Category Archives: About me

Dòng đời qua hình ảnh

Dưới đây là một số hình ảnh về quãng đời của tôi. Tôi cố gắng sắp xếp hình ảnh theo thứ tự từ Việt Nam sang Úc. Những hình này liên quan đến Ba Má tôi, bà con, hàng xóm ở Việt Nam, những việc tôi làm, những phần thưởng, và kỉ niệm. Có một số hình ảnh người trong nhà không muốn đưa lên. Dĩ nhiên những hình ảnh này không đủ, vì rất rất nhiều hình ảnh thời trước 1975 mất hết do bão lụt và do … ‘nhân tai’. Hình ảnh thời tị nạn chỉ còn vài tấm. Hình thời ở Mĩ cũng rất ít. Chỉ có hình chụp trong thời gian gần đây thì khá phong phú. Xin chia sẻ cùng các bạn để biết qua quãng đời của một refugee như thế nào. Tôi cũng có phiên bản tiếng Anh ở đây.

Đây là căn nhà tôi được sanh ra và lớn lên trong thời niên thiếu. Cái chái bên phải là nhà nuôi gà, heo, sau 1975 trở thành một nguồn kinh tế nuôi cả nhà. Phía bên trái là mấy cây vú sữa, mít, ổi, v.v. Cái sân phía trước là nơi phơi lúa mỗi khi ghe chở lúa trên đồng về. Phía trái nữa (không có trong hình) là nơi để mấy cái máy cày trước 1975 (sau 1975 bị tịch thu rồi … mất luôn).

Phía sau vườn hồi xưa là mương rất nhiều cá. Hồi xưa, hễ có khách tới thăm là chỉ cần ra sau mương câu / hốt vài con cá, cắt vài cọng rau là có bữa ăn đãi khách ngay.
Ba Má tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào năm 1991, lúc đó Ba Má tôi ở tuổi 60s. Ba tôi hi sinh một cánh tay trong một trận đánh ác liệt có tên là ‘Cây Trâm’ (gần Rạch Sỏi ngày nay) thời kháng chiến chống Pháp, sau đó giải ngũ và lập gia đình. Vậy mà Ba tôi tập viết, tập làm ruộng y như người có 2 cánh tay. Sau này, Chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt tù Ba tôi vì nghi là cộng sản (không đi tập kết), nhưng chỉ 3 tháng sau thì thả do không có chứng cớ (thời đó coi vậy mà pháp luật nghiêm minh). Má tôi thì chỉ làm nội trợ, suốt đời chưa bao giờ đi ăn ở nhà hàng vì Má tôi dứt khoát nói ‘ở nhà nấu ngon hơn’. Má tôi chỉ lên Sài Gòn 1 lần, và đó là lần nhập viện sau một cơn đột quị. Ba tôi qua đời ngày 22/2/2004, thọ 81 tuổi. Bốn năm sau Má tôi cũng qua đời (17/7/2008, thọ 80 tuổi) sau một cơn đột quị.

Hình này là Bé Thuận, con lớn của em gái tôi, nó gọi tôi bằng cậu. Hình này chụp lúc nó còn nhỏ ở dưới quê. Nay đã là công chức và có 2 con hiện ở Rạch Giá. Hồi Ba tôi còn sống rất thương nó vì nó hay sang nhổ râu cho ông ngoại và được … cho bánh, tiền. 🙂

Hình này là Bé Thoa, con của em gái út tôi, cũng gọi tôi bằng cậu. Tuy là cháu nhưng nó như là con gái trong nhà ở bên Úc. Nó mới lập gia đình bên Úc. Hình này chụp lúc hai cậu cháu đang trong lounge của Sky Team (phi trường Sydney) chờ máy bay về Việt Nam. Lần đầu tiên vào lounge dành cho hạng business, nên nó chụp hình tùm lum. 🙂

Cháu tôi tên Thuý An, nay đã tốt nghiệp bác sĩ từ ĐHYDTPHCM và công tác ở Bệnh viện ngoài Rạch Giá. Nó là cháu nội của Dì Út tôi. Hồi tôi đi nó chưa ra đời, ngày tôi về lần đầu thì nó đã là thiếu niên. Hôm về quê ăn Tết đầu 2020, chị ấy qua kiếm lì xì. 🙂
Ngoại tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào khoảng cuối thập niên 1980s. Ngoại tôi có tuổi thọ khá tốt (90), nhưng vẫn thua Bà Cố tôi (thọ 102 tuổi). Ông Ngoại tôi qua đời hơi sớm (chẳng biết bịnh gì) nên bà Ngoại là chỗ dựa tinh thần của cả nhà và con cháu.
Anh Hai tôi (Nguyễn Tuấn Khải) nhưng ở nhà thì gọi là “Chỉ”. Anh là ‘ngôi sao’ trong gia đình và dòng họ vì là người đầu tiên trong làng đậu tú tài 2 và tốt nghiệp kĩ sư trước 1975. Sau 1975 anh thất chí và hầu như không làm gì ngoài việc tìm đường ra đi. Anh Hai tôi đi vượt biên ngày 12/2/1981 (tức trước tôi chỉ 2 tháng). Nhưng tất cả 25 người trên tàu đều mất tích. Có lẽ anh Hai tôi đã chìm sâu vào Biển Đông. Má tôi suy sụp một thời gian vì mất anh Hai. Đối với tôi, mất anh Hai là một tổn thương lớn, y như mất Ba Má vậy. Thời còn đi học, anh Hai là tấm gương, là cái đích học tôi nhắm tới.
Mợ Tư tôi lúc sanh tiền. Nghe nói hồi xưa Mợ Tư tôi đẹp nhứt nhì trong làng, làm xiêu lòng Cậu Tư. tôi Không nhớ hình này chụp lúc nào, nhưng tôi nghĩ là đầu thập niên 1990. Cậu Tư tôi mất sớm trong thời chiến tranh, và Mợ Tư phải nuôi một đám con nhỏ (tức em họ tôi). Mợ Tư tôi qua đời cũng cách đây vài năm, ngay trong lúc tôi đang bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng đi Seoul. Tôi không về được để dự đám tang Mợ Tư. Ở dưới quê, dòng họ tôi rất gần nhau, nên mấy người anh em họ rất thân với nhau.

Dì Năm tôi (tức em Má tôi và Cậu Tư). Dì Năm trong nhà nổi tiếng là người nấu ăn ngon, nên hễ trong làng có đám cưới hỏi là Dì Năm được mời đi nấu ăn. Dì Năm là người rất tinh tế, chú ý đến những chi tiết nhỏ (chắc do nấu ăn) và nghiêm khắc. Dì Năm tôi đã qua đời cách đây chừng 8 năm.

Dì Út tôi, như cách gọi, là người thứ út trong gia đình. Dì Út tôi rất hiền lành, không cãi cọ với ai, cũng chẳng làm phiền ai. Chồng Dì Út là dân Quảng Ngãi. Chắc hồi xưa, ông Ngoại tôi thích gả con gái cho dân miền Trung?

Đây là Cậu Ba tôi ngoài Bình Định. Cậu đi tập kết ngoài Bắc và khi về Nam trong thời chiến mang hàm trung tá hay thượng tá (tôi quên, nhưng thời đó cấp tá là oai lắm). Cậu Ba tôi gọi ông Ngoại tôi là Chú. Phải mất hơn 50 năm mới liên lạc được với nhánh gia đình ngoài Trung. Nhớ hoài ngày hai cậu cháu gặp nhau, ổng nói bằng chất giọng Bình Định “Cậu là Bộ đội Cụ Hồ” làm tôi nghĩ thầm “ổng phát biểu lập trường đây, đừng có mà linh tinh.” 🙂 Cậu Ba mới qua đời vài năm trước và thọ 99 tuổi.

Chị Nghĩa (con Cậu Ba tôi), nay làm việc ở Sài Gòn. Chị Nghĩa là người nhắn tin trên đài truyền hình để tìm bà con trong Nam. Cuộc trùng phùng nghe chị ấy kể là ‘trong nước mắt’. Nghe nói khi cậu Ba vào Nam để gặp nhánh trong Nam, gặp Má tôi, Cậu khóc nói “Em tôi đây mà.” Hình này tôi chụp với chị Nghĩa trong một chuyến đi dự hội nghị loãng xương ở Qui Nhơn vào năm 2017 (?)

Hình này tôi chụp cùng các bạn trong trại tị nạn Panatnikhom, Thái Lan vào cuối năm 1981, trước khi tôi lên đường đi định cư ở Úc. Thời ở trại tị nạn, mỗi cái phòng như vậy chứa cả 5-7 người.

Tôi có kể lại hành trình của tôi từ Thái Lan đến Úc trong một bài blog này.

Khi đến Sydney đầu năm 1982, tôi theo học lớp học tiếng Anh, và người bên phải tôi là cô giáo dạy tiếng Anh, người bên trái là một học viên từ Ba Lan. Cô giáo tôi vô cùng duyên dáng và rất thương người tị nạn. Tôi còn nhớ cô ấy hẹn tôi năm 2000 ‘xem người làm gì’, nhưng rất tiếc là cô mất trước đó vài năm. Tôi chỉ học ở đây chừng 1 tháng thì đi xin việc làm. Thời đó, có việc làm và kiếm tiền gởi về bên nhà là ưu tiên số 1, chớ chẳng học hành gì cả.

Đây là hình tôi được việc trong Department of Epidemiology and Planning của Bộ Y tế bang New South Wales. Sau gần 1.5 năm làm phụ bếp trong Bệnh viện St Vincent’s (Sydney) và Khác sạn 5 sao Regent’s, tôi kiếm được việc làm ở Labo Pathology thuộc Bệnh viện Royal North Shore, tối ngày xử lí mẫu máu, nước tiểu, và học luôn PCR nữa. Sau hơn 1 năm tôi tìm được việc làm ở đây (Department of Epidemiology and Planning).

Tôi phải học máy tính và cách viết chương trình bằng Fortran. Hình chụp vào giữa thập niên 1980s. Sau việc này, tôi chuyển về học ở Đại học Sydney trong Bộ môn Dịch tễ học và Thống kê học, đồng thời làm ‘tutor’ (trợ giảng) cho Bộ môn thống kê lí thuyết. Thời đó, làm tutor kiếm khá nhiều tiền và mua được nhà.

Đây là hình tôi chụp trong labo nghiên cứu của Viện Garvan. Không nhớ năm nào (chắc 1990s) nhưng đó là thời … trung niên. Mấy cái ‘red book’ là bao nhiêu thông tin thí nghiệm. Cái không gian này tuy nhỏ vậy, nhưng là nơi tôi có nhiều đóng góp cho chuyên ngành loãng xương. Tôi viết luận án cũng tại đây. Nay thì chỗ này đã phá đi để xây lại labo ngon lành hơn (như hình dưới đây).

Sau này Viện Garvan có lab khang trang hơn, và hình này chụp trong lab, lầu 5, nơi thời đó còn làm PCR cho từng gen. Sau này thì việc làm đó là … kinh điển (chẳng ai làm nữa), và đa số đều gởi ra ngoài làm rẻ hơn.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp ở Đại học Macquarie vào năm 1985 (?) Thời đó mới qua, ‘tậu’ được một bộ veston xịn, nhưng còn chưa biết qui ước mặc veston sao cho đúng điệu. Kể ra thì cũng là một kinh nghiệm vậy.
Labo nghiên cứu cơ xương do tôi sáng lập tại ĐH Tôn Đức Thắng do Bs Thục Lan làm codirector. Trong hình là các em bác sĩ đang đo lường và phỏng vấn tình nguyện viên trong Dự án Vietnam Osteoporosis Study.

Hình này là lúc tôi nhận testamur từ Viện trưởng Michael Kirby (lúc đó là Chánh án toà án tối cao của Úc). Tôi nhớ khi trao bằng, ông ấy nói “You are a remarkable refugee“. Chỉ là cách nói ngoại giao thôi – tôi nghĩ vậy.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp. Từ trái sang phải: em gái tôi, bà xã, Gs Donald McNeil và anh tôi. Thời đó, Đại học Macquarie được mệnh danh là của kẻ giàu, vì toạ lạc ở miền Bắc Sydney. Tuy vậy, nhưng phòng ốc và building có vẻ cổ kính lắm. Sau 30 năm quay lại, tôi không nhận ra nơi mình từng theo học nữa vì có quá nhiều building và có luôn Khoa Y nữa.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp từ Đại học New South Wales (nay là “UNSW Sydney”) năm 1997. Tôi theo học ở đây từ 1993 đến 1997, và trong thời gian này tôi công bố được 14 công trình. Nhiều khi nghĩ lại tôi không thể nào tưởng tượng mình đã ‘làm việc như trâu’, miệt mài ngày đêm, không phải vì số lượng mà vì muốn công bố trước. Luận án của tôi là ‘Contributions of Genetic and Environmental Factors to Osteoporotic Fracture‘ và được trao giải thưởng Garvan Best Thesis Award. Chú ý hình này tôi đội nón lục giác (tức dành cho mấy người tốt nghiệp tiến sĩ theo truyền thống Đại học Cambridge), còn hình trên là nón tứ gíac (dành cho những người tốt nghiệp cấp dưới tiến sĩ).

Hình chụp nhân dịp tôi được trao học vị ‘Higher Doctorate’ D.Sc (2016), làm lễ 2017. Ở Úc và Anh, DSc là học vị cao hơn PhD, chỉ dành cho những người tốt nghiệp PhD ít nhứt 10 năm. Với học vị này, ứng viên không có ghi danh, mà được xét duyệt vòng sơ tuyển, nếu qua thì được ‘admitted’ để nghiên cứu. Tôi được admitted năm 2014 và chánh thức tốt nghiệp năm 2016, với luận án ‘Contributions to Osteoporosis Research’ với 196 bài báo khoa học làm luận án. Garvan có đi một bản tin về sự kiện này. Báo Guardian (Anh) cũng có một bài về tôi.

Bên trái là Trúc (bây giờ là cháu rể tôi), và bên phải là cháu gái tôi mà trong nhà hay gọi là Bé Thoa (nay đã thành hôn với Trúc). Vì tôi không có con gái, nên nó được xem như là con gái trong nhà.

Người tốt nghiệp DSc được đọc tiểu sử (citation) trước khán đài cho sinh viên y khoa và các giáo sư khác. Citation này được Gs Terry Campbell (Phó Khoa Trưởng Khoa Y) đọc trong ngày lễ tốt nghiệp. Tôi là người thứ 33 thuộc Khoa Y của UNSW Sydney được trao học vị này. Video buổi lễ được upload trên Youtube: https://youtu.be/-SNJ5vKlMds

Huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng do Đại học Công nghệ Sydney (UTS). Bản tin phía dưới có hình tôi chụp chung với bà Catherine Livingstone, Viện trưởng (Chancellor) của UTS. Tấm huy chương này được in bằng máy in 3D Printer.

Thư chúc mừng được trao giải Nhà nghiên cứu ngoại hạng kèm theo 5000 đôla. 🙂

Tôi trả lời phỏng vấn nhân dịp được trao huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng UTS 2018). Tôi là người thứ hai được trao huân chương này. Người thứ nhứt là Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, cựu khoa trưởng khoa engineering và IT.

Tôi nói: “My name is Tuan Van Nguyen. And I am a professor of predictive medicine at the School of Biomedical Engineering of UTS. My work is really concerned with the prevention of bone fractures due to osteoporosis or low bone mass. So, osteoporosis and osteoporotic fractures, they both represent a major and substantial public health problem – not just in Australia, but also worldwide. We approached the problem through epidemiological research, genetic research and clinical research, and clinical translation.

We came up with the world’s first algorithm for predicting fracture risk at the individual level. We found that each standard deviation lower in BMD [bone mineral density] actually increased the risk of fracture by two fold. And that particular finding was used as a criteria for the diagnosis of osteoporosis around the world. 

So that’s one of our major contributions. But the thing that’s really rewarding is that after the publication of the model, there were hundreds of studies around the world that tried to validate the model, or were inspired by the idea that patient and doctor alike can use. That’s the most rewarding experience for us.”

Hình chụp đêm liên hoan ăn mừng được UTS trao Huân chuơng. May phước đêm đó không xỉn. 🙂
Tôi được bầu làm Fellow của Hiệp hội loãng xương Hoa Kì (American Society for Bone and Mineral Research – ASBMR) vì những đóng góp họ gọi là ‘distinguished accomplishments‘ trong chuyên ngành loãng xương. Tôi giữ nhiều vai trò có thể nói là trọng trách và leadership trong ASBMR, từ uỷ ban khoa học, uỷ ban xuất bản, editor cho tập san JBMR, v.v. nói chung là đủ thứ việc. Tôi được vinh hạnh là người gốc Việt đầu tiên được bầu làm viện sĩ của ASBMR. Tôi có một cái note về sự kiện quan trọng này.

Hình chụp nhân dịp tôi được bầu làm Fellow (viện sĩ) Viện hàn lâm y học Úc. Người bên trái là Giáo sư Ian Frazer, chủ tịch Viện hàn lâm. Gs Frazer là người khám phá và phát triển vaccine phòng ung thư cổ tử cung. Hôm đó, tôi có hỏi ông là có giúp được gì cho Việt Nam và cần tôi làm trung gian hay không, ông nói đại khái rằng muốn giúp lắm chớ, nhưng hệ thống hành chánh bên đó khó khăn quá nên ông bỏ cuộc.

Hình dưới là những fellow được bầu vào Viện hàn lâm năm 2018 (lễ kết nạp 2019). Tôi được vinh dự là người Việt Nam đầu tiên có mặt trong Viện hàn lâm. Tôi có cái note cám ơn ở đây (tiếng Anh) và Tiếng Việt.

Đây là bài viết kiểu ‘vinh danh’ tôi đã có 25 năm đóng góp cho Viện nghiên cứu Y khoa Garvan.

Hình chụp nhân dịp tôi được trao chức danh Giáo sư Danh dự của Đại học Dược Hà Nội. Người bên trái là Gs Nguyễn Thanh Bình, Hiệu trưởng. Tôi còn là giáo sư danh dự hay giáo sư thỉnh giảng của Đại học Y Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Tôn Đức Thắng. Tôi có một note giải thích chức danh ‘visiting professor‘.

Đây là hình chụp nhân ngày tôi được trao tặng chức danh ‘Distinguished Professor’ của ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU). Người bên phải là Hiệu trưởng Lê Vinh Danh, người đã nói theo tiếng Anh là transform TDTU chỉ trong 10 năm. Di sản của anh Danh phải vài chục năm sau người ta mới ghi nhận. Tôi giúp cho TDTU từ 2015 qua các việc như lập labo nghiên cứu về xương và cơ, chair hội đồng bổ nhiệm chức vụ giáo sư cho TDTU, và tham mưu chiến lược phát triển. Sau này tôi mới biết là trước khi trao chức danh này TDTU đã có ‘peer-review’ từ các giáo sư nổi tiếng bên Úc, Anh, Mĩ, và Canada. Tôi rất thích cách làm đó, nhưng rất tiếc là VN chưa có trường nào làm vậy. Tôi có một note về sự kiện này.

Đây không phải là giải thưởng gì, nhưng vối tôi là một phần thưởng rất có ý nghĩa. Tôi tổ chức và giảng cho mấy chục workshop ở Việt Nam (từ Bắc chí Nam), và số bác sĩ tham dự chắc cỡ vài ngàn. Một hôm tôi nhận lá thư này từ một em bác sĩ da liễu (Ngọc Bích) làm tôi cảm động lắm, và xem đó là phần thưởng qúi báu trong đời.

Đây cũng không phải là giải thưởng gì cả, nhưng với tôi là một phần thưởng qúi lắm. Nhân ngày Nhà giáo gì đó, các em sinh viên ở Úc hùn nhau mua một cây viết Parker (chẳng hiểu sao họ biết tôi thích cây viết này) và kèm theo thiệp chúc với những lời làm tôi cảm động lắm lắm.

Một lần trả lời phỏng vấn cho truyền thông phương Tây. Hình này chụp lúc tôi trả lời báo chí Mĩ nhân tham dự hội nghị ASBMR ở Hawaii. Họ hỏi tôi về một nghiên cứu khá ‘đình đám’ trong hội nghị.


Tôi đi giảng và nói chuyện ở rất nhiều nơi trên thế giới, nhưng hình chụp lưu niệm thì chẳng bao nhiêu. Hình này là do Bs Nguyễn Đình Nguyên chụp nhân một bài nói chuyện ở Canada vào năm 2007.
Hình này chụp lúc tôi nói chuyện trong một hội nghị loãng xương quốc gia ở New Zealand.

Tôi được coi là người đem chuyên ngành loãng xương về Việt Nam. (Báo Sức Khoẻ và Đời sống có một bài về tôi). Nói to tát ghê. Đây là hình chụp lúc tôi tổ chức hội nghị quốc tế về loãng xương lần đầu tiên ở Việt Nam. Từ trái qua phải: Ts Trần Hoàng Ngọc Bích (một trong những học trò xuất sắc cũ tôi), Ts Nguyễn Đình Nguyên (cũng học trò xuất sắc luôn, sau này bỏ nghiên cứu ra làm GP), và Giáo sư John Eisman (thầy tôi). Tấm hình này có thể xem là 2 thế hệ. 🙂

Hình chụp lưu niệm trong Ban tổ chức hội nghị Strong Bone Asia. Hội nghị này đem về cho Hội Y học TPHCM một thu nhập đáng kể để phát triển về sau.

Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho Gs Dương Quang Trung mà tôi gọi thân mật là Chú Tư (lúc đó là Chủ tịch Hội Y học TPHCM). Chú Tư (dân gốc Cà Mau, là dân bên Tây về, cùng thời Bs Phạm Ngọc Thạch bên Pháp) và tôi có biết bao nhiêu kỉ niệm. Chú nói tiếng Pháp khỏi chê, nhưng với tiếng Anh thì chú phải nhờ tôi. Tôi cầm tờ giấy chớ thật ra tôi có đọc gì đâu, tôi chỉ nghe chú ấy nói là tôi dịch ngay. Khi xuống khán đài, chú Tư hỏi “Hồi nãy có câu tôi nói cũng khá dài, sao anh dịch ngắn vậy?” Chú hay gọi tôi bằng ‘Anh’. Tôi giải thích một hồi rồi nói: “Dạ, tiếng Anh nhiều khi nó ngắn chú ơi”. Ổng mỉm cười kiểu nói ‘Thằng này lém lỉnh.” Có lần tôi về VN công tác, chú kéo tôi ra hành lang, hỏi tôi là có phải kí tên vào bản ý kiến gì phải không, tôi nói phải. Rồi chú Tư nói ‘lúc này tôi biết xài internet rồi, tôi đọc nhiều lắm, nhưng anh nên cân nhắc nói những gì cần nói thôi.’ Tôi nghĩ đó là lời khuyên của người biết nhiều trong hệ thống. 🙂

Hội nghị loãng xương Châu Á được tổ chức ở Hong Kong vài năm trước. Nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study chúng tôi chiếm liền 3 giải thuởng! Bên trái là Bs Hồ Phạm Thục Lan, bên phải là Bs Đoàn Công Minh bên poster được trao giải xuất sắc.

Tôi là Chair của Pan Asian Biomedical Science (2018 – 2020). Đây là hội nghị PABS được tổ chức rình rang ở Đà Nẵng. Lúc đó, Gs Trần Văn Nam (Giám đốc ĐH Đà Nẵng) và PGS Nguyễn Đăng Quốc Chấn là người đứng đằng sau ban tổ chức. Tôi chỉ là người ‘bề ngoài’ với khách nước ngoài. Kể từ đó, tôi trở thành một người của Đại học Đà Nẵng.

Tôi chụp hình lưu niệm với các đồng nghiệp Á châu (hình trên) và các bạn trong ban tổ chức ở Đà Nẵng (hình dưới). Tôi xem đây là một đóng góp cho Đại học Đà Nẵng. Người đứng bên phải có tên rất hay là ‘Hằng Nga’, là tiến sĩ từ Tây về, còn người đẹp gái bên cạnh Hằng Nga là Oanh; hai người này gíup tôi rất nhiều trong khâu tổ chức.

Ngoài tổ chức hội nghị quốc tế ở Việt Nam, tôi còn tổ chức hàng chục (hay trăm) lớp học lớn nhỏ ở VN trong suốt 25 năm qua. Đây là một lớp học được tổ chức ở Đại học Y Dược TPHCM vào đầu thập niên 2000 do chị Thy Khuê đứng ra làm. Nhiều người trong hình này nay đã là tiến sĩ và phó giáo sư.

Lớp học này cũng được tổ chức ở ĐH Y Dược TPHCM (2006 ?) do chị PGS Nguyễn Thy Khuê tổ chức. Tôi nhớ hoài một ‘incident’ khi tôi đứng giảng và chú ý thấy chị Khuê nghe điện thoại xong có vẻ lo lắng lắm. Mãi đến sau này hỏi mới biết là công an gọi điện hỏi sao lớp học có người nước ngoài mà không xin phép. Chị Khuê nói tôi về hàng năm, hồ sơ đã có trong Sở Y tế và công an rồi, nên không cần xin phép nữa. Họ nói hễ tổ chức lớp học là phải xin phép. May phước họ dzu dzi cho qua.

Bác sĩ Khả Nhi có một bài phỏng vấn tôi về những việc làm bên Việt Nam tại đây.

Một lớp học ở Đại học Tôn Đức Thắng. Nói chung lớp học nào tôi giảng đều thu hút từ 100 đến 250 người từ mọi miền đất nước tham dự. Mỗi khoá học như vậy kéo dài từ 5 – 14 ngày, với rất nhiều bài giảng. Rất vui và hào hứng vì giúp cho nhiều bạn sau này trở thành tiến sĩ và giáo sư.

Khoá học ở Đại học Tôn Đức Thắng lúc nào cũng thu hút hàng trăm học viên từ mọi miền đất nước.
Một lớp học ở Trường Đại học Nha Trang năm 2017 do tôi, Ts Trần Sơn Thạch Ts Hà Tấn Đức phụ trách. Đây là lớp học do anh giám đốc Sở khoa học và công nghệ Khánh Hoà mời. Tôi nhớ hoài khi ngày thứ 4 anh đến nói lời kết thúc lớp học, anh rất ngại vì trước đây đến ngày thứ 2 là học viên chỉ còn vài người thôi. Nhưng khi anh tới, anh kinh ngạc thấy ngày kết thúc khoá học mà số học viên còn đông hơn lúc khai mạc. Anh ấy vui lắm. Sau này chúng tôi còn quay lai 2 lần nữa cũng tại đây.

Tôi là một trong những sáng lập viên Hội loãng xương TPHCM. Chúng tôi tổ chức hội nghị khoa học mỗi năm. Đây là hội nghị được tổ chức ở Đà Lạt vào năm 2018. Hình này tôi chụp cùng ban tổ chức và các bạn đồng nghiệp. Hình này đúng là đầy đủ ‘who is who’ trong bộ lạc loãng xương ở Việt Nam (từ trái qua phải): Bs Huỳnh Văn Khoa (Chợ Rẫy); Bs Nguyễn Văn Hùng (Bạch Mai); Gs Trần Tam (Huế); Gs Nguyễn Hải Thuỷ (Huế); tôi; PGs Lê Anh Thư (Chủ tịch Hội); PGS Trương Văn Việt (Cựu Giám đốc BV Chợ Rẫy); Gs Trần Ngọc Ân (Hà Nội); Bs Linh (Chợ Rẫy, phu nhân của Bs Nguyễn Tri Thức nay là Giám đốc BV Chợ Rẫy); Bs Thục Lan (BV 115); PGs Vũ Thanh Thuỷ (Hà Nội); PGs Vũ Đình Hùng (Quân Y Sài Gòn); PGs Phạm Văn Thanh (Cựu Giám đốc Sở Y tế TPHCM); Gs Nguyễn Tấn Bỉnh (nay là Giám đốc Sở Y tế TPHCM); và PGs Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy).

