một cựu quân nhân Mĩ ở Việt Nam trong thời chiến, và qua đó mà tiếp xúc với âm nhạc Việt Nam. Ông là một người ngoại quốc hiếm hoi có những nghiên cứu có hệ thống và có những nhận định sâu sắc về nhạc Việt Nam và đặc biệt là nhạc Phạm Duy. Một trong những nhận xét của ông mà tôi rất tâm đắc là nhạc Việt Nam thường thiên về thương nhớ thời đã qua (hay nói theo tiếng Anh là nostalgia). Tiến sĩ Henry là người đã nghiên cứu về nhạc Phạm Duy rất kĩ và đã dịch bộ hồi kí Phạm Duy (hàng ngàn trang) sang tiếng Anh. Như là một cách tri ân, Nhà văn Ngô Thế Vinh đã soạn một bài viết công phu về Eric Henry mà tôi tin rằng bạn đọc sẽ tìm thấy nhiều thông tin có giá trị. NVT

_____

Việt Nam — Những Ngày Trở Lại của Cựu Chiến Binh Eric Henry

NGÔ THẾ VINH

Lời Dẫn Nhập: Bài viết về TS Eric Henry với dự kiến ban đầu kết hợp với Chân Dung Phạm Duy. Nhưng rồi, riêng phần Phạm Duy đã dài tới ngót 50 trang giấy, nên Chân Dung Eric Henry phải tách ra một bài khác, vẫn mong bạn đọc có cái nhìn kết hợp hai chân dung do tính bổ sung của hai nhân vật Phạm Duy và Eric Henry trên chặng đường tìm hiểu nền Tân nhạc Việt Nam cùng với các bước gian truân để hình thành và xuất bản bộ Hồi Ký tiếng Anh The Memoirs of Phạm Duy, dự trù sẽ do Cornell University Press xuất bản. Tưởng cũng cần nói thêm,Thư viện Đại Học Cornell là nơi còn lưu trữ đầy đủ nhất di sản 20 năm Văn học Miền Nam 1954-1975, và  “ngọn lửa phần thư” của những người Cộng sản Việt Nam muốn tận diệt nền văn hóa ấy đã không sao lan tới được.

Hình 1: Chân dung TS Eric Henry, ảnh trích từ Jacket cuốn Garden of Eloquence / Thuyết Uyển, của Lưu Hướng, do Eric Henry dịch và giới thiệu, University of Washington Press xuất bản 2021. [nguồn: photo by Nguyễn Phong Quang]

ERIC HENRY VÀ TÔI

      Lần đầu tiên tôi gặp TS Eric Henry, cách đây 5 năm (2017), và ngạc nhiên khi biết Eric – là một cựu chiến binh Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, nhưng lại rất “ít chất lính”. Bước vào lứa tuổi 20, tới hạn quân dịch Eric quyết định đơn giản: nhập ngũ làm bổn phận một công dân, sau đó trở  về đi học lại. Ngay trong thời gian quân ngũ, Eric vẫn rất ham đọc, và đã có được một số hiểu biết về nền văn hóa Đông phương, đặc biệt là Việt Nam và Trung Hoa. Eric có năng khiếu về ngôn ngữ, nói tiếng Việt khá thông thạo và tinh tế, không có âm hưởng thứ tiếng Việt tục tằn của mấy chú GI’s học được từ các quán bars trong thời gian phục vụ ở Việt Nam. Tới một đất nước chiến tranh lại có nhiều tôn giáo như ở Việt Nam, Eric cũng đã học được cách trả lời dí dỏm và an toàn cho mấy câu hỏi dễ phân cách lòng người, như “Anh theo đạo gì?” —  “Tôi theo đạo vợ”, và đạo vợ mặc nhiên được công nhận như một thứ đạo phổ quát cho đám đàn ông lính tráng lúc đó, cho dù khi sang Việt Nam, Eric vẫn đang còn là một thanh niên độc thân.

      Khi biết tôi cũng là người cầm bút, mới vỡ lẽ ra Eric đã đọc cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, từ một ấn bản tiếng Việt do Nxb Văn Nghệ California tái bản năm 1987. Eric cho biết vẫn giữ cuốn sách đó trên kệ sách và anh cũng rất quan tâm tới người Thượng trên Cao nguyên. Do “văn kỳ thanh”, chúng tôi đã dễ dàng nói chuyện với nhau hơn.

      Eric Henry cho biết anh mê nhạc Phạm Duy, đã thích thú đọc và dịch xong toàn bộ Hồi Ký 4 tập dài hơn 1500 trang của Phạm Duy trong vòng hơn một năm. Bản dịch ấy đã được Cornell University Press nhận xuất bản từ 2009, bốn năm trước ngày Phạm Duy mất nhưng cho đến nay cũng đã 13 năm (2009-2022) cuốn sách ấy vẫn còn ở dạng bản thảo.  

Hình 2a:trái, Eric Henry, 27 tuổi, sau khi hoàn tất khóa học tiếng Việt 12 tháng tập trung / intensive tại Defense Language Institute, Fort Bliss, El Paso, Texas. Eric được gửi sang Việt Nam phục vụ trong ngành quân báo Sư Đoàn 25 Kỵ binh (25th Infantry Division) đóng ở Củ Chi. Hình chụp năm 1970, Eric bảo: “Thuở ấy tôi nói được tiếng Việt nhưng chưa bắt đầu học tiếng Tàu”; phải, Ngô Thế Vinh, 28 tuổi là quân y sĩ quân lực VNCH, hình chụp năm 1969, sau khi tốt nghiệp khóa huấn luyện Lực Lượng Đặc Biệt và Nhảy Dù tại Động Ba Thìn, gia nhập binh chủng Mũ Xanh LLĐB (Green Beret / Special Forces), sau này là Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù.

Hình 2b:42 năm sau chiến tranh Việt Nam, cựu chiến binh Hoa Kỳ Eric Henry nay là một học giả và cựu chiến binh VNCH Ngô Thế Vinh nay là một bác sĩ trong một VA Hospital, cả hai đều bước qua ngưỡng tuổi “cổ lai hy” gặp nhau ở Huntington Beach, California, nhân chuyến đi của Eric sang gặp những người con trong gia đình Phạm Duy – để thảo luận về một hợp đồng với Cornell University Press tiến tới xuất bản bộ sách The Memoirs of Phạm Duy, một dự án mà Phạm Duy khi còn sống đã rất ao ước nhưng chưa thực hiện được cho đến ngày Phạm Duy mất (27/01/2013). [photo by Phạm Lệ Hương, tư liệu Ngô Thế Vinh]

Hình 3: Tiếp đón anh Eric Henry tại nhà chị Phạm Lệ Hương, Huntington Beach California, từ trái: Ngô Thế Vinh, Nguyễn Duy Chính, Phạm Phú Minh, Eric Henry, Bùi Bích Hà, Trần Huy Bích; phải: Eric Henry đang ngắm bức tranh Mẹ và Con của họa sĩ Lemur. (photo by Phạm Lệ Hương và Ngô Thế Vinh).  

ERIC HENRY NĂM NĂM SAU

      Mới đây năm 2022, khi vào thư mục của Cornell University Press tìm mua bản tiếng Anh bộ Hồi Ký Phạm Duy để tặng một người bạn Mỹ vốn rất quan tâm tới văn hóa Việt Nam, nhưng không thấy, tôi liên lạc với Eric và được biết cuốn sách vẫn chưa xuất bản, với lý do là sau khi Phạm Duy mất, không có di chúc chỉ định quyền thừa kế cho riêng một người con nào, nên cho đến nay, vì chưa có sự đồng thuận của tất cả  7 người con trong gia đình Phạm Duy, Cornell University Press vẫn chưa thể xuất bản bộ Hồi Ký The Memoirs of Phạm Duy.

      Và tiếp theo đó là một chuỗi emails trao đổi với Eric Henry cho thấy những bước gian truân của Eric với bộ Hồi Ký Phạm Duy, và tôi có hứa với Eric sẽ làm những gì có thể làm được trong khả năng để bộ Hồi Ký The Memoirs of Phạm Duy có thể sớm ra mắt.    

NỀN TÂN NHẠC VIỆT NAM VÀ ERIC HENRY

Hình 4: Hình chụp Nhạc sĩ Phạm Duy và Tiến sĩ Eric Henry trong quán cà phê Nirvana / Niết Bàn, 29 đường Phùng Khắc Khoan, phường Đa Kao, quận 1, Saigon; với ghi chú của Eric: “Buổi sáng 9 tháng 7, năm 2005 — tôi đến Nirvana để gặp một nhà báo làm việc cho tạp chí Người Viễn Xứ, cô Quỳnh Lệ nói là muốn phỏng vấn tôi. Khi bác Phạm Duy được biết là tôi sẽ đi đến đó thì ngay lập tức tình nguyện tháp tùng để giúp tôi trả đáp những câu hỏi của cô Lệ”. [photo by Quỳnh Lệ, tư liệu Eric Henry]

      Đó là tháng Bảy năm 2005, chỉ mới hai tháng sau “ngày về của Phạm Duy”, khi trả lời một câu hỏi của phóng viên Quỳnh Lệ: Giáo sư nhận xét và đánh giá thế nào về nền âm nhạc Việt Nam?  Eric Henry đã đưa ra một nhận định khá bất ngờ và thú vị:

      Nhạc Việt Nam nói chung nhiều chất “mineur” [âm giai thứ, ghi chú của người viết]. Nội dung phần lớn xoay quanh 3 đề tài chính, đó là thương nhớ đến một quê hương đã xa xôi, thương nhớ một cuộc tình đã qua, mong muốn được trở về một khoảng thời gian trong quá khứ mà mình yêu quý – thường là thời thơ ấu. Cả 3 đề tài đó hầu hết đều mang tâm trạng tiếc nuối, buồn đau. Khác hn với nhạc Trung Quốc, phần lớn là vui tươi, rộn ràng, có câu cú ngắn gọn và mang tính đối xứng – symmetry – 4 câu, 8 câu. Bài hát Tây phương cũng thường có từng 8 ô nhịp, 16 ô nhịp. Bài hát Việt Nam phong phú về tiết điệu và câu cú hơn, cách tổ chức mỗi câu nhạc thường không rập khuôn. Tôi thích nhạc Việt Nam và thích những nhạc sĩ sáng tác những ca khúc có những câu nhạc không đều. Đó như là một sự khám phá cái mới.[5]  

      Trịnh Y Thư — anh bạn vong niên của tôi, một nhà thơ, một nhà văn, một tay đàn guitar classic có hạng, một dịch giả uy tín qua các tác phẩm cổ điển, anh nổi tiếng ngay với tác phẩm Đời nhẹ khôn kham (The Unbearable Lightness of Being), cuốn tiểu thuyết khó dịch của nhà văn Pháp gốc Tiệp Milan Kundera, tạp chí Văn Học xuất bản, 2002 — anh cũng là người viết Lời Tựa cho Tuyển Tập Chân Dung II Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa (2022), Trịnh Y Thư đã rất tâm đắc với nhận xét của TS Eric Henry về nền tân nhạc Việt Nam. Trịnh Y Thư viết:    

      Thưa anh Ngô Thế Vinh, ý kiến của Giáo sư Henry là rất chính xác. Nhạc Việt nói chung mang nhiều tính hoài niệm (nostalgia), và có lẽ đó là tính cách chung của người Việt, luôn luôn thương nhớ cái gì thuộc về quá khứ, một quá khứ đôi khi được chắt lọc qua một lăng kính. Do đó, âm nhạc nặng tính trữ tình, không thực, vì phải vận dụng trí tưởng tượng nhiều. Nhạc ít nói về hiện thực, về đời sống thật ngoài đời, về tương quan giữa con người với con người hay giữa con người với thiên nhiên, ngoại cảnh. Giữa thời chiến tranh khốc liệt, nhạc nói về cuộc chiến có rất ít, chỉ có mấy ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn, và một vài bài phổ thơ của Phạm Duy là hết…

      Về mặt kỹ thuật sáng tác, nhận định Giáo sư Henry đưa ra cũng rất đúng. Đa số nhạc sĩ Việt Nam sáng tác theo cảm quan trực cảm, ít ai triển khai một bài nhạc theo quy trình hàn lâm. Nhạc đi theo ca từ, đôi khi chỉ là phương tiện để diễn đạt ca từ. Vài trường hợp ngoại lệ là Cung Tiến, Vũ Thành… Điểm đặc biệt là nhạc Việt chú trọng phần nhiều đến giai điệu, bài nào có giai điệu hay, du dương, trữ tình, bài đó ăn khách. Đó là lý do nhạc Việt rất nghèo hòa âm, một khúc nhạc thường chỉ chuyển cung (modulation) 3, 4 lần là xong bài.

      Tuy nhiên, theo quan điểm Giáo sư Eric Henry, thì tất cả những điều trên lại là ưu điểm của nhạc Việt, bởi nó là sự lệch chuẩn, nó đi chệch ra ngoài những khuôn khổ (đôi khi rất khuôn sáo) thông thường… Trịnh Y Thư 

      Sau khi được đọc ý kiến của Trịnh Y Thư, Eric có thêm một bình luận cho rằng, “cách đánh giá của anh Trnh Y Thư không gần với cách đánh giá của tôi”.  Eric viết như sau: 

      Cám ơn Anh Vinh đã cho tôi thấy những nhận xét về nền âm nhạc Việt Nam của anh Trịnh Y Thư. Phản ứng của tôi là mặc dầu anh ấy thấy các đặc tính của âm nhạc VN mà tôi đã đưa ra với cô Quỳnh Lệ không phải sai lầm, nhưng tôi vẫn thấy là cách đánh giá của anh ấy không gần gì với cách đánh giá của tôi—tại vì anh cho là những đặc tính ấy đều là khuyết điểm, còn tôi cho là ưu điểm! Tôi đã nghiên cứu không ít về các nền âm nhạc của những nhà nước Đông Á, Trung Quốc, Đại Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Phi Luật Tân lẽ dĩ nhiên có một số ca khúc tuyệt đẹp—nhưng vẫn không nhiều bằng nước Việt Nam—và bề sâu sắc cũng không bằng!  Tôi có khi nói với người ta là người Việt là người Ý Đại Lợi của Viễn Đông!

