Miệt quê dễ thở

Nếu phải chọn một chữ để mô tả đời sống nông dân miệt vườn ở miền Tây ngày nay, tôi sẽ chọn chữ ‘dễ thở’.

Đi khắp các làng quê miền Tây, cái thay đổi dễ nhận ra nhứt là những ngôi nhà mới xây. Chỉ chừng 1 thập niên trước đây, xóm tôi chỉ có 5 căn nhà gạch, số còn lại (hàng trăm) là nhà lá trông rất lụp xụp. Nhưng ngày nay, đi suốt xóm này sang xóm khác, tôi chỉ thấy nhà gạch tường xi măng, chỉ có vài ba căn nhà lá đang chờ xây lại. Những căn nhà mới và khang trang làm cho cả làng quê như tươi tắn hơn và đang ‘thay da đổi thịt’.

Trước đây, điện lực đã về tới quê hơn 15 năm trước. Ngày nay thì ngoài điện, đa số người dân miệt quê tôi đã tiếp cận nước phông tên (thay vì dùng nước sông). Ở xã tôi, nhà máy nước địa phương có khả năng cung cấp nước cho hàng ngàn gia đình trong địa bàn. 

Chỉ cần nhìn hơn 10 tiệm bán vật liệu xây dựng trong một cái làng 10 ngàn dân, là đủ biết kĩ nghệ xây dựng trong làng phát triển ra sao. Tán gẫu với những người quen gốc Khmer tôi nghe họ nói nhiều đến hai chữ “dễ thở”. Dễ thở hơn là vì đời sống được cải thiện, giao thông đi lại dễ dàng hơn, người dân có lựa chọn công ăn việc làm nhiều hơn. Tuy nhiên, bất cứ phát triển nào cũng đề ra những thách thức và khó khăn mà người dân phải đương đầu.

Dễ thở hơn xưa không phải là do trúng ruộng hay nhờ nghề nông, mà là công nghiệp. Đa số những người trẻ ở miệt quê đều bỏ làng quê, hoặc là đi học xa hoặc là làm công nhân ở các khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương và Long An. Chính những người này và thu nhập của họ đã làm thay đổi diện mạo miệt quê. Bà con xóm tôi nói đùa rằng trước kia thấy nhà nào khang trang là biết nhà đó có Việt kiểu, còn ngày nay đằng sau một căn nhà mới xây là có bóng dáng của Bình Dương.

Những con lộ tráng xi măng tuy chỉ vừa cho 2 chiếc xe gắn máy (hay 2 chiếc xe hơi) đã nối liền tất cả các làng quê và đô thị so với 50 năm trước. Ngày xưa (50 năm trước), đi từ làng tôi đến Rạch Giá (khoảng 25 cây số) phải mất cả 4 giờ đường sông, còn ngày nay chỉ mất 35 phút với xe gắn máy. Không chỉ xe gắn máy, mà xe hơi cũng vào tận các làng quê mà ngày xưa chỉ có thể đi bằng ghe xuồng. Sự phát triển giao thông miền quê quả thật đã làm thay đổi diện mạo miền quê, hay nói đúng hơn là ‘đô thị hóa’. 

Sự phát triển giao thông còn tạo cơ hội kinh doanh cho nhiều người, và H là một người tiêu biểu như thế. H là một thầy giáo trong làng tôi, nhưng thấy lượng người Việt ở nước ngoài về thăm quê ngày càng nhiều, anh ấy mua xe hơi để phục vụ nhu cầu du lịch cho bà con. Khi các con lộ nối liền các làng quê, H thấy nhu cầu đi lại càng nhiều (như đi khám bệnh, đi du lịch, đi thăm bà con ở tỉnh khác, thậm chí đi ăn uống ở thành phố) nên lại đầu tư mua thêm xe. Những người bạn khác của H cũng đầu tư xe hơi, và họ liên kết với nhau thành một ‘hợp tác xã’ để phục vụ nhu cầu đi lại cho bà con. Gặp tôi sau trận dịch, H nói “Mai mốt mấy con lộ vào Cây Dương được nâng cấp thì bọn em sẽ ‘êm’.” 

Bất cứ sự đô thị hoá nào, bên cạnh những phát triển nâng cao chất lượng sống cho người dân, cũng kèm theo những hệ luỵ về môi sinh. Sự phát triển giao thông đã làm cho làng quê của tôi không còn là một nơi êm ả nữa. Bên kia sông thì xe hơi và xe gắn máy đi lại khá bận rộn ngày đêm. Ngay cả bên này sông, tuy vườn cây vẫn là điểm chánh, nhưng con lộ trước nhà đã tạo điều kiện cho nhiều xe gắn máy qua lại. Dưới sông thì ghe xuồng tấp nập vận chuyển hàng hoá và nông sản đi thành phố. Cái thời nằm võng bên này sông nghe vọng cổ từ máy hát bên kia sông coi như đã qua rồi.

Siêu cống sông thủy lợi Cái Lớn – Cái Bé mới khánh thành là đã gây tác động tiêu cực đến cư dân trong vùng

Các con sông và rạch đã bị ô nhiễm nghiêm trọng do lạm dụng thuốc trừ sâu ở ruộng. Cái thời tắm sông đã qua lâu rồi. Tình trạng ô nhiễm ở miệt quê có thể là nguyên nhân của sự gia tăng chóng mặt về các căn bệnh không lây như ung thư, phổi, tiểu đường, và tim mạch. Nếu không kiểm soát được vấn đề ô nhiễm môi trường, tôi e rằng 21 triệu dân ở miền Tây sẽ đứng trước một đe doạ rất lớn về sức khoẻ.

Ở quê tôi, người dân than phiền rằng các con sông đểu bị ảnh hưởng nặng nề bởi cái đập sông Cái Lớn. Nước sông cứ lình bình, khái niệm ‘nước lớn, nước ròng’ chỉ còn là tương đối. Lục bình khắp nơi, gây trở ngại cho ghe xuồng đi lại. Nhưng quan trọng nhứt là tình trạng ô nhiễm sông, cá tôm khó sống nổi. Con đập nó có lí do tồn tại (ngăn mặn), nhưng chẳng hiểu tính toán và mô phỏng như thế nào mà tác động tiêu cực xem ra khá nghiêm trọng.

Cơ hội công ăn việc làm đã và đang mở rộng đối với người dân miệt quê. Ngày xưa ở quê tôi thì đa số người dân làm nghề nông, chỉ có một số ít đi học và lập nghiệp ở thành phố. Tuy nhiên, ngày nay với sự phát triển công nghiệp đã tạo rất nhiều công văn việc làm cho người dân miệt quê. Thật ra, đa số thanh niên quê tôi chọn làm công nhân hơn là nông dân, và họ đã có những đóng góp quan trọng trong việc làm ‘thay da đổi thịt’ làng quê. Họ chính là những người đa giúp cho gia đình dưới quê ‘dễ thở’ hơn.  

