‘Phương Án II’ và Tang thương Cát Lái

Thời nay, ít ai biết rằng cảng Cát Lái vào thập niên 1970s từng là nơi chứng kiến hơn 200 người chết vì đã tìm đường vượt biên theo tổ chức của Nhà nước. Tôi không chắc là ngài Thủ tướng có biết chuyện tang thương này.

Dạo đó (1978), Nhà nước lên một kế hoạch đưa người Hoa vượt biên theo cách thức có tên là “Phương Án II”. Theo đó, Nhà nước thu vàng và tiền của dân để đóng tàu cho họ vượt biên, với lời hứa là công an sẽ không ngăn cản hay bắn chết khi họ còn trong vùng biển Việt Nam. Sự ra đời của Phương Án II (PA2) này được ghi lại trên giấy trắng mực đen của Ban 69:

Cay cú trước thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp cách mạng giải phóng Miền Nam, thống nhất tổ quốc của nhân dân ta, bọn bành trướng Bắc Kinh sử dụng bọn Pôn-pốt đánh phá ta từ phía Tây nam, đồng thời âm mưu dùng đội quân thứ năm để gây bạo loạn lật đổ từ bên trong phối hợp với hành động chiến tranh từ bên ngoài, gây ra vụ ‘nạn kiều’ tạo nguyên cớ cho cuộc chiến tranh xâm lược ở biên giới phía Bắc. Phối hợp với các thế lực đế quốc, phản động quốc tế, chúng mở chiến dịch tuyên truyền nói xấu ta; vừa kích động người Hoa chạy về Trung Quốc với cái chúng gọi là ‘nạn kiều’. Để phá tan một nguy cơ có thể gây ra tình hình phức tạp về chính trị, Trung ương chủ trương giải quyết đối với người Hoa với ba phương án: cho họ ra nước ngoài theo con đường Liên Hợp Quốc HCR (gọi tắt là PA1); cho họ ra nước ngoài làm ăn (gọi tắt là PA2); cho họ đi các địa phương sản xuất theo khả năng của họ (gọi tắt là PA3). Nhưng họ chọn con đường đi làm ăn ở nước ngoài, Trung ương giao cho Bộ Nội vụ trực tiếp tổ chức thực hiện PA2 này”.

Chỉ non 1 năm (từ 8/1978 đến 6/1979) có 15 tỉnh thành tổ chức vượt biên theo PA2. Số người ra đi là khoảng 134000 người, và Nhà nước thu được 16181 kg vàng cùng 164505 USD, 538 xe hơi, 4154 căn nhà hay gian nhà. (Tuy nhiên, địa phương báo cáo chỉ có 60,000 người đi, và Nhà nước đã thu về 5612 kg vàng cùng 57000 USD, 235 xe hơi, 1749 nhà và gian nhà). Báo cáo láo đã có từ thời đó.

Một trong những sự kiện bi thảm nhứt trong những chuyến tàu vượt biên bán chánh thức này là vụ Cát Lái. Giữa tháng 7/1979, dưới sự canh gác của công an, một nhóm người chờ lên tàu vượt biên. Chiếc tàu vượt biên mới đóng có 3 tầng, dài 30 m và rộng chỉ 10 m. Những người mua vé tầng dưới thì do diện tích quá nhỏ, nên cảm thấy ngột ngạt, và họ phải trèo lên tầng trên. Số người ở tầng trên quá nhiều làm cho con thuyền bị mất cân bằng, chao đảo, dẫn đến hỗn loạn trên thuyền, và sau cùng là chìm. Đa số những người đi trên tàu là người Hoa làm nghề buôn bán, nên họ không biết bơi lội. Thật ra, dù biết bơi lội thì họ vẫn khó sống sót, nhứt là khi ở trong 2 tầng dưới của tàu.

Phải đến 3 ngày sau, nhà chức trách mới kéo con tàu lên. Nhà chức trách đếm được 227 người chết, chỉ có chừng 40 người sống sót. Một viên sĩ quan cứu hộ kể về những trường hợp mẹ con cùng chết:

“Chúng tôi vét sạch hòm ở các quận. Khâm liệm xong vẫn còn dư mấy cái vì có bốn trường hợp phải chôn đôi bởi các bà mẹ trước khi chết ôm chặt lấy con mà chúng tôi thì không nỡ tháo khớp tay họ ra để chia lìa tình mẫu tử”.

Nhưng Cát Lái không hẳn là sự kiện duy nhứt, vì trong thực tế có vài sự kiện Cát Lái khác ở các tỉnh Bến Tre (1 tàu chìm, 54 người chết); Long An (1 tàu chìm, 38 người chết); Nghĩa Bình (1 tàu chìm, 78 người chết); và bi thảm nhứt là Tiền Giang (3 tàu chìm, 504 người chết). Tính chung, Phương Án II đã trực tiếp hay gián tiếp gây cho 902 cái chết.

Chuyện buồn quá khứ, chỉ nhắc lại để biết và hiểu một chút về câu nói sự thành công của người Việt [còn sống sót] ở Mĩ là “thành công của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước”. 

____

PS: Những con số trong cái note này trích từ cuốn sách “Bên Thắng Cuộc” (chương “Nạn Kiều”) của Huy Đức.

Thành công của người Việt ở Mĩ có liên quan đến chánh sách của Việt Nam?

Nếu là ông PMC, tôi sẽ không nói câu này: “Thành công của người Việt tại Mỹ cũng là thành công của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước“. Tôi cố gắng tìm trong nhóm bạn bè và bà con ở Mĩ, ai thành công nhờ vào chánh sách của VN, nhưng kết quả là zero.

Hãy lấy trường hợp anh bạn tôi là một trường hợp tiêu biểu. Năm 1982, sau khi được trả tự do từ tù ‘cải tạo’ anh vượt biên sang Mã Lai, và chừng 1 năm sau thì đến Mĩ định cư. Sang Mĩ, thời gian đầu, cũng như các đồng hương khác, anh làm trong các hãng xưởng một thời gian. Sau đó chừng 2 năm, anh bảo lãnh vợ con từ Việt Nam sang Mĩ và cả gia đình đoàn tụ. Sau đoàn tụ, anh quay lại đại học và xong chương trình cử nhân khoa học máy tính. Phải 20 năm sau gia đình anh mới thật sự ổn định và thoải mái, khi 2 đứa con đã tốt nghiệp từ trường y UCSF và một đứa tốt nghiệp cũng về khoa học máy tính như anh. Bây giờ thì anh đã nghỉ hưu, có cuộc sống tương đối sung túc, nhưng anh chưa bao giờ về Việt Nam và đến cho cuối đời chắc anh sẽ không về lại quê hương.

Đối với anh và con cái, Mĩ là đại ân nhân, là quê hương. Sự thành công của gia đình anh bạn tôi chẳng có liên quan gì với mấy chánh sách bên Việt Nam. Sự thành công của anh là do môi trường tự do và bình đẳng ở Mĩ, do thể chế không kì thị ở Mĩ — không có dính dáng gì với Việt Nam.

Một chút về sự hình thành cộng đồng người Việt ở Mĩ

Hiện nay, cộng đồng người Việt ở Mĩ có chừng 2.2 triệu người. Con số này tăng gần gấp 2 lần so với năm 2000 khi đó chỉ có 1.2 triệu người. Đa số họ đến đây vào thập niên 1970-1990 (ước tính tầm 800,000 người) với tư cách người tị nạn hoặc HO. Những người trong làn sóng đầu tiên này bảo lãnh thân nhân từ Việt Nam sang, nên con số người Việt ở Mĩ tăng khá nhanh sau đó. Đa số họ đi từ miền Nam. Trong mấy năm gần đây, người từ miền Bắc cũng tìm đường sang Mĩ và ở lại.

Trong làn sóng di cư đầu, ngoài những chuyên gia và quan chức VNCH và cựu quân nhân, nhiều người Việt xuất thân từ nông dân và trình độ học vấn hạn chế. Thế nhưng người Việt có gen ‘resilience’ nên họ đã nhanh chóng ổn định cuộc sống và đóng góp cho xã hội Mĩ. Anh bạn của tôi là một trường hợp tiêu biểu về quá trình định cư của người Việt ở Mĩ.

Cộng đồng người Việt ở Mĩ còn non trẻ so với các cộng đồng Á châu khác (như Phi Luật Tân, Tàu, Ấn Độ). Do đó, so với các cộng đồng này, cộng đồng người Việt chưa phải là ‘sáng giá’ lắm đâu. Về trình độ học vấn, 32% người Việt ở Mĩ tốt nghiệp đại học (con số này cho thế hệ sanh ở Mĩ là 55%). Con số 32% đó tương đương với toàn dân số Mĩ, nhưng thấp hơn các cộng đồng Á châu khác (54%). Những con số này phải đặt trong bối cảnh những người tị nạn thế hệ đầu đến Mĩ là những người thuộc thành phần khó khăn.

Nói đến quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Mĩ mà không đề cập đến Little Sàigon là một sai sót. Ngày xưa, theo như bà con tôi kể lại, khu vực mà nay gọi là Little Saigon chỉ là một vùng bán nông thôn, bán thành thị, nhưng từ ngày có người Việt về đây thì vùng này đã biến thành một khu đô thị sầm uất, mang đậm bản sắc Việt. Đến Little Saigon là đến một Sài Gòn thu nhỏ.

Để được địa danh ‘Little Saigon’ cũng là một quá trình vận động và cạnh tranh giữa người Việt và người Tàu. Người Tàu khi đó vận động đặt tên “China Town” hay “Asian Town” cho khu vực nay là Phước Lộc Thọ. Còn người Việt thì trong  “Ủy Ban Thương Mại Việt Nam” thì đề nghị lấy tên “Little Saigon”. Tháng 6/1988, Thống Đốc tiểu bang California cắt băng khánh thành các bảng chỉ dẫn “Little Saigon Next Exit” dựng ở các xa lộ 405 và 22 dẫn vào các đường Brookhurst, Magnolia. Người có công đầu trong việc đặt tên Little Saigon là kí giả Du Miên, và người ủng hộ nhiệt tình nhứt là Dân biểu Richard Longshore (đã qua đời năm 1988).Kể sơ qua về sự hình thành của cộng đồng người Việt ở Mĩ như thế để cho thấy rằng quá trình phát triển đó không có dính dáng gì với chánh phủ Việt Nam.

Cộng đồng người Việt ở Mĩ là ai?

Theo BBC thì ông PMC nói trong ‘cuộc gặp mặt một số người Việt tại Mỹ ở thủ đô Washington DC ngày 14/5’ năm 2022. Nhiều bạn đọc trong nước có lẽ nghĩ rằng khi các quan chức cao cấp VN khi sang thăm những nước phương Tây như Mĩ thì họ sẽ gặp ‘cộng đồng người Việt’ ở địa phương. Nhưng không phải đâu.

Các vị ấy chỉ gặp những người có liên quan với nhà cầm quyền mà thôi. Đó là những du học sinh được tuyển chọn, những người làm ăn ở trong nước, những người từ miền Bắc qua Mĩ định cư trong mấy năm gần đây, hay nói chung là chỉ gặp ‘phe ta’. Điều này cũng dễ hiểu, vì phe ta nói cùng ngôn ngữ, cùng hành vi, suy nghĩ cùng nhịp điệu, và quen biết nhau cả. Nhưng những người này không đại diện cho tuyệt đại đa số người Việt ở Mĩ và chắc chắn không đại diện cho người tị nạn ở Mĩ.

Các quan chức Việt Nam khó mà gặp và trò chuyện với những người đã và đang xây dựng cộng đồng người Việt tị nạn ở Mĩ. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Những người trong cộng đồng và các quan chức Việt Nam không có cùng suy nghĩ về Việt Nam, không cùng ‘ngôn ngữ’, không chia sẻ lịch sử cận đại, nên rất khó có điểm chung (commonality). Còn những cách nói sáo ngữ như ‘Khúc ruột ngàn dặm’ thì thú thiệt là hoàn toàn vô nghĩa.

Tuy không có cùng điểm chung như thế, nhưng người Việt ở Mĩ đóng góp khá nhiều cho lượng kiều hối về Việt Nam. Theo báo TT thì năm 2021, số kiều hối về Việt Nam là 18 tỉ USD. Trong số này, kiều hối từ Mĩ là khoảng 11 tỉ USD, chiếm 61% tổng số. Đó là một khoản viện trợ không hoàn lại rất lớn cho Việt Nam. Đó là những đồng tiền từ mồ hôi, nước mắt, và máu của người Việt ở Mĩ, và chắc chắn không có sự đóng góp của Chánh phủ Việt Nam.

Tôi ước gì có một ngày một quan chức cao cấp như ông PMC đến Little Saigon thẳng thắn và chân tình chia sẻ những khác biệt về quan điểm với đồng hương và lắng nghe ‘music’ của đồng hương như ông Nguyễn Văn Thiệu đã từng làm trước đây. Nếu ngày đó chưa đến thì khoảng cách giữa cộng đồng người Việt tị nạn ở nước ngoài và Chánh phủ trong nước vẫn còn xa diệu vợi. Chỉ khi nào có một buổi gặp gỡ như thế thì người Việt chúng ta mới là một khối đoàn kết và mới có hoà giải dân tộc.

______

PS: Nói về chánh sách của ‘Đảng và Nhà nước’ liên quan đến người vượt biên không thể nào không nhắc đến cái gọi là “Phương Án II”, một chủ trương của BCT nhằm tổ chức vượt biên bán chánh thức cho người Hoa ở miền Nam. Đã có ít nhứt 902 người chết trên sông hay biểu vì cái Phương Án II này, và vụ tang thương nhứt là Cát Lái, nơi chứng kiến 227 người vượt biên bị chết.

Chỉ non 1 năm (từ 8/1978 đến 6/1979), số người ra đi theo Phương Án II là khoảng 134000 người, và Nhà nước thu được 16181 kg vàng cùng 164505 USD, 538 xe hơi, 4154 căn nhà hay gian nhà. (Tuy nhiên, địa phương báo cáo chỉ có 60,000 người đi, và Nhà nước đã thu về 5612 kg vàng cùng 57000 USD, 235 xe hơi, 1749 nhà và gian nhà).

Kể chuyện đi nhận Huân chương Australia

Hôm nay (13/5) là một ngày đáng nhớ trong đời: tôi đi dự lễ investiture (thụ phong) ở Phủ Toàn Quyền [1] để nhận Huân chương Australia. Buổi lễ diễn ra khá đơn giản nhưng trang trọng, và để lại nhiều cảm xúc trong tôi. Tôi đóng vai phóng viên báo chí mô tả buổi lễ để các bạn biết một chút về nước Úc.

Hôm nay, lễ thụ phong ‘Order of Australia’ do Toàn quyền tiểu bang New South Wales, bà Margaret Beazley QC AC, chủ trì. Xin nói thêm rằng Úc không/chưa phải là nước cộng hoà, nên người đứng đầu quốc gia không phải là tổng thống, mà là Nữ Hoàng Anh. Người đại diện cho Nữ Hoàng cấp quốc gia là Governor-General (Tổng Toàn quyền), còn người đại diện cho Nữ Hoàng cấp tiểu bang là Governor (Toàn quyền). Trên danh nghĩa chánh thức, Huân chương Australia là do Nữ Hoàng trao, nhưng bà ấy ở xa (và mới bị Covid) nên các vị Toàn quyền thay bà làm việc lễ nghi đó.

Đây là hình chụp từ vimeo với bà Toàn quyền tiểu bang New South Wales tên là Margaret Beazley QC AC trong buổi lễ thụ phong ngày 13/5/2022. Buổi lễ được livestream tại https://livestream.com/blive/investitureceremonymay2022/videos/231096959 (Phần của tôi là từ phút 14:10 đến 16:20)

Lễ thụ phong

Buổi lễ diễn ra khá đơn giản, nhưng không kém phần trang trọng. Mỗi người được trao huân chương có thể mời 2 người thân vào lễ đường. Ban tổ chức rất cẩn thận, họ in thiệp mời cho từng khách mời và khách phải có thiệp này mới được cho vào lễ đường. Nhà tôi đi 4 người, nhưng chỉ có 2 người là được vào lễ đường, còn 2 người thì ngắm hoa và biển hay theo dõi qua livestream.

Khi bước vào đại sảnh thì người ta tách ra 2 khán phòng. Phòng đầu dành cho thân nhân, phòng sau dành cho những người nhận huân chương. Cách sắp xếp này có ý nghĩa rằng những người có vinh dự hôm nay là nhờ sự hỗ trợ và chăm sóc của người thân trong gia đình, và do đó người thân phải được ưu tiên ngồi khán phòng đầu.