Hình này cũng được chụp trong hội nghị loãng xương được tổ chức ở Quy Nhơn trong trung tâm hội nghị quốc tế của Gs Trần Thanh Vân. Từ trái qua phải: PGS Nguyễn Ngọc Lan (Bạch Mai), PGS Nguyễn Bích Đào (Chợ Rẫy), PGS Lê Anh Thư (chủ tịch Hội), PGS Vũ Đình Hùng (Quân Y), phu nhân Gs Trần Thanh Vân, PGS Đỗ Thị Ngọc Diệp (Dinh dưỡng), tôi, PGS Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy), Ts Võ Văn Sĩ (Chấn thương Chỉnh hình) người mà tôi rất khoái vì cái tánh Nam bộ.

Hội nghị khoa học thường niên của Hội loãng xương TPHCM tại Tuy Hoà 2017. Trong hình là các thành viên trong nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study. Từ trái sang phải: Bs Minh Châu, Ts Trần Sơn Thạch, Bs Thục Lan, Bs Mai Duy Linh, và Bs Đoàn Công Minh. Năm nào, nhóm này cũng có những đóng góp về nghiên cứu original cho hội nghị.

Cùng các bạn và học viên Đại học Đồng Tháp nhân dịp tôi về đó giảng 3 ngày. Hình này chụp vào năm 2018. Tôi đến đây giảng lần đầu vào năm 2013, và sau đó thì năng suất khoa học (công bố quốc tế) của Trường tăng cao thấy rõ. Thế là các bạn ấy mời tôi quay lại nói chuyện nữa. Tôi thích đi mấy tỉnh miền Tây, một phần vì gần nhà, một phần vì muốn thưởng thức các món ăn miền Tây, thích la cà trong mấy quán bánh tằm, cháo lòng, v.v. và nghe chuyện thời sự.

Cùng với các bạn trong Hội Đau TPHCM. Từ trái qua phải: PGS Võ Văn Thành, PGS Nguyễn Thi Hùng, tôi, PGS Hàn Quốc, PGS Lê Anh Thư và PGS Vân Anh. Hôm đó tôi nói về hiệu ứng placebo và nocebo. Đây là hội nghị mà anh Hùng là ‘chủ xị’.

Hình chụp nhân dịp tôi dự lễ kỉ niệm 5 năm ngày thành lập Viện y học Đinh Tiên Hoàng ngoài Hà Nội. Tôi là thành viên tư vấn cho Viện. Hôm đó thật là vui. Viện này do Ts Nguyễn Thị Thanh Hương, cựu học trò tôi ở Viện Karolinska (Thuỵ Điển), thành lập.

Hình chụp nhân dịp Bs Nguyễn Đình Nguyên tốt nghiệp tiến sĩ hạng xuất sắc và chiếm luôn giải thưởng Luận án Tiến sĩ Xuất sắc của Viện Garvan. Ở Viện Garvan chỉ có 2 người Việt có danh dự này: Nguyên và tôi, cả hai đều họ Nguyễn 🙂

Hình chụp nhân ngày tốt nghiệp PhD của Phương Thảo (dân Hà Tĩnh, cũng là một học trò xuất sắc). Người đứng giữa là Hà, làm trong lab tôi. Tôi có viết một note ghi lại cảm tưởng của “kẻ đưa đò.”
Đây là Mai Thị Hà (người từng làm trong lab tôi chừng 1 năm) trong ngày cưới của cháu ở Nam Định. Chiều đó tôi đi công tác ở Hà Nội, và phải đón xe về Nam Định để dự đám cưới của Hà. Tôi rất thương nó, nhỏ tuổi hơn con tôi, nhưng vất vả và bôn ba hơn nhiều con tôi nhiều. Tôi xem nó như là một người Việt tiêu biểu: cực khổ, phấn đấu vươn lên, thông minh. Ngày tôi phỏng vấn nó và nói rằng sẽ nhận nó vào làm việc trong lab, nó ra ngoài khóc, làm tôi hoảng vì tưởng mình đã nói gì xúc phạm. Hoá ra, nó nói từ ngày sang Úc đến nay nó được đối xử tử tế. Trời!

Hình chụp nhân lễ tốt nghiệp tiến sĩ của Hồ Lê Phương ThảoDaniela Tesorioro (học trò tôi) người được trao bằng cử nhân hạng danh dự số 1.

Phương Thảo được trao giải thưởng Young Investigator Award của ASBMR (Mĩ) năm 2017.

Đây là ‘Đồng chí’ Bs Thái Viết Tặng (người cầm bó bông) nhân dịp lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tặng là đồng hương Kiên Giang với tôi và cũng là người tôi hướng dẫn luận án. Đêm đó, sau buổi lễ tốt nghiệp, cả ‘đám’ Kiên Giang kéo nhau đi nhậu ở Hà Đông. Thiệt là vui. May phước tôi không xỉn để còn chuẩn bị cho 3 ngày giảng sau đó.

Đây là Phạm Nữ Hạnh Vân trong buổi lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tôi và Gs Nguyễn Thanh Bình (bên phải) là người hướng dẫn luận án cho Hạnh Vân. Chiều đó, sau buổi lễ bảo vệ luận án là phu quân của Hạnh Vân kéo cả nhóm ra một nhà hàng ở Hà Nội ăn uống, có dịp gặp nhiều bạn khác. Tôi phải ghi thêm một thông tin vui vui là hễ Hạnh Vân đi dự hội nghị hay nói chuyện thì ai cũng nói ‘Ui, người đâu mà xinh thế’ mà không chịu nghe cô ấy nói. 🙂 Theo tôi thấy, Hạnh Vân là người rất khéo nói, hiền lành, lễ phép, và tinh tế, đúng với chất người con gái Bắc như Phạm Duy hay mô tả.

Thời thập biên 1980s tôi có tổ chức lớp dạy học cho mấy em học sinh Việt Nam sắp thi tú tài II ở Sydney. Trường tiểu học Bass Hill cho mượn phòng, nên tôi tổ chức nhiều lớp cho các em ấy (đúng ra là con cháu). Có hàng trăm em đã học từ lớp học này và nay đã là kĩ sư, bác sĩ, luật sư, v.v. Nhiều khi mấy em ấy gặp tôi trên xe lửa và tới chào, chớ tôi cũng không nhớ hết mấy em ấy. Tôi xem đây là một đóng góp cho cộng đồng làm tôi nhớ mãi trong đời.

Đây là Giáo sư Donald McNeil, người đã cho tôi cơ hội theo học tại Đại học Macquarie. Thầy là người rất tốt bụng với dân tị nạn. Có người chẳng có giấy tờ gì, nhưng chỉ qua phỏng vấn là thầy cho vào học. Tôi nhớ ơn thầy McNeil suốt đời. Ngày Thầy về hưu, tôi đến nói lời chia vui mà ai cũng rơm rớm nước mắt.

Giáo sư Barry Marhsall (Giải Nobel 2005) chụp hình nhân dịp lễ induction các Fellow của Viện hàn lâm y học. Giáo sư Marshall là người được bầu vào Viện trước tôi 3 năm.
Từ trái sang phải: Giáo sư John Eisman (mentor của tôi, người vào đại học năm 15 tuổi); Giáo sư Peter Croucher (nay là Phó viện trưởng Viện Garvan); Giáo sư John Hewson (từng là Lãnh tụ Đảng Tự Do của Úc). Hình này chụp nhân dịp buổi lễ khai mạc Sáng kiến Osteoporosis Australia mà tôi đóng góp một phần.
Giáo sư Bruce Robinson (giữa, cựu Khoa trưởng Khoa Y, Đại học Sydney) và Giáo sư Bruce Robinson (cùng tên, ở ĐH Melbourne). Hai người này cùng được bầu vào Viện hàn lâm y học cùng năm với tôi. Khoa trưởng Robinson là người bạn rất thân thiết với bao thế hệ sinh viên Việt Nam.
Đây là Bs Marilyn Rob, Giám đốc trung tâm Epidemiology and Planning của Bộ Y tế NSW, người dạy tôi về dịch tễ học và làm cho tôi đam mê nghiên cứu. Marilyn có bằng tiến sĩ về thống kê học nữa, còn ông chồng lúc đó làm cho IBM. Tôi coi Marilyn như bà chị cả, và đứa con đầu lòng của tôi có tên Laurence (là tên con út của Marilyn) để đánh dấu thời mà Marilyn cưu mang tôi suốt 3 năm trời. Nhớ hoài Mariyn lúc nào cũng nói ‘You can do better‘ và khuyến khích tôi tìm cơ hội cao hơn.

Đây là hình chụp lúc tôi tiêu ra 1 tháng ở Viện nghiên cứu Southwest Foundation for Biomedical Research (San Antonio, Texas). Người dạy tôi về genetic linkage analysis là Ts John Blangero (người ngồi đầu bàn), tôi xem anh ta là một thiên tài. Anh ta có mái tóc giống như Isaac Newton! Hôm đó là ngày tiễn tôi về Ohio, nên cả nhóm kéo ra nhậu ở một quán thịt bò mà thực khách tự lấy thịt đem đi nướng và tự lấy bia. Vui ơi là vui!

Hình này tôi chụp với Gs Phạm Song (cựu Bộ trưởng Y tế) trong Hội nghị Strong Bone Asia. Bác ấy nghe tôi nên đến làm quen. Hôm đó, bác ấy nói rất nhiều về tình hình y tế Việt Nam. Sau này Gs Song qua đời.

Hình này tôi thích lắm. Hôm đi dự hội nghị quốc tế về loãng xương ở Denver, tôi nói chuyện xong và ra ngoài thì thấy một em chờ làm quen. Hoá ra em này là postdoc (hậu tiến sĩ) tên là Phạm Thanh Hải đứng gần tôi và một em nghiên cứu sinh (nữ) từ Nhật (bên phải tôi) có tên đặc biệt là Mộc Hà. ‘Tha hương ngộ cố tri’ và thế là chụp mộ bô hình làm kỉ niệm.

Hình này có một câu chuyện rất hay. Hôm đi dự hội nghị loãng xương ở Montreal, tôi đi ra khu phố Á châu để tìm món Việt ăn trưa. Em bồi bàn đến hỏi tôi ăn gì, rồi em hỏi luôn (tiếng Anh) ‘có phải bác là Gs Tuấn’. Tôi kinh ngạc nói phải rồi. Hoá ra em này là nghiên cứu sinh Việt Nam ở Canada, đi làm thêm để kiếm tiền, và em ấy hay đọc những bài ‘tâm tình’ của tôi trên blog và theo dõi bài giảng giúp cho em ấy học tốt hơn. Trời! Không ngờ gặp một người bạn đặc biệt như thế ở đây, và thế là chụp hình lưu niệm.

Tôi hay được mời đi giảng khắp nơi trên thế giới, và trong một lần sang Seoul, các em sinh viên bên đó hay tin, rồi tổ chức một seminar để tôi chia sẻ hành trình từ tiến sĩ thành độc lập ra sao. Xa quê mà gặp đồng hương lúc nào cũng làm tôi xao xuyến. Bức hình này cũng là một kỉ niệm đẹp.

Không nhớ hình này chụp ở đâu (nhưng ngoài Bắc, hình như là ĐH Y Hà Nội) vào năm 2016 sau khi kết thúc một khoá học.

Hình này chụp chung với các nghiên cứu sinh ở UTS (nay có người đã về Việt Nam). Người đứng cao cao là Gs Nguyễn Thế Hùng, lúc đó là Khoa trưởng Khoa Engineering và IT của UTS (chức này rất … lớn). Anh Hùng là người chiêu dụ tôi về hợp tác với UTS cho đến nay. Anh cũng là Giám đốc của Trung tâm Công nghệ Y tế, sau này anh rời UTS, tôi được bổ nhiệm thay anh làm Giám đốc trung tâm này. Thế là hai ông Nguyễn thay phiên nhau lãnh đạo trung tâm. Trung tâm này có chừng 56 người, kể cả 20 GS và PGS. Quản lí một trung tâm như thế rất … mệt.

Hình này chụp nhân dịp buổi liên hoan sau hội nghị nội tiết học ở Seoul. Trong hình là các giáo sư trẻ Hàn Quốc và vài giáo sư ‘già’. Họ rất ưu ái đòi tôi phải đến dự để các bạn trẻ hỏi han (có lẽ cách họ ngoại giao vì tôi làm editor cho các tập san loãng xương). Hoá ra, các giáo sư trẻ không được ngồi cùng bàn với các giáo sư ‘già’; họ chỉ được đến chụp hình chung. Tôi nghĩ thầm ‘Trời, sao mà phân chia vai vế thế.’

Ở Việt Nam tôi có những người bạn và học trò rất thân thiết. Tiêu biểu là em này (Bs Hà Tấn Đức) sau này học tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của tôi. Bs Đức là dân Cần Thơ, gần Kiên Giang. Hôm tôi về quê dưỡng bệnh, Đức đi xe đò lên thăm tôi. Ở dưới quê thì chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là có gà, cá, rau cỏ, v.v.đủ thứ để nhậu. Tôi lấy chai Martel chắc cũng 20 năm ra đãi. Chai này tôi mua cho Ba tôi uống, nhưng cho đến ngày qua đời ông không uống mà để trong tủ cả 20 năm trời. Ngon ơi là ngon.

Bs Đức, Bs Trần Sơn Thạch (trong hình) là hai người bạn đã cùng tôi rong ruổi khắp nước để ‘rao giảng’ về nghiên cứu khoa học. Tôi hay nói đùa là ba chúng ta là một gánh hát cải lương. Hình này chụp ở Atlanta (?) Mĩ trong lúc đang chờ máy bay về Sydney, còn tôi thì về Little Saigon ở California.

Hình này chụp nhân dịp bế mạc khoá học phân tích dữ liệu ở Kiên Giang. Trong hình là Bs Hồ Xuân Tuấn (ĐH Đà Nẵng) thay mặt học viên từ mọi miền đất nước về dự phát biểu cảm tưởng. Tôi và Tuấn quen nhau từ đó, vì tôi thích cái tánh hài hước đặc sệt dân xứ Quảng. Tuấn mới tốt nghiệp tiến sĩ y học từ Đức, và tôi tự hào có giúp đỡ một phần trong việc học hành và nghiên cứu của em ấy.

Tôi rất ít có dịp ăn Tết ở Việt Nam. Nhưng năm 2007 tôi có dịp đó. Lúc đó Kiên Giang tổ chức Tết cho ‘kiều bào’ và các nhà đầu tư nước ngoài đang làm việc ở Kiên Giang. Anh Ts Đởm (Giám đốc Bệnh viện Kiên Giang) rủ tôi đi ăn Tết ngoài Rạch Giá cho vui, và thế là tôi phóng xa đi ngay. Trong buổi lễ có một ông người Úc đang đầu tư ở Kiên Giang, ổng chúc Tết, và anh Đởm kêu tôi lên làm thông dịch. Ừ, làm thì làm. Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho ông đồng hương Úc.

Hôm đó, tôi còn trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình địa phương (Kiên Giang) vì các bạn ấy xem tôi là một ‘người con Kiên Giang thành đạt’. Tôi nhớ có nói rằng Kiên Giang đáng lí ra phát triển nhanh hơn và mạnh hơn các tỉnh khác (tôi không nói tỉnh nào) và đưa ra vài con số chứng minh. Chị phóng viên thích lắm và nói sẽ phát hình đêm nay. Tôi gọi điện về nhà báo tin cho mấy đứa em ‘Tối nay tụi bậy coi tao trên đài truyền hình.’ Báo hại tụi nó và bà con chờ xem bản tin tối của đài, nhưng chờ hoài không thấy mặt mũi tôi đâu. Hoá ra, có người cao cấp không hài lòng với câu nói của tôi nên nói lịch sự là ‘chưa đúng dịp để phát hình.’

Tôi có nhiều bạn ở trong nước, kể cả Hà Nội, và họ quí tôi. Lâu lâu mới có dịp gặp một buổi. Trong hình là (từ trái sang phải): Ts Giáp Văn Dương, Ts Quyền Đình Thi, tôi, và Ts Nguyễn Việt Hùng. Hình này chụp trong một nhà hàng nhỏ rất dễ thương ở giữa phố cổ Hà Nội.

Hình này tôi chụp lúc tham dự buổi lễ trao giải Alexandre Yersin ở Khách sạn Oscar. Anh bên cạnh là Bs Nguyễn Quan Vinh, Chủ tịch Hội y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình chụp lúc chuẩn bị khai mạc lễ trao giải thưởng.

Phái đoàn ĐH Quốc Gia TPHCM sang thăm chúng tôi ở Viện Garvan, 12/2016. Trong hình là Phạm Mỹ Hạnh (học trò PhD trong lab tôi), Ts Nguyễn Đức Nghĩa (Phó Giám đốc ĐHQG-HCM), Gs Đặng Vạn Phước (Khoa trưởng Khoa Y ĐHQG-HCM), Ts Nguyễn Thị Thanh Kiều (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM), PGS Lê Văn Quang (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM)

Tôi có nhiều bạn tị nạn ở California. Năm nào qua đó cũng đều gặp nhau, hàn huyên tâm sự. Trong hình là (từ trái qua phải) anh kí giả của Người Việt (tôi quên tên), Gs Lê Xuân Khoa (cựu Phó gíam đốc Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH), Bs Ngô Thế Vinh (nổi tiếng với cuốn ‘Cửu long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’) và Kĩ sư Phạm Phan Long trong nhóm Vietecology. Người chụp hình là Kĩ sư Ngô Minh Triết, người hay chở tôi đi đây đó gặp bạn bè. Tất cả họ đều đau đáu nghĩ về Việt Nam.

Bạn văn nghệ ở Sài Gòn. Người bên trái là một kí giả nổi tiếng trong làng báo Việt Nam Đoàn Khắc Xuyên. Người bên phải là người mà sau này tôi mới biết là Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của những ca khúc rất hay.

Hình này chụp nhân dịp tôi ghé Đại học Hoa Sen nói chuyện về công bố khoa học. Bên trái là Ts Bùi Trân Phượng (hiệu trưởng) và bên phải là Ts Phạm Thị Ly (hiệu phó). Đại học Hoa Sen đã thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua.

Đây là con đường nhà tôi ở lúc tôi sang Ohio nhận chức Associate Professor of Medicine của WSU vào cuối thập niên 1990s. Con đường này vào mùa thu nó đẹp ơi là đẹp!

Chiếc xe ‘huyền thoại’ Honda Civic của tôi ở Ohio trong mùa đông, tuyết đóng đầy hết xa và bãi đậu xe. Tôi yêu con ‘tuấn mã’ này lắm. Cứ cuối tuần tôi phóng xe lên Columbus gặp bạn bè tán dóc và nhậu nhẹt. Tôi nhớ anh Thành (tiến sĩ Lê Thiết Thành) và chị Lan quá.

Có năm tôi được mời sang làm ‘thanh tra’ trung tâm nghiên cứu cơ xương khớp của Đại học King Abdulaziz University (KAU), Saudi Arabia. Đó cũng là lần đầu tiên từ ngày cha sanh mẹ đẻ tôi được đi máy bay hạng ‘First Class’ của Singapore Airlines. Thích thì dĩ nhiên là thích, nhưng đêm về nằm khách sạn mà ngày xưa là nguyên thủ Hoa Kì từng ở, rồi suy nghĩ thế thái nhân tình: ‘sao mà họ phí thế, chắc là lấy lòng?’

Ở nước ngoài các trung tâm nghiên cứu phải được tổng duyệt mỗi 5 năm, và họ mời người nước ngoài đến làm. Làm thanh tra, nhưng sau này thành cố vấn (advisor) cho trung tâm luôn! Trong hình là ông Gíam đốc KAU trao kỉ niệm chương cho tôi. Tôi sang đây 2 lần, và lần sau cùng thì trung tâm nghiên cứu bị đóng cửa vì họ cho rằng làm ăn không khá. Tiếc ghê.

Ngoài việc chuyên môn, tôi còn viết sách và xuất bản ở Việt Nam. Tôi đã xuất bản được 15 cuốn sách (từ chủ đề loãng xương, phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu, cách viết bài báo khoa học, đến sách về trò chuyện khoa học) ở Việt Nam. Có những cuốn được in đi in lại nhiều lần, và cuốn này ‘Cẩm nang nghiên cứu khoa học’ được in lại 5 lần chỉ trong 2 năm xuất bản. Năm 2018, Nhà xuất bản tổ chức buổi ra mắt sách ở Đường sách Sài Gòn, và tôi có dịp trò chuyện trực tiếp cùng khoảng 50 người đến nghe.

Tôi có nhiều bằng khen từ Việt Nam, và đây là bằng khen của Hội Y học TPHCM.

Bằng khen từ Hội loãng xương TPHCM. Bằng khen này được Gs Trần Ngọc Ân (Chủ tịch Hội Loãng xương Hà Nội) trao trong Hội nghị loãng xương ở Nha Trang. Tôi nhớ mãi thầy Ân nói: “Giáo sư Tuấn là người vô cùng tâm huyết với quê hương, điều đó không thể nghi ngờ được. Nhưng Gs Tuấn còn là một nhà trí thức với nhiều ý kiến về đủ thứ vấn đề trên báo chí chính thống, có nhiều ý kiến rất hay …” Rồi thầy ngưng một chút, rồi nói tiếp “Nhưng cũng có vài ý kiến cần … bàn thêm“. Cả Hội nghị 400 người cười ầm lên. Thầy đúng là dân Hà Nội, rất khéo nói.

Bằng khen của Đại học Quốc gia TPHCM nhân dịp tôi ghé đó giản trong 2 workshops 5 ngày.

Tôi nói chuyện về y học thực chứng ở Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình 2 lần. Đây là lần đầu (2005), lúc đó Bs Võ Thành Phụng là Phó Giám Đốc và Bs Trần Thanh Mỹ là Giám Đốc. Sau này, anh Phụng và tôi tổ chức Hội nghị quốc tế về loãng xương ở Sài Gòn rất thành công. Anh ấy là người miền Tây nhưng học trường Tây và nói tiếng Pháp rất thông thạo, thích … hủ tíu Mỹ Tho. Anh Phụng là đồng môn với Bs Ngô Thế Vinh (tác giả cuốn sách nổi tiếng ‘Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’), cũng là một người bạn vong niên của tôi. Sau này anh ấy qua đời đột ngột làm tôi kinh ngạc.

Giải thưởng ‘Sách Hay’ (cuốn ‘Đi vào nghiên cứu khoa học‘) của Viện IRED và nhóm Sách Hay.

Bằng khen do báo Vietnamnet trao tặng. Giải thưởng này chỉ tồn tại 3 năm thì phải, và sau đó thì ngưng. Chẳng hiểu sao ngưng, nhưng với tôi thì đây cũng là một kỉ niệm vui và có ý nghĩa.

Tôi làm Chair Hội đồng chấm giải thưởng Alexandre Yersin cho Hiệp hội Y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình này chụp vào năm 2017 (?) là lần phát giải thưởng đầu tiên ở Sài Gòn.

Đây là Bác sĩ Nga (bên trái, đã nghỉ hưu) và Thuận, cả hai đều là bạn học thời tiểu học trpng quê. Nga là con bác Hai Trắc, chủ tiệm bán thuốc Bắc dưới quê, còn Thuận là con cô Danh và chú Hiền (dân miền Trung và em nuôi của ba tôi). Hình này chụp nhân dịp đám cưới của thằng cháu tôi được tổ chức ở Rạch Giá. Đây là tấm hình tôi thích nhứt và có lẽ rất khó có dịp chụp cùng hai người bạn này.

Đây là Thuận (bên phải) và em Út tôi. Hình này chụp vào năm 1990s nhân dịp lần đầu tôi về Việt Nam thăm nhà. Em út tôi là học trò của Thuận (nên hai cô trò ngồi gần nhau). Tôi gọi má Thuận là cô Danh và ba Thuận là chú Hiền. Thuận là bạn học thời tiểu học, rất hiền lành và nhu mì (đến nay vẫn vậy), sau này mở tiệm may nổi tiếng nối nghiệp cô Danh. Thời sau 1975 khi tôi ‘thất chí’ về quê thì Thuận là người được Má tôi nhắc nhiều nhứt như là một ‘ứng viên’. Sau này, mỗi lần vế quê và có cái áo nào khó sửa, tôi sai thằng cháu đem cho cô Thuận sửa. Có lần thằng cháu nói sao đó, bị cô Thuận mắng cho ‘Cậu mày là ai mà kêu tao phải làm trong 1 ngày? Dẹp.’

Đây là những người hàng xóm người Khmer của tôi. Cả ba người và Má tôi (ngồi mép trái) nay đã về bên kia thế giới. Hồi còn nhỏ, tôi hay la cà sang nhà hàng xóm kiếm bánh ống và cốm dẹp ăn :).

Đây là anh Ba Đen (bà Nội anh ấy là chị bà Ngoại tôi) và gia đình chụp vào năm 1992 (?) Anh Ba là bạn học thời tiểu học của tôi. Lúc đó Việt Nam còn nghèo lắm, và anh Ba cũng không ngoại lệ. Bây giờ thì anh khá hơn nhiều rồi.

Anh chàng này bắt được một con cá bự. Ảnh nhứt quyết đòi tôi chụp một tấm hình cho ảnh làm kỉ niệm. Giờ này thì ảnh đã có vợ con và đi làm ngoài Rạch Giá rồi.

Đây là hình chụp nhân dịp tôi về quê và thăm anh Ba Đen ở Kinh Lô Bích vào năm 2015 (?). Bây giờ anh ấy khá lắm, nhưng con cái đều đi lập nghiệp ngoài thị thành. Nhà anh ấy cây trái xanh tươi, mát mẻ. Nghe tin tôi ghé thăm anh ấy hét bọn nhỏ đi bắt cá sau hè và làm gà, rồi hú bạn bẹ chòm xóm (cũng là bà con thôi) đến … nhậu. Đây là một kỉ niệm tôi không thể nào quên.

Miền quê tôi ngày nay. Trước đây, con lộ này chỉ làm bằng đất, đến mùa mưa thì lầy lội lắm, học trò đi học rất khổ. Sau 46 năm thống nhứt đất nước giờ cũng kha khá hơn thời tôi ra đi (1980s), con lộ được tráng xi măng và mấy cháu bây giờ đi học bằng xe đạp (ngon lành hơn thời của tôi vào thập niên 1960s). Tuy nhiên, làng quê vẫn nghèo lắm so với các nước như Thái Lan và Mã Lai.

Con chó lúc nào cũng chờ tôi về. Hình này chụp lúc nó đã 12 tuổi rồi, mắt hơi yếu, nhưng nó vẫn vui vẻ đón tôi về. Sau vài chục năm thì mảnh đất và căn nhà của Ba Má tôi để lại đã được tân trang. Hồi xưa, tôi hay móc võng bên cây mít vừa đọc sách, vừa nghe cải lương phát ra từ nhà anh Hai bên bờ sông và ngủ trưa … Tôi gọi đó là những ngày xưa thân ái.

Dòng đời qua hình ảnh

Dưới đây là một số hình ảnh về quãng đời của tôi. Tôi cố gắng sắp xếp hình ảnh theo thứ tự từ Việt Nam sang Úc. Những hình này liên quan đến Ba Má tôi, bà con, hàng xóm ở Việt Nam, những việc tôi làm, những phần thưởng, và kỉ niệm. Có một số hình ảnh người trong nhà không muốn đưa lên. Dĩ nhiên những hình ảnh này không đủ, vì rất rất nhiều hình ảnh thời trước 1975 mất hết do bão lụt và do … ‘nhân tai’. Hình ảnh thời tị nạn chỉ còn vài tấm. Hình thời ở Mĩ cũng rất ít. Chỉ có hình chụp trong thời gian gần đây thì khá phong phú. Xin chia sẻ cùng các bạn để biết qua quãng đời của một refugee như thế nào. Tôi cũng có phiên bản tiếng Anh ở đây.