Làn sóng rời bỏ làng quê để làm công nhân đã gây nên tình trạng mất cân đối cơ cấu lao động ở vùng quê. Những thanh niên ra đi, và những người ở lại thường là người cao tuổi. Người ở lại vẫn làm ruộng theo mô hình cũ, tức canh tác trên những thửa ruộng nhỏ, phải đấu tranh với sâu rầy triền miên, và thu nhập rất khiêm tốn. Chẳng hạn như một gia đình có 5 công đất, mỗi năm làm 2 vụ, hay nếu thuận lợi, 3 vụ mùa, sau khi khấu trừ tiền phân, tiền thuốc trừ sâu, tiền mướn nhân công, tiền vay ngân hàng mỗi đầu vụ, thì anh bỏ túi được chừng 15 triệu đồng. Một người công nhân có thể có thu nhập 15 triệu đồng trong 3 tháng làm việc.

Sự thật trên dẫn đến một nghịch lí: tuy góp phần lớn vào xuất khẩu gạo cho cả nước, nhưng người dân miền Tây vẫn nghèo. Hàng trăm năm nay, nông dân vẫn làm ruộng theo kiểu cha truyền con nối, qui mô canh tác nhỏ (vài công đất) và thiếu liên kết với nhau, qui mô sản xuất nhỏ nên người nông dân rất khó trở nên giàu.

Nghịch lí trên dẫn đến một nghịch lí khác về vị thế kinh tế của miền Tây. Trong khi đời sống của người dân miền Tây dễ thở hơn thì đóng góp cho kinh tế quốc gia lại suy giảm! Ba mươi năm trước, GDP của TPHCM chỉ bằng 67% GDP của các tỉnh miền Tây, nhưng ngày nay thì GDP của miền Tây chỉ bằng 67% GDP của TPHCM. Trong số 13 tỉnh thành ở miền Tây, chỉ có Cần Thơ là tự chủ tài chánh, còn 12 tỉnh khác phải được sự hỗ trợ ngân sách từ Trung ương. Cuộc sống của người nông dân miền Tây không nên chỉ ‘dễ thở’ mà cần phải sung túc như thời thập niên 1960 và 1970. Tuy nhiên, để sung túc thì mô thức làm ruộng cần phải thay đổi. Có lẽ cần một mô ‘mô thức’ canh tác mới với nhiều nông dân liên kết với nhau để tạo nên một diện tích ruộng lớn như ở phương Tây và cơ giới hoá nông nghiệp thì người nông dân miền Tây mới có thể sung túc.

Nghĩ về những bài học ở Úc nhân ngày Quốc khánh

Hôm nay (26/1/2023) là ngày Quốc Khánh Úc, và cũng là ngày tôi đặt chân tới Úc 41 năm về trước (1982) như là một người tị nạn. Bốn mươi năm sống ở đây tôi rút ra vài bài học mà tôi nghĩ có thể giúp cho những người đi sau.

Cứ mỗi năm đến ngày này là trong lòng tôi bồi hồi nhớ lại những giây phút đầu tiên trên quê hương thứ hai. Cái thời khắc đi Úc là lúc cái loa của trại tị nạn Phanatnikhom (thuộc tỉnh Chonburi) xướng tên tôi trong danh sách những đồng hương đi Bangkok để lên máy bay đi Úc. Dù biết rằng mình sẽ đi Úc (vì đơn đã được chấp thuận) nhưng khi nghe cái loa kêu tên, tôi vẫn vui mừng lắm lắm. Mừng trước hết là thoát khỏi cái môi trường nóng bức và tù túng trong trại, và sau là mình sắp tới Úc, xứ sở của Kangaroo. Vì nó mà tôi được chấp nhận cho đi định cư ở Úc.

Xe bus vào đón đoàn người tị nạn đi Bangkok. Trong đoàn người này, một số đông đi Mĩ, một số ít hơn (chừng 20) đi Úc, và một số khác đi các nước Âu châu. Mỗi chúng tôi đều đã trải qua ít nhứt 2 trại tị nạn và đã ở trên đất Thái ít nhứt là 6 tháng. Như là một truyền thống, đoàn người lên xe trong tiếng hát của Khánh Ly với bài Biển Nhớ của Trịnh Công Sơn trên loa tiễn đưa. Tiếng hát Khánh Ly nghe sao mà buồn thế:

Ngày mai em đi

Biển nhớ tên em gọi về

Gọi hồn liễu rũ lê thê

Gọi bờ cát trắng đêm khuya

Phải ở trại Songkhla thì mới thấm câu ‘Biển nhớ tên em gọi về’. Còn ở đây thì không có biển, cũng chẳng có cát trắng. Nhưng ca khúc này được dùng trong những buổi đưa tiễn người tị nạn đi định cư ở các nước thứ ba.

Quang cảnh trại tị nạn Songkhla vào thập niên 1970s và 1980s. Trại nằm ven biển, có thể chứa 7000 đến 8000 người. Đây là nơi ghi nhận và chứng kiến biết bao thảm cảnh của người vượt biển. Thời tôi ở đây, hầu như tuần nào cũng có xác người tị nạn trôi dạt vào bờ và bà con vớt lên để an táng.

Trại tị nạn Songkhla, miền Nam Thái Lan. Trại này tạm dựng lên để chứa người vượt biển vào thập niên 1970s và 1980s. Hình này là nhóm người sắp được chuyển lên trại chuyển tiếp Phanatnikhom trước khi đi định cư ở một nước thứ ba.

Từ Phanatnikhom đi Bangkok mất khoảng 2 giờ đường (nếu tôi nhớ không lầm). Đó là lần thứ hai tôi thấy đường cao tốc của Thái Lan rất tốt. Xe cộ hai bên xa lộ rất nhiều. Thời đó mà đã kẹt xe khi sắp vào Bangkok! Thời đó, VN nghèo xác xơ, nên nhìn thấy đường cao tốc và xa lộ chồng chéo ở Bangkok và phố xá tấp nập tôi mới biết cái ‘Hòn ngọc Viễn Đông’ của mình chỉ là một dĩ vãng.

Chúng tôi được chuyển tới một trại tạm thời, mà thật ra là một nhà tù ở Bangkok. Nhà tù này (tôi quên tên) chỉ dành cho các phạm nhân người nước ngoài. Chúng tôi được cho ở một khu tách biệt với các tù nhân, và chỉ ở có 1 ngày 1 đêm để chờ chuyến bay. Không biết khu dành cho tù nhân ra sao, nhưng khu chúng tôi tạm trú rất sạch sẽ. Chúng tôi không được ra ngoài phố mà vẫn phải bị tạm giam trong trại cho đến khi ra phi trường.