     Cũng vẫn Eric Henry, khi nói tới nhạc sĩ Phạm Duy thì anh rất say sưa. Eric nhận định:

      Ca khúc của Phạm Duy rất phong phú. Có thể chia làm nhiều thời kỳ khác nhau: thời kháng chiến, thời ở Nam bộ, thời hải ngoại. Riêng thời hải ngoại cũng có thể phân thành nhiu giai đoạn. Nhạc Phạm Duy không có những tiếc nuối đau buồn như phần đông các nhạc sĩ khác. Có khi cũng có khóc lóc nhưng không quá sầu não. Thường thường, ông ấy hay viết theo một lối nói như là kể chuyện. Chủ đề trong nhạc Phạm Duy rất đa dạng và nhiều sắc độ, gần như không có giới hạn nào cả. Ví dụ như với chủ đề Mẹ thì mỗi bài là một sắc thái, một yếu tố riêng biệt; như bài “Bà Mẹ Gio Linh”, “Bà Mẹ quê”

      Qua sự nghiên cứu của tôi, tôi thấy rằng nhạc Việt Nam là một môn học, mà trong đó nhạc Phạm Duy là một môn học nữa. Nói về số lượng tác phẩm, sự đa dạng và phẩm chất thì nhạc Phạm Duy chiếm tỉ trọng gần phân nửa. Do vậy, nếu như tác phẩm của ông không được phổ biến thì nền âm nhạc Việt Nam sẽ chịu một sự hụt hẫng nhất định nào đó. Tôi nghĩ ông ấy là một trong những người nghệ sĩ yêu nước. Mà phần đông những người Việt Nam sống ở nước ngoài cũng rất yêu nước. Nếu tính về lịch sử thì những người theo Quốc Dân Đảng cũng là người yêu nước, chứ không chỉ riêng Việt Minh. Những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách rất cởi mở thông thoáng đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Tôi nghĩ là chính quyền Việt Nam sẽ cho phép phổ biến các ca khúc hay của nhạc sĩ Phạm Duy.[5]

      Qua thực tế hiện nay, cũng để thấy rằng, Eric Henry không chỉ là quá lạc quan mà còn là lạc quan quá sớm khi cho rằng, “chính quyền Việt Nam sẽ cho phép phổ biến các ca khúc hay của nhạc sĩ Phạm Duy.” Qua bài viết này, tôi muốn nói với anh Eric Henry rằng: chỉ khi nào một đất nước Việt Nam bước vào thời kỳ dân chủ, có một nền văn nghệ tự do, thì lúc đó âm nhạc Phạm Duy mới có thể cất cánh và bay bổng.

BƯỚC GIAN TRUÂN CỦA ERIC HENRY

VỚI THE MEMOIRS OF PHẠM DUY   

      Lịch sử của các nỗ lực của tôi để xuất bản sách The Memoirs of Phạm Duy, giống như lịch sử của chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô là một đoạn lịch sử vô cùng dài và vô cùng phức tạp. Bắt đầu từ đâu để kể cho rõ rành đây? [ trích dẫn email của TS Eric Henry, gửi Ngô Thế Vinh ngày 04/05/2022 ]

      Eric Henry đã gặp nhạc sĩ Phạm Duy nthế nào?

      Eric Henry kể: “Cuối mùa hè năm 2003, khi tôi đang đi thăm Tiểu Sài Gòn, gặp nhà báo Đỗ Ngọc Yến, chủ bút tờ báo Người Việt, đã giúp tôi làm quen với gia đình Phạm Duy.

Hình 5: trái, năm 1975, Phạm Duy gặp Đỗ Ngọc Yến trong những ngày đầu tỵ nạn tại Hoa Kỳ; từ trái, Đỗ Ngọc Yến, Thái Hằng, Đỗ Quý Toàn, Phạm Duy, Lê Tất Điều; phải, năm 2002, Đỗ Ngọc Yến, người sáng lập nhật báo Người Việt, tiếp Phạm Duy trong cuộc Hội luận về Nhạc Phạm Duy tại Little Saigon. Eric Henry kể, chính nhà báo Đỗ Ngọc Yến đã giúp tôi làm quen với gia đình Phạm Duy. [tư liệu Phạm Duy, và Phạm Phú Minh]

      Lần đó Phạm Duy đang đi thăm Việt Nam (2003) chưa về, cho nên tôi chưa có cơ hội gặp ông, nhưng tôi đã làm quen với anh Phạm Duy Hùng, là con thứ ba của nhạc sĩ. Khi gặp nhau ở nhà cha tại Midway City, chúng tôi nói chuyện 2 tiếng đồng hồ về nhạc của người cha, và lần đó tôi cũng được biết là Duy Hùng là người đàn ghi-ta rất giỏi. Anh ấy mời tôi đưa ra nhan đề của bất cứ ca khúc nào của nhóm Beatles, và bảo đảm là anh sẽ trình diễn được trên ghi-ta. Vậy nên tôi đưa ra tên bài “Across the Universe” của John Lennon, và anh Hùng, không chút nào do dự, đã đàn và hát cho tôi nghe bài ấy một cách toàn vẹn lắm—không có âm nào đánh sai.

      Năm tháng về sau, tức là tháng Giêng năm 2004, khi tôi đi Cali lần nữa, tôi mới được gặp Phạm Duy lần đầu tiên. Sau đó hai tháng, tôi đã gặp mặt với ông lần nữa, và sau hai tháng, tôi đã đề nghị với ông (bằng một bức thư gửi qua bưu cục) là tôi dịch Hồi Ký Phạm Duy sang tiếng Anh.

   Bức thư là như thế này:

      Thư gửi Nhạc sĩ Phạm Duy:

      Kèm theo đây là ba chương mở đầu của Hồi Ký I dịch sang tiếng Anh—xin mời Ông coi thử. Tôi thấy rằng bốn quyển Hồi Ký của Ông là một tác phẩm có giá trị tối cao đối với bất cứ ai muốn hiểu thêm về Việt Nam trong thế kỷ vừa qua.

      Nếu Ông thấy cách phiên dịch của tôi trong mấy chương này chấp nhận được, thì tôi sẽ tiếp tục làm, và sẽ đi tìm một nhà xuất bản để in ra về sautôi thấy là sự đồng ý của Ông sẽ giúp tôi nói chuyện với các nhà xuất bảnnhưng nếu Ông không muốn tôi làm công việc nàycó lẽ Ông đã có người phiên dịch rồi, chẳng hạnthì tôi sẽ ngừng tay ngay.

      Tôi thấy việc phiên dịch dòng văn của Ông rất thích thú và không khó khăn lắmnếu mỗi buổi tối tôi dành một tiếng đồng hồ cho công việc này thì trong vòng 3 đến 5 ngày tôi đều dịch xong mt chương được, và khi nào gặp chỗ khó hiểu, thì tôi có thể đi tham khảo với một số người bên đây. Tiện đây, xin cho Ông biết là mùa hè này tôi sẽ ở Việt Nam với 10 sinh viên từ 13 tháng 6 đến 12 tháng 8—vị trí là “Nhà Khách Phạm Ngọc Thạch,” Saigon—và sau đó tôi sẽ có mặt ở quận Cam từ ngày 12 đến ngày 17, tháng 8. Hy vọng việc sáng tác Mười Bài Hương Ca đang tiến triển tốt đẹp, thuận lợi. Dư âm của mấy bài đó vẫn trong tai tôi.

PHẠM DUY: VÌ TÔI LÀ TARZAN

      Mỗi lần tôi / Eric Henry gửi email đến ông / Phạm Duy để đặt ra vài câu hỏi đối với Hồi Ký, thì ông đều gửi hồi âm rất nhanh — có khi chỉ cần đợi một hai tiếng đồng hồ thôi. Có lần tôi đã gửi một số câu hỏi đến ông, và trên email đó nói là tôi biết rằng ông lúc ấy rất bận với việc tổ chức một cái show — cho nên tôi thấy là ông không cần trả lời nhanh — tôi chờ đợi được, không sao. Sau một hai tiếng, tôi nhận được thư hồi âm của ông. Trên đó ông nói, “Đúng như anh nói, tôi hiện giờ bận lắm, nhưng tôi vẫn trả lời nhanh được, tại vì tôi là… Tarzan!”. Sau đó, trên một bức thư khác của ông có câu: “Anh thấy không?  Tarzan* vẫn đong đưa trong rừng!”

      *Ghi chú của người viết: Tarzan là một nhân vật điện ảnh hư cấu, mô phỏng theo cuốn tiểu thuyết “Tarzan of the Apes” xuất bản 1912 của Edgar Rice Burroughs. Tarzan là câu chuyện một đứa trẻ hoang được đàn khỉ đột nuôi dưỡng và lớn lên trong rừng rậm Phi châu, sau trở thành một tráng sĩ  dũng mãnh của rừng xanh; cho dù có được tiếp xúc với xã hội văn minh nhưng Tarzan vẫn chọn trở về với thiên nhiên hoang dã, vượt qua bao hiểm nguy, sống như người vượn tự do tung hoành trong rừng sâu. Tarzan đã từng là người hùng của nhiều thế hệ thiếu niên thế kỷ trước.

PHẠM DUY: ĐỂ TÔI NHẢY THEO

      Khi mới bắt đầu làm quen với Phạm Duy, tôi – Eric Henry hứa với ông là sẽ làm hai việc: lời hứa thứ nhất là tôi sẽ làm trọn việc phiên dịch bốn quyển Hồi Ký của ông, lời hứa th hai là sẽ tìm được một nhà xuất bản cho tác phẩm đó ở bên Mỹ.

Một năm sau tôi đã hoàn tất việc phiên dịch, và bốn năm sau đó tôi đã tìm được một nhà xuất bản, là Southeast Asian Publications của Đại Học Cornell – sau này là Cornell University Press. Rồi tôi trở về Việt Nam để làm một bộ chú thích với hơn 1,500 footnotes về những nhân vật và địa danh trong Hồi Ký và để ký một hợp đồng với Phạm Duy và Đại Học Cornell.

Khi sắp ký hợp đồng, Phạm Duy chợt nhớ là ông có một hợp đồng khác với Công ty Văn hóa Phương Nam mà ông đã ký vài năm trước, nói là Phương Nam có quyền tuyệt đối buôn bán những tác phẩm của Phạm Duy — nhưng Hồi Ký không phải là một bài ca, chắc là ông có thể ký một hợp đồng với Đại học Cornell không sao.

Nhưng khi ông tham khảo với Phương Nam về việc này, thì ông khám phá ra là từ ngữ “tác phẩm” không chỉ bao gồm tác phẩm âm nhạc mà bao gồm tác phẩm văn chương nữa. Như vậy ông không có quyền ký hợp đồng với Cornell.

Điều này khiến tôi – Eric Henry thất vọng nặng nề, và tôi viết thư cho Phạm Duy, nói nửa đùa nửa thật là nếu không có cách xuất bản bản tiếng Anh cuốn Hồi Ký, thì tôi sau này sẽ chỉ có nước nhảy xuống sông tự tử thôi. [Sic]  

Trong thư hồi âm của Phạm Duy, ông nói là tôi không phải quá bận tâm về việc này. Chắc là trong tương lai sẽ có cách xuất bản Hồi Ký bằng tiếng Anh. Và ông đã đề nghị với tôi một vài kế hoạch để đạt đến mục đích đó.

Và cuối cùng Phạm Duy đã có một tái bút như thế này: “Khi nào ông quyết đnh nhảy xuống sông, xin cho tôi biết nhé – để tôi nhảy theo!”  Điều ấy cũng cho thấy tính hài hước và thái độ luôn luôn lạc quan của nhạc sĩ Phạm Duy.

MỘT TIỂU SỬ DO ERIC HENRY TỰ VIẾT

      Cùng với bài viết về “Những Chân Dung Phạm Duy”, tôi có dự định viết thêm Chân Dung của TS Eric Henry. Khi được tôi yêu cầu một tiểu sử do chính Eric Henry viết, anh đã trả lời tôi qua một email (Chủ Nhật ngày 8/05/2022):

      “Tôi coi lại tiểu sử mà tôi đã viết cho BBC nay bổ sung thêm và sửa chữa như sau: Tôi sinh năm 1943 [15/03/1943], bố mẹ tôi đều là nhạc sĩ nhà nghề. Thời thơ ấu đã tập dương cầm và dưới ảnh hưởng của song thân đã có cách hiểu biết và yêu dấu được nhạc cổ điển phương tây. Từ năm 1960, tôi bắt đầu đánh dương cầm và dạy dương cầm làm sinh kế, nhưng chưa biết gì hết về nước Việt Nam, huống chi nhạc Việt Nam. Năm 1968 tôi nhập vào lục quân Mỹ và được huấn luyện tập trung cấp tốc 12 tháng về tiếng Việt. 

      Đến năm 1970, tôi được đóng ở Việt Nam (Củ Chi, Xuân Lộc, rồi đến tỉnh Quảng Trị) với lục quân Mỹ. Ngoài vai trò thông dịch, tôi còn phỏng vấn nói chuyện với khá nhiều tù binh của Bắc quân. Thuở đó tôi làm quen với Truyện Kiều và một số tiểu thuyết của Khái Hưng, Nhất Linh, Duyên Anh, nhưng vẫn không biết nhiều về nhạc phổ thông Việt Nam. Có lần tôi chép ra cái giai điệu của bài “Tôi Đưa Em Sang Sông” (Nhật Ngân sáng tác). Tôi cũng đã nghe nói một chút về tên tuổi của Phạm Duy và Trịnh Công Sơn. Như thế là hết.

      Và tôi đã rời Việt Nam mùa hè năm 1971. Sau đó tôi làm nghiên cứu sinh (graduate student) về văn chương Trung Quốc ở Đại học Yale. Năm 1980 bắt đầu dạy Trung văn, hồi trước tại Dartmouth College, và từ 1982 trở đi tại University of North Carolina.  Năm 1995, tôi bắt đầu mở lớp Việt ngữ ở Carolina, và từ năm 1999 bắt đầu coi những video Paris by Night. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy là trong những ca khúc Paris by Night, có khoảng 40 phần trăm có giá trị nghệ thuật; vả lại, lối hát của nhiều ca sĩ trên đó hấp dẫn lắm, điêu luyện lắm!