Đây là căn nhà tôi được sanh ra và lớn lên trong thời niên thiếu. Cái chái bên phải là nhà nuôi gà, heo, sau 1975 trở thành một nguồn kinh tế nuôi cả nhà. Phía bên trái là mấy cây vú sữa, mít, ổi, v.v. Cái sân phía trước là nơi phơi lúa mỗi khi ghe chở lúa trên đồng về. Phía trái nữa (không có trong hình) là nơi để mấy cái máy cày trước 1975 (sau 1975 bị tịch thu rồi … mất luôn).

Phía sau vườn hồi xưa là mương rất nhiều cá. Hồi xưa, hễ có khách tới thăm là chỉ cần ra sau mương câu / hốt vài con cá, cắt vài cọng rau là có bữa ăn đãi khách ngay.
Ba Má tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào năm 1991, lúc đó Ba Má tôi ở tuổi 60s. Ba tôi hi sinh một cánh tay trong một trận đánh ác liệt có tên là ‘Cây Trâm’ (gần Rạch Sỏi ngày nay) thời kháng chiến chống Pháp, sau đó giải ngũ và lập gia đình. Vậy mà Ba tôi tập viết, tập làm ruộng y như người có 2 cánh tay. Sau này, Chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt tù Ba tôi vì nghi là cộng sản (không đi tập kết), nhưng chỉ 3 tháng sau thì thả do không có chứng cớ (thời đó coi vậy mà pháp luật nghiêm minh). Má tôi thì chỉ làm nội trợ, suốt đời chưa bao giờ đi ăn ở nhà hàng vì Má tôi dứt khoát nói ‘ở nhà nấu ngon hơn’. Má tôi chỉ lên Sài Gòn 1 lần, và đó là lần nhập viện sau một cơn đột quị. Ba tôi qua đời ngày 22/2/2004, thọ 81 tuổi. Bốn năm sau Má tôi cũng qua đời (17/7/2008, thọ 80 tuổi) sau một cơn đột quị.

Hình này là Bé Thuận, con lớn của em gái tôi, nó gọi tôi bằng cậu. Hình này chụp lúc nó còn nhỏ ở dưới quê. Nay đã là công chức và có 2 con hiện ở Rạch Giá. Hồi Ba tôi còn sống rất thương nó vì nó hay sang nhổ râu cho ông ngoại và được … cho bánh, tiền. 🙂

Hình này là Bé Thoa, con của em gái út tôi, cũng gọi tôi bằng cậu. Tuy là cháu nhưng nó như là con gái trong nhà ở bên Úc. Nó mới lập gia đình bên Úc. Hình này chụp lúc hai cậu cháu đang trong lounge của Sky Team (phi trường Sydney) chờ máy bay về Việt Nam. Lần đầu tiên vào lounge dành cho hạng business, nên nó chụp hình tùm lum. 🙂

Cháu tôi tên Thuý An, nay đã tốt nghiệp bác sĩ từ ĐHYDTPHCM và công tác ở Bệnh viện ngoài Rạch Giá. Nó là cháu nội của Dì Út tôi. Hồi tôi đi nó chưa ra đời, ngày tôi về lần đầu thì nó đã là thiếu niên. Hôm về quê ăn Tết đầu 2020, chị ấy qua kiếm lì xì. 🙂
Ngoại tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào khoảng cuối thập niên 1980s. Ngoại tôi có tuổi thọ khá tốt (90), nhưng vẫn thua Bà Cố tôi (thọ 102 tuổi). Ông Ngoại tôi qua đời hơi sớm (chẳng biết bịnh gì) nên bà Ngoại là chỗ dựa tinh thần của cả nhà và con cháu.
Anh Hai tôi (Nguyễn Tuấn Khải) nhưng ở nhà thì gọi là “Chỉ”. Anh là ‘ngôi sao’ trong gia đình và dòng họ vì là người đầu tiên trong làng đậu tú tài 2 và tốt nghiệp kĩ sư trước 1975. Sau 1975 anh thất chí và hầu như không làm gì ngoài việc tìm đường ra đi. Anh Hai tôi đi vượt biên ngày 12/2/1981 (tức trước tôi chỉ 2 tháng). Nhưng tất cả 25 người trên tàu đều mất tích. Có lẽ anh Hai tôi đã chìm sâu vào Biển Đông. Má tôi suy sụp một thời gian vì mất anh Hai. Đối với tôi, mất anh Hai là một tổn thương lớn, y như mất Ba Má vậy. Thời còn đi học, anh Hai là tấm gương, là cái đích học tôi nhắm tới.
Mợ Tư tôi lúc sanh tiền. Nghe nói hồi xưa Mợ Tư tôi đẹp nhứt nhì trong làng, làm xiêu lòng Cậu Tư. tôi Không nhớ hình này chụp lúc nào, nhưng tôi nghĩ là đầu thập niên 1990. Cậu Tư tôi mất sớm trong thời chiến tranh, và Mợ Tư phải nuôi một đám con nhỏ (tức em họ tôi). Mợ Tư tôi qua đời cũng cách đây vài năm, ngay trong lúc tôi đang bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng đi Seoul. Tôi không về được để dự đám tang Mợ Tư. Ở dưới quê, dòng họ tôi rất gần nhau, nên mấy người anh em họ rất thân với nhau.

Dì Năm tôi (tức em Má tôi và Cậu Tư). Dì Năm trong nhà nổi tiếng là người nấu ăn ngon, nên hễ trong làng có đám cưới hỏi là Dì Năm được mời đi nấu ăn. Dì Năm là người rất tinh tế, chú ý đến những chi tiết nhỏ (chắc do nấu ăn) và nghiêm khắc. Dì Năm tôi đã qua đời cách đây chừng 8 năm.

Dì Út tôi, như cách gọi, là người thứ út trong gia đình. Dì Út tôi rất hiền lành, không cãi cọ với ai, cũng chẳng làm phiền ai. Chồng Dì Út là dân Quảng Ngãi. Chắc hồi xưa, ông Ngoại tôi thích gả con gái cho dân miền Trung?

Đây là Cậu Ba tôi ngoài Bình Định. Cậu đi tập kết ngoài Bắc và khi về Nam trong thời chiến mang hàm trung tá hay thượng tá (tôi quên, nhưng thời đó cấp tá là oai lắm). Cậu Ba tôi gọi ông Ngoại tôi là Chú. Phải mất hơn 50 năm mới liên lạc được với nhánh gia đình ngoài Trung. Nhớ hoài ngày hai cậu cháu gặp nhau, ổng nói bằng chất giọng Bình Định “Cậu là Bộ đội Cụ Hồ” làm tôi nghĩ thầm “ổng phát biểu lập trường đây, đừng có mà linh tinh.” 🙂 Cậu Ba mới qua đời vài năm trước và thọ 99 tuổi.

Chị Nghĩa (con Cậu Ba tôi), nay làm việc ở Sài Gòn. Chị Nghĩa là người nhắn tin trên đài truyền hình để tìm bà con trong Nam. Cuộc trùng phùng nghe chị ấy kể là ‘trong nước mắt’. Nghe nói khi cậu Ba vào Nam để gặp nhánh trong Nam, gặp Má tôi, Cậu khóc nói “Em tôi đây mà.” Hình này tôi chụp với chị Nghĩa trong một chuyến đi dự hội nghị loãng xương ở Qui Nhơn vào năm 2017 (?)

Hình này tôi chụp cùng các bạn trong trại tị nạn Panatnikhom, Thái Lan vào cuối năm 1981, trước khi tôi lên đường đi định cư ở Úc. Thời ở trại tị nạn, mỗi cái phòng như vậy chứa cả 5-7 người.

Tôi có kể lại hành trình của tôi từ Thái Lan đến Úc trong một bài blog này.

Khi đến Sydney đầu năm 1982, tôi theo học lớp học tiếng Anh, và người bên phải tôi là cô giáo dạy tiếng Anh, người bên trái là một học viên từ Ba Lan. Cô giáo tôi vô cùng duyên dáng và rất thương người tị nạn. Tôi còn nhớ cô ấy hẹn tôi năm 2000 ‘xem người làm gì’, nhưng rất tiếc là cô mất trước đó vài năm. Tôi chỉ học ở đây chừng 1 tháng thì đi xin việc làm. Thời đó, có việc làm và kiếm tiền gởi về bên nhà là ưu tiên số 1, chớ chẳng học hành gì cả.

Đây là hình tôi được việc trong Department of Epidemiology and Planning của Bộ Y tế bang New South Wales. Sau gần 1.5 năm làm phụ bếp trong Bệnh viện St Vincent’s (Sydney) và Khác sạn 5 sao Regent’s, tôi kiếm được việc làm ở Labo Pathology thuộc Bệnh viện Royal North Shore, tối ngày xử lí mẫu máu, nước tiểu, và học luôn PCR nữa. Sau hơn 1 năm tôi tìm được việc làm ở đây (Department of Epidemiology and Planning).

Tôi phải học máy tính và cách viết chương trình bằng Fortran. Hình chụp vào giữa thập niên 1980s. Sau việc này, tôi chuyển về học ở Đại học Sydney trong Bộ môn Dịch tễ học và Thống kê học, đồng thời làm ‘tutor’ (trợ giảng) cho Bộ môn thống kê lí thuyết. Thời đó, làm tutor kiếm khá nhiều tiền và mua được nhà.

Đây là hình tôi chụp trong labo nghiên cứu của Viện Garvan. Không nhớ năm nào (chắc 1990s) nhưng đó là thời … trung niên. Mấy cái ‘red book’ là bao nhiêu thông tin thí nghiệm. Cái không gian này tuy nhỏ vậy, nhưng là nơi tôi có nhiều đóng góp cho chuyên ngành loãng xương. Tôi viết luận án cũng tại đây. Nay thì chỗ này đã phá đi để xây lại labo ngon lành hơn (như hình dưới đây).

Sau này Viện Garvan có lab khang trang hơn, và hình này chụp trong lab, lầu 5, nơi thời đó còn làm PCR cho từng gen. Sau này thì việc làm đó là … kinh điển (chẳng ai làm nữa), và đa số đều gởi ra ngoài làm rẻ hơn.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp ở Đại học Macquarie vào năm 1985 (?) Thời đó mới qua, ‘tậu’ được một bộ veston xịn, nhưng còn chưa biết qui ước mặc veston sao cho đúng điệu. Kể ra thì cũng là một kinh nghiệm vậy.
Labo nghiên cứu cơ xương do tôi sáng lập tại ĐH Tôn Đức Thắng do Bs Thục Lan làm codirector. Trong hình là các em bác sĩ đang đo lường và phỏng vấn tình nguyện viên trong Dự án Vietnam Osteoporosis Study.

Hình này là lúc tôi nhận testamur từ Viện trưởng Michael Kirby (lúc đó là Chánh án toà án tối cao của Úc). Tôi nhớ khi trao bằng, ông ấy nói “You are a remarkable refugee“. Chỉ là cách nói ngoại giao thôi – tôi nghĩ vậy.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp. Từ trái sang phải: em gái tôi, bà xã, Gs Donald McNeil và anh tôi. Thời đó, Đại học Macquarie được mệnh danh là của kẻ giàu, vì toạ lạc ở miền Bắc Sydney. Tuy vậy, nhưng phòng ốc và building có vẻ cổ kính lắm. Sau 30 năm quay lại, tôi không nhận ra nơi mình từng theo học nữa vì có quá nhiều building và có luôn Khoa Y nữa.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp từ Đại học New South Wales (nay là “UNSW Sydney”) năm 1997. Tôi theo học ở đây từ 1993 đến 1997, và trong thời gian này tôi công bố được 14 công trình. Nhiều khi nghĩ lại tôi không thể nào tưởng tượng mình đã ‘làm việc như trâu’, miệt mài ngày đêm, không phải vì số lượng mà vì muốn công bố trước. Luận án của tôi là ‘Contributions of Genetic and Environmental Factors to Osteoporotic Fracture‘ và được trao giải thưởng Garvan Best Thesis Award. Chú ý hình này tôi đội nón lục giác (tức dành cho mấy người tốt nghiệp tiến sĩ theo truyền thống Đại học Cambridge), còn hình trên là nón tứ gíac (dành cho những người tốt nghiệp cấp dưới tiến sĩ).

Hình chụp nhân dịp tôi được trao học vị ‘Higher Doctorate’ D.Sc (2016), làm lễ 2017. Ở Úc và Anh, DSc là học vị cao hơn PhD, chỉ dành cho những người tốt nghiệp PhD ít nhứt 10 năm. Với học vị này, ứng viên không có ghi danh, mà được xét duyệt vòng sơ tuyển, nếu qua thì được ‘admitted’ để nghiên cứu. Tôi được admitted năm 2014 và chánh thức tốt nghiệp năm 2016, với luận án ‘Contributions to Osteoporosis Research’ với 196 bài báo khoa học làm luận án. Garvan có đi một bản tin về sự kiện này. Báo Guardian (Anh) cũng có một bài về tôi.

Bên trái là Trúc (bây giờ là cháu rể tôi), và bên phải là cháu gái tôi mà trong nhà hay gọi là Bé Thoa (nay đã thành hôn với Trúc). Vì tôi không có con gái, nên nó được xem như là con gái trong nhà.

Người tốt nghiệp DSc được đọc tiểu sử (citation) trước khán đài cho sinh viên y khoa và các giáo sư khác. Citation này được Gs Terry Campbell (Phó Khoa Trưởng Khoa Y) đọc trong ngày lễ tốt nghiệp. Tôi là người thứ 33 thuộc Khoa Y của UNSW Sydney được trao học vị này. Video buổi lễ được upload trên Youtube: https://youtu.be/-SNJ5vKlMds

Huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng do Đại học Công nghệ Sydney (UTS). Bản tin phía dưới có hình tôi chụp chung với bà Catherine Livingstone, Viện trưởng (Chancellor) của UTS. Tấm huy chương này được in bằng máy in 3D Printer.

Thư chúc mừng được trao giải Nhà nghiên cứu ngoại hạng kèm theo 5000 đôla. 🙂

Tôi trả lời phỏng vấn nhân dịp được trao huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng UTS 2018). Tôi là người thứ hai được trao huân chương này. Người thứ nhứt là Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, cựu khoa trưởng khoa engineering và IT.

Tôi nói: “My name is Tuan Van Nguyen. And I am a professor of predictive medicine at the School of Biomedical Engineering of UTS. My work is really concerned with the prevention of bone fractures due to osteoporosis or low bone mass. So, osteoporosis and osteoporotic fractures, they both represent a major and substantial public health problem – not just in Australia, but also worldwide. We approached the problem through epidemiological research, genetic research and clinical research, and clinical translation.

We came up with the world’s first algorithm for predicting fracture risk at the individual level. We found that each standard deviation lower in BMD [bone mineral density] actually increased the risk of fracture by two fold. And that particular finding was used as a criteria for the diagnosis of osteoporosis around the world. 

So that’s one of our major contributions. But the thing that’s really rewarding is that after the publication of the model, there were hundreds of studies around the world that tried to validate the model, or were inspired by the idea that patient and doctor alike can use. That’s the most rewarding experience for us.”

Hình chụp đêm liên hoan ăn mừng được UTS trao Huân chuơng. May phước đêm đó không xỉn. 🙂
Tôi được bầu làm Fellow của Hiệp hội loãng xương Hoa Kì (American Society for Bone and Mineral Research – ASBMR) vì những đóng góp họ gọi là ‘distinguished accomplishments‘ trong chuyên ngành loãng xương. Tôi giữ nhiều vai trò có thể nói là trọng trách và leadership trong ASBMR, từ uỷ ban khoa học, uỷ ban xuất bản, editor cho tập san JBMR, v.v. nói chung là đủ thứ việc. Tôi được vinh hạnh là người gốc Việt đầu tiên được bầu làm viện sĩ của ASBMR. Tôi có một cái note về sự kiện quan trọng này.

Hình chụp nhân dịp tôi được bầu làm Fellow (viện sĩ) Viện hàn lâm y học Úc. Người bên trái là Giáo sư Ian Frazer, chủ tịch Viện hàn lâm. Gs Frazer là người khám phá và phát triển vaccine phòng ung thư cổ tử cung. Hôm đó, tôi có hỏi ông là có giúp được gì cho Việt Nam và cần tôi làm trung gian hay không, ông nói đại khái rằng muốn giúp lắm chớ, nhưng hệ thống hành chánh bên đó khó khăn quá nên ông bỏ cuộc.

Hình dưới là những fellow được bầu vào Viện hàn lâm năm 2018 (lễ kết nạp 2019). Tôi được vinh dự là người Việt Nam đầu tiên có mặt trong Viện hàn lâm. Tôi có cái note cám ơn ở đây (tiếng Anh) và Tiếng Việt.

Đây là bài viết kiểu ‘vinh danh’ tôi đã có 25 năm đóng góp cho Viện nghiên cứu Y khoa Garvan.

Hình chụp nhân dịp tôi được trao chức danh Giáo sư Danh dự của Đại học Dược Hà Nội. Người bên trái là Gs Nguyễn Thanh Bình, Hiệu trưởng. Tôi còn là giáo sư danh dự hay giáo sư thỉnh giảng của Đại học Y Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Tôn Đức Thắng. Tôi có một note giải thích chức danh ‘visiting professor‘.

Đây là hình chụp nhân ngày tôi được trao tặng chức danh ‘Distinguished Professor’ của ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU). Người bên phải là Hiệu trưởng Lê Vinh Danh, người đã nói theo tiếng Anh là transform TDTU chỉ trong 10 năm. Di sản của anh Danh phải vài chục năm sau người ta mới ghi nhận. Tôi giúp cho TDTU từ 2015 qua các việc như lập labo nghiên cứu về xương và cơ, chair hội đồng bổ nhiệm chức vụ giáo sư cho TDTU, và tham mưu chiến lược phát triển. Sau này tôi mới biết là trước khi trao chức danh này TDTU đã có ‘peer-review’ từ các giáo sư nổi tiếng bên Úc, Anh, Mĩ, và Canada. Tôi rất thích cách làm đó, nhưng rất tiếc là VN chưa có trường nào làm vậy. Tôi có một note về sự kiện này.

Đây không phải là giải thưởng gì, nhưng vối tôi là một phần thưởng rất có ý nghĩa. Tôi tổ chức và giảng cho mấy chục workshop ở Việt Nam (từ Bắc chí Nam), và số bác sĩ tham dự chắc cỡ vài ngàn. Một hôm tôi nhận lá thư này từ một em bác sĩ da liễu (Ngọc Bích) làm tôi cảm động lắm, và xem đó là phần thưởng qúi báu trong đời.

Đây cũng không phải là giải thưởng gì cả, nhưng với tôi là một phần thưởng qúi lắm. Nhân ngày Nhà giáo gì đó, các em sinh viên ở Úc hùn nhau mua một cây viết Parker (chẳng hiểu sao họ biết tôi thích cây viết này) và kèm theo thiệp chúc với những lời làm tôi cảm động lắm lắm.

Một lần trả lời phỏng vấn cho truyền thông phương Tây. Hình này chụp lúc tôi trả lời báo chí Mĩ nhân tham dự hội nghị ASBMR ở Hawaii. Họ hỏi tôi về một nghiên cứu khá ‘đình đám’ trong hội nghị.


Tôi đi giảng và nói chuyện ở rất nhiều nơi trên thế giới, nhưng hình chụp lưu niệm thì chẳng bao nhiêu. Hình này là do Bs Nguyễn Đình Nguyên chụp nhân một bài nói chuyện ở Canada vào năm 2007.
Hình này chụp lúc tôi nói chuyện trong một hội nghị loãng xương quốc gia ở New Zealand.

Tôi được coi là người đem chuyên ngành loãng xương về Việt Nam. (Báo Sức Khoẻ và Đời sống có một bài về tôi). Nói to tát ghê. Đây là hình chụp lúc tôi tổ chức hội nghị quốc tế về loãng xương lần đầu tiên ở Việt Nam. Từ trái qua phải: Ts Trần Hoàng Ngọc Bích (một trong những học trò xuất sắc cũ tôi), Ts Nguyễn Đình Nguyên (cũng học trò xuất sắc luôn, sau này bỏ nghiên cứu ra làm GP), và Giáo sư John Eisman (thầy tôi). Tấm hình này có thể xem là 2 thế hệ. 🙂

Hình chụp lưu niệm trong Ban tổ chức hội nghị Strong Bone Asia. Hội nghị này đem về cho Hội Y học TPHCM một thu nhập đáng kể để phát triển về sau.

Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho Gs Dương Quang Trung mà tôi gọi thân mật là Chú Tư (lúc đó là Chủ tịch Hội Y học TPHCM). Chú Tư (dân gốc Cà Mau, là dân bên Tây về, cùng thời Bs Phạm Ngọc Thạch bên Pháp) và tôi có biết bao nhiêu kỉ niệm. Chú nói tiếng Pháp khỏi chê, nhưng với tiếng Anh thì chú phải nhờ tôi. Tôi cầm tờ giấy chớ thật ra tôi có đọc gì đâu, tôi chỉ nghe chú ấy nói là tôi dịch ngay. Khi xuống khán đài, chú Tư hỏi “Hồi nãy có câu tôi nói cũng khá dài, sao anh dịch ngắn vậy?” Chú hay gọi tôi bằng ‘Anh’. Tôi giải thích một hồi rồi nói: “Dạ, tiếng Anh nhiều khi nó ngắn chú ơi”. Ổng mỉm cười kiểu nói ‘Thằng này lém lỉnh.” Có lần tôi về VN công tác, chú kéo tôi ra hành lang, hỏi tôi là có phải kí tên vào bản ý kiến gì phải không, tôi nói phải. Rồi chú Tư nói ‘lúc này tôi biết xài internet rồi, tôi đọc nhiều lắm, nhưng anh nên cân nhắc nói những gì cần nói thôi.’ Tôi nghĩ đó là lời khuyên của người biết nhiều trong hệ thống. 🙂

Hội nghị loãng xương Châu Á được tổ chức ở Hong Kong vài năm trước. Nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study chúng tôi chiếm liền 3 giải thuởng! Bên trái là Bs Hồ Phạm Thục Lan, bên phải là Bs Đoàn Công Minh bên poster được trao giải xuất sắc.

Tôi là Chair của Pan Asian Biomedical Science (2018 – 2020). Đây là hội nghị PABS được tổ chức rình rang ở Đà Nẵng. Lúc đó, Gs Trần Văn Nam (Giám đốc ĐH Đà Nẵng) và PGS Nguyễn Đăng Quốc Chấn là người đứng đằng sau ban tổ chức. Tôi chỉ là người ‘bề ngoài’ với khách nước ngoài. Kể từ đó, tôi trở thành một người của Đại học Đà Nẵng.

Tôi chụp hình lưu niệm với các đồng nghiệp Á châu (hình trên) và các bạn trong ban tổ chức ở Đà Nẵng (hình dưới). Tôi xem đây là một đóng góp cho Đại học Đà Nẵng. Người đứng bên phải có tên rất hay là ‘Hằng Nga’, là tiến sĩ từ Tây về, còn người đẹp gái bên cạnh Hằng Nga là Oanh; hai người này gíup tôi rất nhiều trong khâu tổ chức.

Ngoài tổ chức hội nghị quốc tế ở Việt Nam, tôi còn tổ chức hàng chục (hay trăm) lớp học lớn nhỏ ở VN trong suốt 25 năm qua. Đây là một lớp học được tổ chức ở Đại học Y Dược TPHCM vào đầu thập niên 2000 do chị Thy Khuê đứng ra làm. Nhiều người trong hình này nay đã là tiến sĩ và phó giáo sư.

Lớp học này cũng được tổ chức ở ĐH Y Dược TPHCM (2006 ?) do chị PGS Nguyễn Thy Khuê tổ chức. Tôi nhớ hoài một ‘incident’ khi tôi đứng giảng và chú ý thấy chị Khuê nghe điện thoại xong có vẻ lo lắng lắm. Mãi đến sau này hỏi mới biết là công an gọi điện hỏi sao lớp học có người nước ngoài mà không xin phép. Chị Khuê nói tôi về hàng năm, hồ sơ đã có trong Sở Y tế và công an rồi, nên không cần xin phép nữa. Họ nói hễ tổ chức lớp học là phải xin phép. May phước họ dzu dzi cho qua.

Bác sĩ Khả Nhi có một bài phỏng vấn tôi về những việc làm bên Việt Nam tại đây.

Một lớp học ở Đại học Tôn Đức Thắng. Nói chung lớp học nào tôi giảng đều thu hút từ 100 đến 250 người từ mọi miền đất nước tham dự. Mỗi khoá học như vậy kéo dài từ 5 – 14 ngày, với rất nhiều bài giảng. Rất vui và hào hứng vì giúp cho nhiều bạn sau này trở thành tiến sĩ và giáo sư.

Khoá học ở Đại học Tôn Đức Thắng lúc nào cũng thu hút hàng trăm học viên từ mọi miền đất nước.
Một lớp học ở Trường Đại học Nha Trang năm 2017 do tôi, Ts Trần Sơn Thạch Ts Hà Tấn Đức phụ trách. Đây là lớp học do anh giám đốc Sở khoa học và công nghệ Khánh Hoà mời. Tôi nhớ hoài khi ngày thứ 4 anh đến nói lời kết thúc lớp học, anh rất ngại vì trước đây đến ngày thứ 2 là học viên chỉ còn vài người thôi. Nhưng khi anh tới, anh kinh ngạc thấy ngày kết thúc khoá học mà số học viên còn đông hơn lúc khai mạc. Anh ấy vui lắm. Sau này chúng tôi còn quay lai 2 lần nữa cũng tại đây.

Tôi là một trong những sáng lập viên Hội loãng xương TPHCM. Chúng tôi tổ chức hội nghị khoa học mỗi năm. Đây là hội nghị được tổ chức ở Đà Lạt vào năm 2018. Hình này tôi chụp cùng ban tổ chức và các bạn đồng nghiệp. Hình này đúng là đầy đủ ‘who is who’ trong bộ lạc loãng xương ở Việt Nam (từ trái qua phải): Bs Huỳnh Văn Khoa (Chợ Rẫy); Bs Nguyễn Văn Hùng (Bạch Mai); Gs Trần Tam (Huế); Gs Nguyễn Hải Thuỷ (Huế); tôi; PGs Lê Anh Thư (Chủ tịch Hội); PGS Trương Văn Việt (Cựu Giám đốc BV Chợ Rẫy); Gs Trần Ngọc Ân (Hà Nội); Bs Linh (Chợ Rẫy, phu nhân của Bs Nguyễn Tri Thức nay là Giám đốc BV Chợ Rẫy); Bs Thục Lan (BV 115); PGs Vũ Thanh Thuỷ (Hà Nội); PGs Vũ Đình Hùng (Quân Y Sài Gòn); PGs Phạm Văn Thanh (Cựu Giám đốc Sở Y tế TPHCM); Gs Nguyễn Tấn Bỉnh (nay là Giám đốc Sở Y tế TPHCM); và PGs Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy).