Rồi cũng đến lúc ra phi trường Bangkok. Trời ơi, phi trường của họ rộng lớn quá chừng! Chúng tôi được dẫn đi ngang qua các gian hàng bán đồ (duty free) trông rất tráng lệ. Người ta dồn chúng tôi (gồm ~20 người) vào một phòng chờ, chứ không được đi lang thang trong các gian hàng đó. Ở trong phòng chờ nhìn dòng người qua lại tôi thấy mình như tù nhân hạng sang! Thật ra, cho dù họ cho ra ngoài thì tụi tôi cũng chẳng có một cent để mua bất cứ món gì. Nhưng cái cảm giác lần đầu tới một phi trường lớn như thế này rất khó tả, chẳng khác gì nhà quê ra thành thị vậy.

Cái cảm giác nhà quê còn được ‘nâng cấp’ khi lên máy bay. Ui chao, máy bay gì mà lớn dữ vậy (sau này mới biết là Boeing 747 của hãng Qantas). Chúng tôi được sắp xếp ngồi ở những hàng ghế sau cùng trong máy bay. Tôi nhìn quanh thấy đa số là khách Tây, họ hút thuốc lá phì phèo. Họ nhìn bọn tôi. Chắc họ tự hỏi ‘bọn này là ai và sao họ có vẻ quê mùa và nghèo như thế’.

Cái sốc lớn nhứt với tôi là mấy người chiêu đãi viên đem khăn lau mặt cho chúng tôi và cho mỗi người một li nước cam vàng tươi. Tôi tự hỏi ‘sao họ tử tế với mình vậy?’ Lúc đó, tôi chưa bận tâm với câu hỏi ‘ai là người đã trả tiền vé máy bay cho tôi?’ (Sau này tôi mới biết là do chánh phủ Úc tài trợ cho chuyến đi 1 chiều).

Gần như suốt đêm bay tôi không ngủ vì cứ suy nghĩ về tương lai: mình sẽ ở đâu, mình sẽ làm gì trên quê hương mới, mình có dịp về Việt Nam không (hay là ‘một lần đi là mãi mãi chia phôi’), v.v. Toàn những câu hỏi không có câu trả lời. Thời đó, chấp nhận ra đi là chấp nhận cái chết, hay nếu sống sót thì cũng không mong ngày về quê hương. Do đó mới có ca khúc ‘Đến bao giờ trở về Việt Nam / thăm đồng lúa vàng / thăm con đò ven sông’ của Lam Phương và ‘Một lần đi là một lần vĩnh biệt’ của Nguyệt Ánh.

Máy bay đáp xuống phi trường Kingsford Smith (Sydney) vào buổi sáng ngày 26/1/1982 — ngày Quốc Khánh Úc. Chúng tôi ra máy bay sau cùng (sau khi tất cả các khách khác đã ra máy bay). Mới ra khỏi máy bay thì cái nóng đã hực vào mặt. Thì ra Úc đang giữa mùa hè. Chúng tôi chẳng ai có hành lí gì lớn nên không phải chờ lấy hành lí mà đi thẳng ra bãi đậu xe. Chúng tôi lại phải xếp hàng để chờ lên xe bus về Cabramatta Hostel.

Đường từ phi trường về Cabramatta Hostel chỉ non 30 phút. Xe băng qua những ‘cánh rừng’ mà sau này tôi mới biết là đại lộ Henry Lawson (tên một nhà thơ Úc), và những cánh rừng đó chính là cái công viên quốc gia rất rất rộng và thơ mộng. Tôi không thấy một building nào cả, mà chỉ toàn là những căn nhà gạch, nhà nào cũng có một sân cỏ trước cửa trông rất xinh xắn. Tôi tự hỏi ‘hay là họ cho mình đi định cư ở vùng quê’, nhưng tôi cũng tự an ủi ‘Ở đâu thì cũng ok, miễn là có tự do.’

Khi tới Cabramatta Hostel thì tất cả đã được sắp xếp đâu ra đó. Mỗi gia đình hay cá nhân được ở một căn phòng chừng 4 x 5 mét. Tôi không rõ hostel có bao nhiêu phòng, nhưng số người ở đây phải lên đến cả 200. Người tị nạn từ khắp thế giới, Đông Âu, Nam Mĩ, Tàu, nhưng nhiều nhứt vẫn là người Việt. Đa số chúng tôi đều mới trải qua một giai đoạn hãi hùng trên biển và một thời gian ở trại tị nạn nên mặt mũi ai cũng tỏ ra lo lắng cho một tương lai bất định.

Nội qui hostel không cho nấu nướng trong phòng, vì thức ăn đã có nhà bếp lo. Nhà bếp lớn và rất rất sạch. Thức ăn ê hề. Cứ mỗi lần họ phục vụ món thịt trừu thì toàn dân Tây xếp hàng, còn dân tóc đen thì rất ít. Nhưng khi họ phục vụ món thịt gà và bò thì ‘dân đầu đen’ rất đông. Sau vài lần, hình như ban quản lí nhà bếp biết nên họ mướn phụ bếp người Việt nấu những món gần với ẩm thực Việt hơn.

Nhưng chỉ ăn được vài ngày là tôi chán, không ăn nổi nữa. Chúng tôi bèn ‘mò’ ra chợ mua đồ Á châu. Thời đó, Cabramatta giống như một thị tứ bán nông thôn, bán thành thị. Khu phố Cabramatta chỉ có con lộ John Street là đường chánh, với vài tiệm nhỏ và cái pub bán bia; trong số này có 1 tiệm thực phẩm Á châu duy nhứt. Chúng tôi vào tiệm thì thấy có bán mì ăn liền và … nước mắm. Trời ơi! Lần đầu thấy chai nước mắm Thái Lan ở đây mà mừng húm. Chúng tôi lén nấu mì trong phòng, và cứ luân phiên giữa mì gói và thức ăn nhà bếp suốt 3 tháng trời trước khi ra ngoài mướn nhà.

Ngày đầu tiên là làm thủ tục định cư. Nhân viên xã hội đã có các thông tin cán bản về chúng tôi nên họ làm giấy tờ khá nhanh chóng. Chúng tôi chưa nhận được trợ cấp gì cả vì mới tới nên nhà chức trách chưa đủ thời gian để làm sổ tiết kiệm và để bộ an sinh xã hội chuyển tiền. Thay vào đó, hội St Vincent de Paul giúp đỡ chúng tôi. Tôi nhớ họ cho cái voucher 20 AUD (hay 50 AUD?) và chúng tôi dùng nó để được cấp quần áo và giày dép. Tôi được cấp một cái quần tây và áo chemise cũ (đã có người dùng và bố thí cho Hội) và một đôi giầy rất oách.

Đó là kỉ niệm đầu tiên của tôi trên nước Úc. Đó cũng chính là lí do tại sao tôi rất rộng lòng khi bố thí cho hội St Vincent de Paul.

Một kỉ niệm khác là học tiếng Anh. Tất cả chúng tôi phải ghi danh học tiếng Anh do thầy cô người Úc dạy. Chương trình dạy tập trung vào kĩ năng đàm thoại để có thể xin việc làm. Ngày nào cũng tập nói những câu như:

What is your name?