      Từ năm 2000 trở đi tôi đã không ngừng tìm hiểu bằng mọi cách về âm nhạc Việt Nam. Và mấy năm gần đây cũng đã tìm cách hiểu được một chút về văn hóa ca hát của Nhật Bổn, Đại Hàn, Trung Quốc, Đài Loan,  Phi Luật Tân. Khoảng năm 2002 trong khi đi thăm một nhà sách Việt Nam – nhà sách Thế Hệ ở Falls Church, Virginia, tôi đã thấy, mua, và đem về nhà, quyển I Hồi Ký của Phạm Duy, và đã thấy ngay rằng đây là một tác phẩm có giá trị tối cao đối với bất cứ ai muốn hiểu thêm về Việt Nam trong thế kỷ vừa qua…

      Về quá trình học vấn của Eric Henry, được người viết trích dẫn từ: Eric Henry Curriculum Vitæ, University of North Carolina.

Học Vấn:

Tiến Sĩ / Ph.D. 1979, Văn Chương Trung Quốc / Chinese Literature, Yale University, Department of East Asian Languages and Literatures. Dissertation title: “Chinese Amusement: An Introduction to the Plays of Li Yü” / Lý Ngư

Thạc Sĩ / M.Ph. 1976, Văn Chương Trung Quốc / Chinese Literature, Yale University, Department of East Asian Languages and Literatures. Research paper title: “On the Nature, Structure, and Evolution of the Chin Yun Ch’iao chuan, a popular novel of the Early Ch’ing”

Cử Nhân / B.A. 1972, Văn Chương Anh / English Literature, Amherst College, summa cum laude. Senior thesis title: “On Doan Truong Tan Thanh, the National Poem of the Vietnamese”

Other education:

1977–78: Oneyear intensive language study at the International University Program for Chinese Language Studies at the Stanford Center in Taipei

1968–69: Oneyear intensive language training in Vietnamese at the Defense Language Institute Support Command, Fort Bliss, Texas

      Những tác phẩm đã xuất bản:

      Sách viết:

      Chinese Amusement: The Lively Plays of Li Yü 李漁 (Lý Ngư): Henry, Eric.  Hamden, CT: Shoe String Press (Archon Books), 1980, xvi, 288 pp.

      Sách Dịch:

      Garden of Eloquence; a translation of Shuō Yuàn 說苑 (Thuyết Uyển) in bilingual format with textual notes; commissioned by the editorial board of The Culture and Civilization of China (a joint program of the American Council of Learned Societies and Washington University Press). Shuō Yuàn (Thuyết Uyển) is a collection of 718 items, of which most are historical narratives, compiled by Liú Xiàng 劉向 (Lưu Hướng) and presented to the throne in 17 BCE. Seattle: University of Washington Press, 2022

      In Whose Eyes; a translation, with Nguyễn Quang Dy and Wayne Karlin, of Chuyện Nghề Của Thủy by Trần Văn Thủy and Lê Thanh Dũng (2013), Amherst: University of Massachusetts Press, 2016, xv, 219 pp.

      Những Chương Sách và Bài Báo

      “Running Amok in Early China”; in Behaving Badly in Ancient China   edited by Norman Rothschild and Leslie Wallace; Honolulu: University of Hawaii Press, 2017, pp. 171-188

      Some East Asian Popular Song Lyrics” Southeastern Review of Asian Studies 33 (Jan. 2012)

“Evidence for a Usurpation in Sòng” Warring States Papers 1 (2010), pp. 227-230

 .     “A Note on Chūnqiū Shìyǔ 春秋事語 (Xuân Thu Sự Ngữ) Item 5” Warring States Papers 1 (2010), pp. 55-58. 

 “The Submerged History of Yuè” Sino-Platonic Papers, pub. by Victor Mair, Univ. of Pennsyvania, no. 176 (June, 2007)

 “Bước Đường Lữ Thứ,” (“Footsteps of a Wayfarer”) Carolina Việt Báo 22 (Oct. 2006), pp. 79 – 84 (in Vietnamese; consists of cross-cultural observations prompted by travel in China and Vietnam)

“Phm Duy và lịch sử Việt Nam hiện đại” (a translation by Phổ Tịnh of the article below); posted on the website TALAWAS (2005) 

 “Phm Duy and Modern Vietnamese History,” Southeastern Review of Asian Studies 27 (2005), pp. 89 – 105

Tân Nhạc: Notes Toward a Social History of Vietnamese Music in the 20th Century / Một vài ghi chú về lịch sử xã hội âm nhạc Việt Nam. Michigan Quarterly; 44.1 (winter, 2005), pp. 135-147

      Anachronisms in Lüshì Chunqiu 呂氏春秋 (Lữ Thị Xuân Thu) and Shuōyuàn (Thuyết Uyển); Early Medieval China, vol 9 (2003), pp. 127-138

“Chinese and Indigenous Influences in Vietnamese Verse Romances of the 19th Century” Crossroads 15.2 (2001); pp. 1 – 40

“The Social Significance of Nudity in Early China,” Fashion Theory 3.4 (Dec., 1999), pp. 1-12

       Junzi yue 君子曰 (Quân-tử viết) Versus Zhongni yue 仲尼 (Trọng-nê viết) in Zuo zhuan  (Tả Truyện)”; Harvard Journal of Asiatic Studies 58.1 (June, 1999), pp. 125-161

      “Chu-ko Liang 諸葛亮 (Gia Cát Lượng) in the Eyes of His Contemporaries,” Harvard Journal of Asiatic Studies 52.2 (Dec., 1992), pp. 589-612

“The Motif of Recognition in Early China,” Harvard Journal of Asiatic Studies 47.1 (June, 1987), pp. 5-30

“On the Nature of the Kieu Story,” Vietnam Forum (Yale University Council on Southeast Asian Studies) 3 (Winter-Spring 1984), pp. 61-98

      Những Bài Điểm Sách

Poetic Transformations: Eighteenth-Century Cultural Projects on the Mekong Plains, Claudine Ang; Harvard University Asia Center, 2019, in China Review International, 25.1 (2020) 

The Commentarial Transformation of the Spring and Autumn, Newell Ann Van Auken; Albany; SUNY Press, 2016, in Dao: A Journal of Comparative Philosophy, Fall 2018

The Kim Vân Kiều of Nguyễn Du (1765 – 1820), translated by Vladislav Zhukov; Canberra; Pandanus Books, 2004, in Journal of Vietnamese Studies 3:1 (Winter 2008), pp. 240-245

Persons, Roles, and Minds: Identity in Peony Pavilion and Peach Blossom Fan, Tina Lu, Stanford University Press, 2001; 2001; in CLEAR [summer, 2002]

Guanzi: Political, Economic, and Philosophical Essays from Early China; A Study and Translation. Volume II. By W. Allyn Rickett. Princeton: Princeton University Press, 1998; in Journal of Asian Studies [1999]

      Những Sách Chưa Xuất Bản:

      Sách Viết:

      “Historical Narrative in Early China” (a study of genre and content among the narratives collected in Zuo zhuànGuó yuZhànguócè, and Shijì; 336 pp.) Zuo zhuàn 左傳 (Tả Truyện), Guó yu 國語 (Quốc Ngữ), Zhànguócè 戰國策 (Chiến Quốc Sách), and Shijì 史記 (Sử Ký)

“Readings in Chinese Historical Legend” (course textbook; 543 pages)

 Xin xù Summaries” (detailed summaries of the 176 narratives of the extant Xin xù 新序 (Tân Tự), with notes on sources and allusions; a research tool; a collaboration with Professor Anne Kinney)

“Chinese Phrase Lexicon.” Approx. 10,000 phrases, proverbs, and short classical passages cross-referenced by lexical item; computer document in process of expansion.

“Vietnamese Proverb Lexicon.” Similar in scope and concept to the above, but more focused on proverbs; computer document in process of expansion.

      Sách Dịch:

From classical Chinese:

“Stories from the States” (a bilingual edition of Guóyǔ 國語 (Quốc Ngữ) with introduction and notes; approx. 1,000 pp. Guóyǔ 國語 (Quốc Ngữ) is a collection dating from c. 300 BCE consisting of 243 historical narratives)

“Chronicle of the States of the Eastern Chou, Vol. I” (a translation, Chinese to English, of the first forty chapters of Dong Zhou liè guó zhì; 東周列國志; (Đông Chu Liệt Quốc Chí) 762 pp.

From Vietnamese:

Memoirs (Hồi Ký) by Phm Duy, four volumes (approximately 1,200 pages); Volume One: Coming of Age in the North; Volume Two: The Resistance; Volume Three: The Period of Division; Volume Four: My Sojourn Abroad. More than 1,500 detailed footnotes on persons, places, and events, to be published by Cornell University Press.

Hình 6a: trái,bìa sách In Whose Eyes, do University of Massachusetts Press xuất bản, 2016  là bản dịch tiếng Anh cuốn hồi ký  Chuyện Nghề của Thuỷ; phải, với lời đề tặng: “Thân tặng Bác sĩ Ngô Thế Vinh, bạn đồng đội của tôi – Eric Henry, ngày 28/05/2022. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Hình 6b: trái, bìa cuốn sách Thuyết Uyển / Garden of Eloquence của Lưu Hướng, sách dày 1232 trang, do TS Eric Henry dịch và giới thiệu,  University of Washington Press, Seattle xuất bản 2021; phải, trang sách đề tặng với 3 ngôn ngữ Việt, Hoa, Anh. Eric Henry còn có tên Việt Nam là Vũ Văn Hòa* – Hòa là tên của GS Nguyễn Đình Hòa, tác giả bộ từ điển Anh Việt mà Eric luôn luôn ôm theo khi anh bắt đầu học khóa tiếng Việt ở El Paso trước khi sang chiến trường Việt Nam. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

      * Nửa thế kỷ trước, khi bắt đầu học tiếng Việt tại Defense Language Institute ở Fort Bliss, Texas, tôi đã mời người xung quanh gọi tôi là “anh Hòa”, vì thuở đó tôi hay sử dụng một cuốn tự vị của một học giả cùng tên: Nguyễn Đình Hòa. Sau đó vài tháng, khi thấy là cần đến một tên đầy đủ hơn, tôi chọn “Văn” làm tiếng đệm, vì đó hình như là thói quen của nhiều gia đình Việt Nam—và sau đó tôi chọn “Vũ / Võ” làm họ, tại vì âm thanh của “Vũ Văn Hòa” nghe lại hình như… êm tai. Sau khi bắt đầu trở về từ Việt Nam và xã giao thường xuyên với người Việt, thì tôi đã dần dần chấm dứt sử dụng tên “Hòa”, vì cảm thấy là người Vit không có vấn đề nào cả với tên “Eric”. Nhưng khi nào tiếp xúc với người Hoa thì tiếp tục dùng tên “Vũ Văn Hòa”, vì thấy là họ thích cách gọi Vũ Tiên Sinh (武先生) không thích cách gọi Eric Tiên Sinh “Eric 先生” cho mấy.

      Đọc lược qua số tác phẩm của Eric Henry, tôi đã rất ngạc nhiên và hỏi Eric là thời giờ đâu và cả bí quyết làm việc của anh ra sao để có thể viết được nhiều tác phẩm như thế? Eric trả lời tôi ngay:

      Anh Vinh thân quý,

      Tôi thấy Anh là vị tác giả “đa sản , prolific — chữ của Eric” bằng tôivà trái với tôi, anh có một nghề khác đi song với nghề viết văn: nghề làm bác sĩ! Nhưng nếu Anh có hứng thú hỏi tôi có bí quyết gì để có cách viết nhiều, thì tôi sẽ trả lời như thế này:

      Tôi vốn là người làm biếng. Nhưng đồng thời tôi cũng là người rất thích tuân thủ thói quen. Nếu muốn hoàn tất một tác phẩm, thì phải lập thành một bộ thói quen nào đónhư mỗi ngày viết một trang văn, chẳng hạn. Nếu giữ thói quen đó suốt một năm, thì khi đến cuối năm mình sẽ có 365 trangđủ để tạo thành cả một cuốn sách!

      Tuy vậy, cái thú vật yêu quý nhất của tôi trong giới vạn vật là con lười (sloth) của Châu Nam Mỹ. Ước gì có thể treo mình xuống liên miên từ một cành cây như thú vật ấy! Thân quý, Eric 

ERIC HENRY VÀ THE MEMOIRS OF PHẠM DUY

      Và rồi những emails trao đổi tiếp theo giữa Eric và tôi đều có liên quan tới chặng đường 13 năm gập ghềnh của bộ sách tiếng Anh The Memoirs of Phạm Duy cho đến nay vẫn chưa có thể xuất bản.

      Email 1: Anh Bác sĩ Ngô Thế Vinh thân kính, [ May 4, 2022 ]

      Rất cảm ơn Anh quan tâm đến việc xuất bản sách phiên dịch Hồi Ký Phạm Duy. Lịch sử của các nỗ lực của tôi và các người “đồng minh” để xuất bản sách này giống như lịch sử của chiến tranh lạnh giữa Mỹ và Liên Xô — là một đoạn lịch sử vô cùng dài và vô cùng phức tạp. Bắt đầu từ đâu để kể cho rõ rành đây?

      Một lần, Phạm Duy và tôi sắp ký hợp đồng với Cornell S.E. Asia Publications vào năm 2009 để xuất bản sách này nhưng một công ty VN mang tên là Phương Nam không cho phéptại vì Phạm Duy mấy năm trước đã ký một hợp đồng với Phương Nam và dành cho công ty ấy độc quyền xuất bản và phổ biến tất cả sản phẩm của Phạm Duy, gồm có cả sản phẩm thuộc lãnh vực văn chương (như Hồi Ký, chẳng hạn). 