Hôm nay có 28 người được trao huân chương. Trong số này, 1 người là AO, 5 người là AM, và số còn lại là OAM và huân chương trao cho những cá nhân can đảm cứu người. Nhóm người AM/AO thì được xếp ngồi hàng ghế đầu trong khán phòng dành cho người nhận huân chương. Tôi ngồi bên cạnh cô Catherine Cox (một ngôi sao thể thao) và ông Nicolas Parkhill (người có công trong việc chăm sóc bệnh nhân HIV/AIDS).

Danh sách những người được trao Huân chương Australia vào ngày 13/5/2022 tại Phủ Toàn Quyền New South Wales. Trong số 28 người được trao Huân chương, có 1 người nhận Huân chương AO, 5 người AM. Trong số 5 người nhận AM, có hai ông chánh án toà án tối cao.

Chúng tôi được hướng dẫn rất kĩ về nghi thức buổi lễ. Họ có người đóng vai bà Toàn quyền và người đóng vai nhận huân chương. Hai ‘diễn viên’ này diễn cách chào bà Toàn quyền như thế nào, cách đi đứng, và cách xưng hô sao cho đúng. Trước khi gặp bà Toàn quyền, người ta còn kiểm tra một lần nữa quần áo có chỉnh chu chưa. Cái cô lo phận sự này chỉnh sửa cái trouser của tôi thẳng thóm đâu ra đó. Tôi nghĩ thầm ‘Gặp bà Toàn quyền chứ ai mà quan trọng thế’. Nghĩ vậy thôi, chứ tôi vẫn để cho cô ấy làm phận sự của mình.

Mở đầu buổi lễ là một người Trợ lí Toàn quyền làm Master of Ceremony (MC). Người MC lần này tên là Michael Miller mời các khách đứng lên để chào đón bà Toàn quyền vào lễ đường để bắt đầu buổi lễ.

Bà Toàn quyền, bằng một ngôn ngữ người thổ dân, ghi nhận chủ nhân truyền thống của mảnh đất mà bà đang đứng. Kế đến, bà nói về lịch sử và ý nghĩa của Huân chương Australia. Bà cho biết Huân chương Australia chỉ mới được thiết lập từ ngày 14/2/1975 (tức trước ‘biến cố 1975’ ở Việt Nam chỉ 3 tháng). Cần nói thêm rằng trước đó thì công dân Úc chỉ nhận huân chương bên … Anh. Người đề nghị Nữ Hoàng thiết lập Huân chương Australia chính là Thủ tướng Gough Whitlam, một người thuộc đảng Lao Động. Theo tầm nhìn của ông Whitlam, Úc cần có một hệ thống tưởng thưởng và vinh danh những công dân Úc có những thành tựu quan trọng hay phụng sự xã hội xuất sắc. Ông đặc biệt nhấn mạnh rằng huân chương đó phải có chữ ‘Australia’, và do đó, mới có danh hiệu ‘Order of Australia’.

Có lẽ các bạn tò mò muốn thấy cái Huân chương Australia nó ra làm sao, nên tôi chụp hình cho các bạn xem. Như các bạn thấy Huân chương Australia giống như cái huy hiệu gồm 2 phần: phần trên là cái Emblem, và phần dưới là cái Insignia. Cái emblem có hình cái vương miện có tên là Crown of Saint Edward (có nghĩa là ‘Vương miện của Thánh Edward’). Cái Insignia thì phần chính là hai vòng tròn có hai cành mimosa phía trên, và khắc chữ ‘Australia’ ở phía dưới.
Đây là tờ ‘testamur’ về Huân chương Australia. Tạm dịch: Với sự phê chuẩn của Nữ Hoàng Elizabeth Đệ Nhị, Nữ Hoàng của Australia và Chủ Quyền của Huân Chương Australia, tôi hân hạnh bổ nhiệm ông làm Thành Viên Dân Sự của Huân Chương Australia.
 
Với những chữ trên văn bản này, tôi bổ nhiệm ông làm Thành Viên Dân Sự của Huân Chương đã đề cập trên và cho quyền ông được giữ và thụ hưởng tước vị của sự bổ nhiệm cùng với thành viên của Huân chương và tất cả đặc quyền kèm theo Huân chương.
 
Được chứng thực tại Phủ Toàn Quyền, Canberra dưới dấu thị thực của  Huân Chương Australia vào Ngày Hai Mươi Sáu của Tháng Một Năm 2022.
 
Thừa lệnh của Tổng Toàn Quyền
 
 
Thư kí Hội đồng Huân Chương Australia

Bà Toàn quyền nói gì với tôi?

Sau đó là phần trao huân chương, và đây cũng chính là lúc bà Toàn quyền vất vả nhứt. Cứ mỗi người được trao huân chương, người MC xướng danh người đó và đọc bản ‘citation’ ngắn về công trạng trong khi người đó đứng ở ‘cánh gà’; sau đó đương sự được mời ra đứng bên cạnh bà Toàn quyền để bà gắn huân chương trên áo. Cái citation là do họ soạn, và họ không thể nào đọc hết những thành tích hay chức vụ, nên họ chỉ chọn những thông tin cần nhấn mạnh theo ưu tiên và cái nhìn của họ.

Sau khi gắn huân chương, bà Toàn quyền nói vài câu ngoại giao với người được ‘thụ phong’, nhưng hình như không được phát thanh, nên chỉ có hai người biết mình nói gì. Trong trường hợp của tôi, bà chúc mừng về những ‘achievements’ liên quan đến loãng xương và những việc bên đại học; tôi đáp lời rằng chúng ta còn rất nhiều việc phải làm để giảm tử vong ở những bệnh nhân loãng xương. Bà quay sang chủ đề loãng xương rồi hỏi đùa rằng (tôi dịch nôm na):

“Ông thấy tôi như vầy có cần phải chạy bộ mỗi ngày không?”

Tôi cũng trả lời vừa đùa vừa thật:

“Tôi thấy bà ok lắm, nhưng sống trong cái khung cảnh tuyệt vời này, tại sao bà không chạy bộ quanh vườn mỗi sáng và mỗi chiều?”

Bà cười nói “Good idea” (Ý tưởng hay). Rồi bà bảo tôi quay về ống kính để chụp hình lưu niệm.

Sau buổi lễ là một buổi tiệc nhẹ do bà Toàn quyền thiết đãi tất cả những thân nhân và người nhận huân chương (chắc cỡ 100 người). Thực đơn bao gồm những đặc sản của Úc, đặc biệt là New South Wales, và rượu vang.

Trong buổi tiệc, bà Toàn quyền tìm đến gặp tôi để hỏi han thêm. Bà hỏi tôi đi đến Úc bằng ghe lớn hay ghe nhỏ; tôi nói ghe nhỏ. Bà cười nói “Vậy ông là ‘thuyền nhân’ hả?” Tôi tự hào nói “Yes”. Bà nói rằng thời thập niên 1980 bà làm trạng sư (bà là luật sư cấp QC) và rất quan tâm đến vấn đề tị nạn và thuyền nhân từ Việt Nam. Bà biết vài trường hợp thuyền nhân con nít đến đây hoàn toàn chẳng có tiếng Anh tiếng U gì, mà sau này đều thành tài, có người hành nghề luật sư như bà. Còn gặp thuyền nhân ‘academic’ như tôi thì bà mới gặp lần đầu.

Bà Toàn quyền tiết lộ rằng một vị đại sứ Úc ở Việt Nam từng nói với bà là có nhiều ‘thuyền nhân’ ở Úc không bao giờ quay về Việt Nam, và việc tôi quay về quê hương thứ nhứt và có những việc làm có ý nghĩa là một ‘welcome development’ (phát triển đáng mừng). Tôi giải thích cho bà biết tại sao nhiều thuyền nhân ở Úc không về lại Việt Nam (vì họ hoặc là không còn thân nhân bên đó, hoặc là họ không thích thể chế chánh trị bên đó, hoặc là họ ra đi trong hoàn cảnh quá bi đát). Tôi thì nói tôi về là vì công việc hợp tác giữa các đại học và hợp tác khoa học, chứ tôi thì đã là công dân Úc 40 năm nay rồi và biết rất rõ tại sao mình là công dân Úc.

Buổi lễ và tiệc diễn ra đúng 120 phút. Sau đó là ‘bà con’ đi tham quan trong dinh thự của bà Toàn quyền, tha hồ chụp hình. Người thì ra ngoài vườn chụp hình, người thì chụp trong phòng, và làm quen với nhau. Nói chung, những người nhận huân chương Australia là thuộc thành phần elite của xã hội Úc, nên họ cũng muốn kết bạn với nhau và hỗ trợ khi cần.

Anh tôi thì nói đùa rằng ở Úc cả 40 năm, đây là lần đầu được Toàn Quyền New South Wales thiết đãi thì tội gì không uống một li rượu để làm kỉ niệm. Chắc sẽ khó có lần thứ hai được uống rượu miễn phí từ Phủ Toàn Quyền :).

Riêng tôi thì vì còn 2 người em chờ ngoài kia, nên sau buổi tiệc là ra ngoài để đón hai đứa đi Opera House, và sau đó là đi ăn mừng trong nhà hàng nổi tiếng ‘Meat and Wine’ (Khách sạn InterContinental).

Ở trên tôi có viết là dự buổi lễ này để lại nhiều cảm xúc. Năm nay có hai sự trùng hợp có ý nghĩa. Ngày ông Tổng toàn quyền công bố Huân chương Australia (26/1/2022) cũng là ngày tôi tới Úc 40 năm trước (26/1/1982). Ngày đi dự lễ thụ phong thì chỉ 1 tuần sau sinh nhật của tôi, và cũng là tuần tôi được trao chức danh mới. Còn gì có ý nghĩa hơn để kỉ niệm 40 năm trên quê hương mới bằng Huân chương Australia.

Sẵn đây xin giới thiệu các bạn một cuộc phỏng vấn của cô Thuỳ Linh thuộc đài SBS ở Úc nhân ngày tôi được huân chương.

“Mục đích đào tạo tiến sĩ không phải cho bộ máy công quyền”

Xin giới thiệu các bạn một bài trả lời phỏng vấn cho báo GDVN. Trong bài này tôi nói về vài nét khác biệt trong chương trình đào tạo tiến sĩ giữa VN và nước ngoài.

____

https://giaoduc.net.vn/giao-duc-24h/gs-nguyen-van-tuan-muc-dich-dao-tao-tien-si-khong-phai-cho-bo-may-cong-quyen-post226364.gd

Phóng viên: Từ những lùm xùm về luận án tiến sĩ vừa qua, Giáo sư đánh giá như thế nào về chất lượng, cách đào tạo tiến sĩ ở Việt Nam hiện nay? Đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài có sự khác biệt gì so với Việt Nam không, thưa ông?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:Tôi không đánh giá được vì không có những dữ liệu cụ thể. Tuy nhiên, phẩm chất đào tạo tiến sĩ, đặc biệt là trong lĩnh vực khoa học xã hội, đã là một vấn đề được nêu ra từ cả 20 năm trước.

Từ hơn 15 năm trước, đã xuất hiện những luận án với những chủ đề na ná nhau, chỉ khác nơi làm nghiên cứu. Rồi những đề tài nghiên cứu tiến sĩ làm công chúng trố mắt ngạc nhiên vì dường như tính khoa học không mấy cao.

Còn quy trình đào tạo tiến sĩ ở chúng ta thì khác nhiều so với các nước phương Tây. Chẳng hạn như ở Úc, các nghiên cứu sinh tiến sĩ phải học toàn thời gian (giống như người đi làm) dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của giáo sư, còn ở Việt Nam tôi thấy quy định đào tạo khá lỏng lẻo vì nghiên cứu sinh vừa học mà vẫn đi làm, hình như không khác mấy giữa học và làm.

Các đại học Úc không có buổi lễ bảo vệ luận án, mà luận án được gửi cho các giáo sư ngoài trường đại học (kể cả nước ngoài) để bình duyệt. Tuy không viết ra trên giấy trắng mực đen, nhưng các nghiên cứu sinh ở Úc đều phải công bố ít nhất 2 bài báo khoa học trước khi được phép viết luận án. Ở Việt Nam, các nghiên cứu sinh phải gửi 50 phiếu xin ý kiến nhận xét luận án tóm tắt của nghiên cứu sinh, còn ở các nước phương Tây thì không có quy định này.

Đây không phải lần đầu tiên dư luận bàn về vấn đề này, tuy nhiên gần đây dư luận đang có những cái nhìn sâu hơn về chất lượng đào tạo tiến sĩ nhờ chủ trương công khai thông tin của các cơ quan quản lý. Vậy Giáo sư đánh giá như thế nào về chủ trương này?

Giáo sư Nguyễn văn TuấnChủ trương công khai luận án đã được đề nghị từ hơn 20 năm trước, nhưng chỉ mới thực hiện gần đây. Thật ra, chủ trương này cũng bình thường trong học thuật, vì các đại học phương Tây đã làm như vậy lâu rồi.

Dĩ nhiên, công bố luận án là một tiến bộ vì nó giúp công chúng có thể biết tầm quan trọng của nghiên cứu mà ứng viên đã làm. Tuy nhiên, cho dù luận án được công bố thì để đánh giá nghiêm túc đòi hỏi phải có chuyên môn và thời gian. Nếu không là người trong chuyên ngành và có kinh nghiệm tốt thì khó biết được luận án có đóng góp gì mang tính khoa học.

Nếu công bố luận án mà không công bố dữ liệu gốc làm cơ sở cho luận án thì cũng khó biết được nghiên cứu sinh đã làm đúng hay sai. Do đó, nhiều đại học nước ngoài còn đề ra yêu cầu công bố dữ liệu gốc kèm theo luận án.

Thực tế hiện nay, nhiều địa phương dường như đang có chính sách khuyến khích cán bộ công chức có bằng tiến sĩ. Ví dụ như Hà Nội có ban hành Nghị quyết về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020- 2025 và những năm tiếp theo”. Theo đó, Hà Nội đặt mục tiêu đến năm 2025, 40% cán bộ Thường vụ Thành ủy quản lý có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ. Giáo sư đánh giá như thế nào về mục tiêu này của Hà Nội?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi biết chủ trương này, nhưng tôi nghĩ khác. Mục tiêu của đào tạo tiến sĩ là kiến tạo một cộng đồng học thuật phục vụ cho nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học. Văn bằng tiến sĩ có thể ví von như là một passport hay chứng chỉ để làm nghiên cứu khoa học (giống như bằng bác sĩ để hành nghề y). Mục đích của đào tạo tiến sĩ không phải cho bộ máy công quyền.

Cái điểm cốt lõi của học vị tiến sĩ, và cũng là khía cạnh dùng để phân biệt học vị tiến sĩ với các học vị đại học khác, là nghiên cứu khoa học, không phải quản trị. Do đó, học tiến sĩ vì muốn theo đuổi sự nghiệp hành chính, quản trị kinh doanh, hay các chức vụ hành chính, hay các chức vụ mang tính quản lí trong hệ thống chính phủ thì e rằng là một sai lầm.

Mấy năm gần đây, các nước phương Tây có chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp (professional doctorate) nhằm đáp ứng yêu cầu của kĩ nghệ và chính phủ, nhưng luận án vẫn theo đáp ứng 2 tiêu chuẩn quan trọng là tính nguyên thuỷ (có cái mới) và tầm quan trọng.

Giáo sư có đề xuất gì với các cơ sở đào tạo tiến sĩ và các cấp quản lý để nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học trong đào tạo tiến sĩ?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn: Tôi không có đề xuất gì cả, vì tôi nghĩ chỉ mất thì giờ mà thôi. Tôi nghĩ quy trình đào tạo và tiêu chuẩn học vị tiến sĩ cần cải cách từ lâu rồi. Cách tốt nhất là tổ chức một uỷ ban chuyên trách nghiên cứu và cải cách toàn diện chương trình đào tạo tiến sĩ sao cho đúng với chuẩn mực ở các nước tiên tiến.

Tôi nghĩ đầu vào rất quan trọng. Việc đánh giá một đề tài nghiên cứu có xứng đáng tầm tiến sĩ hay không cần phải dựa vào những tiêu chuẩn khoa học, chứ không phải phải tuỳ tiện hay theo suy nghĩ cá nhân. Ngoài ra, cần có những tiêu chuẩn cụ thể cho một luận án tiến sĩ, và bộ tiêu chuẩn này có thể tìm thấy đây đó của các hiệp hội khoa học quốc tế.

Hiện nay, đã có quy định nghiên cứu sinh phải công bố 2 bài báo khoa học để được bảo vệ luận án. Nhưng cần phải bổ sung là tập san phải ‘chính thống’, chứ những tập san dỏm hay gần dỏm hay không thuộc một hiệp hội khoa học thì không nên công nhận.