How are you? I am fine

How long have you been in Australia?

I am looking for a job?

How much does it cost?

v.v.

Học đến ngày thứ 5 là tôi bắt đầu chán và quyết định tự học. Tài liệu tự học của tôi là cuốn từ điển Longman và cuốn Practical English Usage (của Michael Swan) và tờ nhựt báo Sydney Morning Herald (SMH). Mỗi ngày tôi học chỉ một chữ và tối về nghe xướng ngôn viên tivi đọc tin tức và tôi học cách phát âm từ đó. Cách học này rất hiệu quả.

Cô giáo tôi là người Úc gốc Anh, rất kinh nghiệm trong việc dạy tiếng Anh cho người di dân. Cô ấy thậm chí còn biết tâm lí của người tị nạn từ các quốc gia XHCN rất sợ cảnh sát và nhà cầm quyền. Cô ấy tìm cách nhắc chúng tôi rằng Úc là nước tự do, rằng chúng tôi có quyền nói ra chánh kiến cá nhân mà không sợ ai đày đoạ.

Một hôm cô ấy làm chúng tôi sốc. Cô ấy vào lớp học, cầm trên tay tờ nhựt báo SMH, rồi cô chỉ vào hình của ông đương kim thủ tướng và nói đại khái rằng “Tôi không ưa thằng cha này. Ổng là kẻ bất tài. Tôi sẽ không bầu cho ổng.” Chúng tôi há hốc nhìn cô ấy nói mà im re, không ai có ý kiến. Thật ra, có biết gì đâu mà có ý kiến, hay có biết thì cũng không dám nói. Bài học tự do ngôn luận đầu tiên là vậy.

Bốn mươi năm cuộc đời

Người phương Đông hay ví dòng thời gian của con người như bóng câu qua cửa. Thoát một cái tôi đã ở Úc hơn 40 năm. Thời gian ở Úc lâu hơn thời gian ở Việt Nam. Ngày tới đây mình là một thanh niên, nhưng nay mình đã là một ‘lão niên’. Nhìn lại cái quãng thời gian đó tôi chia ra 4 giai đoạn, với mỗi giai đoạn chừng 10 năm.

Mười năm đầu là làm lại cuộc đời. Đó là thời gian phấn đấu để ổn định cuộc sống (mua xe, nhà) và học hành. Cái mốc quan trọng là mua được căn nhà vào năm 1985.

Giai đoạn 2 là thử thách và định hướng. Đó là thời gian 10 năm lăn lộn trong môi trường làm việc ở vài nơi trong và ngoài nước, trải nghiệm nhiều môi trường khác nhau trước khi xác định một hướng đi cho mình và tạo chỗ đứng trong chuyên ngành. Cái mốc quan trọng trong giai đoạn này là được nhận vào làm ở Viện nghiên cứu y khoa Garvan.

Giai đoạn 3 là ổn định và đóng góp. Đó là thời gian 10 năm ổn định, giữ vai trò lãnh đạo, và có những đóng góp cho đời, kể cả giúp người khác. Cái mốc quan trọng là công bố những công trình quan trọng, được bổ nhiệm chức ‘full professor’ của UNSW và học vị DSc.

Giai đoạn 4 là gặt hái thành quả. Đây là giai đoạn 10 năm tiếp tục đóng góp cho xã hội ở diện rộng và lớn hơn. Đây cũng là giai đoạn mình được ghi nhận qua những giải thưởng quan trọng. Cái mốc quan trọng là được bầu vào Viện hàn lâm y học năm 2019. Tôi gọi đó là thời gian gặt hái quả ngọt từ giai đoạn 2 và 3.

Năm vừa qua (2022) là năm có ý nghĩa nhứt trong đời tôi. Đó là năm tôi được Nữ hoàng Elizabeth Đệ Nhị trao Huân chương Australia (AM) vì những đóng góp cho nghiên cứu y khoa, phòng chống loãng xương, và giáo dục đại học. ‘Có ý nghĩa’ là vì Huân chương được trao đúng ngày 26/1, ngày tôi tới Úc đúng 40 năm trước.

Năm 2022 cũng là năm tôi được bầu vào Royal Society của bang New South Wales, một viện hàn lâm lâu đời nhứt của Úc. Khi mới tới đây, tôi đâu có mơ ngày được vào cái Hội Hoàng Gia này, thậm chí chẳng biết nó là cái gì. Cũng chẳng biết cái Huân chương Australia là cái gì. Đến khi nhận thư chúc mừng của sếp tôi mới dần dần hiểu ra.

Những bài học ở Úc

Tôi hiểu rằng khi bước chân vào các thiết chế xã hội này mình đứng chung với những người Úc quan trọng khác, và mình được chấp nhận là một ‘Australian’ thiệt sự. Tôi nhận ra rằng những gì mình cống hiến sẽ có ngày mình được ghi nhận. Hay nói theo một qui luật sống là ‘Nếu bạn gieo chăm chỉ, bạn sẽ gặt thành công’. Tôi không thích hai chữ ‘thành công’ (vì nó huyễn hoặc nhiều người) nhưng vì người ta viết như vậy nên tôi trích nguyên văn như vậy.

Bốn chục năm ở đây cũng cho mình vài bài học:

  • Bài học thứ nhứt là là người tị nạn và không có cái vốn văn hoá bản địa, chúng ta phải phấn đấu và đạt thành quả gấp 2-3 lần người bản xứ.
  • Bài học thứ 2: Sẵn sàng đấu tranh cho bình đẳng và lẽ phải, không bao giờ nhân nhượng với những kẻ kì thị.
  • Bài học thứ 3: Nắm lấy cơ hội khi có được. Mỗi công việc, thấp hay cao, đều là một cơ hội để mình chứng tỏ khả năng và đặt chân vào thiết chế xã hội.
  • Bài học thứ 4: Xem mỗi thất bại là lí do để vươn lên. Nếu các bạn làm trong khoa học, khoa bảng, thế nào cũng gặp nhiều thất bại, nhưng đừng nản lòng mà phải xem đó là một cái cớ để tự mình làm tốt hơn. Nên nhớ câu ‘mình không có bổn phận làm người của hôm qua, mà lúc nào cũng tự làm mới mình.’
  • Bài học thứ 5: Xem công việc mình là phụng sự cộng đồng chớ không phải chỉ để làm giàu hay làm ra tiền. Công việc dĩ nhiên là thu nhập, nhưng nên nghĩ xa và cao hơn cái mục tiêu cấp thấp đó: hãy xem việc mình làm là đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người.
  • Bài học thứ 6: Rèn luyện kĩ năng thông tin (communication skills). Muốn hoà nhập và chấp nhận trong xã hội này, chúng ta phải học tiếng Anh, nhưng chưa đủ. Phải học nói, học viết, học cách tương tác ‘give and take’ (cho và nhận). Đa số người Việt chúng ta kém kĩ năng thông tin nên khó hoà nhập vào xã hội Úc.