Hình này cũng được chụp trong hội nghị loãng xương được tổ chức ở Quy Nhơn trong trung tâm hội nghị quốc tế của Gs Trần Thanh Vân. Từ trái qua phải: PGS Nguyễn Ngọc Lan (Bạch Mai), PGS Nguyễn Bích Đào (Chợ Rẫy), PGS Lê Anh Thư (chủ tịch Hội), PGS Vũ Đình Hùng (Quân Y), phu nhân Gs Trần Thanh Vân, PGS Đỗ Thị Ngọc Diệp (Dinh dưỡng), tôi, PGS Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy), Ts Võ Văn Sĩ (Chấn thương Chỉnh hình) người mà tôi rất khoái vì cái tánh Nam bộ.

Hội nghị khoa học thường niên của Hội loãng xương TPHCM tại Tuy Hoà 2017. Trong hình là các thành viên trong nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study. Từ trái sang phải: Bs Minh Châu, Ts Trần Sơn Thạch, Bs Thục Lan, Bs Mai Duy Linh, và Bs Đoàn Công Minh. Năm nào, nhóm này cũng có những đóng góp về nghiên cứu original cho hội nghị.

Cùng các bạn và học viên Đại học Đồng Tháp nhân dịp tôi về đó giảng 3 ngày. Hình này chụp vào năm 2018. Tôi đến đây giảng lần đầu vào năm 2013, và sau đó thì năng suất khoa học (công bố quốc tế) của Trường tăng cao thấy rõ. Thế là các bạn ấy mời tôi quay lại nói chuyện nữa. Tôi thích đi mấy tỉnh miền Tây, một phần vì gần nhà, một phần vì muốn thưởng thức các món ăn miền Tây, thích la cà trong mấy quán bánh tằm, cháo lòng, v.v. và nghe chuyện thời sự.

Cùng với các bạn trong Hội Đau TPHCM. Từ trái qua phải: PGS Võ Văn Thành, PGS Nguyễn Thi Hùng, tôi, PGS Hàn Quốc, PGS Lê Anh Thư và PGS Vân Anh. Hôm đó tôi nói về hiệu ứng placebo và nocebo. Đây là hội nghị mà anh Hùng là ‘chủ xị’.

Hình chụp nhân dịp tôi dự lễ kỉ niệm 5 năm ngày thành lập Viện y học Đinh Tiên Hoàng ngoài Hà Nội. Tôi là thành viên tư vấn cho Viện. Hôm đó thật là vui. Viện này do Ts Nguyễn Thị Thanh Hương, cựu học trò tôi ở Viện Karolinska (Thuỵ Điển), thành lập.

Hình chụp nhân dịp Bs Nguyễn Đình Nguyên tốt nghiệp tiến sĩ hạng xuất sắc và chiếm luôn giải thưởng Luận án Tiến sĩ Xuất sắc của Viện Garvan. Ở Viện Garvan chỉ có 2 người Việt có danh dự này: Nguyên và tôi, cả hai đều họ Nguyễn 🙂

Hình chụp nhân ngày tốt nghiệp PhD của Phương Thảo (dân Hà Tĩnh, cũng là một học trò xuất sắc). Người đứng giữa là Hà, làm trong lab tôi. Tôi có viết một note ghi lại cảm tưởng của “kẻ đưa đò.”
Đây là Mai Thị Hà (người từng làm trong lab tôi chừng 1 năm) trong ngày cưới của cháu ở Nam Định. Chiều đó tôi đi công tác ở Hà Nội, và phải đón xe về Nam Định để dự đám cưới của Hà. Tôi rất thương nó, nhỏ tuổi hơn con tôi, nhưng vất vả và bôn ba hơn nhiều con tôi nhiều. Tôi xem nó như là một người Việt tiêu biểu: cực khổ, phấn đấu vươn lên, thông minh. Ngày tôi phỏng vấn nó và nói rằng sẽ nhận nó vào làm việc trong lab, nó ra ngoài khóc, làm tôi hoảng vì tưởng mình đã nói gì xúc phạm. Hoá ra, nó nói từ ngày sang Úc đến nay nó được đối xử tử tế. Trời!

Hình chụp nhân lễ tốt nghiệp tiến sĩ của Hồ Lê Phương ThảoDaniela Tesorioro (học trò tôi) người được trao bằng cử nhân hạng danh dự số 1.

Phương Thảo được trao giải thưởng Young Investigator Award của ASBMR (Mĩ) năm 2017.

Đây là ‘Đồng chí’ Bs Thái Viết Tặng (người cầm bó bông) nhân dịp lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tặng là đồng hương Kiên Giang với tôi và cũng là người tôi hướng dẫn luận án. Đêm đó, sau buổi lễ tốt nghiệp, cả ‘đám’ Kiên Giang kéo nhau đi nhậu ở Hà Đông. Thiệt là vui. May phước tôi không xỉn để còn chuẩn bị cho 3 ngày giảng sau đó.

Đây là Phạm Nữ Hạnh Vân trong buổi lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tôi và Gs Nguyễn Thanh Bình (bên phải) là người hướng dẫn luận án cho Hạnh Vân. Chiều đó, sau buổi lễ bảo vệ luận án là phu quân của Hạnh Vân kéo cả nhóm ra một nhà hàng ở Hà Nội ăn uống, có dịp gặp nhiều bạn khác. Tôi phải ghi thêm một thông tin vui vui là hễ Hạnh Vân đi dự hội nghị hay nói chuyện thì ai cũng nói ‘Ui, người đâu mà xinh thế’ mà không chịu nghe cô ấy nói. 🙂 Theo tôi thấy, Hạnh Vân là người rất khéo nói, hiền lành, lễ phép, và tinh tế, đúng với chất người con gái Bắc như Phạm Duy hay mô tả.

Thời thập biên 1980s tôi có tổ chức lớp dạy học cho mấy em học sinh Việt Nam sắp thi tú tài II ở Sydney. Trường tiểu học Bass Hill cho mượn phòng, nên tôi tổ chức nhiều lớp cho các em ấy (đúng ra là con cháu). Có hàng trăm em đã học từ lớp học này và nay đã là kĩ sư, bác sĩ, luật sư, v.v. Nhiều khi mấy em ấy gặp tôi trên xe lửa và tới chào, chớ tôi cũng không nhớ hết mấy em ấy. Tôi xem đây là một đóng góp cho cộng đồng làm tôi nhớ mãi trong đời.

Đây là Giáo sư Donald McNeil, người đã cho tôi cơ hội theo học tại Đại học Macquarie. Thầy là người rất tốt bụng với dân tị nạn. Có người chẳng có giấy tờ gì, nhưng chỉ qua phỏng vấn là thầy cho vào học. Tôi nhớ ơn thầy McNeil suốt đời. Ngày Thầy về hưu, tôi đến nói lời chia vui mà ai cũng rơm rớm nước mắt.

Giáo sư Barry Marhsall (Giải Nobel 2005) chụp hình nhân dịp lễ induction các Fellow của Viện hàn lâm y học. Giáo sư Marshall là người được bầu vào Viện trước tôi 3 năm.
Từ trái sang phải: Giáo sư John Eisman (mentor của tôi, người vào đại học năm 15 tuổi); Giáo sư Peter Croucher (nay là Phó viện trưởng Viện Garvan); Giáo sư John Hewson (từng là Lãnh tụ Đảng Tự Do của Úc). Hình này chụp nhân dịp buổi lễ khai mạc Sáng kiến Osteoporosis Australia mà tôi đóng góp một phần.
Giáo sư Bruce Robinson (giữa, cựu Khoa trưởng Khoa Y, Đại học Sydney) và Giáo sư Bruce Robinson (cùng tên, ở ĐH Melbourne). Hai người này cùng được bầu vào Viện hàn lâm y học cùng năm với tôi. Khoa trưởng Robinson là người bạn rất thân thiết với bao thế hệ sinh viên Việt Nam.
Đây là Bs Marilyn Rob, Giám đốc trung tâm Epidemiology and Planning của Bộ Y tế NSW, người dạy tôi về dịch tễ học và làm cho tôi đam mê nghiên cứu. Marilyn có bằng tiến sĩ về thống kê học nữa, còn ông chồng lúc đó làm cho IBM. Tôi coi Marilyn như bà chị cả, và đứa con đầu lòng của tôi có tên Laurence (là tên con út của Marilyn) để đánh dấu thời mà Marilyn cưu mang tôi suốt 3 năm trời. Nhớ hoài Mariyn lúc nào cũng nói ‘You can do better‘ và khuyến khích tôi tìm cơ hội cao hơn.

Đây là hình chụp lúc tôi tiêu ra 1 tháng ở Viện nghiên cứu Southwest Foundation for Biomedical Research (San Antonio, Texas). Người dạy tôi về genetic linkage analysis là Ts John Blangero (người ngồi đầu bàn), tôi xem anh ta là một thiên tài. Anh ta có mái tóc giống như Isaac Newton! Hôm đó là ngày tiễn tôi về Ohio, nên cả nhóm kéo ra nhậu ở một quán thịt bò mà thực khách tự lấy thịt đem đi nướng và tự lấy bia. Vui ơi là vui!

Hình này tôi chụp với Gs Phạm Song (cựu Bộ trưởng Y tế) trong Hội nghị Strong Bone Asia. Bác ấy nghe tôi nên đến làm quen. Hôm đó, bác ấy nói rất nhiều về tình hình y tế Việt Nam. Sau này Gs Song qua đời.

Hình này tôi thích lắm. Hôm đi dự hội nghị quốc tế về loãng xương ở Denver, tôi nói chuyện xong và ra ngoài thì thấy một em chờ làm quen. Hoá ra em này là postdoc (hậu tiến sĩ) tên là Phạm Thanh Hải đứng gần tôi và một em nghiên cứu sinh (nữ) từ Nhật (bên phải tôi) có tên đặc biệt là Mộc Hà. ‘Tha hương ngộ cố tri’ và thế là chụp mộ bô hình làm kỉ niệm.

Hình này có một câu chuyện rất hay. Hôm đi dự hội nghị loãng xương ở Montreal, tôi đi ra khu phố Á châu để tìm món Việt ăn trưa. Em bồi bàn đến hỏi tôi ăn gì, rồi em hỏi luôn (tiếng Anh) ‘có phải bác là Gs Tuấn’. Tôi kinh ngạc nói phải rồi. Hoá ra em này là nghiên cứu sinh Việt Nam ở Canada, đi làm thêm để kiếm tiền, và em ấy hay đọc những bài ‘tâm tình’ của tôi trên blog và theo dõi bài giảng giúp cho em ấy học tốt hơn. Trời! Không ngờ gặp một người bạn đặc biệt như thế ở đây, và thế là chụp hình lưu niệm.

Tôi hay được mời đi giảng khắp nơi trên thế giới, và trong một lần sang Seoul, các em sinh viên bên đó hay tin, rồi tổ chức một seminar để tôi chia sẻ hành trình từ tiến sĩ thành độc lập ra sao. Xa quê mà gặp đồng hương lúc nào cũng làm tôi xao xuyến. Bức hình này cũng là một kỉ niệm đẹp.

Không nhớ hình này chụp ở đâu (nhưng ngoài Bắc, hình như là ĐH Y Hà Nội) vào năm 2016 sau khi kết thúc một khoá học.

Hình này chụp chung với các nghiên cứu sinh ở UTS (nay có người đã về Việt Nam). Người đứng cao cao là Gs Nguyễn Thế Hùng, lúc đó là Khoa trưởng Khoa Engineering và IT của UTS (chức này rất … lớn). Anh Hùng là người chiêu dụ tôi về hợp tác với UTS cho đến nay. Anh cũng là Giám đốc của Trung tâm Công nghệ Y tế, sau này anh rời UTS, tôi được bổ nhiệm thay anh làm Giám đốc trung tâm này. Thế là hai ông Nguyễn thay phiên nhau lãnh đạo trung tâm. Trung tâm này có chừng 56 người, kể cả 20 GS và PGS. Quản lí một trung tâm như thế rất … mệt.

Hình này chụp nhân dịp buổi liên hoan sau hội nghị nội tiết học ở Seoul. Trong hình là các giáo sư trẻ Hàn Quốc và vài giáo sư ‘già’. Họ rất ưu ái đòi tôi phải đến dự để các bạn trẻ hỏi han (có lẽ cách họ ngoại giao vì tôi làm editor cho các tập san loãng xương). Hoá ra, các giáo sư trẻ không được ngồi cùng bàn với các giáo sư ‘già’; họ chỉ được đến chụp hình chung. Tôi nghĩ thầm ‘Trời, sao mà phân chia vai vế thế.’

Ở Việt Nam tôi có những người bạn và học trò rất thân thiết. Tiêu biểu là em này (Bs Hà Tấn Đức) sau này học tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của tôi. Bs Đức là dân Cần Thơ, gần Kiên Giang. Hôm tôi về quê dưỡng bệnh, Đức đi xe đò lên thăm tôi. Ở dưới quê thì chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là có gà, cá, rau cỏ, v.v.đủ thứ để nhậu. Tôi lấy chai Martel chắc cũng 20 năm ra đãi. Chai này tôi mua cho Ba tôi uống, nhưng cho đến ngày qua đời ông không uống mà để trong tủ cả 20 năm trời. Ngon ơi là ngon.

Bs Đức, Bs Trần Sơn Thạch (trong hình) là hai người bạn đã cùng tôi rong ruổi khắp nước để ‘rao giảng’ về nghiên cứu khoa học. Tôi hay nói đùa là ba chúng ta là một gánh hát cải lương. Hình này chụp ở Atlanta (?) Mĩ trong lúc đang chờ máy bay về Sydney, còn tôi thì về Little Saigon ở California.

Hình này chụp nhân dịp bế mạc khoá học phân tích dữ liệu ở Kiên Giang. Trong hình là Bs Hồ Xuân Tuấn (ĐH Đà Nẵng) thay mặt học viên từ mọi miền đất nước về dự phát biểu cảm tưởng. Tôi và Tuấn quen nhau từ đó, vì tôi thích cái tánh hài hước đặc sệt dân xứ Quảng. Tuấn mới tốt nghiệp tiến sĩ y học từ Đức, và tôi tự hào có giúp đỡ một phần trong việc học hành và nghiên cứu của em ấy.

Tôi rất ít có dịp ăn Tết ở Việt Nam. Nhưng năm 2007 tôi có dịp đó. Lúc đó Kiên Giang tổ chức Tết cho ‘kiều bào’ và các nhà đầu tư nước ngoài đang làm việc ở Kiên Giang. Anh Ts Đởm (Giám đốc Bệnh viện Kiên Giang) rủ tôi đi ăn Tết ngoài Rạch Giá cho vui, và thế là tôi phóng xa đi ngay. Trong buổi lễ có một ông người Úc đang đầu tư ở Kiên Giang, ổng chúc Tết, và anh Đởm kêu tôi lên làm thông dịch. Ừ, làm thì làm. Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho ông đồng hương Úc.

Hôm đó, tôi còn trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình địa phương (Kiên Giang) vì các bạn ấy xem tôi là một ‘người con Kiên Giang thành đạt’. Tôi nhớ có nói rằng Kiên Giang đáng lí ra phát triển nhanh hơn và mạnh hơn các tỉnh khác (tôi không nói tỉnh nào) và đưa ra vài con số chứng minh. Chị phóng viên thích lắm và nói sẽ phát hình đêm nay. Tôi gọi điện về nhà báo tin cho mấy đứa em ‘Tối nay tụi bậy coi tao trên đài truyền hình.’ Báo hại tụi nó và bà con chờ xem bản tin tối của đài, nhưng chờ hoài không thấy mặt mũi tôi đâu. Hoá ra, có người cao cấp không hài lòng với câu nói của tôi nên nói lịch sự là ‘chưa đúng dịp để phát hình.’

Tôi có nhiều bạn ở trong nước, kể cả Hà Nội, và họ quí tôi. Lâu lâu mới có dịp gặp một buổi. Trong hình là (từ trái sang phải): Ts Giáp Văn Dương, Ts Quyền Đình Thi, tôi, và Ts Nguyễn Việt Hùng. Hình này chụp trong một nhà hàng nhỏ rất dễ thương ở giữa phố cổ Hà Nội.

Hình này tôi chụp lúc tham dự buổi lễ trao giải Alexandre Yersin ở Khách sạn Oscar. Anh bên cạnh là Bs Nguyễn Quan Vinh, Chủ tịch Hội y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình chụp lúc chuẩn bị khai mạc lễ trao giải thưởng.

Phái đoàn ĐH Quốc Gia TPHCM sang thăm chúng tôi ở Viện Garvan, 12/2016. Trong hình là Phạm Mỹ Hạnh (học trò PhD trong lab tôi), Ts Nguyễn Đức Nghĩa (Phó Giám đốc ĐHQG-HCM), Gs Đặng Vạn Phước (Khoa trưởng Khoa Y ĐHQG-HCM), Ts Nguyễn Thị Thanh Kiều (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM), PGS Lê Văn Quang (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM)

Tôi có nhiều bạn tị nạn ở California. Năm nào qua đó cũng đều gặp nhau, hàn huyên tâm sự. Trong hình là (từ trái qua phải) anh kí giả của Người Việt (tôi quên tên), Gs Lê Xuân Khoa (cựu Phó gíam đốc Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH), Bs Ngô Thế Vinh (nổi tiếng với cuốn ‘Cửu long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’) và Kĩ sư Phạm Phan Long trong nhóm Vietecology. Người chụp hình là Kĩ sư Ngô Minh Triết, người hay chở tôi đi đây đó gặp bạn bè. Tất cả họ đều đau đáu nghĩ về Việt Nam.

Bạn văn nghệ ở Sài Gòn. Người bên trái là một kí giả nổi tiếng trong làng báo Việt Nam Đoàn Khắc Xuyên. Người bên phải là người mà sau này tôi mới biết là Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của những ca khúc rất hay.

Hình này chụp nhân dịp tôi ghé Đại học Hoa Sen nói chuyện về công bố khoa học. Bên trái là Ts Bùi Trân Phượng (hiệu trưởng) và bên phải là Ts Phạm Thị Ly (hiệu phó). Đại học Hoa Sen đã thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua.

Đây là con đường nhà tôi ở lúc tôi sang Ohio nhận chức Associate Professor of Medicine của WSU vào cuối thập niên 1990s. Con đường này vào mùa thu nó đẹp ơi là đẹp!

Chiếc xe ‘huyền thoại’ Honda Civic của tôi ở Ohio trong mùa đông, tuyết đóng đầy hết xa và bãi đậu xe. Tôi yêu con ‘tuấn mã’ này lắm. Cứ cuối tuần tôi phóng xe lên Columbus gặp bạn bè tán dóc và nhậu nhẹt. Tôi nhớ anh Thành (tiến sĩ Lê Thiết Thành) và chị Lan quá.

Có năm tôi được mời sang làm ‘thanh tra’ trung tâm nghiên cứu cơ xương khớp của Đại học King Abdulaziz University (KAU), Saudi Arabia. Đó cũng là lần đầu tiên từ ngày cha sanh mẹ đẻ tôi được đi máy bay hạng ‘First Class’ của Singapore Airlines. Thích thì dĩ nhiên là thích, nhưng đêm về nằm khách sạn mà ngày xưa là nguyên thủ Hoa Kì từng ở, rồi suy nghĩ thế thái nhân tình: ‘sao mà họ phí thế, chắc là lấy lòng?’

Ở nước ngoài các trung tâm nghiên cứu phải được tổng duyệt mỗi 5 năm, và họ mời người nước ngoài đến làm. Làm thanh tra, nhưng sau này thành cố vấn (advisor) cho trung tâm luôn! Trong hình là ông Gíam đốc KAU trao kỉ niệm chương cho tôi. Tôi sang đây 2 lần, và lần sau cùng thì trung tâm nghiên cứu bị đóng cửa vì họ cho rằng làm ăn không khá. Tiếc ghê.

Ngoài việc chuyên môn, tôi còn viết sách và xuất bản ở Việt Nam. Tôi đã xuất bản được 15 cuốn sách (từ chủ đề loãng xương, phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu, cách viết bài báo khoa học, đến sách về trò chuyện khoa học) ở Việt Nam. Có những cuốn được in đi in lại nhiều lần, và cuốn này ‘Cẩm nang nghiên cứu khoa học’ được in lại 5 lần chỉ trong 2 năm xuất bản. Năm 2018, Nhà xuất bản tổ chức buổi ra mắt sách ở Đường sách Sài Gòn, và tôi có dịp trò chuyện trực tiếp cùng khoảng 50 người đến nghe.

Tôi có nhiều bằng khen từ Việt Nam, và đây là bằng khen của Hội Y học TPHCM.

Bằng khen từ Hội loãng xương TPHCM. Bằng khen này được Gs Trần Ngọc Ân (Chủ tịch Hội Loãng xương Hà Nội) trao trong Hội nghị loãng xương ở Nha Trang. Tôi nhớ mãi thầy Ân nói: “Giáo sư Tuấn là người vô cùng tâm huyết với quê hương, điều đó không thể nghi ngờ được. Nhưng Gs Tuấn còn là một nhà trí thức với nhiều ý kiến về đủ thứ vấn đề trên báo chí chính thống, có nhiều ý kiến rất hay …” Rồi thầy ngưng một chút, rồi nói tiếp “Nhưng cũng có vài ý kiến cần … bàn thêm“. Cả Hội nghị 400 người cười ầm lên. Thầy đúng là dân Hà Nội, rất khéo nói.

Bằng khen của Đại học Quốc gia TPHCM nhân dịp tôi ghé đó giản trong 2 workshops 5 ngày.

Tôi nói chuyện về y học thực chứng ở Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình 2 lần. Đây là lần đầu (2005), lúc đó Bs Võ Thành Phụng là Phó Giám Đốc và Bs Trần Thanh Mỹ là Giám Đốc. Sau này, anh Phụng và tôi tổ chức Hội nghị quốc tế về loãng xương ở Sài Gòn rất thành công. Anh ấy là người miền Tây nhưng học trường Tây và nói tiếng Pháp rất thông thạo, thích … hủ tíu Mỹ Tho. Anh Phụng là đồng môn với Bs Ngô Thế Vinh (tác giả cuốn sách nổi tiếng ‘Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’), cũng là một người bạn vong niên của tôi. Sau này anh ấy qua đời đột ngột làm tôi kinh ngạc.

Giải thưởng ‘Sách Hay’ (cuốn ‘Đi vào nghiên cứu khoa học‘) của Viện IRED và nhóm Sách Hay.

Bằng khen do báo Vietnamnet trao tặng. Giải thưởng này chỉ tồn tại 3 năm thì phải, và sau đó thì ngưng. Chẳng hiểu sao ngưng, nhưng với tôi thì đây cũng là một kỉ niệm vui và có ý nghĩa.

Tôi làm Chair Hội đồng chấm giải thưởng Alexandre Yersin cho Hiệp hội Y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình này chụp vào năm 2017 (?) là lần phát giải thưởng đầu tiên ở Sài Gòn.

Đây là Bác sĩ Nga (bên trái, đã nghỉ hưu) và Thuận, cả hai đều là bạn học thời tiểu học trpng quê. Nga là con bác Hai Trắc, chủ tiệm bán thuốc Bắc dưới quê, còn Thuận là con cô Danh và chú Hiền (dân miền Trung và em nuôi của ba tôi). Hình này chụp nhân dịp đám cưới của thằng cháu tôi được tổ chức ở Rạch Giá. Đây là tấm hình tôi thích nhứt và có lẽ rất khó có dịp chụp cùng hai người bạn này.

Đây là Thuận (bên phải) và em Út tôi. Hình này chụp vào năm 1990s nhân dịp lần đầu tôi về Việt Nam thăm nhà. Em út tôi là học trò của Thuận (nên hai cô trò ngồi gần nhau). Tôi gọi má Thuận là cô Danh và ba Thuận là chú Hiền. Thuận là bạn học thời tiểu học, rất hiền lành và nhu mì (đến nay vẫn vậy), sau này mở tiệm may nổi tiếng nối nghiệp cô Danh. Thời sau 1975 khi tôi ‘thất chí’ về quê thì Thuận là người được Má tôi nhắc nhiều nhứt như là một ‘ứng viên’. Sau này, mỗi lần vế quê và có cái áo nào khó sửa, tôi sai thằng cháu đem cho cô Thuận sửa. Có lần thằng cháu nói sao đó, bị cô Thuận mắng cho ‘Cậu mày là ai mà kêu tao phải làm trong 1 ngày? Dẹp.’

Đây là những người hàng xóm người Khmer của tôi. Cả ba người và Má tôi (ngồi mép trái) nay đã về bên kia thế giới. Hồi còn nhỏ, tôi hay la cà sang nhà hàng xóm kiếm bánh ống và cốm dẹp ăn :).

Đây là anh Ba Đen (bà Nội anh ấy là chị bà Ngoại tôi) và gia đình chụp vào năm 1992 (?) Anh Ba là bạn học thời tiểu học của tôi. Lúc đó Việt Nam còn nghèo lắm, và anh Ba cũng không ngoại lệ. Bây giờ thì anh khá hơn nhiều rồi.

Anh chàng này bắt được một con cá bự. Ảnh nhứt quyết đòi tôi chụp một tấm hình cho ảnh làm kỉ niệm. Giờ này thì ảnh đã có vợ con và đi làm ngoài Rạch Giá rồi.

Đây là hình chụp nhân dịp tôi về quê và thăm anh Ba Đen ở Kinh Lô Bích vào năm 2015 (?). Bây giờ anh ấy khá lắm, nhưng con cái đều đi lập nghiệp ngoài thị thành. Nhà anh ấy cây trái xanh tươi, mát mẻ. Nghe tin tôi ghé thăm anh ấy hét bọn nhỏ đi bắt cá sau hè và làm gà, rồi hú bạn bẹ chòm xóm (cũng là bà con thôi) đến … nhậu. Đây là một kỉ niệm tôi không thể nào quên.

Miền quê tôi ngày nay. Trước đây, con lộ này chỉ làm bằng đất, đến mùa mưa thì lầy lội lắm, học trò đi học rất khổ. Sau 46 năm thống nhứt đất nước giờ cũng kha khá hơn thời tôi ra đi (1980s), con lộ được tráng xi măng và mấy cháu bây giờ đi học bằng xe đạp (ngon lành hơn thời của tôi vào thập niên 1960s). Tuy nhiên, làng quê vẫn nghèo lắm so với các nước như Thái Lan và Mã Lai.

Con chó lúc nào cũng chờ tôi về. Hình này chụp lúc nó đã 12 tuổi rồi, mắt hơi yếu, nhưng nó vẫn vui vẻ đón tôi về. Sau vài chục năm thì mảnh đất và căn nhà của Ba Má tôi để lại đã được tân trang. Hồi xưa, tôi hay móc võng bên cây mít vừa đọc sách, vừa nghe cải lương phát ra từ nhà anh Hai bên bờ sông và ngủ trưa … Tôi gọi đó là những ngày xưa thân ái.

Dòng đời qua hình ảnh

Dưới đây là một số hình ảnh về quãng đời của tôi. Tôi cố gắng sắp xếp hình ảnh theo thứ tự từ Việt Nam sang Úc. Những hình này liên quan đến Ba Má tôi, bà con, hàng xóm ở Việt Nam, những việc tôi làm, những phần thưởng, và kỉ niệm. Có một số hình ảnh người trong nhà không muốn đưa lên. Dĩ nhiên những hình ảnh này không đủ, vì rất rất nhiều hình ảnh thời trước 1975 mất hết do bão lụt và do … ‘nhân tai’. Hình ảnh thời tị nạn chỉ còn vài tấm. Hình thời ở Mĩ cũng rất ít. Chỉ có hình chụp trong thời gian gần đây thì khá phong phú. Xin chia sẻ cùng các bạn để biết qua quãng đời của một refugee như thế nào. Tôi cũng có phiên bản tiếng Anh ở đây.