Có những quy định mà theo tôi là không cần thiết. Chẳng hạn như quy định về số trang của luận án; về số tài liệu tham khảo trong nước bao nhiêu, nước ngoài bao nhiêu,… là không cần thiết.

Cũng không cần phải có buổi lễ bảo vệ luận án và càng không cần phải gửi 50 phiếu xin ý kiến nhận xét luận án tóm tắt của nghiên cứu sinh. Nhưng cần phải gửi luận án cho các giáo sư nước ngoài hay ngoài trường đại học đánh giá và bình duyệt.

Phải cải cách để học viên có thì giờ và tập trung tâm trí vào khoa học hơn là đối phó hành chính. Phải cải cách để cái bằng tiến sĩ từ Việt Nam có ý nghĩa quốc tế và người cầm cái bằng đó có thể tự tin và cạnh tranh xin postdoc (hậu tiến sĩ) từ các đại học thuộc các nước tiên tiến.

Trân trọng cảm ơn Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn.

Đặng Lường

Góc nhìn: Xứng tầm tiến sĩ

Xin giới thiệu đến các bạn một ý kiến khác liên quan đến luận án tiến sĩ. Bài này tôi viết trong mục Góc nhìn của VNexpress. Bài này nhấn mạnh một thực trạng về những báo cáo tổng kết được chuyển thành luận án tiến sĩ !

***

https://vnexpress.net/xung-tam-tien-si-4460916.html

Gần đây, tôi nhận được một câu hỏi tương tự từ nhiều người “Thế nào là một luận án xứng tầm tiến sĩ” – vấn đề không mới nhưng đang thời sự trở lại sau những ồn ào liên quan đến luận án “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông cho công chức, viên chức thành phố Sơn La”.

Nhiều người chia sẻ thắc mắc với tôi: “Sao luận án tiến sĩ mà có vẻ đơn giản quá?”. Tôi không bình luận gì về luận án cụ thể này. Vấn đề là ở chỗ, có hơn 10 luận án tương tự lặp lại đề tài “Nghiên cứu giải pháp phát triển môn cầu lông…” ở các tỉnh A, B, C… khác. Nghĩa là có ít nhất 10 tiến sĩ đã tốt nghiệp từ đề tài cầu lông.

Những luận án trên giống như những báo cáo tổng kết một chương trình hành động hơn là những công trình nghiên cứu khoa học.

Báo cáo tổng kết không cần dựa vào một giả thuyết khoa học, và phương pháp đo lường thường không đáp ứng các tiêu chuẩn của phương pháp khoa học (scientific method). Những quan sát ở một địa phương có thể chỉ mang tính đặc thù của địa phương đó, chứ không mang tính quy luật, vốn là một tiêu chuẩn của khoa học tính. Thế nhưng, ở Việt Nam có rất nhiều báo cáo như thế được hoán chuyển thành luận án tiến sĩ. Đó là sự ngộ nhận.

Khác với báo cáo hành chính, một luận án tiến sĩ là thành quả của một hay vài nghiên cứu khoa học. Mỗi nghiên cứu có mục đích chính là kiểm định một giả thuyết khoa học. Nhà khoa học không thể chứng minh một giả thuyết là đúng hay sai, mà chỉ có thể kết luận dữ liệu phù hợp hay không phù hợp với giả thuyết.

Hai tiêu chuẩn quan trọng của một luận án cấp tiến sĩ là tính nguyên thủy (originality) và tầm quan trọngTính nguyên thủy đòi hỏi luận án phải có ít nhất một cái mới. Cái mới có thể là ý tưởng, hoặc cách tiếp cận vấn đề, hoặc phương pháp, hoặc dữ liệu, hoặc cách diễn giải dữ liệu. Trái với cách nhiều người mỉa mai, luận án tiến sĩ vẫn có thể là một nghiên cứu dạng “bình cũ, rượu mới” (hiểu theo nghĩa một ý tưởng cũ được làm mới bằng cách tiếp cận mới).

Tầm quan trọng có thể hiểu rằng kết quả nghiên cứu sản sinh ra tri thức khoa học, và tri thức đó có ảnh hưởng hay tác động trong và ngoài chuyên ngành khoa học, hay chính sách công, hay xã hội.

Mục đích chính của đào tạo tiến sĩ là kiến tạo một đội ngũ nhà khoa học chuyên nghiệp, những người có khả năng làm nghiên cứu khoa học và giảng dạy trong đại học. Trong một khảo sát đối với những giáo sư hướng dẫn luận án tiến sĩ ở Anh, khi được hỏi mục đích của đào tạo tiến sĩ là gì, thì đa số giáo sư (72%) xem đào tạo tiến sĩ là chuẩn bị cho họ một sự nghiệp nghiên cứu khoa học trong môi trường đại học, và ứng dụng kỹ năng trong môi trường ngoài đại học.

Ở Việt Nam, mục tiêu đào tạo tiến sĩ đã bị lệch, thể hiện qua phân bố tiến sĩ trong và ngoài khoa học. Việt Nam hiện có hơn 25.000 tiến sĩ, nhưng đa số không làm việc trong các đại học. Số liệu năm 2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo công bố cho thấy chỉ khoảng 8.500 giảng viên đại học (trong số 60.000) có bằng tiến sĩ. Ngoài ra, trong số 10.000 giáo sư và phó giáo sư, khoảng 50% không làm việc trong các đại học hay viện nghiên cứu. Sự lệch lạc về mục tiêu đào tạo có lẽ do hiểu sai bản chất của luận án tiến sĩ như đề cập trên.

Hơn 200 năm qua, người theo học tiến sĩ thường theo đuổi những nghiên cứu, nói theo tiếng Anh là “blue sky” (trời xanh), tức những ý tưởng “trên trời”, có khi chẳng liên quan gì với thực tế trong tương lai gần; tạm gọi những tiến sĩ đó là tiến sĩ hàn lâm (academic doctorate). Và, khi nói đến tiến sĩ người ta nghĩ ngay đến nhóm tiến sĩ này.

Tuy nhiên, chương trình đào tạo tiến sĩ ngày nay đa dạng hơn chứ không đồng dạng như trước. Với sự phát triển kinh tế và vai trò của doanh nghiệp gần đây, các đại học bị áp lực phải thay đổi cách đào tạo tiến sĩ sao cho đáp ứng nhu cầu của kỹ nghệ và doanh nghiệp. Nhu cầu của doanh nghiệp và kỹ nghệ là có những chuyên gia cao cấp tầm tiến sĩ nhưng nghiên cứu của họ phải mang tính ứng dụng cao. Xuất phát từ nhu cầu này, các đại học phương Tây cho ra đời chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp (Professional Doctorate hay Vocational Doctorate).

Tiến sĩ hướng nghiệp tập trung vào những nghiên cứu mang tính ứng dụng cao. Các nghiên cứu sinh tiến sĩ hướng nghiệp là những người có kinh nghiệm thực tế trong chuyên ngành và họ muốn nâng cao kiến thức cũng như kỹ năng để thăng tiến trong sự nghiệp. Các chủ đề mà tiến sĩ hướng nghiệp nghiên cứu thường là đánh giá những lý thuyết mới hay cách hành nghề mới; nghiên cứu tìm giải pháp cho một vấn đề phức tạp; ứng dụng nghiên cứu khoa học vào một lĩnh vực chuyên môn; hoặc thiết kế một chương trình nghiên cứu nhằm mở rộng kiến thức chuyên ngành.

Do đó, những năm gần đây, các đại học phương Tây, kể cả Đại học New South Wales và Đại học Công nghệ Sydney (Australia), có những chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp cho ngành giáo dục (Doctor of Education), kỹ thuật (Doctor of Emgineering), y tế công cộng (DrPH), điều dưỡng (Doctor of Nursing Practice), quản trị kinh doanh (Doctor of Business Administration)…

Các đại học Việt Nam cũng nên xem xét triển khai chương trình đào tạo tiến sĩ hướng nghiệp và phân biệt với tiến sĩ hàn lâm. Tuy nhiên, dù là tiến sĩ hàn lâm hay tiến sĩ hướng nghiệp, thì luận án tiến sĩ vẫn phải đáp ứng hai tiêu chuẩn nguyên thủy và tầm quan trọng. Hai tiêu chuẩn này bảo đảm một luận án tiến sĩ phải thể hiện một đóng góp mới cho tri thức khoa học.

Nếu một luận án không đáp ứng hai tiêu chuẩn này thì không thể xứng tầm tiến sĩ.

Bàn về ngày sanh

Cảm tạ các bạn đã gởi lời chúc mừng sinh nhật. Nhà văn Mĩ Mark Twain nói rằng trong mỗi cuộc đời của chúng ta, có 2 ngày quan trọng nhứt: ngày mình được sanh ra, và ngày mình hiểu tại sao mình có mặt trên cõi đời này. Tôi chắc rằng cái ngày mình sanh ra là quan trọng, nhưng tôi chưa biết ngày thứ hai là ngày nào …  Nhân dịp này tôi muốn chia sẻ vài kỉ niệm thời thơ ấu ở miệt quê.

Ngày mình sanh ra là quan trọng, vì không chỉ đánh dấu thời điểm mình có mặt trên thế giới này, mà còn là ngày mình có được một hình hài hoàn chỉnh. Hình hài đó chỉ có 1 trên thế giới, vì không ai trên thế giới này có hình thể như chúng ta. Không chỉ hình hài mà còn có cả linh hồn đã tìm được một nơi cư trú. Hình hài là linh hồn làm cho mỗi chúng ta là một cá nhân (không phải ‘đối tượng’) đặc thù trên đời này, và điều đó có ý nghĩa rất quan trọng.

Sự ra đời của mình còn là niềm hạnh phúc và hi vọng của cha mẹ và người thân. Ngày tôi ra đời vào thập niên 1950, ông ngoại tôi (người Phù Mỹ, Bình Định), nghe nói là biết xem tử vi, tiên đoán rằng ‘thằng này lớn lên sẽ làm quan.’ Có thể đó không phải là một tiên đoán, mà là ước vọng của người cao tuổi, muốn thấy con cháu mình làm … quan. Thời dó, làm quan là oai quá rồi, nên quan là hình tượng và ước mơ của người dân quê. Tôi đoán vậy.

Vấn đề là đặt tên cũng thể hiện một niềm hi vọng. Trong gia đình tôi, cậu tư nổi tiếng là người hay chữ, nên cậu hay đặt tên cho cháu. Chẳng hiểu cậu nghĩ gì mà đặt tên cho tôi là “Tuấn”. Chắc cậu Tư tôi kì vọng rằng thằng cháu sẽ là một đứa khôi ngô tuấn tú như cách nói của người Việt. Sau này tôi mới biết Tuấn là một cái tên khá phổ biến ở người Việt mình. (Sau này, tôi được dòng họ phong cho danh hiệu “hay chữ”, nên tôi thay thế cậu tư đặt tên cho con cháu. Tôi tìm những cái tên hay và khác người, rồi tìm hiểu lịch sử và nguồn gốc, rồi đề nghị tên.)

Tôi lớn lên trong tình thương của bà con chòm xóm. Hàng xóm nhà tôi là những người Khmer nhân hậu, sống cuộc đời nông dân thuần tuý. Bên phải nhà tôi là nhà của Củ Hương, còn bên trái là nhà của Ý Hai. Ai cũng có một khu vườn thiệt lớn, còn căn nhà thì được cất gọn lỏn trong khu vườn đầy cây trái. Mỗi lần nhà hàng xóm làm bánh hay có lễ lạc là tôi có dịp thưởng thức những món ăn độc đáo của người Khmer. Một trong những món tôi rất thích là cơm ống, loại cơm tấm trộn với dừa nạo, có khi cả lá dứa, và nấu trong ống tre. Ngon không tả được. Một món khác tôi cũng rất thích là cốm dẹp, một món ăn đơn giản được làm từ gạo nếp còn xanh vào những ngày rằm. Tôi nhớ hoài những đêm trăng giúp bà còn giã nếp trong cối đá trước khi chế biến. Nói chung, tôi lớn lên trong một thời thanh bình, y chang như nhạc sĩ Lam Phương mô tả trong một ca khúc nổi tiếng:

‘Mừng trăng lên chúng ta cùng múa hát

Ước mong sao lúa hai mùa thơm ngát

Lúa về mang bao khúc ca tuyệt vời.’

Kỉ niệm đậm nét của tôi là thời học tiểu học. Để đi học, tôi phải bơi xuồng qua bên kia sông, rồi từ đó đi bộ đến trường tiểu học. Trường học thì rất gần chợ quê. Con đường từ nhà tôi đến trường chỉ non nửa cây số, nhưng thời đó còn ít nhà dân lắm và cây cỏ còn khá um tùm. Tôi vẫn còn nhớ ở đầu cầu, có một bụi tre lớn mà dân làng đồn nhau là có … ma. Thành ra, cứ mỗi lần đi ngang đó là tôi chạy, không dám nhìn kĩ xem trong đó có gì. Chạy sao cho đến Nhà thờ thì mới an tâm. Giờ nghĩ lại thấy tức cười, vì có ma miếc gì đâu, chỉ toàn là những lời đồn đại bậy bạ.

Tôi không biết trường tiểu học được xây vào năm nào, nhưng chắc chắn là dưới thời TT Ngô Đình Diệm. Hiệu trưởng của trường là thầy P, và nhà thầy ở sát bên trường. Con của thầy cũng đều là thầy cô trong trường. Ấn tượng của tôi về thầy P là một người chừng 50 tuổi, áo lúc nào cũng trong quần và mang giầy (dù ở miền quê), lúc nào cũng đội cái nón phớt, mặt rất nghiêm nghị. Đám học trò tụi tôi rất sợ thầy. Nói đúng ra là sợ cái uy của thầy. Người trong làng ai cũng gọi thầy là “Thầy”. Tôi theo má đi chợ mà gặp thầy là phải tự động khoanh tay chào; nếu không là bị nhắc nhở ngay: “Sao mày gặp thầy mà không chào?” Sau năm 1975, tôi nghe tin buồn rằng cả nhà thầy đều bị … “mất dạy”. Cái ngôi trường mà cả gia đình thầy gắn bó mấy chục năm giờ đây không còn là của thầy nữa. Thầy chắc buồn lắm nên qua đời vài năm sau đó. Còn các con thầy cũng bỏ nghề giáo và bỏ quê để lang thang ở Sài Gòn và có người đã qua đời trong nghèo khổ.

Tôi rất thích đi học, một phần là gặp bạn bè, một phần là mình học rất được. Chưa bao giờ tôi sụt xuống hạng 3. Tôi đem về nhà rất nhiều tờ giấy màu mè mà thời đó có tên là “Bằng Tưởng Thưởng”. Tôi còn nhớ thời đó bằng tưởng thưởng không giống như bây giờ, và cũng không có khẩu hiệu kiểu “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Trong nhà ai cũng khen thành tích học hành của tôi, ngoại trừ anh Hai. Anh Hai tôi thì không hề ‘ấn tượng’, vì anh ấy nói ‘Mày chỉ hên thôi.’ Học cỡ nào ảnh cũng nói ‘chỉ hên‘. Sau này tôi mới biết đó là cách anh ấy cảnh cáo rằng tôi không được tự mãn, và lúc nào đặt ra những cái chuẩn cao hơn để mình vượt qua.

Hình như tôi có cái duyên với chữ và viết lách từ thời còn rất nhỏ. Thỉnh thoảng về quê, bà con và bạn học ai cũng nhắc lại nhận xét rằng hồi đó tôi ít nói nhưng có nét chữ đẹp. Tôi quen đọc sách từ lúc còn rất nhỏ, và tủ sách nhà chỉ là mấy cuốn sách Tàu của ba tôi (như Tam Quốc Chí, Hán Sở Tranh Hùng, Thuỷ Hử, v.v.) và sách Tự Lực Văn Đoàn của anh Hai tôi. Đọc mê mẩn và nhớ từng chi tiết trong mỗi truyện. Tôi còn cố gắng viết truyện nữa chứ, và mơ một ngày nào đó mình sẽ làm nhà văn. Câu chuyện mà má tôi hay kể với bà con là khi tôi thấy hình ông tổng thống Diệm quá sang trọng, tôi hỏi má: “Má! học cỡ nào thì được như ổng?” Má tôi phì cười nói: “Học hết sách đi!”