Bài học hay nhứt của cuộc sống là quân bình. Nói như Einstein, cuộc đời giống như là đi xe đạp, tức là chúng ta phải giữ sự thăng bằng, mà muốn giữ thăng bằng thì phải đi tới. Và, tôi vẫn đi tới đây.

Ngày hôm nay (26/1/2023) đánh dấu 41 năm tôi định cư ở Úc. Không biết các đồng hương tôi nghĩ gì, riêng tôi thì thấy mình may mắn. May mắn là vì được Úc cưu mang và cho mình cơ hội để cống hiến. May mắn vì được sống và làm việc trong môi trường khá bình đẳng, ít kì thị, và không có luật ‘nhứt hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ’. Nhờ Úc cưu mang nên tôi mới có cơ hội học tập và đóng góp cho quê hương này và quê hương Việt Nam. Nói ‘Cám ơn nước Úc’ là thừa, nhưng quả thật tôi muốn nói ra câu đó từ đáy lòng mình.

Doctor Rice – Võ Tòng Xuân và Gia Đình Bác Tám

Một chút tâm tình và giới thiệu: Thời trước (và ngay cả sau 1975) xem tivi tôi hay chú ý đến một người dáng dấp khoa học, nhưng nói năng hết sức bình dị với mọi người nông dân. Ông cầm cây lúa lên, rồi giải thích về quá trình trưởng thành và sự ảnh hưởng của sâu rầy mà tôi — một người không có học về nông học — vẫn thấy dễ hiểu. Phong cách giải thích những ý tưởng khoa học cho thường dân của ông đã gây ảnh hưởng rất lớn đến tôi sau này khi tôi giải thích các khái niệm khoa học phức tạp cho công chúng, tôi đều nghĩ đến ông. Người đó chẳng ai khác hơn là Giáo sư Võ Tòng Xuân, người mà sau này tôi có gặp vài lần và gọi bằng ‘Anh’.

Anh Võ Tòng Xuân năm nay đã 82 tuổi, và anh mới trải qua một cơn bệnh có thể nói là ‘thập tử nhất sanh’, nhưng may mắn thay anh đang bình phục nhờ sự chăm sóc của các bác sĩ, kể cả PGS TS Phạm Nguyễn Vinh. Nhân dịp này, Nhà văn – Bác sĩ Ngô Thế Vinh đã có một bài viết về Gs Võ Tòng Xuân. Tôi thật sự kinh ngạc về bài viết, vì nội dung quá hay và đầy đủ. Viết về một nhà khoa học quan trọng như Gs Võ Tòng Xuân, tôi nghĩ ít ai viết hay và đầy đủ hơn Nhà văn Ngô Thế Vinh, một người bạn thân tình của Gs Võ Tòng Xuân.

Qua bài viết, bạn đọc sẽ biết được Gs Võ Tòng Xuân như là một người con xuất sắc của miền Tây Nam Bộ, người đã gắn liền với cây lúa của miền Nam. Anh Võ Tòng Xuân đúng là một ‘Rice Doctor’ (Bác sĩ Lúa). Gs Võ Tòng Xuân tốt nghiệp cử nhân và cao học  từ Viện Lúa Gạo Quốc Tế ở Phi Luật Tân (IRRI). Năm 1972, đáp lời kêu gọi của Gs Nguyễn Duy Xuân (lúc đó là Viện trưởng Đại học Cần Thơ), anh Võ Tòng Xuân rời Phi Luật Tân về Việt Nam giảng dạy và nghiên cứu trong Đại học Cần Thơ (lúc đó mới thành lập từ một sắc lệnh của tướng Nguyễn Cao Kỳ). Ở Cần Thơ, anh Võ Tòng Xuân vừa giảng dạy, vừa nghiên cứu, vừa xây dựng chương trình tivi ‘Gia Đình Bác Tám’ nhằm giáo dục canh nông cho nông dân miền Nam. Đó là một chương trình tivi mà tôi nghĩ bất cứ ai ở vào thế hệ tôi cũng đều biết, chứng tỏ sự lan tỏa và thành công của chương trình. Năm 1974, anh được sang Nhật bảo vệ luận án tiến sĩ, và anh về Việt Nam chỉ một tháng trước ngày 30/4/1975. Tên tuổi của Gs Võ Tòng Xuân gắn liền không chỉ với ‘Gia Đình Bác Tám’, mà còn giống lúa Thần Nông mà ông thuyết phục nông dân sản xuất và đưa VN lên nước thứ hai xuất khẩu gạo. Anh còn có công lớn với nhiều giống lúa khác. Anh còn là một nhà giáo dục, quản lí giáo dục. Nhưng nói đến Võ Tòng Xuân, người ta nghĩ ngay đến Bác sĩ Lúa!

Theo tôi, anh Võ Tòng Xuân là một trường hợp tiêu biểu về nghiên cứu không phải để làm dày lí lịch khoa học mà nghiên cứu để chuyển giao thành tựu nghiên cứu đem lại lợi ích cho hàng triệu người. Sự nghiệp và đóng góp của anh Võ Tòng Xuân là một tấm gương và anh đa đi trước trào lưu ‘translational research’ — nghiên cứu khoa học nhằm đem lại ứng dụng thiết thực — mà thế giới phương Tây đang bàn luận sôi nổi ngày nay.

Ấy vậy mà anh Võ Tòng Xuân vẫn bị cái hệ thống ‘hành là chánh’ làm cho ‘lên bờ xuống ruộng’ vì chuyện tuổi tác hay những qui định ‘trời ơi đất hởi’. Đọc bài này mới biết đằng sau vinh quang của Bác sĩ Lúa Võ Tòng Xuân còn là một thân phận đầy gian truân do chính cái hệ thống mà anh được vinh danh!

Chúc anh Võ Tòng Xuân mau chóng bình phục!