Đây là căn nhà tôi được sanh ra và lớn lên trong thời niên thiếu. Cái chái bên phải là nhà nuôi gà, heo, sau 1975 trở thành một nguồn kinh tế nuôi cả nhà. Phía bên trái là mấy cây vú sữa, mít, ổi, v.v. Cái sân phía trước là nơi phơi lúa mỗi khi ghe chở lúa trên đồng về. Phía trái nữa (không có trong hình) là nơi để mấy cái máy cày trước 1975 (sau 1975 bị tịch thu rồi … mất luôn).

Phía sau vườn hồi xưa là mương rất nhiều cá. Hồi xưa, hễ có khách tới thăm là chỉ cần ra sau mương câu / hốt vài con cá, cắt vài cọng rau là có bữa ăn đãi khách ngay.
Ba Má tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào năm 1991, lúc đó Ba Má tôi ở tuổi 60s. Ba tôi hi sinh một cánh tay trong một trận đánh ác liệt có tên là ‘Cây Trâm’ (gần Rạch Sỏi ngày nay) thời kháng chiến chống Pháp, sau đó giải ngũ và lập gia đình. Vậy mà Ba tôi tập viết, tập làm ruộng y như người có 2 cánh tay. Sau này, Chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt tù Ba tôi vì nghi là cộng sản (không đi tập kết), nhưng chỉ 3 tháng sau thì thả do không có chứng cớ (thời đó coi vậy mà pháp luật nghiêm minh). Má tôi thì chỉ làm nội trợ, suốt đời chưa bao giờ đi ăn ở nhà hàng vì Má tôi dứt khoát nói ‘ở nhà nấu ngon hơn’. Má tôi chỉ lên Sài Gòn 1 lần, và đó là lần nhập viện sau một cơn đột quị. Ba tôi qua đời ngày 22/2/2004, thọ 81 tuổi. Bốn năm sau Má tôi cũng qua đời (17/7/2008, thọ 80 tuổi) sau một cơn đột quị.

Hình này là Bé Thuận, con lớn của em gái tôi, nó gọi tôi bằng cậu. Hình này chụp lúc nó còn nhỏ ở dưới quê. Nay đã là công chức và có 2 con hiện ở Rạch Giá. Hồi Ba tôi còn sống rất thương nó vì nó hay sang nhổ râu cho ông ngoại và được … cho bánh, tiền. 🙂

Hình này là Bé Thoa, con của em gái út tôi, cũng gọi tôi bằng cậu. Tuy là cháu nhưng nó như là con gái trong nhà ở bên Úc. Nó mới lập gia đình bên Úc. Hình này chụp lúc hai cậu cháu đang trong lounge của Sky Team (phi trường Sydney) chờ máy bay về Việt Nam. Lần đầu tiên vào lounge dành cho hạng business, nên nó chụp hình tùm lum. 🙂

Cháu tôi tên Thuý An, nay đã tốt nghiệp bác sĩ từ ĐHYDTPHCM và công tác ở Bệnh viện ngoài Rạch Giá. Nó là cháu nội của Dì Út tôi. Hồi tôi đi nó chưa ra đời, ngày tôi về lần đầu thì nó đã là thiếu niên. Hôm về quê ăn Tết đầu 2020, chị ấy qua kiếm lì xì. 🙂
Ngoại tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào khoảng cuối thập niên 1980s. Ngoại tôi có tuổi thọ khá tốt (90), nhưng vẫn thua Bà Cố tôi (thọ 102 tuổi). Ông Ngoại tôi qua đời hơi sớm (chẳng biết bịnh gì) nên bà Ngoại là chỗ dựa tinh thần của cả nhà và con cháu.
Anh Hai tôi (Nguyễn Tuấn Khải) nhưng ở nhà thì gọi là “Chỉ”. Anh là ‘ngôi sao’ trong gia đình và dòng họ vì là người đầu tiên trong làng đậu tú tài 2 và tốt nghiệp kĩ sư trước 1975. Sau 1975 anh thất chí và hầu như không làm gì ngoài việc tìm đường ra đi. Anh Hai tôi đi vượt biên ngày 12/2/1981 (tức trước tôi chỉ 2 tháng). Nhưng tất cả 25 người trên tàu đều mất tích. Có lẽ anh Hai tôi đã chìm sâu vào Biển Đông. Má tôi suy sụp một thời gian vì mất anh Hai. Đối với tôi, mất anh Hai là một tổn thương lớn, y như mất Ba Má vậy. Thời còn đi học, anh Hai là tấm gương, là cái đích học tôi nhắm tới.
Mợ Tư tôi lúc sanh tiền. Nghe nói hồi xưa Mợ Tư tôi đẹp nhứt nhì trong làng, làm xiêu lòng Cậu Tư. tôi Không nhớ hình này chụp lúc nào, nhưng tôi nghĩ là đầu thập niên 1990. Cậu Tư tôi mất sớm trong thời chiến tranh, và Mợ Tư phải nuôi một đám con nhỏ (tức em họ tôi). Mợ Tư tôi qua đời cũng cách đây vài năm, ngay trong lúc tôi đang bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng đi Seoul. Tôi không về được để dự đám tang Mợ Tư. Ở dưới quê, dòng họ tôi rất gần nhau, nên mấy người anh em họ rất thân với nhau.

Dì Năm tôi (tức em Má tôi và Cậu Tư). Dì Năm trong nhà nổi tiếng là người nấu ăn ngon, nên hễ trong làng có đám cưới hỏi là Dì Năm được mời đi nấu ăn. Dì Năm là người rất tinh tế, chú ý đến những chi tiết nhỏ (chắc do nấu ăn) và nghiêm khắc. Dì Năm tôi đã qua đời cách đây chừng 8 năm.

Dì Út tôi, như cách gọi, là người thứ út trong gia đình. Dì Út tôi rất hiền lành, không cãi cọ với ai, cũng chẳng làm phiền ai. Chồng Dì Út là dân Quảng Ngãi. Chắc hồi xưa, ông Ngoại tôi thích gả con gái cho dân miền Trung?

Đây là Cậu Ba tôi ngoài Bình Định. Cậu đi tập kết ngoài Bắc và khi về Nam trong thời chiến mang hàm trung tá hay thượng tá (tôi quên, nhưng thời đó cấp tá là oai lắm). Cậu Ba tôi gọi ông Ngoại tôi là Chú. Phải mất hơn 50 năm mới liên lạc được với nhánh gia đình ngoài Trung. Nhớ hoài ngày hai cậu cháu gặp nhau, ổng nói bằng chất giọng Bình Định “Cậu là Bộ đội Cụ Hồ” làm tôi nghĩ thầm “ổng phát biểu lập trường đây, đừng có mà linh tinh.” 🙂 Cậu Ba mới qua đời vài năm trước và thọ 99 tuổi.

Chị Nghĩa (con Cậu Ba tôi), nay làm việc ở Sài Gòn. Chị Nghĩa là người nhắn tin trên đài truyền hình để tìm bà con trong Nam. Cuộc trùng phùng nghe chị ấy kể là ‘trong nước mắt’. Nghe nói khi cậu Ba vào Nam để gặp nhánh trong Nam, gặp Má tôi, Cậu khóc nói “Em tôi đây mà.” Hình này tôi chụp với chị Nghĩa trong một chuyến đi dự hội nghị loãng xương ở Qui Nhơn vào năm 2017 (?)

Hình này tôi chụp cùng các bạn trong trại tị nạn Panatnikhom, Thái Lan vào cuối năm 1981, trước khi tôi lên đường đi định cư ở Úc. Thời ở trại tị nạn, mỗi cái phòng như vậy chứa cả 5-7 người.

Tôi có kể lại hành trình của tôi từ Thái Lan đến Úc trong một bài blog này.

Khi đến Sydney đầu năm 1982, tôi theo học lớp học tiếng Anh, và người bên phải tôi là cô giáo dạy tiếng Anh, người bên trái là một học viên từ Ba Lan. Cô giáo tôi vô cùng duyên dáng và rất thương người tị nạn. Tôi còn nhớ cô ấy hẹn tôi năm 2000 ‘xem người làm gì’, nhưng rất tiếc là cô mất trước đó vài năm. Tôi chỉ học ở đây chừng 1 tháng thì đi xin việc làm. Thời đó, có việc làm và kiếm tiền gởi về bên nhà là ưu tiên số 1, chớ chẳng học hành gì cả.

Đây là hình tôi được việc trong Department of Epidemiology and Planning của Bộ Y tế bang New South Wales. Sau gần 1.5 năm làm phụ bếp trong Bệnh viện St Vincent’s (Sydney) và Khác sạn 5 sao Regent’s, tôi kiếm được việc làm ở Labo Pathology thuộc Bệnh viện Royal North Shore, tối ngày xử lí mẫu máu, nước tiểu, và học luôn PCR nữa. Sau hơn 1 năm tôi tìm được việc làm ở đây (Department of Epidemiology and Planning).

Tôi phải học máy tính và cách viết chương trình bằng Fortran. Hình chụp vào giữa thập niên 1980s. Sau việc này, tôi chuyển về học ở Đại học Sydney trong Bộ môn Dịch tễ học và Thống kê học, đồng thời làm ‘tutor’ (trợ giảng) cho Bộ môn thống kê lí thuyết. Thời đó, làm tutor kiếm khá nhiều tiền và mua được nhà.

Đây là hình tôi chụp trong labo nghiên cứu của Viện Garvan. Không nhớ năm nào (chắc 1990s) nhưng đó là thời … trung niên. Mấy cái ‘red book’ là bao nhiêu thông tin thí nghiệm. Cái không gian này tuy nhỏ vậy, nhưng là nơi tôi có nhiều đóng góp cho chuyên ngành loãng xương. Tôi viết luận án cũng tại đây. Nay thì chỗ này đã phá đi để xây lại labo ngon lành hơn (như hình dưới đây).

Sau này Viện Garvan có lab khang trang hơn, và hình này chụp trong lab, lầu 5, nơi thời đó còn làm PCR cho từng gen. Sau này thì việc làm đó là … kinh điển (chẳng ai làm nữa), và đa số đều gởi ra ngoài làm rẻ hơn.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp ở Đại học Macquarie vào năm 1985 (?) Thời đó mới qua, ‘tậu’ được một bộ veston xịn, nhưng còn chưa biết qui ước mặc veston sao cho đúng điệu. Kể ra thì cũng là một kinh nghiệm vậy.
Labo nghiên cứu cơ xương do tôi sáng lập tại ĐH Tôn Đức Thắng do Bs Thục Lan làm codirector. Trong hình là các em bác sĩ đang đo lường và phỏng vấn tình nguyện viên trong Dự án Vietnam Osteoporosis Study.

Hình này là lúc tôi nhận testamur từ Viện trưởng Michael Kirby (lúc đó là Chánh án toà án tối cao của Úc). Tôi nhớ khi trao bằng, ông ấy nói “You are a remarkable refugee“. Chỉ là cách nói ngoại giao thôi – tôi nghĩ vậy.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp. Từ trái sang phải: em gái tôi, bà xã, Gs Donald McNeil và anh tôi. Thời đó, Đại học Macquarie được mệnh danh là của kẻ giàu, vì toạ lạc ở miền Bắc Sydney. Tuy vậy, nhưng phòng ốc và building có vẻ cổ kính lắm. Sau 30 năm quay lại, tôi không nhận ra nơi mình từng theo học nữa vì có quá nhiều building và có luôn Khoa Y nữa.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp từ Đại học New South Wales (nay là “UNSW Sydney”) năm 1997. Tôi theo học ở đây từ 1993 đến 1997, và trong thời gian này tôi công bố được 14 công trình. Nhiều khi nghĩ lại tôi không thể nào tưởng tượng mình đã ‘làm việc như trâu’, miệt mài ngày đêm, không phải vì số lượng mà vì muốn công bố trước. Luận án của tôi là ‘Contributions of Genetic and Environmental Factors to Osteoporotic Fracture‘ và được trao giải thưởng Garvan Best Thesis Award. Chú ý hình này tôi đội nón lục giác (tức dành cho mấy người tốt nghiệp tiến sĩ theo truyền thống Đại học Cambridge), còn hình trên là nón tứ gíac (dành cho những người tốt nghiệp cấp dưới tiến sĩ).

Hình chụp nhân dịp tôi được trao học vị ‘Higher Doctorate’ D.Sc (2016), làm lễ 2017. Ở Úc và Anh, DSc là học vị cao hơn PhD, chỉ dành cho những người tốt nghiệp PhD ít nhứt 10 năm. Với học vị này, ứng viên không có ghi danh, mà được xét duyệt vòng sơ tuyển, nếu qua thì được ‘admitted’ để nghiên cứu. Tôi được admitted năm 2014 và chánh thức tốt nghiệp năm 2016, với luận án ‘Contributions to Osteoporosis Research’ với 196 bài báo khoa học làm luận án. Garvan có đi một bản tin về sự kiện này. Báo Guardian (Anh) cũng có một bài về tôi.

Bên trái là Trúc (bây giờ là cháu rể tôi), và bên phải là cháu gái tôi mà trong nhà hay gọi là Bé Thoa (nay đã thành hôn với Trúc). Vì tôi không có con gái, nên nó được xem như là con gái trong nhà.

Người tốt nghiệp DSc được đọc tiểu sử (citation) trước khán đài cho sinh viên y khoa và các giáo sư khác. Citation này được Gs Terry Campbell (Phó Khoa Trưởng Khoa Y) đọc trong ngày lễ tốt nghiệp. Tôi là người thứ 33 thuộc Khoa Y của UNSW Sydney được trao học vị này. Video buổi lễ được upload trên Youtube: https://youtu.be/-SNJ5vKlMds

Huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng do Đại học Công nghệ Sydney (UTS). Bản tin phía dưới có hình tôi chụp chung với bà Catherine Livingstone, Viện trưởng (Chancellor) của UTS. Tấm huy chương này được in bằng máy in 3D Printer.

Thư chúc mừng được trao giải Nhà nghiên cứu ngoại hạng kèm theo 5000 đôla. 🙂

Tôi trả lời phỏng vấn nhân dịp được trao huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng UTS 2018). Tôi là người thứ hai được trao huân chương này. Người thứ nhứt là Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, cựu khoa trưởng khoa engineering và IT.

Tôi nói: “My name is Tuan Van Nguyen. And I am a professor of predictive medicine at the School of Biomedical Engineering of UTS. My work is really concerned with the prevention of bone fractures due to osteoporosis or low bone mass. So, osteoporosis and osteoporotic fractures, they both represent a major and substantial public health problem – not just in Australia, but also worldwide. We approached the problem through epidemiological research, genetic research and clinical research, and clinical translation.

We came up with the world’s first algorithm for predicting fracture risk at the individual level. We found that each standard deviation lower in BMD [bone mineral density] actually increased the risk of fracture by two fold. And that particular finding was used as a criteria for the diagnosis of osteoporosis around the world. 

So that’s one of our major contributions. But the thing that’s really rewarding is that after the publication of the model, there were hundreds of studies around the world that tried to validate the model, or were inspired by the idea that patient and doctor alike can use. That’s the most rewarding experience for us.”

Hình chụp đêm liên hoan ăn mừng được UTS trao Huân chuơng. May phước đêm đó không xỉn. 🙂
Tôi được bầu làm Fellow của Hiệp hội loãng xương Hoa Kì (American Society for Bone and Mineral Research – ASBMR) vì những đóng góp họ gọi là ‘distinguished accomplishments‘ trong chuyên ngành loãng xương. Tôi giữ nhiều vai trò có thể nói là trọng trách và leadership trong ASBMR, từ uỷ ban khoa học, uỷ ban xuất bản, editor cho tập san JBMR, v.v. nói chung là đủ thứ việc. Tôi được vinh hạnh là người gốc Việt đầu tiên được bầu làm viện sĩ của ASBMR. Tôi có một cái note về sự kiện quan trọng này.

Hình chụp nhân dịp tôi được bầu làm Fellow (viện sĩ) Viện hàn lâm y học Úc. Người bên trái là Giáo sư Ian Frazer, chủ tịch Viện hàn lâm. Gs Frazer là người khám phá và phát triển vaccine phòng ung thư cổ tử cung. Hôm đó, tôi có hỏi ông là có giúp được gì cho Việt Nam và cần tôi làm trung gian hay không, ông nói đại khái rằng muốn giúp lắm chớ, nhưng hệ thống hành chánh bên đó khó khăn quá nên ông bỏ cuộc.

Hình dưới là những fellow được bầu vào Viện hàn lâm năm 2018 (lễ kết nạp 2019). Tôi được vinh dự là người Việt Nam đầu tiên có mặt trong Viện hàn lâm. Tôi có cái note cám ơn ở đây (tiếng Anh) và Tiếng Việt.

Đây là bài viết kiểu ‘vinh danh’ tôi đã có 25 năm đóng góp cho Viện nghiên cứu Y khoa Garvan.

Hình chụp nhân dịp tôi được trao chức danh Giáo sư Danh dự của Đại học Dược Hà Nội. Người bên trái là Gs Nguyễn Thanh Bình, Hiệu trưởng. Tôi còn là giáo sư danh dự hay giáo sư thỉnh giảng của Đại học Y Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Tôn Đức Thắng. Tôi có một note giải thích chức danh ‘visiting professor‘.

Đây là hình chụp nhân ngày tôi được trao tặng chức danh ‘Distinguished Professor’ của ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU). Người bên phải là Hiệu trưởng Lê Vinh Danh, người đã nói theo tiếng Anh là transform TDTU chỉ trong 10 năm. Di sản của anh Danh phải vài chục năm sau người ta mới ghi nhận. Tôi giúp cho TDTU từ 2015 qua các việc như lập labo nghiên cứu về xương và cơ, chair hội đồng bổ nhiệm chức vụ giáo sư cho TDTU, và tham mưu chiến lược phát triển. Sau này tôi mới biết là trước khi trao chức danh này TDTU đã có ‘peer-review’ từ các giáo sư nổi tiếng bên Úc, Anh, Mĩ, và Canada. Tôi rất thích cách làm đó, nhưng rất tiếc là VN chưa có trường nào làm vậy. Tôi có một note về sự kiện này.

Đây không phải là giải thưởng gì, nhưng vối tôi là một phần thưởng rất có ý nghĩa. Tôi tổ chức và giảng cho mấy chục workshop ở Việt Nam (từ Bắc chí Nam), và số bác sĩ tham dự chắc cỡ vài ngàn. Một hôm tôi nhận lá thư này từ một em bác sĩ da liễu (Ngọc Bích) làm tôi cảm động lắm, và xem đó là phần thưởng qúi báu trong đời.

Đây cũng không phải là giải thưởng gì cả, nhưng với tôi là một phần thưởng qúi lắm. Nhân ngày Nhà giáo gì đó, các em sinh viên ở Úc hùn nhau mua một cây viết Parker (chẳng hiểu sao họ biết tôi thích cây viết này) và kèm theo thiệp chúc với những lời làm tôi cảm động lắm lắm.

Một lần trả lời phỏng vấn cho truyền thông phương Tây. Hình này chụp lúc tôi trả lời báo chí Mĩ nhân tham dự hội nghị ASBMR ở Hawaii. Họ hỏi tôi về một nghiên cứu khá ‘đình đám’ trong hội nghị.


Tôi đi giảng và nói chuyện ở rất nhiều nơi trên thế giới, nhưng hình chụp lưu niệm thì chẳng bao nhiêu. Hình này là do Bs Nguyễn Đình Nguyên chụp nhân một bài nói chuyện ở Canada vào năm 2007.
Hình này chụp lúc tôi nói chuyện trong một hội nghị loãng xương quốc gia ở New Zealand.

Tôi được coi là người đem chuyên ngành loãng xương về Việt Nam. (Báo Sức Khoẻ và Đời sống có một bài về tôi). Nói to tát ghê. Đây là hình chụp lúc tôi tổ chức hội nghị quốc tế về loãng xương lần đầu tiên ở Việt Nam. Từ trái qua phải: Ts Trần Hoàng Ngọc Bích (một trong những học trò xuất sắc cũ tôi), Ts Nguyễn Đình Nguyên (cũng học trò xuất sắc luôn, sau này bỏ nghiên cứu ra làm GP), và Giáo sư John Eisman (thầy tôi). Tấm hình này có thể xem là 2 thế hệ. 🙂

Hình chụp lưu niệm trong Ban tổ chức hội nghị Strong Bone Asia. Hội nghị này đem về cho Hội Y học TPHCM một thu nhập đáng kể để phát triển về sau.

Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho Gs Dương Quang Trung mà tôi gọi thân mật là Chú Tư (lúc đó là Chủ tịch Hội Y học TPHCM). Chú Tư (dân gốc Cà Mau, là dân bên Tây về, cùng thời Bs Phạm Ngọc Thạch bên Pháp) và tôi có biết bao nhiêu kỉ niệm. Chú nói tiếng Pháp khỏi chê, nhưng với tiếng Anh thì chú phải nhờ tôi. Tôi cầm tờ giấy chớ thật ra tôi có đọc gì đâu, tôi chỉ nghe chú ấy nói là tôi dịch ngay. Khi xuống khán đài, chú Tư hỏi “Hồi nãy có câu tôi nói cũng khá dài, sao anh dịch ngắn vậy?” Chú hay gọi tôi bằng ‘Anh’. Tôi giải thích một hồi rồi nói: “Dạ, tiếng Anh nhiều khi nó ngắn chú ơi”. Ổng mỉm cười kiểu nói ‘Thằng này lém lỉnh.” Có lần tôi về VN công tác, chú kéo tôi ra hành lang, hỏi tôi là có phải kí tên vào bản ý kiến gì phải không, tôi nói phải. Rồi chú Tư nói ‘lúc này tôi biết xài internet rồi, tôi đọc nhiều lắm, nhưng anh nên cân nhắc nói những gì cần nói thôi.’ Tôi nghĩ đó là lời khuyên của người biết nhiều trong hệ thống. 🙂

Hội nghị loãng xương Châu Á được tổ chức ở Hong Kong vài năm trước. Nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study chúng tôi chiếm liền 3 giải thuởng! Bên trái là Bs Hồ Phạm Thục Lan, bên phải là Bs Đoàn Công Minh bên poster được trao giải xuất sắc.

Tôi là Chair của Pan Asian Biomedical Science (2018 – 2020). Đây là hội nghị PABS được tổ chức rình rang ở Đà Nẵng. Lúc đó, Gs Trần Văn Nam (Giám đốc ĐH Đà Nẵng) và PGS Nguyễn Đăng Quốc Chấn là người đứng đằng sau ban tổ chức. Tôi chỉ là người ‘bề ngoài’ với khách nước ngoài. Kể từ đó, tôi trở thành một người của Đại học Đà Nẵng.

Tôi chụp hình lưu niệm với các đồng nghiệp Á châu (hình trên) và các bạn trong ban tổ chức ở Đà Nẵng (hình dưới). Tôi xem đây là một đóng góp cho Đại học Đà Nẵng. Người đứng bên phải có tên rất hay là ‘Hằng Nga’, là tiến sĩ từ Tây về, còn người đẹp gái bên cạnh Hằng Nga là Oanh; hai người này gíup tôi rất nhiều trong khâu tổ chức.

Ngoài tổ chức hội nghị quốc tế ở Việt Nam, tôi còn tổ chức hàng chục (hay trăm) lớp học lớn nhỏ ở VN trong suốt 25 năm qua. Đây là một lớp học được tổ chức ở Đại học Y Dược TPHCM vào đầu thập niên 2000 do chị Thy Khuê đứng ra làm. Nhiều người trong hình này nay đã là tiến sĩ và phó giáo sư.

Lớp học này cũng được tổ chức ở ĐH Y Dược TPHCM (2006 ?) do chị PGS Nguyễn Thy Khuê tổ chức. Tôi nhớ hoài một ‘incident’ khi tôi đứng giảng và chú ý thấy chị Khuê nghe điện thoại xong có vẻ lo lắng lắm. Mãi đến sau này hỏi mới biết là công an gọi điện hỏi sao lớp học có người nước ngoài mà không xin phép. Chị Khuê nói tôi về hàng năm, hồ sơ đã có trong Sở Y tế và công an rồi, nên không cần xin phép nữa. Họ nói hễ tổ chức lớp học là phải xin phép. May phước họ dzu dzi cho qua.

Bác sĩ Khả Nhi có một bài phỏng vấn tôi về những việc làm bên Việt Nam tại đây.

Một lớp học ở Đại học Tôn Đức Thắng. Nói chung lớp học nào tôi giảng đều thu hút từ 100 đến 250 người từ mọi miền đất nước tham dự. Mỗi khoá học như vậy kéo dài từ 5 – 14 ngày, với rất nhiều bài giảng. Rất vui và hào hứng vì giúp cho nhiều bạn sau này trở thành tiến sĩ và giáo sư.

Khoá học ở Đại học Tôn Đức Thắng lúc nào cũng thu hút hàng trăm học viên từ mọi miền đất nước.
Một lớp học ở Trường Đại học Nha Trang năm 2017 do tôi, Ts Trần Sơn Thạch Ts Hà Tấn Đức phụ trách. Đây là lớp học do anh giám đốc Sở khoa học và công nghệ Khánh Hoà mời. Tôi nhớ hoài khi ngày thứ 4 anh đến nói lời kết thúc lớp học, anh rất ngại vì trước đây đến ngày thứ 2 là học viên chỉ còn vài người thôi. Nhưng khi anh tới, anh kinh ngạc thấy ngày kết thúc khoá học mà số học viên còn đông hơn lúc khai mạc. Anh ấy vui lắm. Sau này chúng tôi còn quay lai 2 lần nữa cũng tại đây.

Tôi là một trong những sáng lập viên Hội loãng xương TPHCM. Chúng tôi tổ chức hội nghị khoa học mỗi năm. Đây là hội nghị được tổ chức ở Đà Lạt vào năm 2018. Hình này tôi chụp cùng ban tổ chức và các bạn đồng nghiệp. Hình này đúng là đầy đủ ‘who is who’ trong bộ lạc loãng xương ở Việt Nam (từ trái qua phải): Bs Huỳnh Văn Khoa (Chợ Rẫy); Bs Nguyễn Văn Hùng (Bạch Mai); Gs Trần Tam (Huế); Gs Nguyễn Hải Thuỷ (Huế); tôi; PGs Lê Anh Thư (Chủ tịch Hội); PGS Trương Văn Việt (Cựu Giám đốc BV Chợ Rẫy); Gs Trần Ngọc Ân (Hà Nội); Bs Linh (Chợ Rẫy, phu nhân của Bs Nguyễn Tri Thức nay là Giám đốc BV Chợ Rẫy); Bs Thục Lan (BV 115); PGs Vũ Thanh Thuỷ (Hà Nội); PGs Vũ Đình Hùng (Quân Y Sài Gòn); PGs Phạm Văn Thanh (Cựu Giám đốc Sở Y tế TPHCM); Gs Nguyễn Tấn Bỉnh (nay là Giám đốc Sở Y tế TPHCM); và PGs Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy).

Hình này cũng được chụp trong hội nghị loãng xương được tổ chức ở Quy Nhơn trong trung tâm hội nghị quốc tế của Gs Trần Thanh Vân. Từ trái qua phải: PGS Nguyễn Ngọc Lan (Bạch Mai), PGS Nguyễn Bích Đào (Chợ Rẫy), PGS Lê Anh Thư (chủ tịch Hội), PGS Vũ Đình Hùng (Quân Y), phu nhân Gs Trần Thanh Vân, PGS Đỗ Thị Ngọc Diệp (Dinh dưỡng), tôi, PGS Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy), Ts Võ Văn Sĩ (Chấn thương Chỉnh hình) người mà tôi rất khoái vì cái tánh Nam bộ.

Hội nghị khoa học thường niên của Hội loãng xương TPHCM tại Tuy Hoà 2017. Trong hình là các thành viên trong nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study. Từ trái sang phải: Bs Minh Châu, Ts Trần Sơn Thạch, Bs Thục Lan, Bs Mai Duy Linh, và Bs Đoàn Công Minh. Năm nào, nhóm này cũng có những đóng góp về nghiên cứu original cho hội nghị.