Cái duyên viết văn của tôi bắt đầu từ một người hàng xóm. Một hôm, củ Hương (người Khmer hàng xóm) muốn viết một lá đơn về một vụ tranh chấp đất ruộng. Vì nghe đồn tôi ‘hay chữ’ nên ổng kêu tôi viết đơn. Tôi chấp bút viết một lá đơn chừng 1 trang giấy. Chẳng biết vì cách mô tả câu chuyện trong lá đơn hay vì lẽ phải mà kết cục như củ Hương mong muốn. Sau cái đơn đó tôi có tiếng trong làng là ‘thằng hay chữ’ và chấp bút cho nhiều lá đơn khác. Khỏi nói thì các bạn cũng đoán được là tôi được cho nhiều bánh trái nhờ cái công việc viết đơn. Cái ‘nghiệp’ viết lách đó nó còn kéo dài cho đến ngày hôm nay. Tôi viết như là một thể thao trí óc thôi.

Mục đích sống là gì?

Tại sao chúng ta được sanh ra? Đó là câu hỏi Mark Twain đặt ra, nhưng tôi nghĩ câu hỏi này không nên đặt ra, bởi đâu có ai biết chắc chắn. Theo triết lí Phật bản ngã (self) chỉ là ảo giác, nên câu hỏi tại sao chúng ta được sanh ra là không cần thiết, câu hỏi sai. Nhưng theo tâm lí học phương Tây thì bản ngã là có thật, và cần phải phân tích để hiểu cái căn cước tính của mỗi người. Thành ra, đi tìm câu trả lời cho câu hỏi “tại sao chúng ta được sanh ra” theo tôi là mất thì giờ vì khác điểm tham chiếu. Tốt nhứt là chúng ta chấp nhận rằng chúng ta đang sống, và cuộc sống có mục đích.

Chúng ta đang sống, và chúng ta cần phải kiến tạo cuộc sống tử tế hơn và đáng sống hơn. Để làm cho cuộc sống đáng sống hơn, chúng ta cần phải hạnh phúc và diệt khổ. Chúng ta chỉ hạnh phúc khi người chung quanh hạnh phúc. Để người chung quanh hạnh phúc, chúng ta cần phải chia sẻ và phụng sự. Suy nghĩ như thế chúng ta sẽ thấy mục đích sau cùng của cuộc sống là chia sẻ và phụng sự.

Ai cũng ghi nhận một sự thực là cuộc sống đúng là vô thường. Không có gì tồn tại mãi mãi. Tất cả đều thay đổi, hay nói theo ngôn ngữ thời nay là ‘tự diễn biến’. Bạn bè có khi thấy đó rồi mất đó. Chúng ta đã thấy biết bao trường hợp mà hôm qua thì lên xe xuống ngựa, hôm nay thì … đi tù. Thành ra, người ta có câu: ‘hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng‘ (nói theo cách nói của người phương Tây là ‘live each day as if it were your last day‘). Nói cách khác, hãy phụng sự đời mỗi ngày thì chúng ta sẽ có hạnh phúc và kiến tạo một đời sống đáng sống hơn.

Tôi nghiệm ra có 4 điều mà mỗi chúng ta có thể làm để tạo ra một cuộc  sống hạnh phúc. Đó là giúp người, chia sẻ, học hỏi, và cảm ơn.

Điều 1: Giúp người

Theo tôi, cuộc sống không phải là tìm câu trả lời cho câu hỏi ‘tôi là ai‘, mà là kiện tạo chính mình.  Một cách kiến tạo hiệu quả nhứt là giúp người khác, đặc biệt là những người trong tình huống khó khăn. Nếu không giúp được thì cũng đừng nên hại họ. Hành vi và hành động giúp đỡ người khác cũng có hiệu quả làm giàu vốn liếng tinh thần. Người phương Tây hay nói rằng không ai nghèo vì giúp đỡ người khác cả; ngược lại mình giàu hơn khi mình giúp người trong hoàn cảnh khó khăn. Câu đó rất đúng.

Từ ngày tôi được bầu vào Viện hàn lâm y học, tôi giúp khá nhiều đồng hương. Tôi chỉ viết thư giới thiệu để họ có thể sang Úc định cư. Tất cả các em này tôi chưa một lần gặp ngoài đời trước khi viết thư giới thiệu. Nam có, Trung có, Bắc có. Tôi chỉ thấy họ giỏi, có tiềm năng cho nước Úc, và nhứt là người mình với nhau, thì giúp thôi. Trong số 5 em, thì tôi giúp thành công cho 4 em. Coi như mình giúp họ đổi đời như tôi từng đổi đời cách đây 40 năm. Bốn mươi năm trước, người ta giúp mình qua đây;  giờ mình ở vị thế giúp người khác.

Điều 2: Chia sẻ

Tôi nghiệm ra rằng chia sẻ là một yếu tố rất quan trọng làm cho chúng ta sống có ý nghĩa hơn. Má tôi lúc sanh tiền hay nói câu “Chia ngọt sẻ bùi” một cách rất tự nhiên, chứ chẳng có triết lí gì cao siêu cả. Mà đúng vậy, vì bản chất của cuộc sống là chia sẻ với nhau. Chúng ta chia sẻ rất nhiều điều với người chung quanh. Tiền bạc, thức ăn, quần áo, tình cảm, tin mừng, tin buồn, v.v. đều có thể chia sẻ. Hồi còn nhỏ ở miệt quê, tôi thấy cái truyền thống chia ngọt sẻ bùi rất hay. Nhà tôi có tiệc nấu nướng là tôi có nhiệm vụ đi mời bà con và hàng xóm đến ăn uống. Hàng xóm làm bánh là cũng đem biếu cho hàng xóm khác. Tôi nghiệm ra là hành động chia sẻ như thế giúp cho cộng đồng gắn bó với nhau hơn và cuộc sống đáng sống hơn.

Tôi nghĩ truyền thống chia sẻ ở miệt quê cũng nên áp dụng trong giới có học. Nếu chúng ta có kĩ năng hay kiến thức chuyên môn, thì cũng nên chia sẻ với mọi người. Đó chính là một trong những lí do tôi thích viết và soạn bài giảng miễn phí trên mạng (dù tôi không có chức năng giảng dạy). Cứ mỗi lần nhận được email của các bạn nói rằng nhờ mấy kĩ năng tôi chia sẻ mà họ học hành tốt hơn hay được thăng tiến là tôi thấy vui trong lòng.

Điều 3: Học mỗi ngày

Hồi ở trại tị nạn tôi nghiệm ra cách giết thì giờ bằng cách học 1 chữ mỗi ngày và thấy rất hiệu quả. Bây giờ tôi cố gắng học 1 điều hay mỗi ngày. Cái điều hay đó có khi chẳng dính dáng gì với công việc, mà có thể là sự lạc quan, tính yêu đời, hay thái độ tích cực của người mình tiếp xúc. Điều hay cũng có thể là một câu nói hay trong sách mà mình đang đọc. Đó chính là lí do tôi dự rất nhiều seminar có khi chẳng dính dáng gì đến lãnh vực nghiên cứu của mình, vì mục tiêu là chỉ để học hỏi từ diễn giả và người mình tiếp xúc.

Điều 4: Cảm ơn

Cố gắng mỗi ngày, khi có dịp, viết xuống hay nói ra một câu cảm ơn. Ở đời, chúng ta phải cảm ơn nhiều người lắm: cảm ơn người nông dân để mình có gạo ăn; cảm ơn anh tài xế xe lửa để mình đi làm dễ dàng; cảm ơn người đầu bếp quán ăn đã nấu một món mì ngon; cảm ơn người quét đường đã giúp cho đường phố sạch sẽ, v.v. Nhận một email động viên, nên cảm ơn. Lên xe lửa thấy có người nhường ghế, cũng nên cảm ơn. Vào nhà hàng và được phục vụ, thì câu nói cảm ơn là không thể thiếu được. Có những tình huống, chữ ‘cảm ơn’ vẫn chưa đủ mà phải là “cảm tạ” (cảm = xúc động, tạ = cảm ơn) mới thích hợp.

Ở phương Tây thì câu “thank you” là câu nói rất phổ biến, nhưng ở Việt Nam thì vẫn cần phải học cách nói này của phương Tây. Hai chữ “cảm ơn” hay “cảm tạ” có hiệu quả thần kì, giống như chất xúc tác cho sự hạnh phúc và thắp sáng tâm hồn vậy.

Đó là 4 điều tôi nghiệm ra về mục đích của cuộc sống. Bốn điều đó có thể tóm tắt rằng: mục đích của cuộc sống là kiến tạo hạnh phúc, và để kiến tạo hạnh phúc, chúng ta nên giúp người, chia ngọt sẻ bùi, học hỏi mỗi ngày, và cảm ơn. Tôi nghĩ rất dễ thực hành 4 điều này mỗi ngày, và nếu ai cũng làm vậy thì cuộc sống này quả thật đáng sống hơn.

Tin vui

Ở trên tôi nói có tin vui, và chắc các bạn muốn biết đó là tin gì. Vậy thì tôi xin áp dụng 4 điều trên để chia sẻ tin vui đây.

Số là 2 hôm trước tôi được để cử và phê chuẩn chức danh “Distinguished Professor” [1]. Trước đây, tôi là một “Endowed Professor,” một loại cái chức danh ở các đại học phương Tây có nghĩa là đương sự được một tổ chức hay nhà hảo tâm ngoài đại học trả lương. Những chức danh này thường có tên của tổ chức hay nhà hảo tâm trước chữ ‘Professor’. Trong trường hợp của tôi, ‘nơi khác’ đó là Hội đồng Y tế và Y khoa Quốc gia (NHMRC). Rồi mấy tháng trước, khi khoa có chỗ trống, người ta để cử tôi chức danh Distinguished Professor, và nay thì được Hội đồng đại học phê chuẩn. Quyết định phê chuẩn mới đến ngày hôm kia, trước ngày sanh chỉ 2 ngày. Thành ra, sinh nhật năm nay — mặc dù tôi không có tiệc tùng gì — đánh dấu một chặng đường.

Thư phê chuẩn chức danh “Distinguished Professor” của sếp gởi chỉ 2 ngày trước sinh nhật!

Đó là một chặng đường 4 thập niên. Như các bạn biết, năm nay (2022) ghi dấu tròn 40 năm tôi gọi Úc là quê hương thứ hai. Thời gian tôi ở đây còn dài hơn thời gian tôi ở Việt Nam. Ngày đặt chân đến đây, tôi cũng như tuyệt đại đa số các đồng hương khác, không một đồng xu dính túi. Tự do thì có đấy, nhưng tất cả chúng tôi đều đứng trước một tương lai bấp bênh và vô định. Chẳng biết mình sẽ làm gì và sống ra sao. Nhưng người Việt chúng ta có cái gen tôi gọi là ‘resilience gene’, nên những khó khăn rồi cũng vượt qua. Mọi người rồi cũng hoà nhập vào xã hội mới và đóng góp cho đất nước này tốt hơn. Riêng tôi thì có cái may mắn là còn đóng góp cho quê hương thứ nhứt nữa.

Hôm nọ, một nhà báo bên Việt Nam nhận xét rằng tôi giống như người ‘mở cửa’ cho các đồng hương khác và thể hệ sau. Ý chị ấy nói là tôi là người gốc Việt đầu tiên bước chân vào một số thiết chế học thuật ở Úc. Nghĩ lại thấy chị ấy nói cũng có lí. Chừng 15 năm trước, tôi được đề bạt chức danh Professor, và lúc đó UNSW nói rằng tôi là người gốc Việt đầu tiên đạt chức vụ này. Tôi cũng là người gốc Việt đầu tiên được trao DSc của UNSW. Khi được bầu vào Viện hàn lâm y học và Royal Society of New South Wales thì tôi là người gốc Việt đầu tiên. Tôi cũng là người gốc Việt đầu tiên trở thành Fellow của ASBMR và Editor của JBMR. Trước đây và cho đến nay, tôi là người gốc Việt đầu tiên được trao Senior Fellowship của NHMRC. Tôi nghĩ rằng những thiết chế mình đã đặt chân đến sẽ là những mục tiêu để các bạn thuộc thế hệ sau nhắm tới. Nếu một người tị nạn như tôi có thể bước vào các thiết chế đó thì tại sao các bạn thuộc thế hệ sau có điều kiện tốt hơn chắc chắn sẽ làm được.

Câu chuyện của tôi là một hành trình và những gì tôi đã học được trong hành trình đó. Aldous Huxley từng nói về trải nghiệm như sau:

Trải nghiệm không phải là những gì xảy đến với một người, mà là những gì người ta ứng xử trước những gì xảy đến với họ.” (Experience is not what happens to a man. It is what a man does with what happens to him).

Tôi ngẫm nghĩ câu này rất đúng với quãng đường mình đã đi qua. Cứ mỗi lần vấp ngã là một bài học quí báu để mình học thêm và tự thay đổi. Tôi lại nhớ đến câu nói của Richard Feynman: Bạn không có nghĩa vụ làm người của năm qua, tháng trước, hay thậm chí một ngày vừa qua. Bạn ở đây để tạo ra chính bạn một cách liên tục. Vài năm trước, một căn bệnh đến với tôi một cách khá tình cờ, mà nếu không điều trị kịp thì tôi không còn ngồi đây để viết ra những dòng chữ này. Căn bệnh đó làm cho tôi ‘humble’ với thân thể mình và buộc mình phải suy nghĩ về cuộc sống. Căn bệnh đó còn giúp tôi hiểu hơn về khái niệm mà người phương Tây gọi là “vulnerability”. Từ căn bệnh, tôi khám phá rằng những cái gọi là thành công và danh vị không quan trọng như người trẻ hay nghĩ, vì những cái đó chỉ có hiệu quả chận tiếng nói nội tâm của chúng ta mà thôi. Cái quan trọng là chúng ta làm gì để cuộc sống hạnh phúc hơn, và 4 điều tôi trải nghiệm trên hi vọng rằng sẽ giúp các bạn suy nghĩ thêm về mục đích của cuộc sống.

_____

[1] Có lẽ nhiều bạn muốn biết cái chức danh Distinguished Professor là gì, nên tôi giải thích ngắn gọn như sau. Ở các nước phương Tây, chức danh này là một dạng honor / danh dự, được trao cho những giáo sư được xem là lãnh đạo một chuyên ngành cấp quốc tế [*]. Chức danh này không phải “xin”, mà qua đề cử, và người đề cử thường là khoa trưởng. Mỗi khoa chỉ được có một số Distinguished Professor theo quota; do đó các ứng viên có tiềm năng phải xếp hàng chờ khi mấy người kia nghỉ hưu hay chết thì mới được để cử. Sau đề cử là một hội đồng thẩm định, và 4 báo cáo bình duyệt từ các giáo sư độc lập với ứng viên (thường là ở nước ngoài và phải cấp Distinguished Professor) [**]. Cũng như các chức danh khác, chức danh Distinguished Professor có thời hạn 5 năm, có nghĩa là tôi chỉ được quyền sử dụng chức danh này trong 5 năm mà thôi.

[*] https://thebestschools.org/magazine/professors-ranks

[**] https://www.gsu.uts.edu.au/policies/appoint-prof-distinguished.html

Nhân ngày 30/4: Nhớ lại những ngày đầu trên đất Úc

Hôm qua ngồi ‘tán dóc’ trên bàn cà phê cùng với một anh làm PR cho đại học, anh ta nói “Anh là một người phụ bếp nổi tiếng” rồi cười ha hả. Ý anh ấy nói là trong một lần trả lời phỏng vấn, tôi kể lại những ngày đầu ở Úc tôi làm phụ bếp. Chuyện đúng 40 năm trước, nhưng không bao giờ phai nhoà trong kí ức, nên nhân ngày 30/4 tôi lại kể chuyện xưa hầu … ‘mua vui cũng được một vài trống canh.

Ngày 30/4/1975, một ngày lịch sử, ngày mà có triệu người vui và triệu người buồn. Tôi nằm trong nhóm triệu người buồn [1].

Cabramatta Hostel

Tôi tới Phi trường Sydney đúng vào ngày Quốc Khánh 26/1/1982. Đó là một buổi sáng nóng bức lắm. Nhóm tị nạn chúng tôi chỉ chừng 20 người (nếu tôi nhớ không lầm) xuống máy bay sau cùng, và được nhân viên di trú của Liên Hiệp Quốc và Úc quản lí chặt chẽ. “Chặt chẽ” hiểu theo nghĩa không được đi đâu linh tinh, mà phải tập trung đúng vào nơi được chỉ định. (Thật ra, có cho đi thì cũng chẳng biết đi đâu). Chúng tôi đứng xếp hàng tề chỉnh, chờ hướng dẫn của các nhà chức trách.