NVT

__________

DOCTOR RICE – VÕ TÒNG XUÂN VÀ GIA ĐÌNH BÁC TÁM

NGÔ THẾ VINH

Hình 1: Võ Tòng Xuân lần đầu được gặp Chú Sáu Dân năm 1976 ở Đại Học Cần Thơ. Chú Sáu Dân, là tên gọi bình dân của ông Võ Văn Kiệt, Bí thư Thành ủy Sài Gòn, sau này là Thủ Tướng Chính phủ. Hình chụp ông Võ Văn Kiệt trong một buổi gặp gỡ các trí thức Việt kiều, và trí thức đào tạo ở Miền Nam trước 1975; hàng đứng từ trái: TS Võ Tòng Xuân lúc đó 36 tuổi, Trưởng bộ môn trồng trọt Khoa Nông nghiệp ĐH Cần Thơ; GS Nguyễn Ngọc Trân, Chủ nhiệm Chương trình Nghiên Cứu về ĐBSCL, chuyên gia Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Trưởng ban Việt kiều Trung ương; Phạm Hùng Phi, Phó Giám đốc Trung Tâm Khoa Học Kỹ Thuật TP.HCM; Nguyễn Văn Huấn (Ba Huấn),Trợ lý của Bí thư Thành ủy Võ Văn Kiệt, sau này làm Phó Chủ Tịch UBND TP.HCM. [tư liệu Võ Tòng Xuân]

TIỂU SỬ

Võ Tòng Xuân, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 (tuổi con rồng / Canh Thìn), tại làng Ba Chúc trong vùng Thất Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Xuất thân từ một gia đình nghèo với 5 anh em. Học xong trung học đệ nhất cấp, VTX lên Sài Gòn sớm, sống tự lập, vất vả vừa đi học vừa đi làm để cải thiện sinh kế gia đình và nuôi các em. Do lao động quá sức, lại ăn uống thiếu thốn, VTX bị lao phổi phải nghỉ học một thời gian. Là học sinh trường Kỹ thuật Cao Thắng, tới năm 1961, xong bậc trung học, ở tuổi 21, khao khát được đi du học, nhân có cuộc thi tuyển học bổng của Đại học Nông Nghiệp Los Baños, Philippines, Võ Tòng Xuân nộp đơn dự thi và đã trúng tuyển. Đang từ một thanh niên ham thích kỹ thuật máy móc, nay chuyển sang ngành nông nghiệp, phải nói đây là một khúc rẽ định mệnh tốt đẹp cho Võ Tòng Xuân. Anh đã thích nghi và say mê ngay với môi trường nông nghiệp. Năm 1966, tốt nghiệp Cử nhân (BS / Bachelor of Science) về Nông Hóa, VTX được nhận vào làm nghiên cứu sinh cho Viện Lúa Gạo Quốc Tế / IRRI (International Rice Research Institute) Los Baños nổi tiếng Á Châu và của cả thế giới. Học tiếp Cao học, VTX tốt nghiệp Thạc Sĩ (MS / Master of Science) năm 1971.

Miền Nam năm 1972, đang giữa cuộc chiến tranh Bắc Nam rất khốc liệt – giữa Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại học Cần Thơ lúc đó là đại học duy nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), được thành lập từ 31/03/1966 thời Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà phát triển mạnh, và đã có khóa tốt nghiệp đầu tiên ra trường (1970). Võ Tòng Xuân đã được GS Nguyễn Duy Xuân (1970-1975) – là Viện trưởng thứ hai sau GS Phạm Hoàng Hộ (1966-1970), viết thư mời ông về phụ trách khoa nông nghiệp – lúc đó trường vẫn còn là có tên là Cao Đẳng Nông nghiệp, với tư cách một chuyên gia về lúa.

Đáp lời kêu gọi của GS Nguyễn Duy Xuân, VTX ở tuổi 32 đã quyết định rời Los Baños trở về nước. Tại Đại Học Cần Thơ, nhà nông học trẻ VTX được trọng dụng, có cơ hội thăng hoa phát triển hết tài năng của mình. Ngoài công việc giảng dạy lý thuyết nơi giảng đường, VTX đã cùng với đám sinh viên đằm mình trên ruộng đồng, khảo sát thổ nhưỡng, phân định các vùng đất phèn, thử nghiệm các giống lúa mới và cây trồng, hướng dẫn nông dân trồng lúa cao sản – High-Yielding Variety, đã được nhập từ Viện Lúa Gạo Quốc Tế (IRRI) từ 1966-68, thời Bộ trưởng Canh Nông GS Tôn Thất Trình (1931-2021). Lúa cao sản mà nông dân quen gọi là Lúa Thần Nông / Miracle Rice, với đặc tính là thân lùn, ngắn ngày và năng suất cao, mở đầu cho một cuộc “Cách Mạng Xanh – Green Revolution” đang lan tỏa ra toàn cầu.

Với kinh nghiệm trước đó đã từng cộng tác với Đài phát thanh Philippines thời còn là sinh viên ở Los Baños, năm 1972 khi về nước, Võ Tòng Xuân đã mạnh dạn đề nghị với Đài phát thanh Sài Gòn xây dựng “Chương trình Gia đình Bác Tám”, là một chương trình giáo dục về canh nông với VTX viết kịch bản chuyên môn kiêm diễn viên chính. Chương trình hàng ngày được phát thanh lúc 5 giờ sáng trước khi nông dân vác cuốc ra đồng, nhằm phổ biến kỹ thuật nông nghiệp phổ thông qua những màn thoại kịch ngắn duyên dáng và hấp dẫn có sức cuốn hút rộng khắp, vào xa tới cả các mật khu. Chú Sáu Dân cũng đã từng là thính giả biết tiếng Anh Ba Xuân qua chương trình này. Như một giai thoại, khi anh Bảy Khai tức Phạm Sơn Khai vào tiếp quản Đại học Cần Thơ đã hỏi ngay giữa hội trường: “GS Võ Tòng Xuân – Gia đình Bác Tám còn đây không?”  Phạm Sơn Khai sau này giữ chức Viện Trưởng ĐH Cần Thơ trong suốt 10 năm từ 1976 – 1986, thay thế GS Nguyễn Duy Xuân, tuy tình nguyện ở lại nhưng vẫn bị bắt đi cải tạo và đã chết trong trại tù Ba Sao, Hà Nam Ninh 11 năm sau (1986).   

Trước 1975, trường Cao đẳng Nông nghiệp Cần Thơ mỗi năm đều được Nhật Bản gửi sang nhóm giáo sư giảng dạy và nghiên cứu. Trong số đó phải kể tới một tên tuổi: Giáo Jun Inouye, rất mê say cây lúa, đã cùng Võ Tòng Xuân nghiên cứu các loại lúa nhiệt đới của ĐBSCL. Với 3 công trình nghiên cứu được đăng trên một tạp chí uy tín Crop Science của Nhật Bản, GS Jun Inouye đã bảo trợ cho Võ Tòng Xuân làm luận án tại chức. Năm 1974, VTX được sang Nhật để bảo vệ luận án Tiến sĩ tại Đại học Quốc gia Kyushu nằm trong thị trấn trung tâm Fukuoka, trên đảo Kyushu – là một hải đảo lớn thứ ba phía cực nam của Nhật Bản). Luận văn là một đề tài liên quan tới các giống Lúa Nổi nơi ĐBSCL với nhan đề:  

“On the Growth Habits of Double-and Single-Transplanted, and Floating Rices in the Mekong Delta*”. [Sự Tăng Trưởng Các Giống Lúa Mùa Nước Nổi Trong Biện Pháp Canh Tác Cấy Một Lần và Hai Lần]

VTX trở về Việt Nam với học vị Tiến sĩ Nông học, chỉ không đầy một tháng trước ngày 30-04-1975. Đại học Cần Thơ là cái nôi đã nuôi dưỡng VTX trước đó và ĐBSCL là môi trường cống hiến của nhà nông học VTX trong suốt cuộc đời những năm còn lại của ông về sau này.