Cùng các bạn và học viên Đại học Đồng Tháp nhân dịp tôi về đó giảng 3 ngày. Hình này chụp vào năm 2018. Tôi đến đây giảng lần đầu vào năm 2013, và sau đó thì năng suất khoa học (công bố quốc tế) của Trường tăng cao thấy rõ. Thế là các bạn ấy mời tôi quay lại nói chuyện nữa. Tôi thích đi mấy tỉnh miền Tây, một phần vì gần nhà, một phần vì muốn thưởng thức các món ăn miền Tây, thích la cà trong mấy quán bánh tằm, cháo lòng, v.v. và nghe chuyện thời sự.

Cùng với các bạn trong Hội Đau TPHCM. Từ trái qua phải: PGS Võ Văn Thành, PGS Nguyễn Thi Hùng, tôi, PGS Hàn Quốc, PGS Lê Anh Thư và PGS Vân Anh. Hôm đó tôi nói về hiệu ứng placebo và nocebo. Đây là hội nghị mà anh Hùng là ‘chủ xị’.

Hình chụp nhân dịp tôi dự lễ kỉ niệm 5 năm ngày thành lập Viện y học Đinh Tiên Hoàng ngoài Hà Nội. Tôi là thành viên tư vấn cho Viện. Hôm đó thật là vui. Viện này do Ts Nguyễn Thị Thanh Hương, cựu học trò tôi ở Viện Karolinska (Thuỵ Điển), thành lập.

Hình chụp nhân dịp Bs Nguyễn Đình Nguyên tốt nghiệp tiến sĩ hạng xuất sắc và chiếm luôn giải thưởng Luận án Tiến sĩ Xuất sắc của Viện Garvan. Ở Viện Garvan chỉ có 2 người Việt có danh dự này: Nguyên và tôi, cả hai đều họ Nguyễn 🙂

Hình chụp nhân ngày tốt nghiệp PhD của Phương Thảo (dân Hà Tĩnh, cũng là một học trò xuất sắc). Người đứng giữa là Hà, làm trong lab tôi. Tôi có viết một note ghi lại cảm tưởng của “kẻ đưa đò.”
Đây là Mai Thị Hà (người từng làm trong lab tôi chừng 1 năm) trong ngày cưới của cháu ở Nam Định. Chiều đó tôi đi công tác ở Hà Nội, và phải đón xe về Nam Định để dự đám cưới của Hà. Tôi rất thương nó, nhỏ tuổi hơn con tôi, nhưng vất vả và bôn ba hơn nhiều con tôi nhiều. Tôi xem nó như là một người Việt tiêu biểu: cực khổ, phấn đấu vươn lên, thông minh. Ngày tôi phỏng vấn nó và nói rằng sẽ nhận nó vào làm việc trong lab, nó ra ngoài khóc, làm tôi hoảng vì tưởng mình đã nói gì xúc phạm. Hoá ra, nó nói từ ngày sang Úc đến nay nó được đối xử tử tế. Trời!

Hình chụp nhân lễ tốt nghiệp tiến sĩ của Hồ Lê Phương ThảoDaniela Tesorioro (học trò tôi) người được trao bằng cử nhân hạng danh dự số 1.

Phương Thảo được trao giải thưởng Young Investigator Award của ASBMR (Mĩ) năm 2017.

Đây là ‘Đồng chí’ Bs Thái Viết Tặng (người cầm bó bông) nhân dịp lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tặng là đồng hương Kiên Giang với tôi và cũng là người tôi hướng dẫn luận án. Đêm đó, sau buổi lễ tốt nghiệp, cả ‘đám’ Kiên Giang kéo nhau đi nhậu ở Hà Đông. Thiệt là vui. May phước tôi không xỉn để còn chuẩn bị cho 3 ngày giảng sau đó.

Đây là Phạm Nữ Hạnh Vân trong buổi lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tôi và Gs Nguyễn Thanh Bình (bên phải) là người hướng dẫn luận án cho Hạnh Vân. Chiều đó, sau buổi lễ bảo vệ luận án là phu quân của Hạnh Vân kéo cả nhóm ra một nhà hàng ở Hà Nội ăn uống, có dịp gặp nhiều bạn khác. Tôi phải ghi thêm một thông tin vui vui là hễ Hạnh Vân đi dự hội nghị hay nói chuyện thì ai cũng nói ‘Ui, người đâu mà xinh thế’ mà không chịu nghe cô ấy nói. 🙂 Theo tôi thấy, Hạnh Vân là người rất khéo nói, hiền lành, lễ phép, và tinh tế, đúng với chất người con gái Bắc như Phạm Duy hay mô tả.

Thời thập biên 1980s tôi có tổ chức lớp dạy học cho mấy em học sinh Việt Nam sắp thi tú tài II ở Sydney. Trường tiểu học Bass Hill cho mượn phòng, nên tôi tổ chức nhiều lớp cho các em ấy (đúng ra là con cháu). Có hàng trăm em đã học từ lớp học này và nay đã là kĩ sư, bác sĩ, luật sư, v.v. Nhiều khi mấy em ấy gặp tôi trên xe lửa và tới chào, chớ tôi cũng không nhớ hết mấy em ấy. Tôi xem đây là một đóng góp cho cộng đồng làm tôi nhớ mãi trong đời.

Đây là Giáo sư Donald McNeil, người đã cho tôi cơ hội theo học tại Đại học Macquarie. Thầy là người rất tốt bụng với dân tị nạn. Có người chẳng có giấy tờ gì, nhưng chỉ qua phỏng vấn là thầy cho vào học. Tôi nhớ ơn thầy McNeil suốt đời. Ngày Thầy về hưu, tôi đến nói lời chia vui mà ai cũng rơm rớm nước mắt.

Giáo sư Barry Marhsall (Giải Nobel 2005) chụp hình nhân dịp lễ induction các Fellow của Viện hàn lâm y học. Giáo sư Marshall là người được bầu vào Viện trước tôi 3 năm.
Từ trái sang phải: Giáo sư John Eisman (mentor của tôi, người vào đại học năm 15 tuổi); Giáo sư Peter Croucher (nay là Phó viện trưởng Viện Garvan); Giáo sư John Hewson (từng là Lãnh tụ Đảng Tự Do của Úc). Hình này chụp nhân dịp buổi lễ khai mạc Sáng kiến Osteoporosis Australia mà tôi đóng góp một phần.
Giáo sư Bruce Robinson (giữa, cựu Khoa trưởng Khoa Y, Đại học Sydney) và Giáo sư Bruce Robinson (cùng tên, ở ĐH Melbourne). Hai người này cùng được bầu vào Viện hàn lâm y học cùng năm với tôi. Khoa trưởng Robinson là người bạn rất thân thiết với bao thế hệ sinh viên Việt Nam.
Đây là Bs Marilyn Rob, Giám đốc trung tâm Epidemiology and Planning của Bộ Y tế NSW, người dạy tôi về dịch tễ học và làm cho tôi đam mê nghiên cứu. Marilyn có bằng tiến sĩ về thống kê học nữa, còn ông chồng lúc đó làm cho IBM. Tôi coi Marilyn như bà chị cả, và đứa con đầu lòng của tôi có tên Laurence (là tên con út của Marilyn) để đánh dấu thời mà Marilyn cưu mang tôi suốt 3 năm trời. Nhớ hoài Mariyn lúc nào cũng nói ‘You can do better‘ và khuyến khích tôi tìm cơ hội cao hơn.

Đây là hình chụp lúc tôi tiêu ra 1 tháng ở Viện nghiên cứu Southwest Foundation for Biomedical Research (San Antonio, Texas). Người dạy tôi về genetic linkage analysis là Ts John Blangero (người ngồi đầu bàn), tôi xem anh ta là một thiên tài. Anh ta có mái tóc giống như Isaac Newton! Hôm đó là ngày tiễn tôi về Ohio, nên cả nhóm kéo ra nhậu ở một quán thịt bò mà thực khách tự lấy thịt đem đi nướng và tự lấy bia. Vui ơi là vui!

Hình này tôi chụp với Gs Phạm Song (cựu Bộ trưởng Y tế) trong Hội nghị Strong Bone Asia. Bác ấy nghe tôi nên đến làm quen. Hôm đó, bác ấy nói rất nhiều về tình hình y tế Việt Nam. Sau này Gs Song qua đời.

Hình này tôi thích lắm. Hôm đi dự hội nghị quốc tế về loãng xương ở Denver, tôi nói chuyện xong và ra ngoài thì thấy một em chờ làm quen. Hoá ra em này là postdoc (hậu tiến sĩ) tên là Phạm Thanh Hải đứng gần tôi và một em nghiên cứu sinh (nữ) từ Nhật (bên phải tôi) có tên đặc biệt là Mộc Hà. ‘Tha hương ngộ cố tri’ và thế là chụp mộ bô hình làm kỉ niệm.

Hình này có một câu chuyện rất hay. Hôm đi dự hội nghị loãng xương ở Montreal, tôi đi ra khu phố Á châu để tìm món Việt ăn trưa. Em bồi bàn đến hỏi tôi ăn gì, rồi em hỏi luôn (tiếng Anh) ‘có phải bác là Gs Tuấn’. Tôi kinh ngạc nói phải rồi. Hoá ra em này là nghiên cứu sinh Việt Nam ở Canada, đi làm thêm để kiếm tiền, và em ấy hay đọc những bài ‘tâm tình’ của tôi trên blog và theo dõi bài giảng giúp cho em ấy học tốt hơn. Trời! Không ngờ gặp một người bạn đặc biệt như thế ở đây, và thế là chụp hình lưu niệm.

Tôi hay được mời đi giảng khắp nơi trên thế giới, và trong một lần sang Seoul, các em sinh viên bên đó hay tin, rồi tổ chức một seminar để tôi chia sẻ hành trình từ tiến sĩ thành độc lập ra sao. Xa quê mà gặp đồng hương lúc nào cũng làm tôi xao xuyến. Bức hình này cũng là một kỉ niệm đẹp.

Không nhớ hình này chụp ở đâu (nhưng ngoài Bắc, hình như là ĐH Y Hà Nội) vào năm 2016 sau khi kết thúc một khoá học.

Hình này chụp chung với các nghiên cứu sinh ở UTS (nay có người đã về Việt Nam). Người đứng cao cao là Gs Nguyễn Thế Hùng, lúc đó là Khoa trưởng Khoa Engineering và IT của UTS (chức này rất … lớn). Anh Hùng là người chiêu dụ tôi về hợp tác với UTS cho đến nay. Anh cũng là Giám đốc của Trung tâm Công nghệ Y tế, sau này anh rời UTS, tôi được bổ nhiệm thay anh làm Giám đốc trung tâm này. Thế là hai ông Nguyễn thay phiên nhau lãnh đạo trung tâm. Trung tâm này có chừng 56 người, kể cả 20 GS và PGS. Quản lí một trung tâm như thế rất … mệt.

Hình này chụp nhân dịp buổi liên hoan sau hội nghị nội tiết học ở Seoul. Trong hình là các giáo sư trẻ Hàn Quốc và vài giáo sư ‘già’. Họ rất ưu ái đòi tôi phải đến dự để các bạn trẻ hỏi han (có lẽ cách họ ngoại giao vì tôi làm editor cho các tập san loãng xương). Hoá ra, các giáo sư trẻ không được ngồi cùng bàn với các giáo sư ‘già’; họ chỉ được đến chụp hình chung. Tôi nghĩ thầm ‘Trời, sao mà phân chia vai vế thế.’

Ở Việt Nam tôi có những người bạn và học trò rất thân thiết. Tiêu biểu là em này (Bs Hà Tấn Đức) sau này học tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của tôi. Bs Đức là dân Cần Thơ, gần Kiên Giang. Hôm tôi về quê dưỡng bệnh, Đức đi xe đò lên thăm tôi. Ở dưới quê thì chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là có gà, cá, rau cỏ, v.v.đủ thứ để nhậu. Tôi lấy chai Martel chắc cũng 20 năm ra đãi. Chai này tôi mua cho Ba tôi uống, nhưng cho đến ngày qua đời ông không uống mà để trong tủ cả 20 năm trời. Ngon ơi là ngon.

Bs Đức, Bs Trần Sơn Thạch (trong hình) là hai người bạn đã cùng tôi rong ruổi khắp nước để ‘rao giảng’ về nghiên cứu khoa học. Tôi hay nói đùa là ba chúng ta là một gánh hát cải lương. Hình này chụp ở Atlanta (?) Mĩ trong lúc đang chờ máy bay về Sydney, còn tôi thì về Little Saigon ở California.

Hình này chụp nhân dịp bế mạc khoá học phân tích dữ liệu ở Kiên Giang. Trong hình là Bs Hồ Xuân Tuấn (ĐH Đà Nẵng) thay mặt học viên từ mọi miền đất nước về dự phát biểu cảm tưởng. Tôi và Tuấn quen nhau từ đó, vì tôi thích cái tánh hài hước đặc sệt dân xứ Quảng. Tuấn mới tốt nghiệp tiến sĩ y học từ Đức, và tôi tự hào có giúp đỡ một phần trong việc học hành và nghiên cứu của em ấy.

Tôi rất ít có dịp ăn Tết ở Việt Nam. Nhưng năm 2007 tôi có dịp đó. Lúc đó Kiên Giang tổ chức Tết cho ‘kiều bào’ và các nhà đầu tư nước ngoài đang làm việc ở Kiên Giang. Anh Ts Đởm (Giám đốc Bệnh viện Kiên Giang) rủ tôi đi ăn Tết ngoài Rạch Giá cho vui, và thế là tôi phóng xa đi ngay. Trong buổi lễ có một ông người Úc đang đầu tư ở Kiên Giang, ổng chúc Tết, và anh Đởm kêu tôi lên làm thông dịch. Ừ, làm thì làm. Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho ông đồng hương Úc.

Hôm đó, tôi còn trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình địa phương (Kiên Giang) vì các bạn ấy xem tôi là một ‘người con Kiên Giang thành đạt’. Tôi nhớ có nói rằng Kiên Giang đáng lí ra phát triển nhanh hơn và mạnh hơn các tỉnh khác (tôi không nói tỉnh nào) và đưa ra vài con số chứng minh. Chị phóng viên thích lắm và nói sẽ phát hình đêm nay. Tôi gọi điện về nhà báo tin cho mấy đứa em ‘Tối nay tụi bậy coi tao trên đài truyền hình.’ Báo hại tụi nó và bà con chờ xem bản tin tối của đài, nhưng chờ hoài không thấy mặt mũi tôi đâu. Hoá ra, có người cao cấp không hài lòng với câu nói của tôi nên nói lịch sự là ‘chưa đúng dịp để phát hình.’

Tôi có nhiều bạn ở trong nước, kể cả Hà Nội, và họ quí tôi. Lâu lâu mới có dịp gặp một buổi. Trong hình là (từ trái sang phải): Ts Giáp Văn Dương, Ts Quyền Đình Thi, tôi, và Ts Nguyễn Việt Hùng. Hình này chụp trong một nhà hàng nhỏ rất dễ thương ở giữa phố cổ Hà Nội.

Hình này tôi chụp lúc tham dự buổi lễ trao giải Alexandre Yersin ở Khách sạn Oscar. Anh bên cạnh là Bs Nguyễn Quan Vinh, Chủ tịch Hội y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình chụp lúc chuẩn bị khai mạc lễ trao giải thưởng.

Phái đoàn ĐH Quốc Gia TPHCM sang thăm chúng tôi ở Viện Garvan, 12/2016. Trong hình là Phạm Mỹ Hạnh (học trò PhD trong lab tôi), Ts Nguyễn Đức Nghĩa (Phó Giám đốc ĐHQG-HCM), Gs Đặng Vạn Phước (Khoa trưởng Khoa Y ĐHQG-HCM), Ts Nguyễn Thị Thanh Kiều (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM), PGS Lê Văn Quang (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM)

Tôi có nhiều bạn tị nạn ở California. Năm nào qua đó cũng đều gặp nhau, hàn huyên tâm sự. Trong hình là (từ trái qua phải) anh kí giả của Người Việt (tôi quên tên), Gs Lê Xuân Khoa (cựu Phó gíam đốc Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH), Bs Ngô Thế Vinh (nổi tiếng với cuốn ‘Cửu long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’) và Kĩ sư Phạm Phan Long trong nhóm Vietecology. Người chụp hình là Kĩ sư Ngô Minh Triết, người hay chở tôi đi đây đó gặp bạn bè. Tất cả họ đều đau đáu nghĩ về Việt Nam.

Bạn văn nghệ ở Sài Gòn. Người bên trái là một kí giả nổi tiếng trong làng báo Việt Nam Đoàn Khắc Xuyên. Người bên phải là người mà sau này tôi mới biết là Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của những ca khúc rất hay.

Hình này chụp nhân dịp tôi ghé Đại học Hoa Sen nói chuyện về công bố khoa học. Bên trái là Ts Bùi Trân Phượng (hiệu trưởng) và bên phải là Ts Phạm Thị Ly (hiệu phó). Đại học Hoa Sen đã thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua.

Đây là con đường nhà tôi ở lúc tôi sang Ohio nhận chức Associate Professor of Medicine của WSU vào cuối thập niên 1990s. Con đường này vào mùa thu nó đẹp ơi là đẹp!

Chiếc xe ‘huyền thoại’ Honda Civic của tôi ở Ohio trong mùa đông, tuyết đóng đầy hết xa và bãi đậu xe. Tôi yêu con ‘tuấn mã’ này lắm. Cứ cuối tuần tôi phóng xe lên Columbus gặp bạn bè tán dóc và nhậu nhẹt. Tôi nhớ anh Thành (tiến sĩ Lê Thiết Thành) và chị Lan quá.

Có năm tôi được mời sang làm ‘thanh tra’ trung tâm nghiên cứu cơ xương khớp của Đại học King Abdulaziz University (KAU), Saudi Arabia. Đó cũng là lần đầu tiên từ ngày cha sanh mẹ đẻ tôi được đi máy bay hạng ‘First Class’ của Singapore Airlines. Thích thì dĩ nhiên là thích, nhưng đêm về nằm khách sạn mà ngày xưa là nguyên thủ Hoa Kì từng ở, rồi suy nghĩ thế thái nhân tình: ‘sao mà họ phí thế, chắc là lấy lòng?’

Ở nước ngoài các trung tâm nghiên cứu phải được tổng duyệt mỗi 5 năm, và họ mời người nước ngoài đến làm. Làm thanh tra, nhưng sau này thành cố vấn (advisor) cho trung tâm luôn! Trong hình là ông Gíam đốc KAU trao kỉ niệm chương cho tôi. Tôi sang đây 2 lần, và lần sau cùng thì trung tâm nghiên cứu bị đóng cửa vì họ cho rằng làm ăn không khá. Tiếc ghê.

Ngoài việc chuyên môn, tôi còn viết sách và xuất bản ở Việt Nam. Tôi đã xuất bản được 15 cuốn sách (từ chủ đề loãng xương, phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu, cách viết bài báo khoa học, đến sách về trò chuyện khoa học) ở Việt Nam. Có những cuốn được in đi in lại nhiều lần, và cuốn này ‘Cẩm nang nghiên cứu khoa học’ được in lại 5 lần chỉ trong 2 năm xuất bản. Năm 2018, Nhà xuất bản tổ chức buổi ra mắt sách ở Đường sách Sài Gòn, và tôi có dịp trò chuyện trực tiếp cùng khoảng 50 người đến nghe.

Tôi có nhiều bằng khen từ Việt Nam, và đây là bằng khen của Hội Y học TPHCM.

Bằng khen từ Hội loãng xương TPHCM. Bằng khen này được Gs Trần Ngọc Ân (Chủ tịch Hội Loãng xương Hà Nội) trao trong Hội nghị loãng xương ở Nha Trang. Tôi nhớ mãi thầy Ân nói: “Giáo sư Tuấn là người vô cùng tâm huyết với quê hương, điều đó không thể nghi ngờ được. Nhưng Gs Tuấn còn là một nhà trí thức với nhiều ý kiến về đủ thứ vấn đề trên báo chí chính thống, có nhiều ý kiến rất hay …” Rồi thầy ngưng một chút, rồi nói tiếp “Nhưng cũng có vài ý kiến cần … bàn thêm“. Cả Hội nghị 400 người cười ầm lên. Thầy đúng là dân Hà Nội, rất khéo nói.

Bằng khen của Đại học Quốc gia TPHCM nhân dịp tôi ghé đó giản trong 2 workshops 5 ngày.

Tôi nói chuyện về y học thực chứng ở Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình 2 lần. Đây là lần đầu (2005), lúc đó Bs Võ Thành Phụng là Phó Giám Đốc và Bs Trần Thanh Mỹ là Giám Đốc. Sau này, anh Phụng và tôi tổ chức Hội nghị quốc tế về loãng xương ở Sài Gòn rất thành công. Anh ấy là người miền Tây nhưng học trường Tây và nói tiếng Pháp rất thông thạo, thích … hủ tíu Mỹ Tho. Anh Phụng là đồng môn với Bs Ngô Thế Vinh (tác giả cuốn sách nổi tiếng ‘Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’), cũng là một người bạn vong niên của tôi. Sau này anh ấy qua đời đột ngột làm tôi kinh ngạc.

Giải thưởng ‘Sách Hay’ (cuốn ‘Đi vào nghiên cứu khoa học‘) của Viện IRED và nhóm Sách Hay.

Bằng khen do báo Vietnamnet trao tặng. Giải thưởng này chỉ tồn tại 3 năm thì phải, và sau đó thì ngưng. Chẳng hiểu sao ngưng, nhưng với tôi thì đây cũng là một kỉ niệm vui và có ý nghĩa.

Tôi làm Chair Hội đồng chấm giải thưởng Alexandre Yersin cho Hiệp hội Y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình này chụp vào năm 2017 (?) là lần phát giải thưởng đầu tiên ở Sài Gòn.

Đây là Bác sĩ Nga (bên trái, đã nghỉ hưu) và Thuận, cả hai đều là bạn học thời tiểu học trpng quê. Nga là con bác Hai Trắc, chủ tiệm bán thuốc Bắc dưới quê, còn Thuận là con cô Danh và chú Hiền (dân miền Trung và em nuôi của ba tôi). Hình này chụp nhân dịp đám cưới của thằng cháu tôi được tổ chức ở Rạch Giá. Đây là tấm hình tôi thích nhứt và có lẽ rất khó có dịp chụp cùng hai người bạn này.

Đây là Thuận (bên phải) và em Út tôi. Hình này chụp vào năm 1990s nhân dịp lần đầu tôi về Việt Nam thăm nhà. Em út tôi là học trò của Thuận (nên hai cô trò ngồi gần nhau). Tôi gọi má Thuận là cô Danh và ba Thuận là chú Hiền. Thuận là bạn học thời tiểu học, rất hiền lành và nhu mì (đến nay vẫn vậy), sau này mở tiệm may nổi tiếng nối nghiệp cô Danh. Thời sau 1975 khi tôi ‘thất chí’ về quê thì Thuận là người được Má tôi nhắc nhiều nhứt như là một ‘ứng viên’. Sau này, mỗi lần vế quê và có cái áo nào khó sửa, tôi sai thằng cháu đem cho cô Thuận sửa. Có lần thằng cháu nói sao đó, bị cô Thuận mắng cho ‘Cậu mày là ai mà kêu tao phải làm trong 1 ngày? Dẹp.’

Đây là những người hàng xóm người Khmer của tôi. Cả ba người và Má tôi (ngồi mép trái) nay đã về bên kia thế giới. Hồi còn nhỏ, tôi hay la cà sang nhà hàng xóm kiếm bánh ống và cốm dẹp ăn :).

Đây là anh Ba Đen (bà Nội anh ấy là chị bà Ngoại tôi) và gia đình chụp vào năm 1992 (?) Anh Ba là bạn học thời tiểu học của tôi. Lúc đó Việt Nam còn nghèo lắm, và anh Ba cũng không ngoại lệ. Bây giờ thì anh khá hơn nhiều rồi.

Anh chàng này bắt được một con cá bự. Ảnh nhứt quyết đòi tôi chụp một tấm hình cho ảnh làm kỉ niệm. Giờ này thì ảnh đã có vợ con và đi làm ngoài Rạch Giá rồi.

Đây là hình chụp nhân dịp tôi về quê và thăm anh Ba Đen ở Kinh Lô Bích vào năm 2015 (?). Bây giờ anh ấy khá lắm, nhưng con cái đều đi lập nghiệp ngoài thị thành. Nhà anh ấy cây trái xanh tươi, mát mẻ. Nghe tin tôi ghé thăm anh ấy hét bọn nhỏ đi bắt cá sau hè và làm gà, rồi hú bạn bẹ chòm xóm (cũng là bà con thôi) đến … nhậu. Đây là một kỉ niệm tôi không thể nào quên.

Miền quê tôi ngày nay. Trước đây, con lộ này chỉ làm bằng đất, đến mùa mưa thì lầy lội lắm, học trò đi học rất khổ. Sau 46 năm thống nhứt đất nước giờ cũng kha khá hơn thời tôi ra đi (1980s), con lộ được tráng xi măng và mấy cháu bây giờ đi học bằng xe đạp (ngon lành hơn thời của tôi vào thập niên 1960s). Tuy nhiên, làng quê vẫn nghèo lắm so với các nước như Thái Lan và Mã Lai.

Con chó lúc nào cũng chờ tôi về. Hình này chụp lúc nó đã 12 tuổi rồi, mắt hơi yếu, nhưng nó vẫn vui vẻ đón tôi về. Sau vài chục năm thì mảnh đất và căn nhà của Ba Má tôi để lại đã được tân trang. Hồi xưa, tôi hay móc võng bên cây mít vừa đọc sách, vừa nghe cải lương phát ra từ nhà anh Hai bên bờ sông và ngủ trưa … Tôi gọi đó là những ngày xưa thân ái.

Dòng đời qua hình ảnh

Dưới đây là một số hình ảnh về quãng đời của tôi. Tôi cố gắng sắp xếp hình ảnh theo thứ tự từ Việt Nam sang Úc. Những hình này liên quan đến Ba Má tôi, bà con, hàng xóm ở Việt Nam, những việc tôi làm, những phần thưởng, và kỉ niệm. Có một số hình ảnh người trong nhà không muốn đưa lên. Dĩ nhiên những hình ảnh này không đủ, vì rất rất nhiều hình ảnh thời trước 1975 mất hết do bão lụt và do … ‘nhân tai’. Hình ảnh thời tị nạn chỉ còn vài tấm. Hình thời ở Mĩ cũng rất ít. Chỉ có hình chụp trong thời gian gần đây thì khá phong phú. Xin chia sẻ cùng các bạn để biết qua quãng đời của một refugee như thế nào. Tôi cũng có phiên bản tiếng Anh ở đây.

Đây là căn nhà tôi được sanh ra và lớn lên trong thời niên thiếu. Cái chái bên phải là nhà nuôi gà, heo, sau 1975 trở thành một nguồn kinh tế nuôi cả nhà. Phía bên trái là mấy cây vú sữa, mít, ổi, v.v. Cái sân phía trước là nơi phơi lúa mỗi khi ghe chở lúa trên đồng về. Phía trái nữa (không có trong hình) là nơi để mấy cái máy cày trước 1975 (sau 1975 bị tịch thu rồi … mất luôn).