Nhìn lại thì đúng là một nhóm người … ô hợp. Người thì quần áo chỉnh chu mượt mà (chắc là có viện trợ của thân nhân khi còn ở trại tị nạn), nhưng đa số thì quần áo tạm bợ, lếch thếch, chẳng giống ai. Ai cũng đen đúa và còn đọng bùn phèn vì thời gian ở trong trại tị nạn khá lâu. Tóc tai thì chẳng ra sao cả, nhìn rất ư là thảm hại. Hành lí thì hầu hết chẳng có gì. Riêng tôi thì chỉ có một cái cặp màu xanh của UNHCR cấp, mà trong đó chỉ có 3 bộ đồ, kể cả một cái áo ấm do một người Thái cho làm kỉ niệm khi tôi còn ở cái làng chài Budi. Không một đồng xu dính túi. Tôi nghĩ lúc đó, các hành khách Tây nhìn chúng tôi chắc là thương hại lắm.

Chờ một chút thì cũng đến lúc … lên đường. Lần này, chúng tôi được ‘lùa’ lên một chiếc xe bus lớn. Xe chạy bon bon (thời đó còn ít xe chứ không như bây giờ xe quá nhiều) qua những con đường mà sau này tôi mới biết là Henry Lawson Drive và Hume Highway về hướng Cabramatta. Ấn tượng của tôi về nước Úc lúc đó là … nghèo nàn. Xe chạy trên con đường hai bên là cây cối um tùm, nhưng thỉnh thoảng cũng có nhà dân. Nhà dân thì đa số làm bằng chất liệu fibro nhưng cũng có nhà gạch. Nhà nào cũng có một cái sân phía trước và cỏ được chăm sóc rất tốt. Hoàn toàn không có một building nào cả.

Đi qua những con đường như vậy làm tôi tự hỏi “Họ đưa mình đi đâu đây?” Lúc đó, trong trí tưởng tượng của tôi, thành phố Úc chắc như Los Angeles, New York, Chicago mà tôi hay thấy trong phim Mĩ. Mà nếu không cỡ đó thì thành phố Úc phải như Bangkok ‘phồn hoa đô hội’ hay ít ra là phải hơn Sài Gòn chứ. Nhưng hoàn toàn chẳng thấy ‘phồn hoa đô hội’ gì cả, chẳng thấy một cái building, còn đường xá thì vắng bóng người, chỉ thấy vài chiếc xe qua lại. Tôi nghĩ chắc là họ cho mình về vùng quê rồi. Thôi, vậy cũng được. Mình thân phận tị nạn, có nơi tá túc là may lắm rồi, còn đòi hỏi gì nữa chứ. Tôi thầm nghĩ vậy, và tôi nghĩ đa số các bạn khác cũng nghĩ vậy.

Xe chạy một hồi (hơn 30 phút) thì tới một khu mà sau này tôi mới biết là Cabramatta. Khu này có nhiều dãy nhà gạch màu nâu đen mà sau này tôi mới biết đó là Cabramatta Hostel (không phải “hotel”, mà là “hostel”) được xây dựng chỉ nhằm phục vụ cho người tị nạn và di dân. Người di dân từ nhiều nơi, bao gồm các nước như Nam Tư, Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô cũ, Hồng Kông, Macao, v.v. Còn nhóm tị nạn thì chỉ có Việt Nam, Cam Bốt và Lào. Chúng tôi được sắp xếp ở từng phòng, mỗi gia đình 1 phòng; nếu độc thân thì share phòng với người khác. Phòng ốc rất chỉnh chu và rất sạch sẽ, y như khách sạn 3 sao. Nội qui của hostel là không được nấu nướng trong phòng, nhưng hình như được hút thuốc (thời đó chưa có cấm hút thuốc).

Đó là nơi tôi định cư đầu tiên ở Úc: Cabramatta Hostel. Hostel này cách thị trấn Cabramatta chỉ chừng 15 phút đi bộ. Thời đó, Cabramatta là một ngoại ô bán nông thôn, bán thành thị. Nói theo tiếng Anh là “Sleepy suburb” – ngoại ô ngủ. Mà, ngủ thật, vì trung tâm ngoại ô chỉ là một con đường chánh (đường John Street) với vài quán lèo tèo. Các con đường chung quanh thì chỉ là nhà dân. Ga xe lửa làm bằng gỗ (chứ không hoành tráng như ngày nay) và lâu lâu (vài chục phút) mới có một chuyến xe. Rất ít người ở ngoài phố, nên gọi là ‘thị trấn’ cho oai, chứ thật ra chẳng mấy ai đi chợ do rất ít shop. Tuy nhiên, Cabramatta có một cái “Pub”, là nơi bán bia rượu — không thể thiếu được ở bất cứ ngoại ô nào bên Úc.  

Đa số người tị nạn sau khi tìm được việc làm họ rời Hostel và mướn nhà ở Cabramatta. Đó chính là lí do tại sao Cabramatta sau này trở thành “thủ đô” của người Việt tị nạn ở Úc. Không chỉ người Việt, mà người Cam Bốt và Lào cũng theo người Việt định cư ở đây. Năm đó (1982), tôi nhớ chỉ có 2 tiệm chạp phô bán thực phẩm Á châu, chủ yếu là hàng nhập từ Thái Lan. Do đó, khi chúng tôi thèm món ăn Á châu thì phải tới hai tiệm này để mua mì, nước nắm, gạo, v.v. về nấu nướng (dĩ nhiên là sai qui định của Hostel). Đàn ông, thanh niên thèm bia thì ra Pub mua bia về nhậu. Một thùng bia Toohey (nổi tiếng thời đó) hình như chỉ có 5 đôla thôi (ngày nay là 50 đôla). Vậy mà chỉ 15 năm sau người Việt tị nạn ở đây đã biến một “sleepy Cabramatta” thành một trong những khu đô thị sầm uất nhứt Sydney, đẩy giá mướn shop lên gần ngang hàng với trung tâm thành phố Sydney!

Cuộc đời gắn liền với “St Vinnie”

Chỉ sau 1 ngày là chúng tôi đã làm xong thủ tục thường trú tại Úc. Tôi nhìn lại tờ giấy di trú thì thấy ở mục “Công dân” họ để trống, tức là lúc đó tôi là một người vô quốc tịch. Sau khi làm thủ tục, họ nói phải chờ một thời gian thì Sở An Sinh Xã Hội mới cấp tài trợ tạm thời. Trong khi không có tiền mua sắm thì họ nhờ một nhóm từ thiện có tên là St Vincent de Paul giúp đỡ.

Ngày hôm sau tôi được dẫn tới cửa hàng St Vincent de Paul, cũng gần Cabramatta Hostel. Hội từ thiện St Vincent de Paul được sự đóng góp tiền bạc của các nhà hảo tâm, và họ còn được dân chúng cho quần áo và đồ gia dụng. Hội chọn ra những bộ quần áo và những món hàng còn tốt để cho người nghèo khó. Những người tị nạn như tôi lúc đó được xem là “người nghèo khó” nên được các hội từ thiện như St Vincent de Paul ‘chiếu cố’. Tôi được cấp 30 đôla (nếu tôi nhớ không lầm), một số tiền không hề nhỏ lúc đó. Số tiền này được dùng để mua quần áo và giầy dép. Dĩ nhiên, chỉ là đồ ‘second hand’ (tức đã qua sử dụng) thôi. Nói là ‘second hand’ nhưng cái áo chemise và cái quần tôi mua được rất tốt, chẳng khác gì đồ mới. Còn đôi giày thì trời ơi quá xịn luôn! Tôi giữ những đồ vật này suốt mấy chục năm sau như là kỉ niệm những ngày đầu tới Úc.

Nghĩ cũng hay: đời tôi gắn liền với họ St Vincent. Tôi được nhà từ thiện St Vincent de Paul cưu mang trong những ngày đầu đến Úc. Sau đó, tôi gắn bó suốt 30 năm liền với Bệnh viện St Vincent’s. Tôi như có duyên với St Vincent hay sao ấy, và tôi rất tự hào mình là một thành viên của “St Vinnie” (đó là cái tên thân thiện mà các ‘thần dân’ của St Vincent’s đặt cho).

Bệnh viện St Vincent’s, nơi tôi gắn bó hơn 30 năm trời trong nhiều vai trò, trước khi chuyển sang đại học UTS (ảnh Wikipedia)

Học tiếng Anh: “DymockOxford

Sau khi được trợ cấp, việc đầu tiên tôi nghĩ đến là mua một cuốn từ điển tiếng Anh. Hồi thời còn ở trại tị nạn, tôi học tiếng Anh từ cuốn từ điển Longman và Oxford rất hiệu quả, do đó khi qua đây tôi phải tìm mua cho được cuốn từ điển Oxford. Nhưng ở Sydney, chỉ có mấy nhà sách lớn ngoài Sydney mới có bán, chứ vùng bán thành thị như Cabramatta thì không có tiệm sách. Tôi đón chuyến xe lửa (thật ra là xe điện) từ Cabramatta đi Sydney (tức trung tâm thành phố). Sau khoảng 1 giờ, tôi cũng đến ga Town Hall.

Xe lửa thời đó là loại Red Rattler mà thế hệ ngày nay không hay ít ai biết đến. Nó chỉ có 1 tầng, không có máy lạnh, và ghế thì không tiện nghi như ngày nay. Xe chạy rất ồn ào. Nếu trời nóng thì mở cửa sổ gió vào vù vù. Từ Cabramatta đi Sydney, xe lửa ngừng đón khách ở mỗi ga, và có chừng 30 ga như thế. Do đó, thời gian từ Cabramatta đi Sydney phải mất cả 60 phút!

Xe lửa “Red Rattler” thời thập niên 1980 và 1990 ở Sydney. Tôi đã đi làm trên những chiếc xe như thế này suốt 20 năm trời.

Bước lên đường George ở trung tâm Sydney, tôi như người nhà quê ra tỉnh (mà đúng như vậy). Nhìn chung quanh building nào cũng cao vút, cứ nhìn sự hoành tráng của các tòa nhà này chắc chẳng khác gì mấy người bộ đội miền Bắc mới vào Sài Gòn nhìn building mà rớt nón cối. “Ấn tượng” nhất là cái tòa nhà Victoria được xây theo kiểu sandstone, trông rất có duyên và đúng với nghĩa hoành tráng. Người ta thì đi lại tấp nập, hình như ai cũng bận rộn. Điểm đến của tôi là nhà sách Dymock mà bà giáo nói có bán sách. Bà còn dặn là lên khỏi ga Town Hall là sẽ thấy. Nhưng giữa cái nơi ‘phồn hoa đô thị’ này, nhà sách Dymock nó nằm ở đâu.

Tôi hỏi hết người này đến người kia để biết nhà sách Dymock ở đâu. Ai cũng tử tế dừng lại nghe tôi hỏi, nhưng khổ nỗi tôi đọc chữ Dymock sai nên họ không giúp được gì. Khi một ông tương đối già dừng lại, tôi nói rằng tôi tìm nhà sách Dymock. Tôi đọc là “Đai-Mốc”. Ông già chăm chú lắng nghe và cố tìm trong kí ức nhà sách này ở đâu, nhưng ông chịu thua. Ông hỏi tôi đánh vần tên nhà sách, và tôi sẵn sàng làm ngay. Khi tôi đánh vần xong thì ông vỗ trán kêu lên: “Ah, Đi-Mịk”! Tôi ngỡ ngàng và tự hỏi sao tiếng Anh gì mà phức tạp thế. Rồi, ông ấy chỉ đường cho tôi đến nhà sách, cách đó chẳng bao xa.

Đến nhà sách lại học thêm một bài học phát âm tiếng Anh. Nhà sách Dymock rất lớn, có đến ba tầng, sách nhiều ơi là nhiều. Trong cái thế giới đó thì khó tìm cuốn từ điển, nên tôi phải hỏi người bán sách. Tôi tự tin nói “tôi muốn mua cuốn từ điển Oxford”. Tôi đinh ninh rằng chiếc xe Ford mình đọc là “Fo.d”, vậy thì Oxford đọc là “Ox-Fo.d”. Ở Việt Nam ai cũng đọc như vậy mà. Anh chàng bán sách gãi đầu không biết tôi tìm từ điển gì. Anh ta lại kêu tôi viết xuống tờ giấy trắng, và khi tôi viết xong thì anh ta kêu lên “Ah, Ox-fớd”! Cuốn từ điển đó theo tôi cũng năm tháng, và đến nay đã 37 năm tôi vẫn còn giữ nó trên kệ sách như là một kỉ niệm về học tiếng Anh, dù ngày nay tôi ít khi nào đụng đến nó.

Đến đây thì tôi nghĩ không thể chủ quan trong cách phát âm tiếng Anh được. Không phải như tiếng Pháp, viết sao thì đọc giống vậy, còn tiếng Anh thì nhìn thấy như vậy mà đọc thì không phải vậy. Sau này tôi còn phát hiện rất nhiều chữ mà nếu không có cọ sát với xã hội ở đây thì rất khó phát âm đúng. Những chữ tiêu biểu đó là allowance, kibosh, celtic, candidate, niche, và những cái tên như Beauchamp, Worcester, Chloe, Bohun, Murray, McMahon, v.v.

Làm phụ bếp

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Có lúc đi theo nhóm, có lúc đi một mình. Dạo đó, hễ có việc gì là lao vào làm, chứ không có lựa chọn. Người khá tiếng Anh thì xin đi làm lựa thư trong bưu điện, người kém tiếng Anh thì xin việc làm ở mấy hãng xưởng (thời đó Úc còn nhiều hãng lắm). Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Ở xứ này, không có kinh nghiệm thì người ta không muốn nhận mình vào làm, có lẽ vì ngại mất thì giờ và tiền bạc để huấn luyện.

Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn co1 tên “Belmore Hotel” với kiến trúc hơi lạ làm mình dễ nhớ. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent’s đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent’s toạ lạc, để xin việc.

Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp có tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây, kì này tôi làm gan nói là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. “Làm ở đâu?” Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là xắt củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là rửa chén, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 10 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi niu xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả.

Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và xắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi. Vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là ngày đầu tiên khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất lớn, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi: “Tao phải lột hết hai bao này à?” Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói: “Dĩ nhiên, đó là công việc của mày mà!” Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn tôi vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Mày có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã khai từng làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Georgina Ramsey và thú nhận là tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm nhà bếp. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc vì cái tội tày trời đó, nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai chỉ mới đến Úc có 2 tháng!), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc. Bà ta còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. cũng có cùng số phận như tôi. Tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên!

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 300 giường. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xào nấu sơ qua và giao cho bếp chính chế biến tiếp. Có khi tôi còn được bếp chính giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn!

Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì quan trọng. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Trước khi thức ăn đem cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Tôi còn nhớ họ có cái thước cứ cắm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Thử nghề ở “The Regent”

Lúc đó, khách sạn Regent mới mở ở Circular Quay, và họ cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê. Gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v. Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác.

Khi vào nhà bếp tôi gặp vài người quen từ trại tị nạn bên Thái Lan. Trong đó có thằng em tên Trạng, nó chỉ được nhận làm trong khâu rửa chén. Nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục bếp chính (thực là bếp phụ thôi) và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chứ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén to đùng. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi hai job và lại làm việc ca đêm mà còn đi học.

(Xin mở ngoặc thêm, khách sạn The Regent (nay là Sangri-La), nơi dành cho các khách VIP từ nước ngoài. Hôm đi ăn với anh bạn Nicholas Nguyên ở Sydney Harbour, tôi cũng chỉ qua khách sạn và nhắc kỉ niệm xưa với anh ấy).

Mua xe hơi

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đô-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người “Mr Đu” cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (nhà bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng.

Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977 (tức mới 5 năm tuổi), giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nỗi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Đây là cái xe tôi mua đầu tiên ở Úc. Đó là chiếc Toyota Corona (sau này thay thế bằng Camry). Năm 1982 tôi mua nó với cái giá 7000 đôla, lúc đó nó đã 5 tuổi. Máy Nhật 18-RC huyền thoại, rất êm và rất bền. Tôi sử dụng nó cả 20 năm trời sau đó và vẫn chạy ‘ngon lành’.

Ra toà

Có xe đi lại rất tiện vì không còn lệ thuộc vào xe lửa công cộng nữa. Lúc đó tôi đã đi học, nên lái xe đi làm, xong việc làm thì lái xe đến trường cách St Vicent’s chừng 30 km. Thời đó, đường phố Sydney ít xe, chứ không phải nhiều và kẹt xe thường xuyên như bây giờ, nên lái xe rất thoải mái.

Vậy mà tai nạn vẫn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s, đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện gần đó là Prince Alfred Hospital. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặc đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe.

Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tánh xong, ông hỏi tôi có luật sư không, tôi nói không. Ông hỏi: “Mày có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Thời đó, bằng lái xe cũng chỉ là tạm thôi (loại màu đỏ).

Đến phiên tôi trả lời. Tòa quay sang hỏi tôi có đồng ý với bản luận tôi không. Trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would be injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.”