Bảo rằng VTX là cha đẻ của giống lúa Thần Nông là không đúng, nhưng ông đã có công lớn thuyết phục nông dân nơi ĐBSCL chấp nhận trồng giống lúa cao sản, và đưa Việt Nam lên hàng thứ hai, sản xuất lúa gạo của thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan.

Nếu có một phim tài liệu / Documentary Film về VTX, thì đó cũng là lịch sử của các giống lúa và cả cây mía – đặc biệt là cây lúa cao sản Thần Nông, mở đường cho cuộc Cách Mạng Xanh / Green Revolution tại Việt Nam.

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG CỦA ANH BA XUÂN

1976-1978 Chống dịch rầy nâu ĐBSCL: Sau 30/04/1975 đó là giai đoạn vô cùng khó khăn của cả nước, đang từ một miền Nam sung túc, nay do quản lý kém đã trở nên thiếu thốn mọi thứ. Lại xảy ra thêm trận dịch rầy nâu (brown planthopper) tàn phá các cánh đồng lúa cao sản khắp ĐBSCL, mọi thuốc trừ sâu rầy đều vô hiệu, khiến nhiều gia đình nông gia hầu như sạt nghiệp. VTX lúc đó đã là một tên tuổi quen thuộc với nông dân ĐBSCL, từng là cha đẻ của chương trình phát thanh “Gia đình Bác Tám” trước 1975, Võ Tòng Xuân đã viết trang hồi ký về giai đoạn này: “Cuối năm 1976 đầu 1977 tại Tân Châu (An Giang) xuất hiện rầy nâu loại biôtýp mới. Lúc đó giặc rầy nâu khủng khiếp đang đốt cháy hầu hết các cánh đồng lúa cao sản. Hàng trăm ngàn bà con nông dân điêu đứng; nhiều người bán hết cả tủ thờ để đầu tư trừ rầy nâu nhưng vẫn thất bại, phải cột xuồng nối đuôi nhau đi sang các tỉnh Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau để mua gạo ăn đong. Tôi đánh một điện tín ngay cho Viện Lúa quốc tế IRRI ở Philippines, và 2 tuần sau nhận được 4 bịch giống lúa mới nhất. Tôi và anh Nguyễn Văn Huỳnh đã thanh lọc tính kháng rầy và tiềm năng năng suất của 4 giống này, đã chọn được giống IR36, sau đó nhân ra khoảng 2 tấn lúa giống IR36.

Võ Tòng Xuân kể thêm: Chúng tôi đã thuyết phục được lãnh đạo Đại học Cần Thơ, tạm thời cho đóng cửa nhà trường, để tất cả ban giảng huấn và hơn 2000 sinh viên các khoa nông nghiệp và sư phạm cùng ra đồng tham gia chống dịch. Sau 2 ngày tập huấn cấp tốc, học cách gieo trồng giống lúa mạ mới kháng rầy, và rồi thầy trò đã hết lòng thuyết phục nông dân chấp nhận trồng giống lúa mới kháng rầy, với kết quả thần kỳ là qua mấy vụ “giống lúa cao sản mới kháng rầy” đã phủ xanh ĐBSCL và dịch rầy nâu hoàn toàn được khắc phục.”

VTX rất hãnh diện khi nhắc về giai đoạn đầy thử thách này: Chiến thắng của nông dân ĐBSCL đối với con rầy nâu là một kỳ công làm cho các chuyên gia quốc tế đều phải thán phục. Đây là sự phối hợp lực lượng rất độc đáo mà Trường Đại học Cần Thơ đã thực hiện được.[Đại Đoàn Kết 02/05/2022] 

2004 THIẾU NGỌT THÊM MẶN: LÀM SAO ĐỂ SỐNG CÒN

Kể từ trước năm 2000, tiếp sau các chuyến đi quan sát thực địa nơi các quốc gia thượng nguồn, mối liên hệ giữa tôi, Anh Võ Tòng Xuân và phóng viên Ánh Nguyệt đài RFI trở nên thường xuyên mật thiết hơn do chúng tôi cùng chia sẻ mối quan tâm về sông Mekong và tương lai ĐBSCL.  

Một trong các cuộc phỏng vấn của phóng viên Ánh Nguyệt [Radio France Internationale tháng 12/2004], khi được hỏi về tình trạng không chỉ thiếu nước ngọt mà nạn nhiễm mặn ngày càng trầm trọng nơi ĐBSCL từ ngày Trung Quốc không ngừng tiến hành xây những con đập khổng lồ Vân Nam và Thái Lan chuyển dòng lấy nước từ sông Mekong – GS Võ Tòng Xuân đã đưa ra nhận xét:

“Cho tới 1975 khi nước nhà thống nhất, thủy sản của ĐBSCL còn rất phong phú, nhưng đến nay thì không, lượng tôm cá không chỉ bị sút giảm về số lượng mà cả về số chủng loại. Số cá ít ỏi lưới được từ sông là không đáng kể, chỉ đủ để cung cấp thức ăn chất đạm cho những gia đình nông dân nghèo trong vùng. Nói về cá tôm xuất khẩu, thực ra không phải từ nguồn thiên nhiên mà là do kỹ nghệ nuôi cá lồng [như cá ba sa], nuôi tôm sú trên vùng nước lợ, cộng thêm với số cá lưới được từ ngoài Biển Đông.

Giáo sư Võ Tòng Xuân phát biểu tiếp:

“Nông dân ĐBSCL thích nghi nhanh, chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp: bỏ hẳn giống lúa cổ truyền chuyển sang trồng lúa cao sản, nên chủ động tránh được lũ cũng như hạn hán. Ở những vùng bị nhiễm mặn, vùng nước lợ, thay vì trồng lúa thì chuyển qua những loại cây khác hay chuyển qua sản xuất nuôi tôm sú chịu được nước lợ; rồi phong trào nuôi cua biển đang phát triển mạnh, người nông dân sẽ dùng nguồn nước mặn này để nuôi thủy sản với giá thành cao hơn là trồng lúa. Hiện nay Viện Lúa ĐBSCL đang vận dụng công nghệ sinh học, tìm những ‘genes’ chịu mặn nhằm lai tạo những giống lúa cao sản tương đối chịu mặn hơn các giống lúa thường. Xa hơn nữa, Việt Nam đang cùng với nhóm MEREM / Mekong Resources Economic Management do Nhật Bản tài trợ, nhằm nghiên cứu những thay đổi của môi trường nước cũng như của đa dạng sinh học trên sông Mekong để từ đó có thể khuyến cáo những chánh phủ liên hệ nên sử dụng nguồn nước sao cho an toàn hơn.” Cùng với những toan tính lượng định lạc quan như trên, Giáo sư Võ Tòng Xuân cũng đã nhận định rằng cho dù Việt Nam có lên tiếng phản đối nhưng cũng chẳng thể làm được gì để ngăn chặn Trung Quốc, Thái Lan và các quốc gia thượng nguồn thực hiện kế hoạch khai thác sông Mekong của họ.