Phía sau vườn hồi xưa là mương rất nhiều cá. Hồi xưa, hễ có khách tới thăm là chỉ cần ra sau mương câu / hốt vài con cá, cắt vài cọng rau là có bữa ăn đãi khách ngay.
Ba Má tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào năm 1991, lúc đó Ba Má tôi ở tuổi 60s. Ba tôi hi sinh một cánh tay trong một trận đánh ác liệt có tên là ‘Cây Trâm’ (gần Rạch Sỏi ngày nay) thời kháng chiến chống Pháp, sau đó giải ngũ và lập gia đình. Vậy mà Ba tôi tập viết, tập làm ruộng y như người có 2 cánh tay. Sau này, Chánh quyền Ngô Đình Diệm bắt tù Ba tôi vì nghi là cộng sản (không đi tập kết), nhưng chỉ 3 tháng sau thì thả do không có chứng cớ (thời đó coi vậy mà pháp luật nghiêm minh). Má tôi thì chỉ làm nội trợ, suốt đời chưa bao giờ đi ăn ở nhà hàng vì Má tôi dứt khoát nói ‘ở nhà nấu ngon hơn’. Má tôi chỉ lên Sài Gòn 1 lần, và đó là lần nhập viện sau một cơn đột quị. Ba tôi qua đời ngày 22/2/2004, thọ 81 tuổi. Bốn năm sau Má tôi cũng qua đời (17/7/2008, thọ 80 tuổi) sau một cơn đột quị.

Hình này là Bé Thuận, con lớn của em gái tôi, nó gọi tôi bằng cậu. Hình này chụp lúc nó còn nhỏ ở dưới quê. Nay đã là công chức và có 2 con hiện ở Rạch Giá. Hồi Ba tôi còn sống rất thương nó vì nó hay sang nhổ râu cho ông ngoại và được … cho bánh, tiền. 🙂

Hình này là Bé Thoa, con của em gái út tôi, cũng gọi tôi bằng cậu. Tuy là cháu nhưng nó như là con gái trong nhà ở bên Úc. Nó mới lập gia đình bên Úc. Hình này chụp lúc hai cậu cháu đang trong lounge của Sky Team (phi trường Sydney) chờ máy bay về Việt Nam. Lần đầu tiên vào lounge dành cho hạng business, nên nó chụp hình tùm lum. 🙂

Cháu tôi tên Thuý An, nay đã tốt nghiệp bác sĩ từ ĐHYDTPHCM và công tác ở Bệnh viện ngoài Rạch Giá. Nó là cháu nội của Dì Út tôi. Hồi tôi đi nó chưa ra đời, ngày tôi về lần đầu thì nó đã là thiếu niên. Hôm về quê ăn Tết đầu 2020, chị ấy qua kiếm lì xì. 🙂
Ngoại tôi lúc sanh tiền. Hình này chụp vào khoảng cuối thập niên 1980s. Ngoại tôi có tuổi thọ khá tốt (90), nhưng vẫn thua Bà Cố tôi (thọ 102 tuổi). Ông Ngoại tôi qua đời hơi sớm (chẳng biết bịnh gì) nên bà Ngoại là chỗ dựa tinh thần của cả nhà và con cháu.
Anh Hai tôi (Nguyễn Tuấn Khải) nhưng ở nhà thì gọi là “Chỉ”. Anh là ‘ngôi sao’ trong gia đình và dòng họ vì là người đầu tiên trong làng đậu tú tài 2 và tốt nghiệp kĩ sư trước 1975. Sau 1975 anh thất chí và hầu như không làm gì ngoài việc tìm đường ra đi. Anh Hai tôi đi vượt biên ngày 12/2/1981 (tức trước tôi chỉ 2 tháng). Nhưng tất cả 25 người trên tàu đều mất tích. Có lẽ anh Hai tôi đã chìm sâu vào Biển Đông. Má tôi suy sụp một thời gian vì mất anh Hai. Đối với tôi, mất anh Hai là một tổn thương lớn, y như mất Ba Má vậy. Thời còn đi học, anh Hai là tấm gương, là cái đích học tôi nhắm tới.
Mợ Tư tôi lúc sanh tiền. Nghe nói hồi xưa Mợ Tư tôi đẹp nhứt nhì trong làng, làm xiêu lòng Cậu Tư. tôi Không nhớ hình này chụp lúc nào, nhưng tôi nghĩ là đầu thập niên 1990. Cậu Tư tôi mất sớm trong thời chiến tranh, và Mợ Tư phải nuôi một đám con nhỏ (tức em họ tôi). Mợ Tư tôi qua đời cũng cách đây vài năm, ngay trong lúc tôi đang bay từ Sài Gòn ra Đà Nẵng đi Seoul. Tôi không về được để dự đám tang Mợ Tư. Ở dưới quê, dòng họ tôi rất gần nhau, nên mấy người anh em họ rất thân với nhau.

Dì Năm tôi (tức em Má tôi và Cậu Tư). Dì Năm trong nhà nổi tiếng là người nấu ăn ngon, nên hễ trong làng có đám cưới hỏi là Dì Năm được mời đi nấu ăn. Dì Năm là người rất tinh tế, chú ý đến những chi tiết nhỏ (chắc do nấu ăn) và nghiêm khắc. Dì Năm tôi đã qua đời cách đây chừng 8 năm.

Dì Út tôi, như cách gọi, là người thứ út trong gia đình. Dì Út tôi rất hiền lành, không cãi cọ với ai, cũng chẳng làm phiền ai. Chồng Dì Út là dân Quảng Ngãi. Chắc hồi xưa, ông Ngoại tôi thích gả con gái cho dân miền Trung?

Đây là Cậu Ba tôi ngoài Bình Định. Cậu đi tập kết ngoài Bắc và khi về Nam trong thời chiến mang hàm trung tá hay thượng tá (tôi quên, nhưng thời đó cấp tá là oai lắm). Cậu Ba tôi gọi ông Ngoại tôi là Chú. Phải mất hơn 50 năm mới liên lạc được với nhánh gia đình ngoài Trung. Nhớ hoài ngày hai cậu cháu gặp nhau, ổng nói bằng chất giọng Bình Định “Cậu là Bộ đội Cụ Hồ” làm tôi nghĩ thầm “ổng phát biểu lập trường đây, đừng có mà linh tinh.” 🙂 Cậu Ba mới qua đời vài năm trước và thọ 99 tuổi.

Chị Nghĩa (con Cậu Ba tôi), nay làm việc ở Sài Gòn. Chị Nghĩa là người nhắn tin trên đài truyền hình để tìm bà con trong Nam. Cuộc trùng phùng nghe chị ấy kể là ‘trong nước mắt’. Nghe nói khi cậu Ba vào Nam để gặp nhánh trong Nam, gặp Má tôi, Cậu khóc nói “Em tôi đây mà.” Hình này tôi chụp với chị Nghĩa trong một chuyến đi dự hội nghị loãng xương ở Qui Nhơn vào năm 2017 (?)

Hình này tôi chụp cùng các bạn trong trại tị nạn Panatnikhom, Thái Lan vào cuối năm 1981, trước khi tôi lên đường đi định cư ở Úc. Thời ở trại tị nạn, mỗi cái phòng như vậy chứa cả 5-7 người.

Tôi có kể lại hành trình của tôi từ Thái Lan đến Úc trong một bài blog này.

Khi đến Sydney đầu năm 1982, tôi theo học lớp học tiếng Anh, và người bên phải tôi là cô giáo dạy tiếng Anh, người bên trái là một học viên từ Ba Lan. Cô giáo tôi vô cùng duyên dáng và rất thương người tị nạn. Tôi còn nhớ cô ấy hẹn tôi năm 2000 ‘xem người làm gì’, nhưng rất tiếc là cô mất trước đó vài năm. Tôi chỉ học ở đây chừng 1 tháng thì đi xin việc làm. Thời đó, có việc làm và kiếm tiền gởi về bên nhà là ưu tiên số 1, chớ chẳng học hành gì cả.

Đây là hình tôi được việc trong Department of Epidemiology and Planning của Bộ Y tế bang New South Wales. Sau gần 1.5 năm làm phụ bếp trong Bệnh viện St Vincent’s (Sydney) và Khác sạn 5 sao Regent’s, tôi kiếm được việc làm ở Labo Pathology thuộc Bệnh viện Royal North Shore, tối ngày xử lí mẫu máu, nước tiểu, và học luôn PCR nữa. Sau hơn 1 năm tôi tìm được việc làm ở đây (Department of Epidemiology and Planning).

Tôi phải học máy tính và cách viết chương trình bằng Fortran. Hình chụp vào giữa thập niên 1980s. Sau việc này, tôi chuyển về học ở Đại học Sydney trong Bộ môn Dịch tễ học và Thống kê học, đồng thời làm ‘tutor’ (trợ giảng) cho Bộ môn thống kê lí thuyết. Thời đó, làm tutor kiếm khá nhiều tiền và mua được nhà.

Đây là hình tôi chụp trong labo nghiên cứu của Viện Garvan. Không nhớ năm nào (chắc 1990s) nhưng đó là thời … trung niên. Mấy cái ‘red book’ là bao nhiêu thông tin thí nghiệm. Cái không gian này tuy nhỏ vậy, nhưng là nơi tôi có nhiều đóng góp cho chuyên ngành loãng xương. Tôi viết luận án cũng tại đây. Nay thì chỗ này đã phá đi để xây lại labo ngon lành hơn (như hình dưới đây).

Sau này Viện Garvan có lab khang trang hơn, và hình này chụp trong lab, lầu 5, nơi thời đó còn làm PCR cho từng gen. Sau này thì việc làm đó là … kinh điển (chẳng ai làm nữa), và đa số đều gởi ra ngoài làm rẻ hơn.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp ở Đại học Macquarie vào năm 1985 (?) Thời đó mới qua, ‘tậu’ được một bộ veston xịn, nhưng còn chưa biết qui ước mặc veston sao cho đúng điệu. Kể ra thì cũng là một kinh nghiệm vậy.
Labo nghiên cứu cơ xương do tôi sáng lập tại ĐH Tôn Đức Thắng do Bs Thục Lan làm codirector. Trong hình là các em bác sĩ đang đo lường và phỏng vấn tình nguyện viên trong Dự án Vietnam Osteoporosis Study.

Hình này là lúc tôi nhận testamur từ Viện trưởng Michael Kirby (lúc đó là Chánh án toà án tối cao của Úc). Tôi nhớ khi trao bằng, ông ấy nói “You are a remarkable refugee“. Chỉ là cách nói ngoại giao thôi – tôi nghĩ vậy.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp. Từ trái sang phải: em gái tôi, bà xã, Gs Donald McNeil và anh tôi. Thời đó, Đại học Macquarie được mệnh danh là của kẻ giàu, vì toạ lạc ở miền Bắc Sydney. Tuy vậy, nhưng phòng ốc và building có vẻ cổ kính lắm. Sau 30 năm quay lại, tôi không nhận ra nơi mình từng theo học nữa vì có quá nhiều building và có luôn Khoa Y nữa.

Hình chụp trong lễ tốt nghiệp từ Đại học New South Wales (nay là “UNSW Sydney”) năm 1997. Tôi theo học ở đây từ 1993 đến 1997, và trong thời gian này tôi công bố được 14 công trình. Nhiều khi nghĩ lại tôi không thể nào tưởng tượng mình đã ‘làm việc như trâu’, miệt mài ngày đêm, không phải vì số lượng mà vì muốn công bố trước. Luận án của tôi là ‘Contributions of Genetic and Environmental Factors to Osteoporotic Fracture‘ và được trao giải thưởng Garvan Best Thesis Award. Chú ý hình này tôi đội nón lục giác (tức dành cho mấy người tốt nghiệp tiến sĩ theo truyền thống Đại học Cambridge), còn hình trên là nón tứ gíac (dành cho những người tốt nghiệp cấp dưới tiến sĩ).

Hình chụp nhân dịp tôi được trao học vị ‘Higher Doctorate’ D.Sc (2016), làm lễ 2017. Ở Úc và Anh, DSc là học vị cao hơn PhD, chỉ dành cho những người tốt nghiệp PhD ít nhứt 10 năm. Với học vị này, ứng viên không có ghi danh, mà được xét duyệt vòng sơ tuyển, nếu qua thì được ‘admitted’ để nghiên cứu. Tôi được admitted năm 2014 và chánh thức tốt nghiệp năm 2016, với luận án ‘Contributions to Osteoporosis Research’ với 196 bài báo khoa học làm luận án. Garvan có đi một bản tin về sự kiện này. Báo Guardian (Anh) cũng có một bài về tôi.

Bên trái là Trúc (bây giờ là cháu rể tôi), và bên phải là cháu gái tôi mà trong nhà hay gọi là Bé Thoa (nay đã thành hôn với Trúc). Vì tôi không có con gái, nên nó được xem như là con gái trong nhà.

Người tốt nghiệp DSc được đọc tiểu sử (citation) trước khán đài cho sinh viên y khoa và các giáo sư khác. Citation này được Gs Terry Campbell (Phó Khoa Trưởng Khoa Y) đọc trong ngày lễ tốt nghiệp. Tôi là người thứ 33 thuộc Khoa Y của UNSW Sydney được trao học vị này. Video buổi lễ được upload trên Youtube: https://youtu.be/-SNJ5vKlMds

Huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng do Đại học Công nghệ Sydney (UTS). Bản tin phía dưới có hình tôi chụp chung với bà Catherine Livingstone, Viện trưởng (Chancellor) của UTS. Tấm huy chương này được in bằng máy in 3D Printer.

Thư chúc mừng được trao giải Nhà nghiên cứu ngoại hạng kèm theo 5000 đôla. 🙂

Tôi trả lời phỏng vấn nhân dịp được trao huân chương nhà nghiên cứu ngoại hạng UTS 2018). Tôi là người thứ hai được trao huân chương này. Người thứ nhứt là Giáo sư Nguyễn Thế Hùng, cựu khoa trưởng khoa engineering và IT.

Tôi nói: “My name is Tuan Van Nguyen. And I am a professor of predictive medicine at the School of Biomedical Engineering of UTS. My work is really concerned with the prevention of bone fractures due to osteoporosis or low bone mass. So, osteoporosis and osteoporotic fractures, they both represent a major and substantial public health problem – not just in Australia, but also worldwide. We approached the problem through epidemiological research, genetic research and clinical research, and clinical translation.

We came up with the world’s first algorithm for predicting fracture risk at the individual level. We found that each standard deviation lower in BMD [bone mineral density] actually increased the risk of fracture by two fold. And that particular finding was used as a criteria for the diagnosis of osteoporosis around the world. 

So that’s one of our major contributions. But the thing that’s really rewarding is that after the publication of the model, there were hundreds of studies around the world that tried to validate the model, or were inspired by the idea that patient and doctor alike can use. That’s the most rewarding experience for us.”

Hình chụp đêm liên hoan ăn mừng được UTS trao Huân chuơng. May phước đêm đó không xỉn. 🙂
Tôi được bầu làm Fellow của Hiệp hội loãng xương Hoa Kì (American Society for Bone and Mineral Research – ASBMR) vì những đóng góp họ gọi là ‘distinguished accomplishments‘ trong chuyên ngành loãng xương. Tôi giữ nhiều vai trò có thể nói là trọng trách và leadership trong ASBMR, từ uỷ ban khoa học, uỷ ban xuất bản, editor cho tập san JBMR, v.v. nói chung là đủ thứ việc. Tôi được vinh hạnh là người gốc Việt đầu tiên được bầu làm viện sĩ của ASBMR. Tôi có một cái note về sự kiện quan trọng này.

Hình chụp nhân dịp tôi được bầu làm Fellow (viện sĩ) Viện hàn lâm y học Úc. Người bên trái là Giáo sư Ian Frazer, chủ tịch Viện hàn lâm. Gs Frazer là người khám phá và phát triển vaccine phòng ung thư cổ tử cung. Hôm đó, tôi có hỏi ông là có giúp được gì cho Việt Nam và cần tôi làm trung gian hay không, ông nói đại khái rằng muốn giúp lắm chớ, nhưng hệ thống hành chánh bên đó khó khăn quá nên ông bỏ cuộc.

Hình dưới là những fellow được bầu vào Viện hàn lâm năm 2018 (lễ kết nạp 2019). Tôi được vinh dự là người Việt Nam đầu tiên có mặt trong Viện hàn lâm. Tôi có cái note cám ơn ở đây (tiếng Anh) và Tiếng Việt.

Đây là bài viết kiểu ‘vinh danh’ tôi đã có 25 năm đóng góp cho Viện nghiên cứu Y khoa Garvan.

Hình chụp nhân dịp tôi được trao chức danh Giáo sư Danh dự của Đại học Dược Hà Nội. Người bên trái là Gs Nguyễn Thanh Bình, Hiệu trưởng. Tôi còn là giáo sư danh dự hay giáo sư thỉnh giảng của Đại học Y Hà Nội, Đại học Đà Nẵng, và Đại học Tôn Đức Thắng. Tôi có một note giải thích chức danh ‘visiting professor‘.

Đây là hình chụp nhân ngày tôi được trao tặng chức danh ‘Distinguished Professor’ của ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU). Người bên phải là Hiệu trưởng Lê Vinh Danh, người đã nói theo tiếng Anh là transform TDTU chỉ trong 10 năm. Di sản của anh Danh phải vài chục năm sau người ta mới ghi nhận. Tôi giúp cho TDTU từ 2015 qua các việc như lập labo nghiên cứu về xương và cơ, chair hội đồng bổ nhiệm chức vụ giáo sư cho TDTU, và tham mưu chiến lược phát triển. Sau này tôi mới biết là trước khi trao chức danh này TDTU đã có ‘peer-review’ từ các giáo sư nổi tiếng bên Úc, Anh, Mĩ, và Canada. Tôi rất thích cách làm đó, nhưng rất tiếc là VN chưa có trường nào làm vậy. Tôi có một note về sự kiện này.

Đây không phải là giải thưởng gì, nhưng vối tôi là một phần thưởng rất có ý nghĩa. Tôi tổ chức và giảng cho mấy chục workshop ở Việt Nam (từ Bắc chí Nam), và số bác sĩ tham dự chắc cỡ vài ngàn. Một hôm tôi nhận lá thư này từ một em bác sĩ da liễu (Ngọc Bích) làm tôi cảm động lắm, và xem đó là phần thưởng qúi báu trong đời.

Đây cũng không phải là giải thưởng gì cả, nhưng với tôi là một phần thưởng qúi lắm. Nhân ngày Nhà giáo gì đó, các em sinh viên ở Úc hùn nhau mua một cây viết Parker (chẳng hiểu sao họ biết tôi thích cây viết này) và kèm theo thiệp chúc với những lời làm tôi cảm động lắm lắm.

Một lần trả lời phỏng vấn cho truyền thông phương Tây. Hình này chụp lúc tôi trả lời báo chí Mĩ nhân tham dự hội nghị ASBMR ở Hawaii. Họ hỏi tôi về một nghiên cứu khá ‘đình đám’ trong hội nghị.


Tôi đi giảng và nói chuyện ở rất nhiều nơi trên thế giới, nhưng hình chụp lưu niệm thì chẳng bao nhiêu. Hình này là do Bs Nguyễn Đình Nguyên chụp nhân một bài nói chuyện ở Canada vào năm 2007.
Hình này chụp lúc tôi nói chuyện trong một hội nghị loãng xương quốc gia ở New Zealand.

Tôi được coi là người đem chuyên ngành loãng xương về Việt Nam. (Báo Sức Khoẻ và Đời sống có một bài về tôi). Nói to tát ghê. Đây là hình chụp lúc tôi tổ chức hội nghị quốc tế về loãng xương lần đầu tiên ở Việt Nam. Từ trái qua phải: Ts Trần Hoàng Ngọc Bích (một trong những học trò xuất sắc cũ tôi), Ts Nguyễn Đình Nguyên (cũng học trò xuất sắc luôn, sau này bỏ nghiên cứu ra làm GP), và Giáo sư John Eisman (thầy tôi). Tấm hình này có thể xem là 2 thế hệ. 🙂

Hình chụp lưu niệm trong Ban tổ chức hội nghị Strong Bone Asia. Hội nghị này đem về cho Hội Y học TPHCM một thu nhập đáng kể để phát triển về sau.

Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho Gs Dương Quang Trung mà tôi gọi thân mật là Chú Tư (lúc đó là Chủ tịch Hội Y học TPHCM). Chú Tư (dân gốc Cà Mau, là dân bên Tây về, cùng thời Bs Phạm Ngọc Thạch bên Pháp) và tôi có biết bao nhiêu kỉ niệm. Chú nói tiếng Pháp khỏi chê, nhưng với tiếng Anh thì chú phải nhờ tôi. Tôi cầm tờ giấy chớ thật ra tôi có đọc gì đâu, tôi chỉ nghe chú ấy nói là tôi dịch ngay. Khi xuống khán đài, chú Tư hỏi “Hồi nãy có câu tôi nói cũng khá dài, sao anh dịch ngắn vậy?” Chú hay gọi tôi bằng ‘Anh’. Tôi giải thích một hồi rồi nói: “Dạ, tiếng Anh nhiều khi nó ngắn chú ơi”. Ổng mỉm cười kiểu nói ‘Thằng này lém lỉnh.” Có lần tôi về VN công tác, chú kéo tôi ra hành lang, hỏi tôi là có phải kí tên vào bản ý kiến gì phải không, tôi nói phải. Rồi chú Tư nói ‘lúc này tôi biết xài internet rồi, tôi đọc nhiều lắm, nhưng anh nên cân nhắc nói những gì cần nói thôi.’ Tôi nghĩ đó là lời khuyên của người biết nhiều trong hệ thống. 🙂

Hội nghị loãng xương Châu Á được tổ chức ở Hong Kong vài năm trước. Nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study chúng tôi chiếm liền 3 giải thuởng! Bên trái là Bs Hồ Phạm Thục Lan, bên phải là Bs Đoàn Công Minh bên poster được trao giải xuất sắc.

Tôi là Chair của Pan Asian Biomedical Science (2018 – 2020). Đây là hội nghị PABS được tổ chức rình rang ở Đà Nẵng. Lúc đó, Gs Trần Văn Nam (Giám đốc ĐH Đà Nẵng) và PGS Nguyễn Đăng Quốc Chấn là người đứng đằng sau ban tổ chức. Tôi chỉ là người ‘bề ngoài’ với khách nước ngoài. Kể từ đó, tôi trở thành một người của Đại học Đà Nẵng.

Tôi chụp hình lưu niệm với các đồng nghiệp Á châu (hình trên) và các bạn trong ban tổ chức ở Đà Nẵng (hình dưới). Tôi xem đây là một đóng góp cho Đại học Đà Nẵng. Người đứng bên phải có tên rất hay là ‘Hằng Nga’, là tiến sĩ từ Tây về, còn người đẹp gái bên cạnh Hằng Nga là Oanh; hai người này gíup tôi rất nhiều trong khâu tổ chức.

Ngoài tổ chức hội nghị quốc tế ở Việt Nam, tôi còn tổ chức hàng chục (hay trăm) lớp học lớn nhỏ ở VN trong suốt 25 năm qua. Đây là một lớp học được tổ chức ở Đại học Y Dược TPHCM vào đầu thập niên 2000 do chị Thy Khuê đứng ra làm. Nhiều người trong hình này nay đã là tiến sĩ và phó giáo sư.

Lớp học này cũng được tổ chức ở ĐH Y Dược TPHCM (2006 ?) do chị PGS Nguyễn Thy Khuê tổ chức. Tôi nhớ hoài một ‘incident’ khi tôi đứng giảng và chú ý thấy chị Khuê nghe điện thoại xong có vẻ lo lắng lắm. Mãi đến sau này hỏi mới biết là công an gọi điện hỏi sao lớp học có người nước ngoài mà không xin phép. Chị Khuê nói tôi về hàng năm, hồ sơ đã có trong Sở Y tế và công an rồi, nên không cần xin phép nữa. Họ nói hễ tổ chức lớp học là phải xin phép. May phước họ dzu dzi cho qua.

Bác sĩ Khả Nhi có một bài phỏng vấn tôi về những việc làm bên Việt Nam tại đây.

Một lớp học ở Đại học Tôn Đức Thắng. Nói chung lớp học nào tôi giảng đều thu hút từ 100 đến 250 người từ mọi miền đất nước tham dự. Mỗi khoá học như vậy kéo dài từ 5 – 14 ngày, với rất nhiều bài giảng. Rất vui và hào hứng vì giúp cho nhiều bạn sau này trở thành tiến sĩ và giáo sư.

Khoá học ở Đại học Tôn Đức Thắng lúc nào cũng thu hút hàng trăm học viên từ mọi miền đất nước.
Một lớp học ở Trường Đại học Nha Trang năm 2017 do tôi, Ts Trần Sơn Thạch Ts Hà Tấn Đức phụ trách. Đây là lớp học do anh giám đốc Sở khoa học và công nghệ Khánh Hoà mời. Tôi nhớ hoài khi ngày thứ 4 anh đến nói lời kết thúc lớp học, anh rất ngại vì trước đây đến ngày thứ 2 là học viên chỉ còn vài người thôi. Nhưng khi anh tới, anh kinh ngạc thấy ngày kết thúc khoá học mà số học viên còn đông hơn lúc khai mạc. Anh ấy vui lắm. Sau này chúng tôi còn quay lai 2 lần nữa cũng tại đây.

Tôi là một trong những sáng lập viên Hội loãng xương TPHCM. Chúng tôi tổ chức hội nghị khoa học mỗi năm. Đây là hội nghị được tổ chức ở Đà Lạt vào năm 2018. Hình này tôi chụp cùng ban tổ chức và các bạn đồng nghiệp. Hình này đúng là đầy đủ ‘who is who’ trong bộ lạc loãng xương ở Việt Nam (từ trái qua phải): Bs Huỳnh Văn Khoa (Chợ Rẫy); Bs Nguyễn Văn Hùng (Bạch Mai); Gs Trần Tam (Huế); Gs Nguyễn Hải Thuỷ (Huế); tôi; PGs Lê Anh Thư (Chủ tịch Hội); PGS Trương Văn Việt (Cựu Giám đốc BV Chợ Rẫy); Gs Trần Ngọc Ân (Hà Nội); Bs Linh (Chợ Rẫy, phu nhân của Bs Nguyễn Tri Thức nay là Giám đốc BV Chợ Rẫy); Bs Thục Lan (BV 115); PGs Vũ Thanh Thuỷ (Hà Nội); PGs Vũ Đình Hùng (Quân Y Sài Gòn); PGs Phạm Văn Thanh (Cựu Giám đốc Sở Y tế TPHCM); Gs Nguyễn Tấn Bỉnh (nay là Giám đốc Sở Y tế TPHCM); và PGs Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy).

Hình này cũng được chụp trong hội nghị loãng xương được tổ chức ở Quy Nhơn trong trung tâm hội nghị quốc tế của Gs Trần Thanh Vân. Từ trái qua phải: PGS Nguyễn Ngọc Lan (Bạch Mai), PGS Nguyễn Bích Đào (Chợ Rẫy), PGS Lê Anh Thư (chủ tịch Hội), PGS Vũ Đình Hùng (Quân Y), phu nhân Gs Trần Thanh Vân, PGS Đỗ Thị Ngọc Diệp (Dinh dưỡng), tôi, PGS Nguyễn Đình Khoa (Chợ Rẫy), Ts Võ Văn Sĩ (Chấn thương Chỉnh hình) người mà tôi rất khoái vì cái tánh Nam bộ.

Hội nghị khoa học thường niên của Hội loãng xương TPHCM tại Tuy Hoà 2017. Trong hình là các thành viên trong nhóm nghiên cứu Vietnam Osteoporosis Study. Từ trái sang phải: Bs Minh Châu, Ts Trần Sơn Thạch, Bs Thục Lan, Bs Mai Duy Linh, và Bs Đoàn Công Minh. Năm nào, nhóm này cũng có những đóng góp về nghiên cứu original cho hội nghị.