Quan tòa và cảnh sát lại nói gì đó mà tôi không hiểu. Ông tòa quay sang lại hỏi tôi. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì đâu còn câu nào khác. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười và nói “Thằng này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”!

Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi không có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thời đó, bằng màu đỏ mà vi phạm giao thông là mất luôn, sau này phải thi lại. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe. Suốt 40 năm qua tôi chưa bao giờ dính dáng vào tai nạn xe.

Nhớ nhà

Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam. “Một lần đi là một lần vĩnh biệt / một lần đi là mãi mãi chia phôi.” Do đó, ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Mấy năm sau có vài lần đi công tác bên Singapore và Âu châu và tạt ngang qua Thái Lan, tôi cứ nhìn về quê nhà đau đáu. Có lần quá cảnh ở Khách sạn “The Montien” ở Bangkok, đứng trên tầng 20 nhìn về Việt Nam và biết chỉ có 1 giờ bay thôi, nhưng chưa thể về được, và buồn vô hạn.

Trong cái bối cảnh đó, có người sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: “Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi.” Nhạc sĩ Việt Dzũng (đã qua đời) thì có bài “Một chút quà cho quê hương”, còn Đức Huy với bài “Khóc một dòng sông” (Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều / nhất là những buổi chiều mưa rơi / Cũng may Cali trời mưa ít không như Sài Gòn / Nếu không tôi đã khóc một dòng sông …) mà mỗi lần Ngọc Lan trình bày là nhiều người khóc một cách tự nhiên. Có một ca khúc của Nguyệt Ánh (không nhớ tựa đề) nhưng lời ca thì tôi còn nhớ đến nay, trong đó có đoạn:

Ôi me yêu ơi,

con lang thang giữa phố đông người

Tuy phố đông người,

nhưng con lạc loài một bóng đơn côi.

Ngay cả cái nóng bên này cũng làm mình nhớ nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!

Một mình anh lê bước trên đời,

Nắng nơi đây cũng là nắng ấm,

Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương.

Ca khúc Nắng quê hương của Nguyệt Ánh qua tiếng hát của Ngọc Lan

Phải nói, thời đó có những sáng tác về nỗi nhớ Sài Gòn và Việt Nam rất hay vì tác giả viết ra từ cảm xúc rất thật của họ. Phải chi bây giờ có ai đó [dám] làm một luận án về văn học và âm nhạc thời tị nạn đó thì hay biết mấy, vì đó là một giai đoạn rất đáng ghi vào sử sách Việt Nam.

Ca khúc Mưa Sài Gòn còn buồn không anh, một sáng tác của Nguyệt Ánh qua tiếng hát Lâm Nhật Tiến (trung tâm Asia).

Bây giờ thì người tị nạn đã có thể về quê tương đối bình thường, nên những lời nhạc trên hơi lỗi thời, và ít người còn ca những bài đó nữa. Tuy nhiên, với tôi những lời nhạc trên dù đã được viết ra hơn 30-40 năm về trước nhưng cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp 30/4.

Ca khúc Một chút quà cho quê hương, một sáng tác nổi tiếng của Viêt Dũng qua tiếng hát Khánh Ly (trung tâm Asia).

Người tị nạn (refugee) khác với người di cư (immigrant). Người tị nạn là người tuyệt vọng, vô quốc tịch, không có tài sản, và họ bị “bứng” khỏi quê hương qua một biến động lịch sử. Người di cư có quốc tịch, họ có tài sản, và họ ra đi một cách tự nguyện. Người tị nạn do đó thường mang trong mình những chấn thương tinh thần. Người tị nạn lúc nào cũng bị ám ảnh bởi căn cước tính của mình. Do đó, mỗi năm cứ đến ngày 30/4 là có dịp đọc những câu chuyện của đồng hương khắp nơi trên thế giới. Chuyện tù cải tạo, chuyện vượt biên, chuyện tị nạn, v.v. Nếu tất cả những câu chuyện này mà tập hợp lại thì sẽ thành một cuốn sách hay.

Người tị nạn sống giữa hai thế giới. Một bên là quê hương, nơi chôn nhao cắt rốn; một bên là quê hương tạm dung. Người tị nạn thường bị giằng xé tâm tư, một bên là kí ức của quê hương đầy biến động và đau khổ, một bên là đất nước tạm dung giàu có nhưng chưa chắc là thoải mái. Thành ra, người tị nạn đã xa rời quê hương, nhưng trong tâm tưởng họ chưa bao giờ rời quê hương. Họ ở đây, nơi tạm dung, mà không phải ở đây. Họ thành đạt về kinh tế, họ có thể có địa vị trong xã hội nơi tạm dung, nhưng cái tâm thế của họ thì vẫn còn chông chênh.

_____

[1] Nhiều khi tôi tự hỏi: nếu không có ngày 30/4/1975 thì miền Nam sẽ ra sao. Khó đoán ngược lịch sử ở bình diện lớn, nhưng có thể nói rằng chế độ mới đã kéo lùi sự tiến bộ của miền Nam Việt Nam cả nửa thế kỉ.

Phải đi vòng quanh các nước như Singapore, Thái Lan, và Mã Lai mới thấy Việt Nam mình nghèo và lạc hậu ra sao. Ngay cả hôm nay, Việt Nam tuy có khá hơn chút, nhưng nhìn kĩ thì không khá chút nào đâu vì kinh tế lệ thuộc vào vài ba tập đoàn nước ngoài, và chúng ta đa số chỉ là những kẻ gia công lương thấp mà thôi.

Ông Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng trước 1975. Ông là người gốc Hà Nội nhưng từng ở Long Xuyên trong một thời gian dài, nơi ông soạn nhiều quyển sách có giá trị. Ông tự nhận là người “có cảm tình với ‘cách mạng'”. Nhưng sau 1975 thì ông vỡ mộng, và có viết hồi kí. Sau đây là những trang/dòng bị kiểm duyệt trong cuốn hồi kí viết về những gì xảy ra sau 1975.

Trong cuốn hồi kí ông ghi lại những thất bại sau 1975. Đó là sự mất đoàn kết, phân chia giai cấp, thiếu kỉ luật, suy sụp kinh tế. Ông viết về một xã hội sa đoạ, với tham nhũng tràn lan, ăn cắp, và buôn lậu, và kì thị Bắc – Nam. Ông tóm tắt về một thời mà có lẽ ngày nay ít ai quan tâm hay biết đến:

• Sự ngạo mạn của những người ‘thắng cuộc’: những biện pháp nhằm san bằng chế độ cũ để không để lại dấu vết nào cả. “Phải đuổi hết các nhân viên cũ, để anh em cách mạng chia nhau tất cả các chức vụ lớn nhỏ”. Nhưng khổ nỗi những nhân viên cũ là những người có học và thực tài, còn người mới thì vừa dốt, vừa ngạo mạn, nên chẳng làm được gì!

• Chia rẽ Nam – Bắc: ngay từ thời đó (1980) dấu hiệu chia rẽ Nam – Bắc đã rõ nét. Ông viết “Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hóa, kĩ thuật – điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là ngụy nữa, vì ngụy có tư cách hơn kháng chiến.”

• Ngay cả cùng phe cũng chẳng có đoàn kết: “Cùng là công nhân viên cả, mà bọn ở Bắc vô không ưa bọn Liên khu 5; hai hạng đó đều khinh bọn ở bưng trong Nam về; bọn này lại không chơi với bọn trước kia tập kết ra Bắc, nay trở vô Nam; bọn ‘nằm vùng’ cũng không ưa bọn tập kết về đó.”

• Khinh miệt: ông so sánh: “[…] Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hóa; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc […] cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm chứ đừng nói là người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là ngụy hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là ngụy với nhau mà!”

Điệu buồn phương Nam

Hôm về Việt Nam tôi được tặng nhiều sách, trong đó có cuốn “Điệu buồn phương Nam“, mà tôi rất muốn giới thiệu đến các bạn xa gần, đặc biệt là dân miền Tây (kể cả Kiên Giang), đọc nhân ngày 30/4.

Điệu buồn phương Nam là tập hợp 57 đoản văn và truyện ngắn của tác giả Kim Chi. Theo lời giới thiệu của tác giả Trần Văn Chánh, Kim Chi tốt nghiệp ngành quản lí môi trường và đang làm việc cho một đại học ở Bình Dương, tức chẳng dính dáng gì đến văn chương. Thật vậy, tác giả không phải — và cũng không tự nhận mình — là một nhà văn, mà chỉ là một người mê văn chương và viết văn như là một thú tiêu khiển.

Kim Chi sanh ra và lớn lên ở huyện Gò Quao thuộc tỉnh Kiên Giang. Tính ra thì Kim Chi là đồng hương của tôi, và Gò Quao chỉ cách huyện tôi chừng 20 km mà thôi. Mặc dù Gò Quao là một nơi được xếp vào nhóm nghèo khó, nhưng qua hé lộ gián tiếp, tác giả xuất thân từ một gia đình khá giả. Ở trang 163, tác giả viết “Khác với ‘bọn địa chủ tham lam độc ác’ vẫn được mô tả trong văn học cách mạng, ông nội tôi rất yêu nước.” Một câu văn ngắn như thế không chỉ tiết lộ gia thế, mà còn gián tiếp phản bác những luận điệu tuyên truyền dối trá về những người được gọi là ‘địa chủ’ ngày xưa ở miền Tây.

Lớn lên từ một vùng đất tương đối mới và hoà quyện mình vào văn hoá sông nước, nên những bài bút kí, tuỳ bút và truyện ngắn của Kim Chi phản ảnh đời sống và sinh hoạt của người miền Tây, đặc biệt là chung quanh Gò Quao và vùng lân cận như U Minh. Đó là những mối tình dân dã trong làng, những cuộc hôn nhân miệt quê, những tình duyên éo le, những phiên chợ quê cùng những nét văn hoá đặc thù miền sông nước, v.v. Có những câu chuyện (như “Tưởng bở”, “Hận đống rơm”) làm cho độc giả thấy tức cười vì sự ngây ngô của các nhân vật, nhưng cũng có những chuyện về sự biến thái tình người sau 1975 hay trong thời ‘chuyển tiếp’ làm cho độc giả thấy trăn trở về đạo đức truyền thống miệt quê bị sứt mẻ. Những nhân vật và những cá tánh được mô tả trong sách rất đậm nét đời thường. Độc giả sẽ bắt gặp những người như Ba Cọp, Ba Bò, Tư Đờn, Sáu Hô, Chín Móm, v.v. mà bất cứ ai lớn lên ở miền Tây đều có thể liên tưởng đến những người hàng xóm của mình. Tác giả không đặt nặng việc phân tích tâm lí của các nhân vật, mà chỉ kể chuyện và quan sát.

Tất cả những câu chuyện được viết bằng một văn phong trong sáng, rặc Nam bộ, y như cách nói chuyện của người miền Tây. Độc giả sẽ thích thú khi bắt gặp những câu văn và những chữ đậm chất miền sông nước như tui, ảnh, chỉ, dìa, gởi, hổng, đặc khừ, làm phước, chắc ăn như bắp, v.v. Hãy đọc một đoạn tác giả mô tả nhà gần trường học:

Nhà tui chỉ cách trường Cấp III có 7 cây số nhưng tui phải trọ học vì lội bộ thì qua nhiều cầu khỉ tui đi hông giỏi, không lọt cầu này thì té mương kia. Chèo xuồng thì tui hông rành, cà rịch cà tang, tới trường là trễ. Mới đầu má cũng định cất cho tui cái chòi gần trường giống như lũ học trò xứ tui nhưng má sợ tui hư nên cuối cùng má mới gởi cho người bà con bên nội, nhà chỉ cách trường một con kinh.” (trang 124).

Đọc đoạn văn trên là biết ngay của người miền Tây. Rất tiếc là những phương ngữ này đang dần dần biến mất trên văn đàn và báo chí. Thật ra, ngay cả chính tác giả cũng thỉnh thoảng tỏ ra ‘hương đồng gió nội bay đi ít nhiều’ khi dùng những chữ như ‘tiểu thư’ thay vì ‘tiểu thơ’ (trong “Hồi đó tôi có dáng vẻ rất tiểu thư“, trang 148), hay thậm chí “Zậy là” (trang 149) hay “dzô dziên” (trang 130). Cũng có thể sự đánh mất cái chất văn miền Tây đó là do bàn tay của người biên tập quyển sách.

Tác giả còn tỏ ra là một người hóm hỉnh và có phần lí lắc. Trong bài “Ghen kiểu … Tây” (trang 58), tác giả bắt đầu bằng một câu văn như sau: “Không biết tại sao nhưng quả thực người miền Tây, kể cả Tây đui hay Tây xịn, đều có tính cách rất là phóng khoáng và nghệ sĩ. Riêng dân miền Tây quê tui thì phóng khoáng và nghệ sĩ cả trong chuyện đánh ghen.”

Hoặc có những truyện mà tác giả kết thúc bằng một câu văn làm cho độc giả phải … ngẩn ngơ. Chẳng hạn như trong truyện “Chân tình” (trang 88), tác giả viết về một chị cựu học sinh của trường Marie Curie (một trường danh giá ở Sài Gòn) đem lòng thương một chàng trai trẻ hơn chị đến 10 tuổi, giúp cho anh này ăn học thành tài, thậm chí còn đứng ra cưới vợ và nuôi con cho anh ta. Rồi khi anh ta trở thành giám đốc, chị làm tạp vụ cho anh ấy, để rồi chính anh ấy cho chị nghỉ hưu:

Rồi một ngày kia chị nhận được quyết định về hưu từ tay anh. Anh đưa cho chị mà không nói thêm gì, chỉ lạnh nhạt chào rồi vội vã bước lên xe cùng vợ con cho một chuyến du lịch dài ngày. Chị thu xếp đồ đạc về quê, ở nhờ nhà một người chị gái cũng không chồng như chị” (Trang 91).

Độc giả Kiên Giang sẽ đọc thấy những địa danh quen thuộc như sông Cái Lớn (mà tác giả viết là “Cái lớn”), Miệt Thứ, xóm Cái Bần Lớn, Cả Bần, chợ Chà Quơn, chợ Thuỷ Liểu, v.v. Tôi tin rằng người Kiên Giang, đặc biệt là Gò Quao, sẽ rất thích thú khi thấy hay tự tìm thấy mình trong những địa danh đặc thù đó xuất hiện trên trang giấy và trong các bài tản văn.

Không chỉ là những địa danh quen thuộc, mà ngay cả cách đặt tên cho con cái cũng rất gần gũi với người miền Tây. Trong truyện “Độc chiêu” tác giả viết về một gia đình có những người con được đặt tên theo thứ tự: Chơi, Bời, Tiền, Bạc, Ngàn, Triệu, Được, Sang, Giàu! Đọc những tên đó làm tôi nhớ đến gia đình bác Ba Tễ (là chỗ quen biết rất thân với Ba Má tôi) đặt tên cho con là Quyết, Chiến, Sinh, Bình, Tồn, và Tiến. Nhưng sau 1975, bác lại sanh thêm hai người con nữa, và thế là bác đặt tên Yên, Lành. Vậy là tôi có những người anh và chị mà tên đọc lên như là một câu văn: Quyết Chiến Sinh Bình Tồn Tiến Yên Lành. Những cách đặt tên như thế cũng nói lên ước vọng của người dân miền Tây trong thời chiến.

Tóm lại, Điệu buồn phương Nam là một tập đoản văn nhẹ nhàng viết về những sinh hoạt đời thường ở miền quê Tây Nam Bộ sau 1975. Đã có nhiều người viết về miền Tây Nam Bộ, nhưng Kim Chi khác với những tác giả khác ở văn chương dày đặc những phương ngữ Nam Bộ cùng một văn phong tự nhiên, và chính đặc điểm này làm cho tác giả trở thành một người kể chuyện vừa gần gũi vừa có duyên và có khi hỏm hỉnh.

Đối với các bạn nào yêu văn chương Nam Bộ hay muốn tìm hiểu về tâm lí và tánh khí của người miền Tây thì Điệu buồn phương Nam nên có mặt trong tủ sách gia đình.

Kể chuyện miền Tây 4/2022

Việt Nam sau trận đại dịch có nhiều đổi thay: vật đổi sao dời, người còn kẻ mất. Dưới đây là vài ghi chép sau một chuyến đi 10 ngày ở Sài Gòn và miền Tây. Tôi thấy nông thôn miền Tây mình ngày nay giống như nông thôn Thái Lan của 40 năm trước.