      Về sau, vào năm 2012, vài tháng trước khi qua đời, Phạm Duy đã thực hiện được một sự thay đổi trên hợp đồng này, nói là độc quyền này của Phương Nam chỉ hữu hiệu trên đất Việt Nam mà thôi, chớ không hữu hiệu trong lãnh vực của các nước khác. Biện pháp này đã giải quyết vấn đề với Phương Nam, nhưng chưa giải quyết được vấn đề với những người con của Phạm Duy — đặc biệt là với Duy Đức, người con trai út của Phạm Duy.  

Xin lỗi, tôi phải tạm ngừng viết, và tôi sẽ giải thích thêm vào buổi chiều ngày mai. Kính thư, Eric 

       Email 2: Anh Vinh thân mến, [ May 5, 2022 ]

       Ngoài Duy Đức ra, một nhân vật khác trong việc này là Tina Phạm, luật sư của gia đình Phạm Duy — tôi đã từng trao đổi thư từ với Tina từ năm 2009. Duy Đức lúc nào cũng làm theo ý kiến của Tina. Theo Tina, Duy Đức nên đòi hỏi nhà xuất bản Cornell bảo đảm là họ sẽ “indemnify” (bồi thường) gia đình Phạm Duy nếu họ bị công ty Phương Nam kiện. Nhưng Sarah Grossman, tổng biên tập của Cornell nói với tôi là Cornell không thể phát hành một văn kiện “bảo đảm” như thế. Sarah Grossman đã phát hành giùm tôi một văn kiện khác tuyên bố là Nxb Cornell sẽ tuyệt đối không tìm cách bán tác phẩm này trên đất Việt Nam. Nhưng Tina và Duy Đức chưa thỏa mãn với lời hứa chính thức này của Cornell.  

      Eric Henry sau đó đã liên lạc với Ban Giám Đốc Cty Phương Nam, và bây giờ Cty Phương Nam đã có giám đốc và phó giám đốc mới. Eric Henry đã nhận được thư hồi âm của Trịnh Hải Phương, phó giám đốc Phương Nam. 

      Kính chào ông Eric Henry,

      Tôi là Trịnh Hải Phương, Phó Giám đốc công ty TNHH MTV Sách Phương Nam, có nhận được thư của ông Eric Henry đề nghị cho phép xuất bản bản tiếng Anh “Hồi ký nhạc sĩ Phạm Duy” ở Mỹ. Sau khi chúng tôi kiểm tra lại nội dung hợp đồng độc quyền khai thác các tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy thì nhận ra công ty Phương Nam chỉ độc quyền khai thác trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Do đó công ty Phương Nam không giữ quyền khai thác tác phẩm của nhạc sĩ Phạm Duy ngoài lãnh thổ Việt Nam. 

      Về đề nghị của ông thì thuộc quyền quyết định của gia đình nhạc sĩ Phạm Duy, những người thừa kế. Do đó ông có thể liên hệ với gia đình nhạc sĩ Phạm Duy để trao đổi. 

      Trân trọng, Trịnh Hải Phương

      Nhận được thư này, tôi gửi thư hồi âm như sau: 

      Kính gửi Ông Trịnh Hải Phương,

  Rất cám ơn Ông gửi thư hồi âm. Thư của Ông rất rõ rệt và rất là giúp việc. Tôi sẽ cho Nxb Cornell và gia đình nhạc sĩ Phạm Duy biết về thư này ngay lập tức. Tôi thấy là mỗi người sẽ yên tâm hơn; (và trong bản dịch Hồi Ký tôi sẽ nói về vai trò quan trọng của Công ty Phương Nam trong việc hồi hương của nhạc sĩ Phạm Duy. Tôi thấy là nếu hồi trước không có Phương Nam, thì cuộc hồi hương ấy chắc là không có cách nào thực hiện được.) Một lần nữa, xin hết lòng đa tạ Ông và các đồng nghiệp. Xin chúc Ông mọi sự tốt đẹp.
      Eric Henry 

     Và Ông Phương đã trả đáp như thế này: 

      Kính gởi ông Henry,

      Cám ơn ông đã hồi âm, công ty Phương Nam chỉ góp một phần nhỏ trong việc phổ biến những giá trị nghệ thuật của nhạc sĩ Phạm Duy đến với người dân Việt Nam.

      Cá nhân Phương Nam cũng rất cảm kích công việc anh đã làm cho nhạc sĩ Phạm Duy và hy vọng tập hồi ký được sớm xuất bản. 

      Trân trọng, Trịnh Hải Phương 

      Như vậy, Công ty Phương Nam không những không phản đối việc này, mà còn hy vọng là The Memoirs of Phạm Duy được sớm xuất bản

      Email 3: Anh Vinh thân quý, [ May 7, 2022 ]

      Cám ơn Anh gửi cho tôi thấy thiếp chúc mừng 1996, và bức thư 1995 mà đều mang bút tích của cố nhạc sĩ. Tôi sẽ tiếp tục cung cấp chi tiết về vụ tìm cách xuất bản The Memoirs of Phạm Duy. Thân ái, Eric

      Cám ơn Anh liên lạc với Duy Minh, Duy CườngDuy Đức. Tôi thấy là Duy Cường, giống như tôi, rất muốn thấy Cornell xuất bản The Memoirs. Thân ái, Eric 

      Email 4:  Anh Vinh thân quý, [ May 10, 2022 ]

      Nay mai, tôi sẽ viết thêm một chút về vụ xuất bản “The Memoirs. À, suýt quên: 3 bản hợp đồng mà tôi đã gửi cho Anh không chút nào “classified”. Muốn trích dẫn câu nào, xin tùy nghi! Chúc Anh thoải mái, yên tâm, Thân ái, Eric

NGÔI NHÀ MỚI CỦA PHẠM DUY

Hình 7a: trái, ngôi nhà mới 3 tầng trong cư xá Lê Đại Hành, phường 13, quận 11 nơi Phạm Duy đã sống tám năm còn lại cuối đời, từ trái: Phạm Duy Minh, Phạm Duy, và kiến trúc sư tân trang căn nhà. Nếu không có gì biến động, căn nhà này sẽ thuộc quyền sở hữu của gia đình Phạm Duy sau 20 năm 2005 – 2025. [nguồn: photo by Nguyễn Phong Quang]

Hình 7b: Dọn đến ngôi nhà mới, Phạm Duy Đại Lực Sĩ — chữ của Nguyên Sa, vẫn miệt mài làm việc với dàn máy điện toán Macintosh ở tuổi đã gần 90. [Photo by Nguyễn Phong Quang]
Hình 8: Hình chụp tháng 8 năm 2006 tại căn nhà Phạm Duy trong cư xá Lê Đại Hành, từ trái, Eric Henry dịch giả Bộ Hồi Ký Phạm Duy, nhạc sĩ Phạm Duy lúc đó 85 tuổi, Harry Diakoff là bạn tấm cám của Eric, cũng rất mê nhạc Phạm Duy. Harry Diakoff đã quay phim hai cô bạn gái dùng vũ điệu  để diễn giải hai ca khúc của Phạm Duy là: Ngày Trở Về, và Ru Con, khi được xem khúc phim ấy, Phạm Duy tỏ ra rất hứng thú. [tư liệu và ghi chú của Eric Henry]

Hình9: Eric Henry tới thắp nén nhang trên ngôi mộ chưa xây của nhạc sĩ Phạm Duy. Eric Henry viết: ảnh này được chụp vào ngày 13 tháng 11, năm 2013. Ngày đó tôi đi với Nguyễn Phong Quang, Duy Cường, và một bạn gái của Duy Cường từ Sài Gòn đến nghĩa trang tỉnh Bình Dương để thăm mộ Phạm Duy. Nấm mồ khi đó chưa được hoàn thành, chưa có pho tượng Phạm Duy. [Photo by Nguyễn Phong Quang]

BA BỨC THƯ NGÔ THẾ VINH GỬI

NHỮNG NGƯỜI CON NHẠC SĨ PHẠM DUY

     Qua điện thoại, tôi liên lạc được với Phạm Duy Minh, người con trai thứ hai của nhạc sĩ Phạm Duy, đang sống nơi căn nhà của cha ở Midway City. Tôi có nói với Duy Minh về ý nghĩa to lớn của bộ Hồi Ký tiếng Anh đối với sự nghiệp của Bố Phạm Duy khi được University Press của một Đại Học danh giá là Cornell nhận xuất bản. Đây cũng là điều mà Phạm Duy khi còn sống đã rất mong ước.

      Nhưng rồi qua Duy Minh – nay là con cả trong gia đình sau khi Duy Quang mất, tôi được biết là tất cả bảy anh em – cùng có quyền thừa kế giống nhau, nếu chưa có sự đồng thuận tuyệt đối 7/7 thì  chưa thể có một hợp đồng với Đại Học Cornell. Và sau đó Duy Minh đã cho địa chỉ email của ba người: Duy Minh, Duy Cường và Duy Đức để tôi có thể trao đổi liên lạc.

      Mặc dù đang rất bận rộn, nhưng do sự trân quý sự nghiệp âm nhạc / văn hóa của nhạc sĩ Phạm Duy, tôi đã không ngần ngại chia sẻ những ý nghĩ tâm huyết với Duy Minh, Duy Cường, Duy Đức và các Anh Em trong gia đình Phạm Duy, chỉ với mục đích duy nhất là làm sao vượt qua tất cả những trở ngại hiện nay để bộ Hồi Ký The Memoirs of Phạm Duy sớm được xuất bản. 

      Và sau đây là vắn tắt nội dung ba bức thư ngỏ, trong đó tôi xưng Anh với những người con của nhạc sĩ Phạm Duy, vì tất cả đều nhỏ tuổi hơn. 

      Tôi có nhắc, là mấy năm cuối đời Bố Phạm Duy đã quan tâm và kỳ vọng rất nhiều về bộ Hồi Ký bản tiếng Anh nếu được xuất bản ở Mỹ. Năm 2012, một năm trước khi Phạm Duy mất, trong một cuộc phỏng vấn Ông còn hãnh diện nhắc bộ sách The Memoirs of Phạm Duy. Đến nay 2022, 10 năm đã trôi qua, bản tiếng Anh ấy vẫn còn nằm ở Đại Học Cornell như một bản thảo. Và người dịch cuốn sách ấy là Tiến Sĩ Eric Henry, mà  mấy Anh Em cũng đã từng gặp, Anh ấy năm nay cũng đã 79 tuổi rồi, với tuổi đã cao như vậy, nếu có vấn đề gì về sức khỏe đột ngột xảy ra cho Anh ấy, thì bao nhiêu công sức của Anh Eric Henry và của Bố Phạm Duy sẽ có nguy cơ bị rơi vào quên lãng! Sẽ rất đáng tiếc!

      Tôi cũng nhắc tới điều mà Duy Minh và mấy Anh Em có thể e ngại là có vi phạm bản Hợp Đồng với Công ty Văn Hóa Phương Nam, nhưng điều đó không có — vì trước khi Bố Phạm Duy mất, bản hợp đồng với Phương Nam ghi rõ chỉ hiệu lực trong lãnh thổ Việt Nam!

      Và như vậy, tiếng nói quyết định cuối cùng để The Memoirs of Phạm Duy có thể được Cornell University Press xuất bản là nơi 7 anh em — những người con thừa kế di sản Phạm Duy.

      Tôi đã đề nghị Duy Minh, Duy Cường, Duy Đức và tất cả mấy Anh em trong gia đình nên cùng nhau bàn bạc để có một quyết định đúng vì sự nghiệp lâu dài của nhạc sĩ Phạm Duy. Vì thời gian sinh học thì không phải là bất tận. Tôi cũng nhắc cho Duy Minh, Duy Cường, và Duy Đức cùng các anh em trong gia đình nhạc sĩ Phạm Duy thêm một văn kiện từ Đại Học Cornell / attachment của “Sarah Grossman bảo đảm là Nxb Cornell sẽ tuyệt đối không bán The Memoirs of Phạm Duy trên đất Việt Nam.”

      Cho dù ngay từ ban đầu, Nhạc sĩ Phạm Duy đã đồng thuận làm việc song hành với TS Eric Henry để hình thành được bộ sách tiếng Anh đồ sộ The Memoirs of Phạm Duy. Nhưng nay do Bố Phạm Duy đã mất, Nxb University Press Cornell vẫn cần thêm một giấy cho phép / Permission của những người con thừa kế di sản Phạm Duy, tôi cũng đã gửi kèm theo eMail thứ 3 này một mẫu bản thảo / draft lá thư cho phép ấy. Một thủ tục đơn giản nhưng quan trọng để Đại Học Cornell có thể khởi sự in bộ sách The Memoirs of Phạm Duy. Bản thảo gợi ý đó như sau:   

To: Eric Henry 

Cc: Cornell University Press

 I, Phạm Duy Minh, the son of the Vietnamese song composer and author Phạm Duy, am the copyright proprietor (representing both myself and my six brothers and sisters), of the musical and literary works of my father, including his four-volume set of Vietnamese-language memoirs, Hồi Ký Phạm Duy. I, Phạm Duy Minh, hereby grant you permission to promote your annotated English translation of this autobiographical work, which I have seen and approved.

 With this letter I certify as well that I grant you permission to publish this work with Cornell University Press.

Signed,

Phạm Duy Minh

      “Và rồi tôi có nhắc tới ngày 27.01.2023 sắp tới đây sẽ là Ngày Giỗ thứ 10 của nhạc sĩ Phạm Duy. Ngày Giỗ sắp tới ấy sẽ có thêm rất nhiều ý nghĩa nếu trên bàn thờ Bố Phạm Duy, thay vì chỉ có hoa trái nhang đèn, sẽ là một bộ sách The Memoirs of Phạm Duy, điều mà Anh Vinh biết chắc chắn là nhạc sĩ Phạm Duy đã rất ao ước lúc sinh thời!

      Một cuốn sách được xuất bản bởi một Đại Học danh tiếng như Cornell, sẽ được lưu trữ nơi các thư viện lớn trên thế giới, để từ đó có thể mở ra các cuộc nghiên cứu, đây không chỉ là niềm tự hào của Bố Phạm Duy mà còn niềm hãnh diện cho các thế hệ thứ 2 thứ 3 của gia đình nhạc sĩ Phạm Duy. Hãy không để dự án lớn này bị “đứt gánh giữa đường” để sau này chỉ còn lại là sự hối tiếc!