Cùng các bạn và học viên Đại học Đồng Tháp nhân dịp tôi về đó giảng 3 ngày. Hình này chụp vào năm 2018. Tôi đến đây giảng lần đầu vào năm 2013, và sau đó thì năng suất khoa học (công bố quốc tế) của Trường tăng cao thấy rõ. Thế là các bạn ấy mời tôi quay lại nói chuyện nữa. Tôi thích đi mấy tỉnh miền Tây, một phần vì gần nhà, một phần vì muốn thưởng thức các món ăn miền Tây, thích la cà trong mấy quán bánh tằm, cháo lòng, v.v. và nghe chuyện thời sự.

Cùng với các bạn trong Hội Đau TPHCM. Từ trái qua phải: PGS Võ Văn Thành, PGS Nguyễn Thi Hùng, tôi, PGS Hàn Quốc, PGS Lê Anh Thư và PGS Vân Anh. Hôm đó tôi nói về hiệu ứng placebo và nocebo. Đây là hội nghị mà anh Hùng là ‘chủ xị’.

Hình chụp nhân dịp tôi dự lễ kỉ niệm 5 năm ngày thành lập Viện y học Đinh Tiên Hoàng ngoài Hà Nội. Tôi là thành viên tư vấn cho Viện. Hôm đó thật là vui. Viện này do Ts Nguyễn Thị Thanh Hương, cựu học trò tôi ở Viện Karolinska (Thuỵ Điển), thành lập.

Hình chụp nhân dịp Bs Nguyễn Đình Nguyên tốt nghiệp tiến sĩ hạng xuất sắc và chiếm luôn giải thưởng Luận án Tiến sĩ Xuất sắc của Viện Garvan. Ở Viện Garvan chỉ có 2 người Việt có danh dự này: Nguyên và tôi, cả hai đều họ Nguyễn 🙂

Hình chụp nhân ngày tốt nghiệp PhD của Phương Thảo (dân Hà Tĩnh, cũng là một học trò xuất sắc). Người đứng giữa là Hà, làm trong lab tôi. Tôi có viết một note ghi lại cảm tưởng của “kẻ đưa đò.”
Đây là Mai Thị Hà (người từng làm trong lab tôi chừng 1 năm) trong ngày cưới của cháu ở Nam Định. Chiều đó tôi đi công tác ở Hà Nội, và phải đón xe về Nam Định để dự đám cưới của Hà. Tôi rất thương nó, nhỏ tuổi hơn con tôi, nhưng vất vả và bôn ba hơn nhiều con tôi nhiều. Tôi xem nó như là một người Việt tiêu biểu: cực khổ, phấn đấu vươn lên, thông minh. Ngày tôi phỏng vấn nó và nói rằng sẽ nhận nó vào làm việc trong lab, nó ra ngoài khóc, làm tôi hoảng vì tưởng mình đã nói gì xúc phạm. Hoá ra, nó nói từ ngày sang Úc đến nay nó được đối xử tử tế. Trời!

Hình chụp nhân lễ tốt nghiệp tiến sĩ của Hồ Lê Phương ThảoDaniela Tesorioro (học trò tôi) người được trao bằng cử nhân hạng danh dự số 1.

Phương Thảo được trao giải thưởng Young Investigator Award của ASBMR (Mĩ) năm 2017.

Đây là ‘Đồng chí’ Bs Thái Viết Tặng (người cầm bó bông) nhân dịp lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tặng là đồng hương Kiên Giang với tôi và cũng là người tôi hướng dẫn luận án. Đêm đó, sau buổi lễ tốt nghiệp, cả ‘đám’ Kiên Giang kéo nhau đi nhậu ở Hà Đông. Thiệt là vui. May phước tôi không xỉn để còn chuẩn bị cho 3 ngày giảng sau đó.

Đây là Phạm Nữ Hạnh Vân trong buổi lễ tốt nghiệp tiến sĩ. Tôi và Gs Nguyễn Thanh Bình (bên phải) là người hướng dẫn luận án cho Hạnh Vân. Chiều đó, sau buổi lễ bảo vệ luận án là phu quân của Hạnh Vân kéo cả nhóm ra một nhà hàng ở Hà Nội ăn uống, có dịp gặp nhiều bạn khác. Tôi phải ghi thêm một thông tin vui vui là hễ Hạnh Vân đi dự hội nghị hay nói chuyện thì ai cũng nói ‘Ui, người đâu mà xinh thế’ mà không chịu nghe cô ấy nói. 🙂 Theo tôi thấy, Hạnh Vân là người rất khéo nói, hiền lành, lễ phép, và tinh tế, đúng với chất người con gái Bắc như Phạm Duy hay mô tả.

Thời thập biên 1980s tôi có tổ chức lớp dạy học cho mấy em học sinh Việt Nam sắp thi tú tài II ở Sydney. Trường tiểu học Bass Hill cho mượn phòng, nên tôi tổ chức nhiều lớp cho các em ấy (đúng ra là con cháu). Có hàng trăm em đã học từ lớp học này và nay đã là kĩ sư, bác sĩ, luật sư, v.v. Nhiều khi mấy em ấy gặp tôi trên xe lửa và tới chào, chớ tôi cũng không nhớ hết mấy em ấy. Tôi xem đây là một đóng góp cho cộng đồng làm tôi nhớ mãi trong đời.

Đây là Giáo sư Donald McNeil, người đã cho tôi cơ hội theo học tại Đại học Macquarie. Thầy là người rất tốt bụng với dân tị nạn. Có người chẳng có giấy tờ gì, nhưng chỉ qua phỏng vấn là thầy cho vào học. Tôi nhớ ơn thầy McNeil suốt đời. Ngày Thầy về hưu, tôi đến nói lời chia vui mà ai cũng rơm rớm nước mắt.

Giáo sư Barry Marhsall (Giải Nobel 2005) chụp hình nhân dịp lễ induction các Fellow của Viện hàn lâm y học. Giáo sư Marshall là người được bầu vào Viện trước tôi 3 năm.
Từ trái sang phải: Giáo sư John Eisman (mentor của tôi, người vào đại học năm 15 tuổi); Giáo sư Peter Croucher (nay là Phó viện trưởng Viện Garvan); Giáo sư John Hewson (từng là Lãnh tụ Đảng Tự Do của Úc). Hình này chụp nhân dịp buổi lễ khai mạc Sáng kiến Osteoporosis Australia mà tôi đóng góp một phần.
Giáo sư Bruce Robinson (giữa, cựu Khoa trưởng Khoa Y, Đại học Sydney) và Giáo sư Bruce Robinson (cùng tên, ở ĐH Melbourne). Hai người này cùng được bầu vào Viện hàn lâm y học cùng năm với tôi. Khoa trưởng Robinson là người bạn rất thân thiết với bao thế hệ sinh viên Việt Nam.
Đây là Bs Marilyn Rob, Giám đốc trung tâm Epidemiology and Planning của Bộ Y tế NSW, người dạy tôi về dịch tễ học và làm cho tôi đam mê nghiên cứu. Marilyn có bằng tiến sĩ về thống kê học nữa, còn ông chồng lúc đó làm cho IBM. Tôi coi Marilyn như bà chị cả, và đứa con đầu lòng của tôi có tên Laurence (là tên con út của Marilyn) để đánh dấu thời mà Marilyn cưu mang tôi suốt 3 năm trời. Nhớ hoài Mariyn lúc nào cũng nói ‘You can do better‘ và khuyến khích tôi tìm cơ hội cao hơn.

Đây là hình chụp lúc tôi tiêu ra 1 tháng ở Viện nghiên cứu Southwest Foundation for Biomedical Research (San Antonio, Texas). Người dạy tôi về genetic linkage analysis là Ts John Blangero (người ngồi đầu bàn), tôi xem anh ta là một thiên tài. Anh ta có mái tóc giống như Isaac Newton! Hôm đó là ngày tiễn tôi về Ohio, nên cả nhóm kéo ra nhậu ở một quán thịt bò mà thực khách tự lấy thịt đem đi nướng và tự lấy bia. Vui ơi là vui!

Hình này tôi chụp với Gs Phạm Song (cựu Bộ trưởng Y tế) trong Hội nghị Strong Bone Asia. Bác ấy nghe tôi nên đến làm quen. Hôm đó, bác ấy nói rất nhiều về tình hình y tế Việt Nam. Sau này Gs Song qua đời.

Hình này tôi thích lắm. Hôm đi dự hội nghị quốc tế về loãng xương ở Denver, tôi nói chuyện xong và ra ngoài thì thấy một em chờ làm quen. Hoá ra em này là postdoc (hậu tiến sĩ) tên là Phạm Thanh Hải đứng gần tôi và một em nghiên cứu sinh (nữ) từ Nhật (bên phải tôi) có tên đặc biệt là Mộc Hà. ‘Tha hương ngộ cố tri’ và thế là chụp mộ bô hình làm kỉ niệm.

Hình này có một câu chuyện rất hay. Hôm đi dự hội nghị loãng xương ở Montreal, tôi đi ra khu phố Á châu để tìm món Việt ăn trưa. Em bồi bàn đến hỏi tôi ăn gì, rồi em hỏi luôn (tiếng Anh) ‘có phải bác là Gs Tuấn’. Tôi kinh ngạc nói phải rồi. Hoá ra em này là nghiên cứu sinh Việt Nam ở Canada, đi làm thêm để kiếm tiền, và em ấy hay đọc những bài ‘tâm tình’ của tôi trên blog và theo dõi bài giảng giúp cho em ấy học tốt hơn. Trời! Không ngờ gặp một người bạn đặc biệt như thế ở đây, và thế là chụp hình lưu niệm.

Tôi hay được mời đi giảng khắp nơi trên thế giới, và trong một lần sang Seoul, các em sinh viên bên đó hay tin, rồi tổ chức một seminar để tôi chia sẻ hành trình từ tiến sĩ thành độc lập ra sao. Xa quê mà gặp đồng hương lúc nào cũng làm tôi xao xuyến. Bức hình này cũng là một kỉ niệm đẹp.

Không nhớ hình này chụp ở đâu (nhưng ngoài Bắc, hình như là ĐH Y Hà Nội) vào năm 2016 sau khi kết thúc một khoá học.

Hình này chụp chung với các nghiên cứu sinh ở UTS (nay có người đã về Việt Nam). Người đứng cao cao là Gs Nguyễn Thế Hùng, lúc đó là Khoa trưởng Khoa Engineering và IT của UTS (chức này rất … lớn). Anh Hùng là người chiêu dụ tôi về hợp tác với UTS cho đến nay. Anh cũng là Giám đốc của Trung tâm Công nghệ Y tế, sau này anh rời UTS, tôi được bổ nhiệm thay anh làm Giám đốc trung tâm này. Thế là hai ông Nguyễn thay phiên nhau lãnh đạo trung tâm. Trung tâm này có chừng 56 người, kể cả 20 GS và PGS. Quản lí một trung tâm như thế rất … mệt.

Hình này chụp nhân dịp buổi liên hoan sau hội nghị nội tiết học ở Seoul. Trong hình là các giáo sư trẻ Hàn Quốc và vài giáo sư ‘già’. Họ rất ưu ái đòi tôi phải đến dự để các bạn trẻ hỏi han (có lẽ cách họ ngoại giao vì tôi làm editor cho các tập san loãng xương). Hoá ra, các giáo sư trẻ không được ngồi cùng bàn với các giáo sư ‘già’; họ chỉ được đến chụp hình chung. Tôi nghĩ thầm ‘Trời, sao mà phân chia vai vế thế.’

Ở Việt Nam tôi có những người bạn và học trò rất thân thiết. Tiêu biểu là em này (Bs Hà Tấn Đức) sau này học tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của tôi. Bs Đức là dân Cần Thơ, gần Kiên Giang. Hôm tôi về quê dưỡng bệnh, Đức đi xe đò lên thăm tôi. Ở dưới quê thì chỉ cần 1 tiếng đồng hồ là có gà, cá, rau cỏ, v.v.đủ thứ để nhậu. Tôi lấy chai Martel chắc cũng 20 năm ra đãi. Chai này tôi mua cho Ba tôi uống, nhưng cho đến ngày qua đời ông không uống mà để trong tủ cả 20 năm trời. Ngon ơi là ngon.

Bs Đức, Bs Trần Sơn Thạch (trong hình) là hai người bạn đã cùng tôi rong ruổi khắp nước để ‘rao giảng’ về nghiên cứu khoa học. Tôi hay nói đùa là ba chúng ta là một gánh hát cải lương. Hình này chụp ở Atlanta (?) Mĩ trong lúc đang chờ máy bay về Sydney, còn tôi thì về Little Saigon ở California.

Hình này chụp nhân dịp bế mạc khoá học phân tích dữ liệu ở Kiên Giang. Trong hình là Bs Hồ Xuân Tuấn (ĐH Đà Nẵng) thay mặt học viên từ mọi miền đất nước về dự phát biểu cảm tưởng. Tôi và Tuấn quen nhau từ đó, vì tôi thích cái tánh hài hước đặc sệt dân xứ Quảng. Tuấn mới tốt nghiệp tiến sĩ y học từ Đức, và tôi tự hào có giúp đỡ một phần trong việc học hành và nghiên cứu của em ấy.

Tôi rất ít có dịp ăn Tết ở Việt Nam. Nhưng năm 2007 tôi có dịp đó. Lúc đó Kiên Giang tổ chức Tết cho ‘kiều bào’ và các nhà đầu tư nước ngoài đang làm việc ở Kiên Giang. Anh Ts Đởm (Giám đốc Bệnh viện Kiên Giang) rủ tôi đi ăn Tết ngoài Rạch Giá cho vui, và thế là tôi phóng xa đi ngay. Trong buổi lễ có một ông người Úc đang đầu tư ở Kiên Giang, ổng chúc Tết, và anh Đởm kêu tôi lên làm thông dịch. Ừ, làm thì làm. Hình này chụp lúc tôi làm thông dịch cho ông đồng hương Úc.

Hôm đó, tôi còn trả lời phỏng vấn cho đài truyền hình địa phương (Kiên Giang) vì các bạn ấy xem tôi là một ‘người con Kiên Giang thành đạt’. Tôi nhớ có nói rằng Kiên Giang đáng lí ra phát triển nhanh hơn và mạnh hơn các tỉnh khác (tôi không nói tỉnh nào) và đưa ra vài con số chứng minh. Chị phóng viên thích lắm và nói sẽ phát hình đêm nay. Tôi gọi điện về nhà báo tin cho mấy đứa em ‘Tối nay tụi bậy coi tao trên đài truyền hình.’ Báo hại tụi nó và bà con chờ xem bản tin tối của đài, nhưng chờ hoài không thấy mặt mũi tôi đâu. Hoá ra, có người cao cấp không hài lòng với câu nói của tôi nên nói lịch sự là ‘chưa đúng dịp để phát hình.’

Tôi có nhiều bạn ở trong nước, kể cả Hà Nội, và họ quí tôi. Lâu lâu mới có dịp gặp một buổi. Trong hình là (từ trái sang phải): Ts Giáp Văn Dương, Ts Quyền Đình Thi, tôi, và Ts Nguyễn Việt Hùng. Hình này chụp trong một nhà hàng nhỏ rất dễ thương ở giữa phố cổ Hà Nội.

Hình này tôi chụp lúc tham dự buổi lễ trao giải Alexandre Yersin ở Khách sạn Oscar. Anh bên cạnh là Bs Nguyễn Quan Vinh, Chủ tịch Hội y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình chụp lúc chuẩn bị khai mạc lễ trao giải thưởng.

Phái đoàn ĐH Quốc Gia TPHCM sang thăm chúng tôi ở Viện Garvan, 12/2016. Trong hình là Phạm Mỹ Hạnh (học trò PhD trong lab tôi), Ts Nguyễn Đức Nghĩa (Phó Giám đốc ĐHQG-HCM), Gs Đặng Vạn Phước (Khoa trưởng Khoa Y ĐHQG-HCM), Ts Nguyễn Thị Thanh Kiều (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM), PGS Lê Văn Quang (Phó Trưởng khoa Khoa Y, ĐHQG-HCM)

Tôi có nhiều bạn tị nạn ở California. Năm nào qua đó cũng đều gặp nhau, hàn huyên tâm sự. Trong hình là (từ trái qua phải) anh kí giả của Người Việt (tôi quên tên), Gs Lê Xuân Khoa (cựu Phó gíam đốc Viện Đại học Sài Gòn thời VNCH), Bs Ngô Thế Vinh (nổi tiếng với cuốn ‘Cửu long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’) và Kĩ sư Phạm Phan Long trong nhóm Vietecology. Người chụp hình là Kĩ sư Ngô Minh Triết, người hay chở tôi đi đây đó gặp bạn bè. Tất cả họ đều đau đáu nghĩ về Việt Nam.

Bạn văn nghệ ở Sài Gòn. Người bên trái là một kí giả nổi tiếng trong làng báo Việt Nam Đoàn Khắc Xuyên. Người bên phải là người mà sau này tôi mới biết là Nhạc sĩ Tuấn Khanh, tác giả của những ca khúc rất hay.

Hình này chụp nhân dịp tôi ghé Đại học Hoa Sen nói chuyện về công bố khoa học. Bên trái là Ts Bùi Trân Phượng (hiệu trưởng) và bên phải là Ts Phạm Thị Ly (hiệu phó). Đại học Hoa Sen đã thay đổi rất nhiều trong 20 năm qua.

Đây là con đường nhà tôi ở lúc tôi sang Ohio nhận chức Associate Professor of Medicine của WSU vào cuối thập niên 1990s. Con đường này vào mùa thu nó đẹp ơi là đẹp!

Chiếc xe ‘huyền thoại’ Honda Civic của tôi ở Ohio trong mùa đông, tuyết đóng đầy hết xa và bãi đậu xe. Tôi yêu con ‘tuấn mã’ này lắm. Cứ cuối tuần tôi phóng xe lên Columbus gặp bạn bè tán dóc và nhậu nhẹt. Tôi nhớ anh Thành (tiến sĩ Lê Thiết Thành) và chị Lan quá.

Có năm tôi được mời sang làm ‘thanh tra’ trung tâm nghiên cứu cơ xương khớp của Đại học King Abdulaziz University (KAU), Saudi Arabia. Đó cũng là lần đầu tiên từ ngày cha sanh mẹ đẻ tôi được đi máy bay hạng ‘First Class’ của Singapore Airlines. Thích thì dĩ nhiên là thích, nhưng đêm về nằm khách sạn mà ngày xưa là nguyên thủ Hoa Kì từng ở, rồi suy nghĩ thế thái nhân tình: ‘sao mà họ phí thế, chắc là lấy lòng?’

Ở nước ngoài các trung tâm nghiên cứu phải được tổng duyệt mỗi 5 năm, và họ mời người nước ngoài đến làm. Làm thanh tra, nhưng sau này thành cố vấn (advisor) cho trung tâm luôn! Trong hình là ông Gíam đốc KAU trao kỉ niệm chương cho tôi. Tôi sang đây 2 lần, và lần sau cùng thì trung tâm nghiên cứu bị đóng cửa vì họ cho rằng làm ăn không khá. Tiếc ghê.

Ngoài việc chuyên môn, tôi còn viết sách và xuất bản ở Việt Nam. Tôi đã xuất bản được 15 cuốn sách (từ chủ đề loãng xương, phương pháp nghiên cứu, phân tích dữ liệu, cách viết bài báo khoa học, đến sách về trò chuyện khoa học) ở Việt Nam. Có những cuốn được in đi in lại nhiều lần, và cuốn này ‘Cẩm nang nghiên cứu khoa học’ được in lại 5 lần chỉ trong 2 năm xuất bản. Năm 2018, Nhà xuất bản tổ chức buổi ra mắt sách ở Đường sách Sài Gòn, và tôi có dịp trò chuyện trực tiếp cùng khoảng 50 người đến nghe.

Tôi có nhiều bằng khen từ Việt Nam, và đây là bằng khen của Hội Y học TPHCM.

Bằng khen từ Hội loãng xương TPHCM. Bằng khen này được Gs Trần Ngọc Ân (Chủ tịch Hội Loãng xương Hà Nội) trao trong Hội nghị loãng xương ở Nha Trang. Tôi nhớ mãi thầy Ân nói: “Giáo sư Tuấn là người vô cùng tâm huyết với quê hương, điều đó không thể nghi ngờ được. Nhưng Gs Tuấn còn là một nhà trí thức với nhiều ý kiến về đủ thứ vấn đề trên báo chí chính thống, có nhiều ý kiến rất hay …” Rồi thầy ngưng một chút, rồi nói tiếp “Nhưng cũng có vài ý kiến cần … bàn thêm“. Cả Hội nghị 400 người cười ầm lên. Thầy đúng là dân Hà Nội, rất khéo nói.

Bằng khen của Đại học Quốc gia TPHCM nhân dịp tôi ghé đó giản trong 2 workshops 5 ngày.

Tôi nói chuyện về y học thực chứng ở Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình 2 lần. Đây là lần đầu (2005), lúc đó Bs Võ Thành Phụng là Phó Giám Đốc và Bs Trần Thanh Mỹ là Giám Đốc. Sau này, anh Phụng và tôi tổ chức Hội nghị quốc tế về loãng xương ở Sài Gòn rất thành công. Anh ấy là người miền Tây nhưng học trường Tây và nói tiếng Pháp rất thông thạo, thích … hủ tíu Mỹ Tho. Anh Phụng là đồng môn với Bs Ngô Thế Vinh (tác giả cuốn sách nổi tiếng ‘Cửu Long cạn dòng, Biển Đông dậy sóng’), cũng là một người bạn vong niên của tôi. Sau này anh ấy qua đời đột ngột làm tôi kinh ngạc.

Giải thưởng ‘Sách Hay’ (cuốn ‘Đi vào nghiên cứu khoa học‘) của Viện IRED và nhóm Sách Hay.

Bằng khen do báo Vietnamnet trao tặng. Giải thưởng này chỉ tồn tại 3 năm thì phải, và sau đó thì ngưng. Chẳng hiểu sao ngưng, nhưng với tôi thì đây cũng là một kỉ niệm vui và có ý nghĩa.

Tôi làm Chair Hội đồng chấm giải thưởng Alexandre Yersin cho Hiệp hội Y học Thuỵ Sĩ – Việt Nam. Hình này chụp vào năm 2017 (?) là lần phát giải thưởng đầu tiên ở Sài Gòn.

Đây là Bác sĩ Nga (bên trái, đã nghỉ hưu) và Thuận, cả hai đều là bạn học thời tiểu học trpng quê. Nga là con bác Hai Trắc, chủ tiệm bán thuốc Bắc dưới quê, còn Thuận là con cô Danh và chú Hiền (dân miền Trung và em nuôi của ba tôi). Hình này chụp nhân dịp đám cưới của thằng cháu tôi được tổ chức ở Rạch Giá. Đây là tấm hình tôi thích nhứt và có lẽ rất khó có dịp chụp cùng hai người bạn này.

Đây là Thuận (bên phải) và em Út tôi. Hình này chụp vào năm 1990s nhân dịp lần đầu tôi về Việt Nam thăm nhà. Em út tôi là học trò của Thuận (nên hai cô trò ngồi gần nhau). Tôi gọi má Thuận là cô Danh và ba Thuận là chú Hiền. Thuận là bạn học thời tiểu học, rất hiền lành và nhu mì (đến nay vẫn vậy), sau này mở tiệm may nổi tiếng nối nghiệp cô Danh. Thời sau 1975 khi tôi ‘thất chí’ về quê thì Thuận là người được Má tôi nhắc nhiều nhứt như là một ‘ứng viên’. Sau này, mỗi lần vế quê và có cái áo nào khó sửa, tôi sai thằng cháu đem cho cô Thuận sửa. Có lần thằng cháu nói sao đó, bị cô Thuận mắng cho ‘Cậu mày là ai mà kêu tao phải làm trong 1 ngày? Dẹp.’

Đây là những người hàng xóm người Khmer của tôi. Cả ba người và Má tôi (ngồi mép trái) nay đã về bên kia thế giới. Hồi còn nhỏ, tôi hay la cà sang nhà hàng xóm kiếm bánh ống và cốm dẹp ăn :).

Đây là anh Ba Đen (bà Nội anh ấy là chị bà Ngoại tôi) và gia đình chụp vào năm 1992 (?) Anh Ba là bạn học thời tiểu học của tôi. Lúc đó Việt Nam còn nghèo lắm, và anh Ba cũng không ngoại lệ. Bây giờ thì anh khá hơn nhiều rồi.

Anh chàng này bắt được một con cá bự. Ảnh nhứt quyết đòi tôi chụp một tấm hình cho ảnh làm kỉ niệm. Giờ này thì ảnh đã có vợ con và đi làm ngoài Rạch Giá rồi.

Đây là hình chụp nhân dịp tôi về quê và thăm anh Ba Đen ở Kinh Lô Bích vào năm 2015 (?). Bây giờ anh ấy khá lắm, nhưng con cái đều đi lập nghiệp ngoài thị thành. Nhà anh ấy cây trái xanh tươi, mát mẻ. Nghe tin tôi ghé thăm anh ấy hét bọn nhỏ đi bắt cá sau hè và làm gà, rồi hú bạn bẹ chòm xóm (cũng là bà con thôi) đến … nhậu. Đây là một kỉ niệm tôi không thể nào quên.

Miền quê tôi ngày nay. Trước đây, con lộ này chỉ làm bằng đất, đến mùa mưa thì lầy lội lắm, học trò đi học rất khổ. Sau 46 năm thống nhứt đất nước giờ cũng kha khá hơn thời tôi ra đi (1980s), con lộ được tráng xi măng và mấy cháu bây giờ đi học bằng xe đạp (ngon lành hơn thời của tôi vào thập niên 1960s). Tuy nhiên, làng quê vẫn nghèo lắm so với các nước như Thái Lan và Mã Lai.

Con chó lúc nào cũng chờ tôi về. Hình này chụp lúc nó đã 12 tuổi rồi, mắt hơi yếu, nhưng nó vẫn vui vẻ đón tôi về. Sau vài chục năm thì mảnh đất và căn nhà của Ba Má tôi để lại đã được tân trang. Hồi xưa, tôi hay móc võng bên cây mít vừa đọc sách, vừa nghe cải lương phát ra từ nhà anh Hai bên bờ sông và ngủ trưa … Tôi gọi đó là những ngày xưa thân ái.

Dòng đời qua hình ảnh

Dưới đây là một số hình ảnh về quãng đời của tôi. Tôi cố gắng sắp xếp hình ảnh theo thứ tự từ Việt Nam sang Úc. Những hình này liên quan đến Ba Má tôi, bà con, hàng xóm ở Việt Nam, những việc tôi làm, những phần thưởng, và kỉ niệm. Có một số hình ảnh người trong nhà không muốn đưa lên. Dĩ nhiên những hình ảnh này không đủ, vì rất rất nhiều hình ảnh thời trước 1975 mất hết do bão lụt và do … ‘nhân tai’. Hình ảnh thời tị nạn chỉ còn vài tấm. Hình thời ở Mĩ cũng rất ít. Chỉ có hình chụp trong thời gian gần đây thì khá phong phú. Xin chia sẻ cùng các bạn để biết qua quãng đời của một refugee như thế nào. Tôi cũng có phiên bản tiếng Anh ở đây.

Đây là căn nhà tôi được sanh ra và lớn lên trong thời niên thiếu. Cái chái bên phải là nhà nuôi gà, heo, sau 1975 trở thành một nguồn kinh tế nuôi cả nhà. Phía bên trái là mấy cây vú sữa, mít, ổi, v.v. Cái sân phía trước là nơi phơi lúa mỗi khi ghe chở lúa trên đồng về. Phía trái