Sau 2 năm vì dịch bệnh, tôi có một chuyến ‘xuất ngoại’, và chuyến này lại đi Việt Nam. Vậy mới hay! Chuyến đi vì công việc và đầy ấp lịch làm việc, nhưng tôi cũng may mắn đi lại một vài ngày ở miền Tây. Trước hết là về quê Kiên Giang, ra Rạch Giá thăm bạn bè. Sau là đi Cần Thơ, băng ngang qua Hậu Giang (trước 1975 là Chương Thiện) để đến Tây Đô Cần Thơ. Rồi lưu lại Cần Thơ 2 đêm để dự hội thảo, và lại hẹn hò bè bạn. Sau đó là lên Sài Gòn làm việc suốt 7 ngày liền, trước khi bay về Sydney.

Cần Thơ sau đại dịch Covid-19 và ‘review’ Khách sạn VinPearl Cần Thơ

Rất vui là gặp lại bạn bè, ai cũng sống sót qua trận đại dịch. Ở Úc, ngày đầu vào làm labo/office và họp mặt, tụi tôi thường hay nói đùa (mà thật) là chúng ta đã may mắn cón sống sót qua cơn đại dịch. Một số đồng nghiệp đã vĩnh viễn ra đi vì Covid, nhưng một số lớn khác thì về hưu non hay nằm trong diện gọi là VSP (tức là cho nghỉ việc trước khi xong hợp đồng). Ở đại học tôi công tác, số người ra đi vì VSP lên đến con số 600 người, và rất nhiều người có hàm giáo sư, giảng sư, giảng viên. Thành ra, còn sống sót — theo cả hai nghĩa đen và bóng — là một phước đức ông bà để lại rồi. Gặp lại các bạn ở VN còn sống sót là mừng lắm rồi.

Nhiều bạn gặp tôi và nhận xét rằng “Ông vẫn vậy.” Không hẳn đâu. Bề ngoài thì vẫn vậy, nhưng sức khỏe cũng có vài thay đổi theo chiều hướng xấu đi. Chẳng hạn như lên cân. Chẳng hạn như nồng độ LDL tăng bất chợt. Chẳng hạn như khi Bs Phương ‘đè’ ra chụp CT thì tôi mới thấy xương mình bị thoái hóa khá bộn. (Nó đúng với khái niệm “Skeletal Age” mà tôi đề xướng). Do đó, nhìn bề ngoài ổn định, đi lại nhanh nhẹn, ai cũng tưởng là ok, nhưng “thấy vậy mà không phải vậy”. Dù gì thì tôi cũng phải cảm ơn các bạn đã tận tình chăm sóc tôi trong thời gian ngắn ở Sài Gòn.

Sau 10 ngày ở trong nước, tôi thấy gì và nghĩ gì? Nhiều bạn hỏi tôi câu đó. Chính tôi cũng tự hỏi mình như vậy. Câu trả lời là ‘chẳng thấy gì cả’. Thấy sao hết được khi mình chỉ có 10 ngày, và trong thời gian đó thì 7 ngày là ở trong phòng học rồi. Thành ra, những gì tôi ghi lại dưới đây chỉ là cảm nhận thôi: cảm nhận của một người có dịp về quê và trò chuyện cùng bà con, bạn bè.

Một buổi nhậu ở miền Tây. Sau khi đi thăm ruộng xong thì mặt trời đã lên cao, và bà con bắt đầu gầy sòng. Hôm về quê, anh họ tôi bắt cá và làm lẩu mắm và mắm ruột đãi tôi. Đây chỉ là một góc sân nhà của anh họ tôi (bà nội anh ấy là chị ruột bà ngoại tôi), rất mát mẻ vì đầy bóng cây. Con rạch này chỉ có chừng 100 căn nhà và đại đa số thuộc dòng họ tôi, nhưng khi đại dịch tới thì cả xóm bị xáo trộn cả.
 
Tôi hay khoe với bạn bè ở Úc và Sài Gòn là khi nào có dịp về Rạch Giá với tôi, tôi sẽ dẫn vào con rạch này để thăm nhà bà con. Muốn nhậu ở nhà nào cũng được, vì đa số là bà con cả và ai cũng chào đón tôi.

Đường về miền Tây

Trước hết là chuyện đường xá. Tôi lúc nào cũng quan tâm đến con đường từ Sài Gòn về miền Tây, bởi đó là vùng đất bị thiệt thòi nhứt nhì ở Việt Nam. Trước đây, đường từ SG về Rạch Giá (chừng 260 km) mất khoảng 5-6 tiếng đồng hồ. Chỉ có một đọan ngắn là đường cao tốc Trung Lương (40 km), và sau đó là đoạn đường đau khổ trên Quốc Lộ 1. Đường thì hẹp, xe cộ thì đông, chưa kể xe gắn máy thì dập dìu nối đuôi trên khắp nẻo đường, rồi hai bên là nhà dân và hàng quán rất gần mặt lộ, vô cùng nguy hiểm. Thành ra, chuyến về miền Tây nào đối với tôi cũng là một nỗi kinh hoàng.

Đường từ Tây đi Sài Gòn sau đại dịch Covid-19

Nói chuyện đường xá miền Tây, tôi nhớ chuyện xưa có lần tôi diện kiến ông NPTrọng (lúc đó hình như là Chủ tịch Quốc hội). Ông ấy hỏi tôi có ‘nguyện vọng’ gì; tôi nói chẳng có nguyện vọng gì cả (tôi không ưa chữ ‘nguyện vọng’), chỉ có yêu cầu ­­mà thôi: yêu cầu xây dựng đường cao tốc về miền Tây. Ổng nói ‘Tôi thấy đường miền Tây cũng tốt mà‘. Tôi kinh ngạc khi nghe ổng nói như vậy, và tôi biết dạo đó ổng chưa bao giờ đi thăm miền Tây. Mà nếu có đi thăm thì với kiểu cách tự mãn và tự cao đó chẳc gì ổng đã nói được với ai. Tuy nhiên, tôi nói vừa đùa vừa thật rằng ‘Có lẽ anh chưa đi về miền Tây bằng xe đò, vì nếu anh đi thì sẽ biết đấm lưng tự động nó như thế nào‘. Sợ ổng không hiểu nên tôi giải thích thêm rằng: ‘Đường xá miền Tây xấu lắm vì mấy chục năm qua chưa được Nhà nước quan tâm, dù đó là nơi nuôi cả nước‘. Dĩ nhiên là ổng đâu làm được gì và cũng không thể nói khác tôi, nên ổng bảo viên thư kí ghi lại lời phản ảnh. Tôi thì thừa hiểu ghi lại vậy cho vui thôi, chứ chuyện đâu thì cũng sẽ vào đấy. Nói chung, những cuộc gặp gỡ kiểu này chỉ là ngoại giao và làm mất thì giờ với nhau thôi.

Đó là câu chuyện của nhiều năm trước, còn nay thì đã có chút thay đổi tích cực rồi. Ngày nay, đường từ SG về quê tôi ở Kiên Giang là 4 giờ đồng hồ, rút ngắn chừng 2 giờ. Lí do là các cây cầu lớn như Vàm Cống (do Hàn Quốc tài trợ, thiết kế và xây) và Cao Lãnh (ADB và Úc tài trợ và thiết kế) đã được đưa vào sử dụng, cộng với đường cao tốc mới. Vẫn đi qua đoạn đường Trung Lương, nhưng từ đó nối liền với Quốc Lộ 1A, và băng qua Đường Xuyên Á về tới Rạch Giá. Tuy gọi là ‘cao tốc’ nhưng xe chạy chỉ với tốc độ 70-80 km/giờ mà thôi. Nhiều đoạn đường vẫn còn gập ghềnh lắm, chẳng phải là ‘cao tốc’ gì đâu. Dù gập ghềnh như vậy, nó cũng rút ngắn thời gian đáng kể cho hành khách. Trong tương lai gần, khi đoạn đường cao tốc Trung Lương – Mỹ Thuận đưa vào sử dụng thì đường từ SG về Rạch Giá có thể chỉ còn 3 tiếng đồng hồ. Đó là một thay đổi tương đối tích cực.

Môi trường miền quê

Cũng như những năm trước, tình trạng ô nhiễm môi sinh ở miền quê càng ngày càng nặng nề và nghiêm trọng hơn. Những con sông hoặc là đã chết, đang chết hay sắp chết. Không chỉ là những con sông, mà còn là những kênh rạch, là nguồn sống của người dân miệt quê cũng bị ô nhiễm trầm trọng. Cá tôm dưới sông rạch không còn nữa, hay có còn thì cũng chỉ là những con nhỏ xíu mà thôi. Ngày xưa, mỗi lần dỡ chà là mỗi lần tiệc đình đám, vì bắt được những con tôm càng lớn và cá thì ôi thôi đủ loại. Thời đó, chẳng ai ăn mấy con cá nhỏ hay cá lòng tong, nhưng ngày nay thì tất cả đều không thoát bàn tay của con người.

Sợ nhứt là vấn đề sử dụng chất trừ sâu ở đồng ruộng. Làm ruộng là phải dùng hóa chất trừ sâu, diệt cỏ. Như là một qui luật Darwin, sâu cỏ càng ngày càng tiến hóa độc hại hơn và phức tạp hơn, và nông dân buộc phải dùng thuốc trừ sâu diệt cỏ ‘mạnh’ hơn. Hậu quả là hệ sinh thái ở miền Tây bị tổn hại. Cá tôm trên đồng ngày càng hiếm, một phần là do tình trạng “xiệt điện”, nhưng phần lớn là do làm dụng thuốc trừ sâu. Anh họ tôi nói, có những loại thuốc trừ sâu diệt cỏ từ Tàu độc hại đến nổi một con ếch nhảy xuống vũng nước mới xịt thuốc là có thể chết ngay! Nghe mà phát kinh.

Dư chất của thuốc từ sâu diệt cỏ trên ruộng sẽ đi đâu? Sẽ chảy xuống sông. Vậy là sông đã ô nhiễm thì càng ô nhiễm hơn. Bởi vậy, có cá tôm nào mà sống nổi trong môi trường đó. Sông là nguồn sống của con người, mà sông ô nhiễm thì chúng ta dễ đoán được hậu quả của sức khỏe cộng đồng ra sao. Ở miền quê ngày nay có rất nhiều “bệnh lạ” (theo cách nói của dân miệt quê) nhưng thật ra là những bệnh là hậu quả của ô nhiễm môi trường. Ung thư càng ngày càng phổ biến ở các cộng đồng miền Tây. Tôi chỉ ngồi quán cà phê chừng 1 tiếng đồng hồ là đã nghe qua ít nhứt 10 câu chuyện về bệnh ung thư và những cái chết vì ung thư ở dân làng tôi. Một anh hàng xóm mới qua đời ở tuổi 72 vì ung thư phổi và tiểu đường. Tôi nghĩ tình trạng xuống cấp về môi trường là một trong những mối đe dọa lớn nhứt đến kinh tế và sức khỏe ở Việt Nam. Điều đáng nói là dân chúng chẳng mấy ai quan tâm và quan chức thì càng ít quan tâm vì họ có mối bận tâm khác.

Cống ngăn mặn

Ở tỉnh tôi có cái cống ngăn mặn sông Cái Lớn, mà có khi báo chí gọi là “Siêu Cống”. Tôi chưa có dịp ghé quá cái cống này, nhưng biết rằng nó rất lớn. Lúc có dự án xây dựng thì đã có các chuyên gia bàn tán về tác hại của nó. Nhưng ở Việt Nam, Nhà nước đã quyết định là họ làm, còn các bàn tán, ‘góp ý’ chỉ là hoa lá cành, làm cho mấy người gọi là ‘trí thức’ thấy vui vì có tiếng nói, chứ Nhà nước vẫn làm bất chấp ý kiến của chuyên gia. Chắc chắn là trước khi xây dựng, người ta cũng làm mô phỏng và đánh giá, nhưng không rõ có sự phản biện và đánh giá độc lập hay chỉ là những tiếng nói của giới ‘trí thức cung đình’.

Cống Cái Lớn đã được đưa vào sử dụng và đúng là nó có hiệu quả ngăn mặn, giúp cho bà còn làm ruộng ở khía cạnh nào đó tốt hơn. Nhưng hậu quả là nó làm thay đổi dòng chảy của mấy con sông xuất phát từ Cái Lớn. Chẳng hạn như con sông trước nhà tôi ngày nay nó cứ lình bình, và khái niệm nước lớn nước ròng không còn nữa. Hậu quả là sự ô nhiễm càng ngày càng trầm trọng hơn, và cá tôm càng khó có nôi sinh sống. Đã có nhiều người dân than phiền là vài con sông rạch bắt đầu hôi thúi, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày.

Tuy nhiên, chắc phải vài năm nữa thì cái lợi và cái hại của cái cống khổng lồ này mới đánh giá hết được.

Đô thị hóa nông thôn

Miền Tây về bản chất vẫn là miền quê, nhưng tốc độ đô thị hóa diễn ra một cách chóng mặt. Con đường từ Rạch Sỏi về quê tôi, qua Minh Lương và Chắc Kha, ngày xưa hai bên đường là đồng ruộng xanh rì, nhưng ngày nay hàng quán san sát nhau, y chang như thị xã vậy. Có những đoạn đường tôi không thể nhận ra vì hoàn toàn bị đô thị hóa.

Những con đường làng có từ thời VNCH, sau 45 năm ‘giải phóng’, cũng được nâng cấp để xe hơi có thể đi được. Thật vậy, con đường vào làng tôi ngày xưa chỉ đi xe gắn máy, nhưng nay thì được mở rộng để 2 chiếc xe auto có thể đi được. Khi đường xá được mở rộng thì hàng quán cũng mọc lên, kéo theo các dịch vụ cho dân làng, và hệ quả là cái làng quê êm ả ngày nào nay trở nên … ồn ào. Ban ngày thì dưới sông ghe thuyền tấp nập qua lại, trên lộ thì xe cộ dập dìu; ban đêm thì karaoke vang trời, làm ‘biến dạng’ một làng quê tiêu biểu của miền Tây.

Nói cho ngay, những thay đổi trên cũng đem lại những phát triển tích cực cho người dân: kinh tế khá hơn. Đường về nhà tôi, hai bên đường có rất nhiều nhà mới xây bằng gạch và mái tole. Rất hiếm những căn nhà lá lụp xụp xưa kia. Hỏi ra mới biết là ‘tác giả’ của những căn nhà mới đó là những người công nhân làm việc ở những khu công nghiệp như Bình Dương, Long An, Sài Gòn, v.v. Đó là những người bỏ quê, bỏ đồng ruộng để đi làm công nhân trong các hãng xưởng. Làm công nhân có thu nhập tương đối ổn định hơn là làm nông dân vừa cực khổ vừa bấp bênh. Ngày xưa, khi về quê thấy căn nhà nào ‘hoành tráng’ thì đó là nhà có người đi vượt biên (Việt kiều) gởi tiền về xây. Còn ngày nay, nhà nào mới xây khang trang hơn thì thế nào cũng có yếu tố ‘vượt biên’, nhưng vượt biên trong nước.

Người hàng xóm tôi (vợ chồng anh Bình) ngày xưa có căn nhà do ba má để lại cũ kĩ nhưng ngày nay đã là một cơ ngơi khang trang, hoành tráng. Hỏi anh làm ăn ra sao, anh nói bằng tiếng Việt pha chút Khmer: “Tao nhờ hai thằng con, chớ tao làm ruộng đâu đủ tiền để xây.” Xây tốn bao nhiiêu tiền? Khoảng 1.5 tỉ đồng (tức 70,000 USD). Hỏi thằng nào ‘tài trợ’, anh nói một thằng con làm cho Viettel, một thằng làm cho công ti xây dựng ở Bình Dương và sau này về Rạch Giá, và chúng nó dành dụm tiền về xây nhà cho hai vợ chồng ảnh. Tôi nghe qua mà mừng thầm vì ít ra hai vợ chồng cũng có một cơ ngơi an hưởng tuổi già.

Trong quê tôi ngày nay có người đi làm ăn xa, rồi nay thành công và quay về giúp cho làng quê. Có người về với dự án xây cây cầu ngang sông, và lập công ti may mặc để tạo công ăn việc làm cho dân trong làng. Nghe những câu chuyện như thế làm tôi thấy ấm lòng về tấm lòng tương trợ của dân quê, và thỉnh thoảng cũng chạnh lòng nghĩ về vai trò của mình. Mình cũng đi xa, nhưng cho đến nay thì chẳng giúp ích gì cho dân làng mình …

Nhưng một người hàng xóm khác thì kém may mắn hơn và vẫn nghèo. Đó là một chị người Khmer, tuổi cỡ 70, không chồng, còn ba má chị ấy thì qua đời khá lâu, chỉ để lại vài công đất mà chị ấy cũng không có khả năng làm vì do bệnh tật. Ba má chị ấy là một ân nhân của gia đình tôi. Vì túng thiếu, chị ấy đòi bán đất hoài, nhưng tôi khuyên là không nên vì đó là mảnh đất của ba má chị ấy để lại, nên cứ giữ đó để cho người em (là thầy tu chùa Khmer). Khi nào chị ấy thiếu thì tôi tài trợ cho đến khi nào chị ấy trăm tuổi.