…  

      Bằng mọi giá, Duy Minh Duy Cường Duy Đức và Các Anh Em cần có nỗ lực “tạo thuận” cho giấc mơ của Bố Phạm Duy trở thành hiện thực, để rồi ra, Duy Minh Duy Cường Duy Đức và Các Em sẽ không phải thốt nên câu là “rất tiếc”…  

      Last but not least, Think Big nha mấy Anh Em!

      Các emails này tôi đều có gửi cho Anh Eric được đọc, trong một email thứ ba không rút ngắn, có thêm đoạn này:

      Thập niên 1970, khi anh Vinh họp một Hội nghị Sinh Viên Á Châu bên Nhật, anh Vinh thấy các bảng hiệu rầm rộ quảng cáo cho cuốn phim “Love Story” mô phỏng theo cuốn tiểu thuyết cùng tên của Erich Segal: câu catchphrase ấy là: “Love means never having to say you’re sorry / Yêu là không bao giờ phải nói câu là anh rất tiếc”. Anh Vinh lúc này thì nghĩ tới tình yêu thương của những đứa con đối với Bố Phạm Duy. Bằng mọi giá, Duy Minh và Các Em cần phải “tạo thuận” cho giấc mơ của Bố Phạm Duy trở thành hiện thực, để rồi ra, Duy Minh và Các Em sẽ không phải thốt nên một câu là “rất tiếc”. 

      Đó là những điều tâm huyết mà Anh Vinh muốn chia sẻ với Duy Minh, Duy Cường, Duy Đức và các Anh Em. 

      Eric Henry viết:

      Anh Vinh thân quý, Thiệt ra, tôi rất thích draft email [3] mà Anh đã gửi cho tôi thấy ngày hôm qua — trong khi đọc, tôi thấy là cách viết của nó hùng biện đến độ “chuyển trời rung đất”, có đầy đủ sức lực khiến thần quỷ rơi lệ, tuy vậy, nếu Anh thấy là draft mới nhất sẽ hữu hiệu hơn, thì tôi cũng xin tuân theo. I trust your judgement.

      Với 3 bức tâm thư được gửi đi và đã đến người nhận, nhưng rồi vẫn là sự im lặng của những người con Nhạc sĩ Phạm Duy.

      Không biết ngày mai của bộ Hồi Ký ấy sẽ ra sao: Que Sera, Sera… Và rồi trong sự tin cậy, Eric Henry sau đó cũng đã gửi tôi một copy bản thảo bộ sách The Memoirs of Phạm Duy như “Của tin gọi một chút này làm ghi. [Nguyễn Du]

PHẠM DUY – ERIC HENRY VÀ HUẾ 

      Trong một bài viết thay lời chúc mừng thượng thọ Phạm Duy 90 tuổi (2011) nhan đề Phạm Duy và Huế, Đặng Tiến viết: 

      “Nhạc sĩ Phạm Duy không có quan hệ dây mơ rễ má gì với đất Huế và người Huế, nhưng xứ thần kinh đã để lại trong nhạc phẩm anh nhiều âm hưởng và hình ảnh sâu đậm, đặc biệt sau bốn lần ghé Huế: 1944 khi đi hát rong; 1946 sau cách mạng tháng 8, từ chiến khu Nam Bộ về Bắc; 1948 trong kháng chiến chống Pháp; và 1953 khi về thành.”

      Không phải chỉ có 4 lần ghé Huế, Phạm Duy đã có rất nhiều lần ra Huế sau thập niên 1960, khi cường độ chiến tranh Việt Nam đi vào giai đoạn khốc liệt nhất, cũng là thời gian Phạm Duy viết 10 bài Tâm Ca. Riêng Nguyễn Đắc Xuân có ba bài thơ được Phạm Duy phổ nhạc: Để Lại Cho Em, Nhân Danh, Chuyện Hai Người Lính. Bài Tâm Ca Số 5 – Để Lại Cho Em, là một dấu ấn đặc biệt của giai đoạn ấy.

Ca khúc “Tâm ca số 5” (nhạc: Phạm Duy, thơ: Nguyễn Đắc Xuân) qua lời giới thiệu của chính tác giả và tiếng hát Khánh Ly.

TÂM CA SỐ 5:  ĐỂ LẠI CHO EM 

(nhạc: Phạm Duy – thơ: Nguyễn Đắc Xuân)

Ðể lại cho em này nước non mình
Ðể lại cho em một nước đẹp xinh
Một miền oai linh hiển hách 
Chỉ còn dư vang thần thánh
Ðể lại cho em hèn kém của anh 
Ðể lại cho em cuộc sống mệt nhoài
Ðể lại cho em hồn nước tả tơi 
Ðường đời quanh co kẹt lối
Lòng người không căm giận dỗi
Ðể lại cho em tội lỗi qua rồi…

      Cuộc gặp gỡ giữa Phạm Duy – Nguyễn Đắc Xuân, và tôi sau này nơi căn nhà bên bờ sông Hương ấy được ghi lại trong Chương XVII cuốn tiểu thuyết Vòng Đai Xanh, với nhân vật hư cấu tên Vy, một sinh viên Phật tử tranh đấu chính là Nguyễn Đắc Xuân và một nhạc sĩ nổi danh về Dân Ca là Phạm Duy. 

      Đôi lần vào Sài Gòn, Nguyễn Đắc Xuân đều có tới tòa báo Tình Thương, Xuân đích thân đem theo một bài viết hay đôi bài thơ để được chọn đăng trên tờ báo Tình Thương.

      Khoảng tháng 4/1965, khi ấy tôi đang là Tổng thư ký tòa soạn báo Sinh Viên Y Khoa Tình Thương, Nguyễn Đắc Xuân, trong một chuyến vào thăm các Thầy ở chùa Già Lam, có tới tòa soạn 103 Nguyễn Bỉnh Khiêm gần đài Phát thanh Sài Gòn, trao tay một bài viết nhan đề: Bài Âu Ca của Phạm Duy, sau đó bài được chọn đăng trên báo Tình Thương số 17, phát hành tháng 5/1965. Nguyễn Đắc Xuân rất mê nhạc Phạm Duy và nhất là phần ca từ, Xuân viết: “lời nhạc của anh hay hơn cả thơ”. Nguyễn Đắc Xuân cũng có làm thơ, Bài Tâm Ca số 5 sáng tác năm 1965 của Phạm Duy phổ từ bài thơ “Để Lại Cho Em” của Nguyễn Đắc Xuân.  

Hình9: Bài Âu Ca của Phạm Duy, của Nguyễn Đắc Xuân được đăng trên báo SVYK Tình Thương số 17, tháng 5/1965. Trong cùng năm, Phạm Duy sáng tác bản nhạc Tâm Ca Số 5 phổ từ bài thơ Để Lại Cho Em của Nguyễn Đắc Xuân. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

      Một năm sau đó, tháng 5/1966, tôi gặp lại Nguyễn Đắc Xuân ở Huế trong chuyến ra Chùa Từ Đàm, cùng Chủ Nhiệm Phạm Đình Vy thực hiện cuộc phỏng vấn 96 Phút với Thượng Tọa Thích Trí Quang.

      Khi ấy, Nguyễn Đắc Xuân là sinh viên năm cuối ban Việt Hán Đại học Sư phạm Huế và là Đoàn trưởng Đoàn Sinh viên Quyết tử Huế, được coi như một thành phần chủ chốt của Phong trào đô thị đấu tranh của cộng sản nằm vùng nấp bóng Phật giáo, sau đó bị lộ diện và truy lùng, Xuân trốn vào sống trong các chùa và sau đó thoát ly vào mật khu của cộng sản từ cuối 1966.

      Tới Tết Mậu Thân 1968, thì Nguyễn Đắc Xuân xuống núi, lộ nguyên hình là một cán bộ cộng sản và đã có mặt ở Huế trong suốt chiều dài tấn thảm kịch Tết Mậu Thân, nơi diễn ra vụ thảm sát hơn ba ngàn thường dân Huế với các nấm mồ chôn tập thể.

      Sau 1975, với công lao cách mạng ấy, đảng viên cộng sản Nguyễn Đắc Xuân được phong làm cán bộ Tuyên giáo Thành ủy Huế, được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam, rồi sau đó được bầu làm Tổng thư ký Hội Văn nghệ Thành phố Huế và kiêm nhiệm nhiều chức vụ khác.  

      Và từ 1966 cho tới nay 2022, chưa bao giờ tôi gặp lại người sinh viên quyết tử năm xưa – nay Xuân có thêm danh xưng là “nhà Huế học”, có người còn dễ dãi gọi Nguyễn Đắc Xuân là sử gia. Ở tuổi 85, Nguyễn Đắc Xuân (sinh năm 1937), không còn là hình ảnh gầy ốm của một sinh viên “hàn nho” thuở nào, và khi gặp phóng viên Phan Đăng, báo Công An Nhân Dân, Nguyễn Đắc Xuân với giọng hãnh tiến: “Tôi xây nhà được nhờ viết sách. Cho con cái đi học nước ngoài nhờ viết sách. Sống khỏe nhờ viết sách. [Báo Công An Nhân Dân PV nhà nghiên cứu văn hóa Nguyễn Đắc Xuân, 25.03.2019]  

      Nguyễn Đắc Xuân – nhân danh một nhà Huế học, đã nói về Cố đô Huế như sau: “Không đâu êm ả, phẳng lặng tựa như mặt nước sông Hương nhưng cũng không ở đâu sóng lũ dữ dội như ở Huế. Khách đường xa đến Huế ai cũng thấy đời sống chậm, khoan thai, họ không hiểu Huế là nơi có những biến động không nơi nào trên nước mình sánh được.

      Và biến động “không nơi nào trên nước mình sánh được vẫn là vụ thảm sát Tết Mậu Thân 1968 – kéo dài suốt 26 ngày hay đúng hơn 624 giờ — mà mỗi giờ là giờ thứ 25 / La Vingt-cinquième Heure của mỗi người dân Huế sống sót — và trong “mắt bão” Tết Mậu Thân đó, tên tuổi Nguyễn Đắc Xuân luôn luôn được nhiều phía nhắc tới, như một tác nhân và là nhân chứng sống. 

NGUYỄN ĐẮC XUÂN “ĐỎ” VÀ NHẠC “VÀNG”

      Mùa Hè 2017, 4 năm sau ngày Phạm Duy mất, TS Eric Henry được mời ra nói chuyện ở Nhạc Viện Huế, với đề tài ban đầu là: “Nhạc Á Đông, nhạc Phạm Duy” sau phải đổi là “Lịch sử nhạc phổ thông Việt Nam và các nước láng giềng”, tên Phạm Duy không được chính thức ghi trên Poster trong sự kiện văn hóa ấy. Eric Henry qua một email, đã kể cho tôi nghe diễn tiến trước và sau chuyến đi Huế ấy:  

      “Khi nói với khán thính giả, tôi – Eric Henry muốn kể l cho họ nghe một mảnh đối thoại ngày nào giữa tôi và Phạm Duy. Phạm Duy đã hỏi tôi, “Ông nghĩ gì về nhạc vàng?” Trả đáp của tôi lúc ấy là: “Tôi thấy nhạc vàng là một loại nhạc chân thật.” [khi nghe câu ấy, Phạm Duy đã không nói gì, nhưng có vẻ nửa đồng ý nửa bất đồng ý.] 

      Khi tôi thảo luận về việc này với Nguyễn Đắc Xuân, anh Xuân đã cảnh cáo tôi là trong một nơi công cộng như Nhạc viện Huế, tôi không được nói là nhạc vàng là loại nhạc “chân thật” – vì nếu nói thế, thì mỗi người nghe sẽ hiểu là bên cạnh nhạc chân thật phải có một loại nhạc “không chân thật” nữa – và mỗi người sẽ hiểu ngay là nhạc “không chân thật” là cái gì: nhạc đỏ.

      Cho nên tôi – Eric Henry đành phải theo lời dặn Nguyễn Đắc Xuân và tự kiểm duyệt. Trong khi diễn giảng trước khán thính giả, tôi chỉ nói: “nhạc vàng là một loại nhạc mà biểu tỏ cảm tưởng chân thành về đời sống của người bình thường”. Tôi rất là không thích câu ấy — quá thiếu bề thẳng thắn, thiếu bề trung thực!

      Trong buổi nói chuyện, TS Eric Henry đã nói được những nét cơ bản về tân nhạc tại Việt Nam và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, và cả Đại Hàn, Trung Quốc.

      TS Eric Henry chủ yếu nhấn mạnh đến nền tân nhạc Việt Nam, trong đó đáng chú ý nhất là nhạc sĩ Phạm Duy, TS Eric Henry đã nhận xét: “Nhạc của nhạc sĩ Phạm Duy đa dạng như các bức tranh của danh họa Picasso”.

Hình 10: trên, TS Eric Henry trên sân khấu của Học Viện Âm Nhạc Huế, trong một buổi thuyết giảng: ngày 07/06/2017 về chuyên đề với tên ban đầu là: “Nhạc Á Đông, nhạc Phạm Duy” sau phải đổi là “Lịch sử nhạc phổ thông Việt Nam và các nước láng giềng”; dưới, TS Eric Henry đang trình diễn piano bản nhạc “Thuyền Viễn Xứ”. Riêng với hai ca khúc kể chuyện “Chiếc Cặp Tóc Thơm Tho” và “Tình Sầu”, tôi chỉ trình diễn từng đoạn để giúp thính giả hiểu cách cấu trúc trong hai bài đó. [tư liệu Eric Henry]

      Trong bài diễn văn tôi – Eric Henry, cũng kể một truyện ngụ ngôn, “Hai đứa bé” để biểu tỏ sự khác biệt then chốt giữa nhạc Phạm Duy và nhạc Trịnh Công Sơn. Có lẽ đây là phần duy nhất trong bài có mùi vị buồn cười. Câu chuyện ấy như sau:

      Có lần, khi đi thăm Phạm Duy ở nhà của ông tại Midway City bên Cali, tôi đang ngồi bên cạnh ông trên ghế sô-pha, và chúng tôi bắt đầu nói chuyện về sự khác biệt giữa nhạc của ông và nhạc Trịnh Công Sơn. Nhân dịp ấy, tôi nói với ông là đề tài này thường hay khiến tôi liên tưởng đến một truyện cười, mà tôi xin kể ra cho ông nghe. Lúc ấy tôi hơi sợ là truyện này có thể khiến ông thấy mếch lòng, nhưng tôi không sợ lắm, tại vì tôi biết  Phạm Duy không những thông minh tột độ, mà còn là người có óc khôi hài, cho nên chắc sẽ có sức thưởng thức được. Truyện là như thế này:

      Hai Đứa Bé: Có ngày một cặp vợ chồng đi thăm một bác sĩ tâm lý. Họ hết sức lo âu tại vì hai đứa con trai của họ đều có một bệnh tâm lý nặng nề.Một đứa bé thì lạc quan tuyệt đối, lạc quan quá độ, lạc quan vô lý. Còn đứa bé thứ hai có một thứ bệnh tật đối nghịch—bé ấy bi quan tuyệt đối, bi quan quá độ, bi quan vô lý. 