Mưu sinh ở miền Tây sông nước. Nhìn cái ghe tưởng như sắp chìm, nhưng rất … ok. Nhìn cảnh này thấy thương người dân xứ mình ghê nơi.

Chuyện Covid

Về Việt Nam nghe rất nhiều câu chuyện đau buồn và tang thương về Covid do chính người trong cuộc (bác sĩ, y tá) kể lại. Một trường tiểu học kia được ‘trưng dụng’ để cách li hàng 600 người, một số dương tính nCov nhưng đa số thì chỉ là phơi nhiễm (ở Việt Nam người ta gọi là ‘F1’). Chỉ có 2 bác sĩ mới ra trường và 6 y tá phụ trách. Không có thuốc điều trị. Họ chỉ cho những thuốc thông thường và nhìn người dân lần lượt ‘ra đi’. Đúng như ông bí thư TPHCM nói: tập trung người ta lại rồi đứng nhìn, chứ chẳng biết làm gì.

Nhưng vấn đề vệ sinh mới kinh khủng. Người bệnh và không bệnh nằm la liệt từ trong phòng ra ngoài góc đây, bụi cỏ. Cả trường tiểu học chỉ có 4 cái toilet cũ kĩ thì điều kiện vệ sinh cho 600 con người chỉ có thể mô tả là kinh khủng. Thế mới thấy cách chủ trương cách li thật là dã man.

Nhìn chung thì con virus Vũ Hán hoành hành ở vùng nông thôn ít hơn vùng thành thị. Trong những tháng đầu, thậm chí cả năm đầu, miền quê không bị ảnh hưởng bởi Covid. Nhưng sau khi có sự ‘hồi hương’ của những công nhân từ các khu công nghệ về quê và xét nghiệm đại trà thì Covid mới trở thành một mối quan tâm. Tuy nhiên, mức độ tác động của Covid ở miệt quê cũng không quá nặng nề như ở thành phố.

Ở miệt quê cũng có những chuyện covid cười ra nước mắt. Cái kênh LB dưới quê tôi dài chỉ chừng 2 km với chừng 100 căn nhà sống yên tĩnh. Ấy vậy mà khi những qui định về Covid về miệt quê thì cũng gây ra náo loạn và nhốn nháo một cách buồn cười. Mặc dù chẳng có ai bị Covid, nhưng người ta cho thiết lập 2 cái chốt để chận không cho người dân đi chợ hay đi lại thăm hỏi nhau. Phía sau nhà là đồng ruộng, nên thay vì đi bằng xe gắn máy, người ta đi ngang ruộng, ấy vậy mà cũng có người năng nổ ra chận lại. Chuyện người dân nhảy xuống sông trốn sau khi xét nghiệm cũng xảy ra và làm chuyện cười cho rất nhiều người. Đúng là Ngu dốt + Nhiệt tình = Phá hoại.

Tóm lại, Sài Gòn và miền Tây sau đại dịch đang dần dần ‘bình thường hóa’. Người dân hết sợ Covid rồi, vì có lẽ đa số đã bị Covid, tức là đã đạt miễn dịch cộng đồng. Đường xá Sài Gòn ngày nay chẳng khác gì so với thời tôi bước lên máy bay về Sydney vào đầu năm 2020 (tức đại dịch mới khởi phát), tức là cũng kẹt xe và rối bời. Tuy nhiên, nhiều hàng quán tôi hay lui tới thì hoặc là đã bị ‘thay tên đổi họ’, hoặc là biến mất, hoặc là đóng cửa. Đi về Rạch Giá và Cần Thơ, qua lưu lượng xe cộ và dòng người đi lại, cũng thấy tình hình kinh tế bắt đầu bình thường trở lại. Nếu lấy thang điểm từ 0 đến 10, tôi nghĩ mức độ bình thường hóa chắc cỡ 7-8.

Sài Gòn sau đại dịch Covid-19

Đó là một tín hiệu đáng mừng. Nền kinh tế khởi sắc tạo ra cơ hội cho nhiều người, nhưng chủ yếu là dân thành thị mà thôi. Còn ở miệt quê thì dù đã thay da đổi thịt từng ngày nhờ đồng tiền của công nhân, nhưng đa số vẫn ‘bán mặt cho đất, bán lưng cho trời’ và cuộc sống của họ vẫn còn chật vật. Thành ra, khoảng cách giữa thành thị và nông thôn hiện nay là rất lớn. Rồi dưới áp lức dân số, tình trạng ô nhiễm môi trường và xuống cấp môi sinh trong vùng ngày càng trầm trọng. Nếu là lãnh đạo có tầm thì khoảng cách nông thôn – thành thị và môi sinh phải là một mối bận tâm lớn, nhưng tôi sợ là giới lãnh đạo Việt Nam quá bận tâm đến chuyện nhiệm kì hơn là chuyện viễn kiến an sinh.

Cảm nhận chung của tôi là miền Tây ngày nay giống giống như nông thôn Thái Lan của hơn 40 năm trước. Bốn mươi năm trước, tôi đặt chân đến Thái Lan và kinh ngạc về sự phát triển nông thôn ở bên đó. Nhà cửa khang trang và đẹp (chứ không giống như nhà nghèo bên Việt Nam mình). Thời đó mà gần như nhà nào cũng có một chiếc xe bán tải chở hàng. Rất nhiều gia đình có con cái họ đi học đại học bằng xem Toyota Corolla! Đường xá (xa lộ) lớn và rất tốt.  Dĩ nhiên, nông thôn miền Tây cũng theo xu hướng đó, nhưng vẫn còn nghèo hơn Thái Lan nhiều. Tôi nhìn Thái Lan 40 năm trước, rồi nghĩ về miền Tây ngày nay và tự hỏi tại sao mình vẫn còn nghèo. Mỗi năm, miền Tây xuất khẩu được khoảng 15 tỉ USD (con số 2017, nhưng nay thì chắc cỡ 18 tỉ USD?) Không rõ số tiền đó đi về đâu, mà miền Tây suốt 45 năm sau ngày thống nhứt không có một con lộ gọi là ‘cao tốc’ và người dân vẫn còn nghèo, để lâu lâu có người lãnh đạo nhỏ một vài giọt nước mắt hay thốt ra vài chữ cảm thương. Tôi thì nghĩ dân miền Tây không cần sự thương cảm mà cần sự công bằng.

Thông báo lớp học phân tích dữ liệu cơ bản (basic data analysis)

Tôi rất hân hạnh giới thiệu một lớp học (workshop) về phương pháp phân tích dữ liệu (Basic Data Analysis) do Viện Chính Sách và Kinh tế thuộc Đại học Tôn Đức Thắng tổ chức, từ ngày 16/4/2022 đến 21/4/2022. Đây là workshop đầu tiên sau 2 năm chúng tôi ‘vắng bóng’ ở Việt Nam vì tình hình dịch bệnh. Kính mời các bạn tham dự. Lớp học vừa trực tiếp vừa trực tuyến (online). Chi tiết dưới đây:

Giới thiệu

Chúng tôi hân hạnh thông báo đến các bạn lớp tập huấn (workshop) 6 ngày về phương pháp phân tích dữ liệu cơ bản (Basic Data Analysis) sẽ được tổ chức tại Trường ĐH Tôn Đức Thắng từ 16/4/2022 đến 21/4/2022.

Phân tích dữ liệu là một môn học quan trọng trong Khoa học Dữ liệu (Data Science). Để hoán chuyển một rừng dữ liệu thô thành những thông tin có ích, phương pháp phân tích dữ liệu là chìa khoá. Trong nghiên cứu khoa học và các chương trình học sau đại học, phân tích dữ liệu là một kĩ năng rất quan trọng để bảo đảm kết quả nghiên cứu có thể công bố trên các tập san quốc tế. Không chỉ trong nghiên cứu khoa học, mà ngay cả các hoạt động quản lí cũng cần đến phân tích dữ liệu, và kết quả phân tích có thể giúp cho việc định hướng chính sách.

Thế nhưng trong thực tế, rất nhiều sinh viên sau đại học và các chuyên gia thiếu các kĩ năng cơ bản về phân tích dữ liệu. Nhiều người ứng dụng sai phương pháp và dẫn đến kết luận sai. Một số thì phân tích bằng những mô hình phức tạp nhưng vì thiếu kiến thức cơ bản nên diễn giải sai kết quả phân tích. Workshop này sẽ lắp vào khoảng trống kĩ năng đó cho các bạn đang cần những phương pháp cơ bản để biến dữ liệu thành thông tin.

Học viên sẽ được thực hành trên bộ dữ liệu thực tế bằng ngôn ngữ lập trình R. Là một ngôn ngữ lập trình có mã nguồn mở, miễn phí và có thể mở rộng, R ngày càng trở nên thịnh hành hơn hẳn các phần mềm phân tích dữ liệu hiện hữu. R sẽ giải quyết được bài toán về chi phí khổng lồ cho cho các Đại học và doanh nghiệp trong việc mua bản quyền truy cập phần mềm phân tích dữ liệu – một yêu cầu tất yếu trong công tác quản lý, nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế. Chính vì vậy, sử dụng ngôn ngữ R là giải pháp hiệu quả và sẽ sớm trở thành xu hướng chung.

Mục tiêu và kì vọng

Mục tiêu chung của khoá học là tiếp cận các khái niệm, phương pháp phân tích dữ liệu cơ bản và hiển thị dữ liệu (data visualization). Chúng tôi kì vọng học viên sau khi xong lớp học sẽ:

  • Có thể sử dụng ngôn ngữ R và JASP cho phân tích và trình bày dữ liệu
  • Hiểu các phương pháp phân tích mô tả
  • Có khả năng trình bày dữ liệu phức tạp bằng các biểu đồ trực quan
  • Hiểu mô hình hồi qui tuyến tính và mô hình hồi qui logistic

Học viên

Lớp học được thiết kế dành cho các sinh viên đại học năm cuối, sau đại học, nghiên cứu sinh, nhà khoa học, nhà quản lí, người có nhu cầu phân tích dữ liệu. Học viên không cần có (a) kiến thức cơ bản về thống kê học; và (b) kĩ năng cơ bản về ngôn ngữ R.

Nội dung

Khóa học sẽ bao gồm khoảng 15 bài giảng, dữ liệu nghiên cứu thực tế trong lĩnh vực y học, giáo dục, kinh tế và xã hội (tùy theo học viên). Tài liệu khóa học được soạn bằng tiếng Anh, nhưng giảng bằng tiếng Việt. Học viên sẽ thực hành mỗi ngày. Buổi sáng giảng về lí thuyết, buổi chiều thực hành trên dữ liệu thực tế. Lớp học vừa trực tiếp vừa trực tuyến (online)

Chương trình dự kiến cho từng ngày như sau: 

NGÀY I: GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ R VÀ JASP

  • Giới thiệu R: giới thiệu ngôn ngữ R, cách đọc dữ liệu vào R, môi trường vận hành, biên tập dữ liệu với chương trình tidyverse.
  • Giới thiệu RStudio và RMarkdown: giới thiệu môi trường RStudio và ngôn ngữ ‘Markdown’ sẽ được sử dụng xuyên suốt trong khoá học
  • Giới thiệu chương trình JASP: đây là một software mới được xây dựng trên nền tảng R, nhưng rất dễ sử dụng cho những ai quen với menu

NGÀY II: PHƯƠNG PHÁP HIỂN THỊ DỮ LIỆU (DATA VISUALIZATION)

  • Nguyên tắc hiển thị dữ liệu: giới thiệu 4 nguyên lí Tufte trong biểu đồ và minh hoạ bằng một số biểu đồ đơn giản.
  • Biểu đồ đơn giản với ggplot2 – phần 1: học phương pháp soạn biểu đồ chất lượng cao và đẹp. Phần 1 sẽ tập trung vào biểu đồ phân bố (histogram), biểu đồ thanh (bar chart) và biểu đồ hộp (box plot).
  • Biểu đồ đơn giản với ggplot2 – phần 2: phần này sẽ tập trung vào biểu đồ tương quan và những biểu đồ liên quan.

NGÀY III: PHÂN TÍCH MÔ TẢ (DESCRIPTIVE ANALYSIS)

  • Phân tích mô tả – biến liên tục, biến phân loại: học cách dùng các chương trình như table1, compareGroups và JASP cho những phân tích mô tả (trung bình, trung vị, tỉ lệ, độ lệch chuẩn, khoảng tin cậy 95%).
  • So sánh hai nhóm – t-test, Chi-squared test: phương pháp kiểm định giả thuyết về sự khác biệt giữa hai nhóm đối với biến liên tục (t-test) và biến phân nhóm (kiểm định Ki bình phương).

NGÀY IV: PHÂN TÍCH LIÊN QUAN (ASSOCIATION ANALYSIS)

  • Mô hình hồi qui tuyến tính đơn giản (simple linear regression model): giới thiệu phương pháp phân tích tương quan và mô hình hồi qui đơn giản cùng cách diễn giải kết quả phân tích.
  • Phân tích dao động dư (residual analysis): kiểm tra giả định mô hình hồi qui tuyến tính và ứng dụng trong thực tế.
  • Mô hình hồi qui đa thức (polynomial regression): giới thiệu mô hình hồi qui đa thức cho những trường hợp liên quan phi tuyến tính.

NGÀY V: MÔ HÌNH HỒI QUI ĐA BIẾN (MULTIPLE LINEAR REGRESSION)

  • Mô hình hồi qui tuyến tính đa biến (multiple linear regression model): mô hình hồi qui với nhiều biến độc lập.
  • Cách chọn biến độc lập cho mô hình hồi qui đa biến: giới thiệu phuơng pháp BMA trong việc tìm những biến liên quan cho mô hình hồi qui đa biến.
  • Cách đánh giá tầm quan trọng của biến độc lập trong mô hình hồi qui đa biến: giới thiệu phương pháp ‘relative importance’ để đánh giá tầm quan trọng của các biến tiên lượng trong mô hình.

NGÀY VI: MÔ HÌNH HỒI QUI LOGISTIC (LOGISTIC REGRESSION FOR BINARY OUTCOME)

  • Mô hình hồi qui logistic đơn giản: giới thiệu khái niệm odds và odds ratio, cùng mô hình hồi qui logistic cho những trường hợp biến phụ thuộc là nhị phân (binary data).
  • Mô hình hồi qui logistic đa biến: mô hình hồi qui logistic đa biến và phương pháp tìm biến liên quan (không phải stepwise).

Giảng viên

Giảng viên phụ trách lớp học bao gồm các nhà khoa học thực nghiệm có kinh nghiệm lâu năm về nghiên cứu khoa học và công bố quốc tế:

Tôi (Nguyễn Văn Tuấn)

Ts Lê Thị Thanh Loan: Chuyên ngành Thống kê Kinh tế, phân tích định lượng trong kinh tế. Hiện là Viện trưởng Viện Chính sách Kinh tế và Kinh Doanh thuộc Trường ĐH Tôn Đức Thắng.

Ts Trần Sơn Thạch: Giảng viên Đại học New South Wales và nhà nghiên cứu y khoa  thuộc Viện nghiên cứu y khoa Garvan. 

Ts Hà Tấn Đức: Trưởng khoa can thiệp đột quỵ, Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Cần Thơ.

Học phí: 5 triệu đồng mỗi học viên. Giảng viên, viên chức TDTU: 4.5 triệu. Sinh viên tại các trường đại học (có thẻ sinh viên): 4 triệu.

Đăng kí và liên lạc

  • Học viên sẽ đăng kí từ ngày ra thông báo đến hết ngày 10/4/2022.
  • Lệ phí khóa học: 5 triệu đồng/học viên (bao gồm sách, tài liệu giảng dạy, và teabreak trong suốt 6 ngày học). Học phí cho sinh viên là 4 triệu đồng.

Mọi thông tin vui lòng liên hệ: Viện Chính sách Kinh tế và Kinh doanh, số 19, Đường Nguyễn Hữu Thọ, P. Tân Phong, Q.7, TP. HCM; Email: ibep@tdtu.edu.vn. 

Thông tin liên hệ của người phụ trách: Nguyễn Phúc Huy, SĐT: 0343994226.

Ghi chú, khi nhận thông tin đăng ký cần hỏi rõ học viên thuộc lĩnh vực nào. Có thể tạo câu hỏi trong form đăng ký.

Đăng kí qua web: https://ibep.com.vn/dao-tao-thuc-chien/workshop-phan-tich-du-lieu-co-ban