Sau khi bác sĩ nghe xong, ông ta nói, “Được rồi, tôi có một phương pháp điều trị hai đứa ấy. Cái quá trình điều trị mà tôi định sử dụng sẽ kéo dài ba ngày. Xin ông bà trở lại đây ngày mai với hai đứa bé. Ngày kế tiếp, khi vợ chồng trở lại với hai đứa con, thì bác sĩ đã chuẩn bị xong hai căn phòng khác nhau. Một căn phòng đầy đồ chơi. Đồ chơi ấy có rất nhiều thứ, được làm một cách rất tinh vi, và có nhiều màu sắc vừa sáng vừa đẹp. Còn căn phòng thứ hai, thì đầy cứt ngựa. Chỉ có cứt ngựa thôi, không có gì khác bên trong. 

Và bác sĩ cho đứa bi quan dọn vào phòng đồ chơi và ở lại đó ba ngày, trong khi đứa lạc quan ở lại phòng cứt ngựa ba ngày. Sau thời gian chỉ định đã qua, các người lớn bước vào phòng đồ chơi, và thấy là đứa bi quan đang khóc liên miên với những giọt nước mắt lớn rơi xuống mặt.

 Bác sĩ hỏi em: 

“Em sao thế? Em không thích đồ chơi này sao?”

Và em trả đáp:

“Những đồ chơi này thật là đẹp, thật tinh vi, thật đáng quý. Và chính vì thế tôi cảm thấy đau buồn vô cùng. Vì tôi biết rõ là những đồ chơi này không thể tồn tại vĩnh viễn. Một ngày sẽ đến khi tất cả đồ chơi này sẽ bị tan vỡ hết.” Nói xong, em bé khóc lần nữa, với vẻ bi thảm hơn trước. 

Rồi các người lớn bước vào phòng cứt ngựa. Họ thấy là bé lạc quan có vẻ hết sức vui sướng. Nó đang reo vui và đang nhảy liên miên từ một góc phòng đến một góc phòng khác. 

Bác sĩ hỏi: 

“Em sao thế? Cứt ngựa xung quanh không khiến em thấy chán sao?” 

Và em trả đáp: 

“Cứt ngựa thật nhiều như vậy, thì chắc chắn có một con ngựa thực sự ở đâu đó!” Và em ấy tiếp tục nhảy và reo vui.

 Xin hỏi quý vị cảm thấy như thế nào—đứa bé nào là Phạm Duy, và đứa bé nào là Trịnh Công Sơn? Khi kể ra truyện này cho Phạm Duy nghe, tôi thấy là cái chi tiết mà ông tâm đắc nhiều nhất là chi tiết cứt ngựa, nhưng sau khi nghe, ông không tỏ ra ý kiến nào về sự so sánh mà tôi đã muốn đưa ra. 

      Sau truyện “Hai đứa bé”, tôi – TS Eric Henry -bàn bạc về hai ca khúc kể truyện của Phạm Duy: “Chiếc cặp tóc thơm tho và “Ngày xưa một chuyện tình buồn” [Hương Ca số 9 và số 4],và đã đi sâu phân tích từ chủ đề, ca từ, cấu trúc, giai điệu, 2 ca khúc điển hình ấy trong số 10 bài Hương Ca của Phạm Duy được sáng tác mấy năm cuối ở hải ngoại, trước khi Phạm Duy chọn về sống ở Việt Nam.

      Riêng các sinh viên ở nhạc viện Huế hoàn toàn không có phản ứng nào cả—lý do là họ đang ngồi với hằng trăm bạn đồng học, xen lẫn với công an văn hóa và trong một hoàn cảnh công khai như vậy—làm sao mà có đầy đủ can đảm để đặt ra bất cứ câu hỏi hoặc nhận xét nào đấy? Rất tiếc là không thể có cuộc gặp mặt riêng tư với một số nhóm nhỏ sinh viên—nếu đã làm như thế được, thì chắc là kết quả sẽ khác hẳn.

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

      Được Eric Henry tặng sách, như một đáp lễ, qua Amazon tôi gửi tặng Eric bộ sách Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa. Chỉ 3 ngày sau, tôi nhận được email hồi âm của Eric:

      “Hoan hô! Amazon đúng hẹn rồi!  Tôi vừa nhận được Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa, Tập 1 và Tập 2. Trong khi coi Tập 2, tôi hài lòng và quan tâm đặc biệt khi thy là Anh đã chú ý nghệ thuật tạo hình trong những bài viết về họa sĩ Tạ Tỵ và hai điêu khắc gia Lê Ngọc Huệ và Mai Chửng. Tôi cũng muốn thấy những gì mà Anh đã viết về John Steinbeck. Tôi suốt nhiều năm hết sức đam mê ngôn ngữ đẹp do Steinbeck tạo ra trong tiểu thuyết (gần như đầu tay) của anh: Tortilla Flat. Có hai quyển sách của Anh, tôi bây giờ có cơ hội được giáo dục về nhiều khía cạnh của văn hóa Việt Nam. Đây là một niềm vui lớn!

      Rồi là một email tiếp theo:

     “Tôi đã coi lại tập Chân Dung 1, và thấy là ngoại trừ các bài viết về Hoàng Ngọc Biên, Đinh Cường và Nghiêu Đề, có bài viết về họa sĩ Nguyên Khai nữa. Tôi rất muốn biết thêm về những người đã “cống hiến cả cuộc đời của mình cho nghệ thuật” này.

      Giống như Anh, tôi suốt nhiều năm đã được cái may mắn trở nên khá thân mật với nhiều người “bất thường tầm — vẫn chữ của Eric. Tiếc thay, họ đang dần dần trở thành “người của trăm năm cũ” rồi. Tôi nên bắt chước Anh và thử viết một tập “chân dung” để vinh danh họ. 

       Và chẳng thể ngờ, cũng từ đây giữa hai chúng tôi nảy nở ra mối tương quan mới, với một dự án mới: TS Eric Henry dự định sẽ dịch sang tiếng Anh hơn một ngàn trang  toàn bộ hai tập Chân Dung Văn Học Nghệ Thuật và Văn Hóa của tôi. Tôi cũng hiểu rất rõ rằng, Eric cũng đang còn bận rộn với bao nhiêu công trình dở dang khác của anh.

      “Vạn sự khởi đầu nan”, chúng tôi vẫn nói với nhau như thế. Tôi còn nói thêm câu: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.Ngay hôm sau, tôi lại nhận được một email khác của Eric:

      Anh Vinh thân quý, Dưới đây là hình chụp của cụ Nguyễn Bá Học (1857 – 1921), tác giả danh ngôn “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”.  Câu đó tôi đã ngâm đi ngâm lại suốt năm mươi mấy năm vừa qua, là một phần căn bản của cuộc sống Eric Henry.   

Danh ngôn này hình như là biến thể của một câu trong thơ Bạch Cư Dị 白居易 (772 – 846): 行路難不在水不在山,只在人情反覆間. (Hành lộ nan bất tại thủy bất tại sơn, chỉ tại nhân tình phản phúc gian), ý nghĩa hơi khác, nhưng cũng sâu sắc—tuy vậy, không có tinh thần hào hùng của câu Nguyễn Bá Học.

      Không lâu sau đó, tôi nhận được một chương sách dịch đầu tiên Chân Dung Mặc Đỗ của bộ sách tiếng Anh dự tính có nhan đề là: Creative World of the South Vietnam 1954 – 1975. Và rồi liên tiếp sau đó, cứ mỗi hai tuần hay mười ngày, tôi lại nhận được bản dịch một Chân Dung mới. Và hôm nay là Dương Nghiễm Mậu: Forty Years of Dương Nghiễm Mậu And the “Autobiography of Nguyễn Du” cũng là Chân Dung thứ sáu vừa được Eric dịch xong, cùng với một lá thư của dịch giả Eric Henry, mà tôi muốn chia sẻ với bạn đọc, thay cho một kết từ của bài viết này.

      Anh Vinh thân quý, Anh thật là “nhà báo của các nhà báo – Eric dùng cụm từ trong bài viết về Chân Dung Như Phong.  Đối với Anh, thế giới này không có cách giữ được bất cứ việc bí mật nào — sợ là chẳng bao lâu nữa sự hiểu biết của Anh về quá khứ Eric Henry sẽ vượt qua chính Eric Henry!

      Tôi bây giờ đang nghĩ về một bức thư mô tả các tác phẩm của Anh cho một nhà xuất bản. “Chân Dung tập 1” tôi tạm gọi là: “The Creative World of South Vietnam, vol. 1:  Eighteen Literary, Artistic, and Cultural Portraits. Tôi đã làm một danh sách cho các nhà xuất bản dễ thấy nội dung là như thế nào (và sẽ làm một danh sách tương tự cho tập 2):  Tôi bắt đầu suy nghĩ về việc liên lạc với các nhà xuất bản. Eric

     Để hoàn tất bản dịch hơn một ngàn trang sách, rồi tìm được một nhà xuất bản Mỹ trong dòng chính như University Press, còn là cả một chặng đường dài gian truân, như qua một câu thơ Tản Đà:

      Hai vai gánh nặng con đường thời xa, và rồi chúng tôi cùng chúc cho nhau, giữ sao cho chân cứng đá mềm.  

      Và cả hai chúng tôi cũng không bao giờ quên, là làm sao bằng mọi giá sớm xuất bản cho được bộ sách The Memoirs of Phạm Duy, một trong những ước mơ của nhạc sĩ Phạm Duy nay vẫn còn đang dang dở.

NGÔ THẾ VINH

Little Saigon, 08/08/2022

THAM KHẢO

1/ “Phạm Duy and Modern Vietnamese History.”Eric Henry. Southeastern Review of Asian Studies 27 (2005), pp. 89 – 105.

2/ The Memoirs of Phạm Duy. Translated from the Vietnamese by Eric Henry. To be published by Cornell University Press. 

3/ The curious memoirs of the Vietnamese composer Phạm Duy. John C. Schafer. Journal of Southeast Asia Studies. Feb 2012. The National University of Singapore, 2012.

4/ Tìm hiểu Nhạc Phạm Duy / Phạm Duy’s Study. Nhiều tác giả. Lưu hành nội bộ. [nguồn: Phạm Duy, tháng Giêng 2007]

5/ Phỏng Vấn GS ngôn ngữ học Tiến sĩ Eric Henry. Quỳnh Lệ. Người Viễn Xứ, 17/07/2005.

Chương trình tập huấn “Phương pháp nghiên cứu khoa học” (Đại học Y Dược Cần Thơ 13/9/2022 đến 20/9/2022)

Tôi rất hân hạnh thông báo đến các bạn xa gần rằng một lớp học về phương pháp nghiên cứu khoa học sẽ được diễn ra ở ĐH Y Dược Cần Thơ từ 13/9 đến 20/9/2022 (6 ngày). Đây là lớp học căn bản, rất thích hợp cho những sinh viên sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) nhưng cũng cho cả bất cứ ai có ý định làm nghiên cứu khoa học trong công việc của mình.

Đại học Y Dược Cần Thơ

Mục tiêu

Mục tiêu chính của khoá học là trang bị cho các học viên những kiến thức cơ bản về qui trình, thiết kế nghiên cứu khoa học, phương pháp thu thập dữ liệu, lên kế hoạch phân tích, và các phương pháp phân cơ bản cho tích dữ liệu. Học viên còn học kĩ năng ngôn ngữ R và quan trọng hơn hết là diễn giải kết quả phân tích. Sau khi xong khoá học, chúng tôi kì vọng học viên sẽ có khả năng:

  • Phân biệt thế nào là ‘nghiên cứu khoa học’ và không phải nghiên cứu khoa học;
  • Đánh giá ý tưởng nghiên cứu khoa học;
  • Phương pháp thiết kế nghiên cứu;
  • Phương pháp thu thập dữ liệu;
  • Cách thiết kế bộ câu hỏi;
  • Phương pháp phân tích dữ liệu;
  • Hiểu về ý nghĩa của giả thuyết khoa học, kiểm định thống kê (test of significance), và diễn giải trị số P;
  • Sử dụng ngôn ngữ R và JASP.

Học viên

Lớp học được thiết kế dành cho bất cứ ai quan tâm đến hay có ý định làm nghiên cứu khoa học: nghiên cứu viên, nghiên cứu sinh và sinh viên, chuyên viên phân tích dữ liệu. Các nhà quản lí khoa học cũng sẽ thấy khoá học này có ích.

Giảng viên

Ngoài tôi ra, còn có các bạn giảng viên sau đây:

  • TS Trần Sơn Thạch (UTS, Úc)
  • TS Hà Tấn Đức (BV Đa Khoa TƯ, Cần Thơ)
  • TS Nguyễn Tất Đạt (Trường ĐHYD Cần Thơ)

Địa điểm

Lớp học sẽ diễn ra 2 hình thức trực tiếp và online (qua zoom).

Trực tiếp: Giảng đường 1, tầng trệt Khoa Y, Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, số 179 Nguyễn Văn Cừ, Phường An Khánh, Quận Ninh Kiều, TP Cần Thơ.

Địa chỉ zoom sẽ được gởi cho người ghi danh.

Thời gian

Từ ngày 13/9/2022 đến 20/9/2022.

Chương trình  

Chương trình dự kiến gồm 18 bài giảng. Chương trình giảng được xây dựng theo mô hình lí thuyết (buổi sáng) và thực hành (buổi chiều). Học viên sẽ được cung cấp các dữ liệu thực tế để thực hành bằng ngôn ngữ R.

Ngày 1 (13/9/2022)

Bài 1: Qui trình nghiên cứu khoa học. Ý tưởng nghiên cứu đến từ đâu; phân biệt thế nào là nghiên cứu khoa học và những gì không phải là nghiên cứu khoa học; qui trình nghiên cứu; ý nghĩa của nghiên cứu khoa học.

Bài 2: Chọn mô hình nghiên cứu. Giải thích các điểm yếu và điểm mạnh của các mô hình nghiên cứu cắt ngang, bệnh chứng, đoàn hệ, nghiên cứu RCT, phân tích tổng hợp.

Bài 3: Phương pháp thu thập dữ liệu. Giới thiệu cách thu thập dữ liệu và nguyên tắc thiết kế bộ câu hỏi.

Ngày 2 (14/9/2022)

Bài 4: Giới thiệu R. R sẽ được sử dụng cho phân tích dữ liệu trong lớp học. Bài giảng này sẽ giới thiệu ngôn ngữ R, vận hành, cách đọc dữ liệu, cách biên tập dữ liệu, và một số phân tích đơn giản.

Bài 5: Quản lí dữ liệu. Quản lí dữ liệu là khâu rất quan trọng cho nghiên cứu khoa học nhưng thường hay bị xem thường và dẫn đến nhiều hệ quả nghiêm trọng. Bài này sẽ giới thiệu cách sắp xếp dữ liệu sao cho thích hợp cho phân tích và những qui tắc đạo đức trong việc quản lí dữ liệu.

Bài 6: Phân tích mô tả (biến liên tục, biến phân nhóm). Giới thiệu các phương pháp phân tích mô tả như trung bình, độ lệch chuẩn, khoảng tin cậy 95%. Bài giảng nhấn mạnh đến ý nghĩa và cách diễn giải hơn là kĩ thuật.

Bài 7: Phân tích bằng biểu đồ. Trong khoa học biểu đồ đóng vai trò rất quan trọng, nhưng rất tiếc nhiều nghiên cứu có biểu đồ quá kém. Bài này sẽ giới thiệu các nguyên tắc và phương pháp soạn biểu đồ phẩm chất cao dùng các chương trình như ggplot2 và sjPlot. Đây là một trong những khâu rất quan trọng để hiểu dữ liệu và ý nghĩa của dữ liệu.

Ngày 3 (15/9/2022)

Bài 8: Giới thiệu ý tưởng kiểm định giả thuyết. Bài giảng bàn về hai trường pháp ước tính (estimation) và kiểm định giả thuyết (hypothesis testing), và ý nghĩa của trị số P. Học viên sẽ nắm được ý nghĩa của trị số P và mối liên hệ với kiểm định giả thuyết.

Bài 9: Phương pháp so sánh 2 nhóm (biến liên tục). Một trong những mục tiêu nghiên cứu cơ bản là so sánh hai nhóm. Bài giảng sẽ giới thiệu phương pháp t-test cho dữ liệu tuân theo luật phân bố chuẩn, và phương pháp bootstrap cho các dữ liệu không tuân theo luật phân bố chuẩn.

Bài 10: Phương pháp so sánh 2 nhóm biến định tính. Bài giảng sẽ giới thiệu phương pháp z-test, Ki bình phương, và các chỉ số như odds ratio và relative risk để sử dụng cho việc so sánh hai nhóm với biến outcome là định tính hay biến nhị phân.

Ngày 4 (18/9/2022)

Bài 11: Phân tích tương quan. Giới thiệu khái niệm “tương quan” (correlation) và

phương pháp ước tính hệ số tương quan.

Bài 12: Mô hình hồi qui tuyến tính. Giới thiệu mô hình hồi qui tuyến tính đơn giản y = a + b*x + e, giả định và phương pháp kiểm định giả định, ý nghĩa của tham số và cách diễn giải các chỉ số từ mô hình hồi qui tuyến tính.

Bài 13: Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến. Tiếp tục mô hình hồi qui tuyến tính, bài này sẽ giới thiệu mô hình hồi qui đa biến tiên lượng (multiple linear regression) và những vấn đề liên quan đến đa cộng tuyến, cách chọn biến số có giá trị tiên lượng tốt nhất.

Ngày 5 (19/9/2022)

Bài 14: Mô hình logistic đơn biến. bài giảng sẽ giới thiệu khái niệm odds và tỉ số odds (odds ratio) và ứng dụng trong mô hình hồi qui logistic. Bài giảng sẽ tập trung vào cách diễn giải ý nghĩa của các tham số trong mô hình và ý nghĩa thực tế.

Bài 15: Mô hình logistic đa biến. Tiếp tục mô hình hồi qui logistic đơn biến, bài này sẽ trình bày phương pháp phân tích với nhiều biến tiên lượng và những vấn đề kèm theo như đa cộng tuyến.

Bài 16: Phân tích sống còn (survival analysis). nhiều nghiên cứu khoa học quan tâm đến yếu tố thời gian dẫn đến biến cố. Bài này giới thiệu phương pháp life-table và Kaplan-Meier trong việc mô tả các biến thời gian và xác suất sống còn. Phương pháp log-rank test cũng sẽ được giới thiệu qua chương trình “survival” trong R.

Ngày 6 (20/9/2022)

Bài 17: Mô hình Cox. tiếp tục phương pháp Kaplan-Meier là [mô hình] Cox’s proportional hazards model. Bài giảng sẽ giới thiệu khái niệm “hazard” (rủi ro) và cách xây dựng mô hình Cox để tiên lượng một biến phụ thuộc.

Bài 18: Sai sót phổ biến trong thiết kế nghiên cứu và phần tích dữ liệu. Trong thực tế có rất nhiều sai sót và thiếu sót trong phân tích dữ liệu, và những sai sót này dẫn đến bài báo bị từ chối công bố trên các tập san quốc tế.

Đăng kí và liên lạc

  • Học viên sẽ đăng kí từ ngày ra thông báo đến hết ngày 9/9/2022.
  • Lệ phí khóa học: 5 triệu đồng/học viên (bao gồm sách, tài liệu giảng dạy, và teabreak trong suốt 6 ngày học, và Giấy chứng nhận đào tạo liên tục 48 giờ).

Đường link đăng kí theo học: https://docs.google.com/forms/d/e/1FAIpQLSea68OxZ_4Y3pBipmqDI-aT0TlBGrkNMAe-zZFZRU0f2GJvNg/viewform

Vài kỉ niệm với Bs Phạm Văn Đởm (1949 – 2022)

Sáng nay, đang đi công tác ở Gold Coast, nghe hung tin: Bs Phạm Văn Đởm, cựu Giám đốc Bệnh viện Kiên Giang, mới qua đời, thọ 73 tuổi. Dù biết rằng với những căn bệnh hiểm nghèo thì việc anh ấy sẽ ra đi chỉ là vấn đề thời gian, nhưng nghe tin này tôi vẫn thấy buồn tiếc. Tôi chợt nhớ lại những kỉ niệm mà tôi có cùng với anh ấy cả 20 năm qua.

Hồi Tháng Tư năm nay, khi về Việt Nam công tác tôi có ghé qua Rạch Giá gặp bạn bè. Định gọi điện cho anh ấy đến chơi, nhưng ai cũng nói ‘không nên’, vì anh ấy đang mắc bệnh nặng. Trước đó, anh bị đột qụi nhưng qua khỏi, nhưng rồi lại phát hiện mắc bệnh hiểm nghèo khác, rất có thể phải nhập viện. Vài ngày trước, một người bạn ở Bệnh viện Kiên Giang cho biết anh ấy đã nhập viện ở Chợ Rẫy và đamg trong cơn nguy kịch. Đến 9 giờ tối ngày 3/8 thì anh ấy trút hơi thở cuối cùng. Anh thọ 73 tuổi.

Tiến sĩ Phạm Văn Đởm (1949 – 2022)

Lần đầu gặp nhau: ít nói

Tôi và anh Đởm có nhiều kỉ niệm. Không nhớ lần đầu tôi gặp anh là năm nào, chỉ nhớ rằng đó là một dịp tôi về quê thăm nhà, và nhân tiện muốn ghé qua bệnh viện chơi, vì nghe nói bệnh viện mới có cái máy DXA. Tôi gọi điện cho anh và tự giới thiệu (nghĩ anh ấy làm gì biết tôi là ai). Nhưng không ngờ anh ấy biết khá rõ và còn nhắc lại những bài báo tôi đăng trên TT nữa! Anh ấy nói “Anh chờ đó chừng 3 tiếng, họp xong tôi sẽ đi đón anh.” Tôi nói tôi có thể lái Honda ra Rạch Giá, nhưng anh ấy gạt đi ý tưởng đó, nói rằng ‘nguy hiểm lắm‘.

Đúng 3 giờ sau, cái xe Corolla nhỏ màu xanh đậm đã đậu ở Chắc Kha. Lần đầu tiên gặp anh ấy tôi hơi ngạc nhiên, vì nhìn khá trẻ so với cái tuổi đời mà tôi nghe bạn bè nói. Anh Đởm từng là sinh viên thời trước 1975 (SPC); sau năm 1975 có thời đi lính đánh nhau bên Campuchea; rồi giãi ngủ và đi học ở trường y Sài Gòn. Sau đó là một quá trình làm việc ở nhiều nơi, và ghi danh học tiến sĩ. Sau khi có bằng tiến sĩ, rồi chẳng hiểu sao anh ấy ‘lưu lạc’ về Kiên Giang và được bổ nhiệm làm sếp bệnh viện. Tôi nói lưu lạc (trong ngoặc kép) là vì anh ấy không phải là dân Kiên Giang, mà là dân Ô Môn, Cần Thơ (cũng chẳng bao xa đối với Rạch Giá). Tuy nhiên, Kiên Giang xem anh ấy là một trong những người con ưu tú.

Anh Đởm là người rất ít nói, và điều này tôi ‘phát hiện’ khi ngồi trên xe. Suốt con đường chừng 30 phút anh ấy không nói gì nhiều, mà chỉ hỏi tôi về lâu chưa, thời tiết ở bên Úc ra sao (vì anh ấy có con định cư ở Melbourne). Tôi hỏi tình hình ở Kiên Giang ra sao thì anh ấy nói “Anh đi vòng vòng thì sẽ biết rõ hơn, chứ tôi nói thì làm sao đầy đủ được.” Tôi thì nghĩ có thể anh ấy cẩn thận với người có ‘yếu tố nước ngoài’, nên giữ lời.

Đến nơi, anh ấy dẫn tôi đi một vòng và giới thiệu với ban giám đốc bệnh viện và những trưởng khoa, những người mà tôi vẫn giữ liên lạc cho đến nay. Rồi anh ấy dẫn tôi đi vòng bệnh viện, lúc đó rất ư là bận rộn và bề bộn, và sau cùng là đi xem cái máy DXA mới mua, trông rất ok, nhưng hình như máy được một quĩ nào đó ở nước ngoài tài trợ nên phải mua loại máy mà quĩ đó yêu cầu.

Anh ấy hỏi tôi có thể sử dụng máy này cho việc gì, và tôi vui vẻ trả lời và đưa ra một đề nghị (đùa) là dùng cái máy này để đo tỉ trọng mỡ ở các viên chức trong tỉnh. Không ngờ anh ấy nói điều đó hoàn toàn ok, vì các quan chức phải đi kiểm tra sức khoẻ theo định kì nên có thể làm. Tuy nhiên, nói vui thế thôi, chứ tôi đề nghị là nên xác định giá trị tham chiếu trước, rồi sau đó dùng nó cho việc chẩn đoán và theo dõi loãng xương.

Giống như ‘truyền thống’ miền Tây, tôi được giữ lại cho đến tối, rồi kéo nhau ra quán Gió Biển. Đó là lần đầu tiên tôi ghé qua quán này và thấy thích lắm. Ra đó một hồi thì những người bạn tôi gặp lúc trưa nay cũng kéo nhau ra đó. Hoá ra, hôm đó là tiệc đãi … tôi. Tôi đang nghĩ trong bụng mình chưa làm gì mà sao họ đãi mình. Nhưng vui trước cái đã.

Thật ra, buổi gặp mặt hôm đó là mở đầu cho hàng loạt việc làm sau này mà tôi và Bs Nguyễn Đình Nguyên thực hiện cho bệnh viện và đồng hương Kiên Giang. Những lớp huấn luyện về nghiên cứu khoa học, lớp CME loãng xương, và hàng loạt seminar nhỏ được tổ chức ở đây.

Sau này, cứ mỗi lần tôi về nhà là anh ấy đều kéo ra Rạch Giá, làm chuyện này việc kia. Có khi chẳng làm gì mà chỉ … nhậu. Nói ‘nhậu’ không là chưa đủ mà thật ra là bàn về chuyện đào tạo này nọ. Qua những lần gặp như thế tôi có nhiều kỉ niệm với anh ấy và các bạn ở Kiên Giang.

Từ trái sang phải: tôi, Bs Nguyên, và Bs Đởm. Hình này hình như cũng 15 năm rồi, chụp trong buổi kết thúc lớp học mà Bs Nguyễn Đình Nguyên (người đứng giữa, sau này tốt nghiệp tiến sĩ từ UNSW) và tôi phụ trách giảng. Anh Đởm đề nghị Uỷ ban tặng bằng khen cho tôi, nhưng tôi không chịu. Mà, không chịu cũng không được, nên vẫn có … bằng khen.

Kỉ niệm “Gặp ông Tây”

Có lần tôi có việc gấp nên cần đi máy bay từ Sài Gòn về Rạch Giá (vốn chỉ 35 phút thôi), nhưng khổ nỗi là không còn vé. Dạo đó, người Rạch Giá hay đi máy bay lên Sài Gòn, vì rất tiện và giá cả cũng tương đối mềm. Tôi bí quá, nên thử gọi điện cho anh Đởm xem có giúp gì được không.

Tôi biết anh ấy là người có nhiều quen biết ở Rạch Giá, nên chắc có thể có những kênh riêng để mua vé máy bay. Thật không ngờ là anh ấy vui vẻ nói ok. Tôi đang phân vân ‘OK là sao?’ nhưng không hỏi thêm. Anh ấy chỉ nói sáng ra phi trường là có vé, vì văn phòng bệnh viện sẽ lo hết. Anh nói trong các chuyến bay Sài Gòn – Rạch Giá, thường có một ghế dành cho lãnh đạo đi công tác gấp, và may mắn là hôm đó chẳng có lãnh đạo nào đi, nên tôi … đi.

Tuy nhiên, thay vì máy bay chở tôi đi Rạch Giá thì lại đi tuốt ra … Phú Quốc! Tôi còn đang thắc mắc, chưa biết chuyện gì xảy ra, thì máy bay hạ cánh. Người ra đón tôi là anh Đởm, vẫn tươi cười nhưng không giải thích gì cả.

Ngoài tôi, anh ấy còn đến chào đón một ông khách Tây (tên Paolo, nếu tôi nhớ không lầm) trên chuyến bay, rồi anh ấy quay sang tôi nói rằng ông Tây này đại diện cho một tổ chức y tế bên Âu châu đến thăm bệnh viện Kiên Giang với hảo ý cho một cái máy cho khoa ung thư. Tôi hỏi “rồi sao tôi có mặt ở đây“, anh ấy cười bí hiểm nói “Đi nhậu trước rồi nói chuyện sau.

Địa điểm nhậu có tên là “Quán biên thuỳ”. Chủ quán là người Rạch Giá ra đây lập nghiệp, và anh quen biết rất nhiều trong giới Nhà nước và doanh nghiệp. Chủ quán là người rất văn nghệ, có sẵn cây đờn và sẵn sàng ca vọng cổ phục vụ khách quen. Khi tới quán thì đã có vài người trong bệnh viện ở đó. Anh Đởm giới thiệu tôi là “Thầy” từ Úc về chơi, và ông Tây là “Nhà hảo tâm”, rồi quay sang chủ quán anh nói “Anh đãi cho hai thượng khách này món nào coi được cái nghen“.

Tôi nghĩ trong bụng mình có là thượng khách gì đâu, mình chỉ … ăn ké thôi. Hoá ra, đó là món nhum biển, nó như con sò nhưng có gai chung quanh, và người ta hay nạo lấy thịt ăn sống với tái chanh. Lần đầu tiên tôi ăn món đó và thấy ngon. Ông Tây (là dân Ý) nói rằng ở Ý người ta cũng ăn sống như ở Phú Quốc này.

Chiều về đi tắm biển anh ấy mới nói rằng anh ấy muốn đãi ông Tây kia trước khi làm việc chánh thức vào ngày mai (tức Thứ Hai), và đúng vào lúc tôi về thăm nhà nên anh ấy “bắt cóc” tôi làm thông dịch luôn vì tôi khá rành bệnh viện này trước đây và cũng là người con của Kiên Giang. Dĩ nhiên là tôi vui vẻ nhận lời.

Tối về khách sạn, tôi lại gặp thằng em là Bs Mẫn (lúc đó nó mới du học đâu bên Mĩ về và làm việc cho Bệnh viện Kiên Giang) đang lúi húi soạn slides. Tôi hỏi slides cho chuyện gì, thì nó nói là để cho buổi buổi họp ngày mai với ông Tây kia. Tôi nói rằng “nếu em muốn ca bài khó khăn, thì em phải có những con số về dân số của tỉnh, số giường bệnh viện, số bệnh nhân, số bệnh nhân ung thư, v.v. vì Tây họ rất ư là định lượng. Nói khơi khơi họ không ‘phê’ đâu.” Cuối cùng thì tôi cũng giúp cho nó có một bộ slides hoàn chỉnh để nói chuyện và ca bài ‘khó khăn’.

Kỉ niệm buổi họp ‘lịch sử’

Ngay trong đêm đó chúng tôi soạn cái itinerary cho ông Tây, chính xác đến từng phút. Giờ nào, phút nào ổng làm gì, đi đâu, v.v. đều nằm trong cái itinerary. Ổng rất ‘ấn tượng’ với cách làm việc này và cám ơn rối rít.

Chúng tôi đi tàu từ Phú Quốc về Rạch Giá chuyến sớm nhứt. Sau buổi ăn sáng bún cá ngon ơi là ngon, anh Đởm và tôi dẫn ông Tây đi vòng bệnh viện. Ui chao, bệnh nhân nằm la liệt từ trong ra ngoài, và chiếm luôn cả mấy gốc cây.

Ông Tây hỏi tôi “Họ là thân nhân hả?” Tôi nói “Họ là bệnh nhân”. Ông ấy mở mắt kinh ngạc nói chưa bao giờ ông ta thấy cảnh tượng quá ‘upset’ như thế này trong đời. Ttôi nói “Chút xíu nữa vào họp anh sẽ biết tại sao.” Ông ấy vẫn lắc đầu.

Dẫn ông ấy đến khoa ung thư, nơi mà tổ chức y tế của ổng muốn xem xét tài trợ cho cái máy quan trọng. Em trưởng khoa hình như tên là Bs Tuấn, nói chuyện thật thà rặc miền Tây. Tôi đóng vai thông dịch. Tôi nói bằng tiếng Việt với em bác sĩ rằng ông này đến đây với ý định cho máy, em nhớ ca bài ‘khó khăn’ nghen. Tôi nháy mắt cho em ấy, nhưng hình như em ấy không hiểu ý tôi. Tôi quay sang ông Tây và giới thiệu đây là bác sĩ trưởng khoa, người sẽ giới thiệu hoạt động của khoa.

Ông Tây hỏi khoa có bao nhiêu bệnh và bao nhiêu giường, bác sĩ Tuấn trả lời bằng tiếng Việt và đưa ra những con số khá thấp. Tôi nhắc khéo là em nghĩ trong tương lai con số sẽ tăng rất cao, gấp 2-3 lần con số này, nhưng em ấy không hiểu mà vẫn nói “Dạ, mấy con số đó là chính xác thầy.” Tôi nói thì dĩ nhiên là chính xác, nhưng chúng ta đang xin máy mà em nói vậy thì chưa đủ lí do để ổng cho mình.

Tôi quay sang ông Tây nói bằng tiếng Anh kèm theo mấy con số cao gấp 2 lần, làm ông ấy kinh ngạc nói “Trời ơi! Cái mày cũ kĩ này mà phục vụ cho bao nhiêu người đó ư?” Tôi gật đầu nói “Ừ. Tôi đã nói với ông rồi: đây là nơi nghèo khó mà.”

Sau đó là vào phòng họp để nghe báo cáo về tình hình quá tải của bệnh viện và y tế nói chung ở tỉnh. Sau báo cáo của Bs Mẫn đến phiên tôi nói về tình hình hình y tế ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, kèm theo những con số cụ thể làm ông Paolo rất ấn tượng. Tôi nói chỉ có 5 phút mà điệp khúc ‘khó khăn’ lặp lại 5 lần. Tôi có ý nói vậy để nhấn mạnh. Kết qủa mĩ mãn là bệnh viện được tài trợ cho cái máy mà anh Đởm muốn.

Đúng theo lịch trình sắp xếp trong itinerary, ông Tây được đưa về sân bay để quay về Sài Gòn. Hình như ổng còn đi đâu nữa trong chuyến viếng thăm Việt Nam.

Kỉ niệm làm thông dịch  

Có năm tôi về thăm nhà và cận dịp Tết, nên chỉ muốn tiêu thời gian trong quê với bà con thôi. Nhưng chẳng hiểu sao anh Đởm biết tôi có mặt ở Kiên Giang, nên gọi điện nói rằng sẽ có xe đến đón tôi trong 2 giờ nữa. Để chi vậy? Anh ấy nói có chuyện quan trọng cần đến tôi.

Hình này đã 15 năm rồi. Hôm đó là buổi họp dành cho người nước ngoài đầu tư ở Kiên Giang và cả Việt kiều. Kiên Giang là nơi xuất phát của rất nhiều ‘Thuyền Nhân’ vào thập niên 1970s và 1980s, nên có rất nhiều Việt kiều ở đây. Hôm đó tôi được Bs Phạm Văn Đởm đề cử làm thông dịch viên cho ông đồng hương người Úc đang đầu tư vào một dự án lớn ở tỉnh Kiên Giang.

Hoá ra, “chuyện quan trọng” là một buổi liên hoan cuối năm mà tỉnh tổ chức cho các nhà đầu tư và NGO ở nước ngoài đang hoạt động ở Kiên Giang. Trong số các nhà đầu tư này có khá nhiều người Úc và người Úc gốc Việt. Anh Đởm là trưởng ban tổ chức buổi lễ, và muốn tôi phát biểu vài câu và sẵn dịp làm thông dịch luôn.

Dĩ nhiên là tôi không có lựa chọn nên phải nhận lời. Tôi làm thông dịch cho ông Úc, nhưng thật ra tôi chỉ nghe ổng nói gì rồi nói lại theo cách tôi hiểu, chớ không dịch từng chữ. Có những câu ổng nói dài dòng, tôi dịch ngắn ngủn. Khi xuống khán đài tôi giải thích cho ổng hiểu là tiếng Việt gọn lắm, mình có khi nói cả chục chữ nhưng tiếng Việt chỉ cần 2 chữ. Ổng gật gù.

Đến phiên tôi phát biểu, anh Đởm còn dặn nói gì để cho thấy Kiên Giang mình … khác. Tôi nói Kiên Giang là một Việt Nam trong Việt Nam, hiểu theo nghĩa có một chút Vịnh Hạ Long, một chút rừng, biển mênh mông, và dĩ nhiên là ruộng đồng phì nhiêu. Tôi trích con số tỉ lệ tăng trưởng GDP giữa An Giang co hơn Kiên Giang, và nói Kiên Giang có thể phát triển hơn nữa. Bởi vì An Giang chẳng có biển mà họ lại là nơi chế biến hải sản từ Kiên Giang!

Phóng viên có mặt hôm đó rất thích phát biểu của tôi, nên họ kéo tôi ra ngoài và phỏng vấn và ghi hình. Họ kêu tôi nói lại lời phát biểu hồi nãy, và tôi làm y chang cộng với vài dữ liệu khác. Họ nói tối nay sẽ phát hình và tôi nhớ đón xem.

Tôi gọi điện về nhà hân hoan báo cho mấy người em và bà con là “Tối nay coi tao trên truyền hình Kiên Giang”. Ai cũng theo dõi, nhưng đến phút cuối cùng của bản tin thì chẳng thấy tôi đâu.

Hoá ra, có người trong uỷ ban hôm đó đã không vui khi nghe tôi so sánh Kiên Giang với An Giang, nên họ quyết định không phát đi lời phát biểu đó. Anh Đởm thì không ngạc nhiên, và cho rằng đó chỉ là cách truyền thông người ta làm việc thôi.

Kỉ niệm khô cá sặc

Nhớ lần anh ấy rủ tôi đi Cần Thơ gặp một quan chức cao cấp (cấp thứ trưởng) để vận động xin tài trợ cho bệnh viện. Đến Cần Thơ thì đã 8 giờ tối, và chúng tôi được sắp xếp cho ở Nhà khách chánh phủ, nguyên là một trung tâm chỉ huy hải quân thời VNCH. Phòng ốc vẫn còn rất tốt và chỉnh chu.

Đói bụng quá, nên tôi kêu đồ ăn. Nhưng đây là quán của Nhà nước, nên vận hành y như Nhà nước, tức là chậm chạp, hành chánh hoá. Tôi kêu vài món trên thực đơn, nhưng món nào cũng nhận câu “Hết rồi chú ơi.” Bí quá tôi kêu món khô cá sặc và xoài, nhưng vẫn câu trả lời “Hết rồi chú ơi!”

Anh Đởm nãy giờ không nói gì đột nhiên nói một câu: “Mày nói sao cho nghe được coi. Miền Tây mà không có khô cá sặc sao? Còn hết thì mày phải tìm cách làm cho có, như ra ngoài mua đem về đây.” Nghe sếp Đởm nói có lí, anh chàng bồi bàn chạy vào trong ‘hội ý’ gì đó, rồi đi ra nói “Dạ, gần hết giờ làm việc rồi. Mấy chú thông cảm.

Tôi cười ha hả nói: Thôi mình ra bến Ninh Kiều thì chắc ăn hơn.

***

Sau này tôi còn gặp anh Đởm nhiều lần ở Rạch Giá, Cần Thơ và trong các hội nghị y khoa ở Việt Nam, và một lần ở Úc. Thật ra, tôi nghe biết rằng mấy năm gần đây anh Đởm bị đột quị, rồi kéo theo là những di chứng nguy hiểm làm cho sức khoẻ càng ngày càng suy kém.

Cuối năm 2019 tôi về Việt Nam ăn Tết và gặp anh ấy ở Rạch Giá. Lúc đó thì nhìn bề ngoài anh ấy vẫn ok, nhưng anh than phiền là sức khoẻ kém quá, nên chỉ đến đây nói chuyện, không ăn uống gì đâu. Không ngờ hôm đó là lần gặp mặt sau cùng, vì sau đó là Covid-19 và phong toả suốt 2 năm không đi đâu được. Ngay cả tháng 4 vừa qua tôi cũng không có dịp gặp anh ấy. Đúng là “Thân như điện ảnh hữu hoàn vô / Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô.” Nay thì anh ấy đã giã biệt cõi trần và chuyển nghiệp. Xin mượn cái note này để vừa ôn kỉ niệm xưa vừa nói lời chia tay với anh Đởm. Tôi chắc rằng là bác sĩ anh ấy biết quá rõ qui luật sinh lão bệnh tử mà phàm là người thì ai cũng phải trải qua. Mong anh được siêu thoát về với cõi lãnh. Xin san sẻ nỗi buồn với chị Đởm và gia đình.