2006 XÂY DỰNG ĐẠI HỌC AN GIANG SAU TUỔI HƯU

Theo bộ luật lao động khá nghịch lý của Việt Nam, tuy là một quốc gia kém phát triển sau chiến tranh nhưng lại có quy định tuổi hưu sớm cho nam giới là 60, nữ giới là 55. VTX sinh năm 1940, năm 2000 Anh chính thức bước vào tuổi hưu, phải nói là quá sớm với một con người “nghiện làm việc / workaholic” như Anh. Kể cả với ngoại lệ cho “người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 5 năm so với quy định.”

Năm 2006, khi tôi tới thăm Đại Học An Giang, lúc đó được sáu tuổi, và khi ấy Viện  Trưởng VTX cũng đã quá tuổi hưu kể cả thời gian gia hạn 5 năm. Đã từng tới Long Xuyên trước 1975, nay trở lại thăm để ngạc nhiên thấy một Long Xuyên, thị xã của tỉnh An Giang đã có rất nhiều đổi thay và phát triển.

Đại Học Cần Thơ đã có trước đó, do uy tín lớn của GS Phạm Hoàng Hộ và GS Nguyễn Duy Xuân nên đã quy tụ được rất nhiều “chất xám” tinh hoa của Miền Nam thời bấy giờ; chỉ riêng trong lãnh vực Nông Nghiệp có thể kể tới sự hợp tác của những tên tuổi lớn như GS Tôn Thất Trình, GS Thái Công Tụng, TS Nguyễn Viết Trương, TS Trần Đăng Hồng với công lao bước đầu đưa giống Lúa Thần Nông/ HYV / High-Yielding Variety vào ĐBSCL. Và từ 1972, có thêm một kiện tướng trẻ tuổi là Võ Tòng Xuân.

Giáo sư Đỗ Bá Khê khi đọc bài diễn văn “xuất trường” năm 1970 của Viện Đại Học Cần Thơ, ông đã có một tầm nhìn rất xa về vai trò của Viện Đại Học này đối với tương lai vùng Đồng Bằng Châu Thổ:

“Ngày nay (19/12/1970) trong Thời Đại Khoa Học Kỹ Thuật, các tỉnh ĐBSCL đang trông chờ nơi ánh sáng soi đường của Viện Đại Học Cần Thơ và ước mơ một chân trời mới, tô điểm bằng những cành lúa vàng nặng trĩu, những mảnh vườn hoa quả oằn cây, dân cư thơ thới, một cộng đồng trù phú trong một xã hội công bằng.”

Ở thời điểm đó An Giang chỉ mới có trường Sư Phạm Long Xuyên với 4 lớp và 260 giáo sinh. Phải 30 năm sau, do con số hơn 40 ngàn học sinh tốt nghiệp trung học mỗi năm tại ĐBSCL, trước tình trạng quá tải của Đại học Cần Thơ, trường Đại Học An Giang [ĐHAG] được phép thành lập và công trình xây cất ĐHAG được khởi công tháng Giêng 2001 – năm đầu tiên của Thế kỷ 21, với kinh phí 35 triệu MK trên một diện tích 40 hecta. ĐHAG được hỗ trợ tài chánh từ địa phương nhưng vẫn chịu sự giám sát chuyên môn của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo Trung ương.

Hình 2: Năm 2006, tác giả đã tới thăm Đại Học An Giang lúc đó được 6 tuổi. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Lãnh đạo nhà trường ngay từ bước đầu chập chững là một khuôn mặt quen thuộc đối với bà con nông dân ĐBSCL: đó là GS Võ Tòng Xuân – vẫn được nông dân thân thương gọi là Anh Ba Xuân; từng là Trưởng khoa Nông học rồi Phó Viện trưởng Đại học Cần Thơ. VTX cũng được biết tới từ trước 1975 như một trong số những người có công phát triển lúa Thần Nông nơi ĐBSCL, được coi như “bước đột phá” chống đói giảm nghèo mà Viện Lúa Gạo Quốc Tế IRRI gọi đó là Cuộc Cách Mạng Xanh về Lúa Gạo.

Với một con chim đầu đàn như GS VTX, người ta sẽ không ngạc nhiên khi thấy ĐHAG đang phát triển theo hướng kết hợp giảng dạy, nghiên cứu ứng dụng vào công ích. Một thứ quan niệm R&D (Research and Development) trong các đại học Mỹ.

Trước khi gặp anh Võ Tòng Xuân, không người hướng dẫn, tôi đã tự xông xáo đi thăm các cơ sở nhà trường, giảng đường, thư viện và cả gặp gỡ nói chuyện riêng với một số em sinh viên: các em rất trẻ mộc mạc, ăn mặc giản dị, cách nói chuyện chất phác, và đặc biệt là lễ phép với khách lạ đến thăm. Phải chăng đó là nét đẹp từ một nền Văn Minh Miệt Vườn. Chắc chắn các em không phải con của các “đại gia hay cán bộ cao cấp” của ĐBSCL, bởi vì tệ lắm nếu không là Đại học Sài Gòn thì cũng đã là những sinh viên du học “tự túc” ở các nước Âu Mỹ, nhất là Mỹ.

Các em là thế hệ khá thiệt thòi, sinh ra và lớn lên nơi vựa lúa ĐBSCL sau chiến tranh nhưng lại chỉ được hấp thụ một nền giáo dục trung và tiểu học thấp kém nhất nước, do thiếu lớp học thiếu thầy cô giáo – thua cả Tây Nguyên, theo nhận xét của chính các nhà giáo dục trong nước. Tốt nghiệp trung học trong một tình trạng mất căn bản như vậy, khi bước lên đại học, chỉ có lòng hiếu học cao độ mới giúp các em vượt qua được khoảng cách đại dương ấy.

ĐHAG hiện chỉ có tầm vóc khiêm tốn của một Đại Học Cộng Đồng (Community College) còn đang phát triển. Quanh sân trường, đây đó còn những đống gạch cát của công trình đang xây cất dở dang. Thư viện khá đẹp như khuôn mặt chính của nhà trường với hai từng lầu, gọn sạch ngăn nắp, tổ chức sắp đặt theo tiêu chuẩn Mỹ, với cả một dàn máy điện toán PC cho sinh viên sử dụng. Sinh viên nam nữ tự động sắp hàng trật tự trước các quầy để mượn và trả sách. Sách mới, sách khoa học tiếng Anh phải kể là còn rất ít nhưng bù lại các em đã biết truy cập vào “internet” để có một số thông tin mà các em cần.

Buổi sáng, bước vào một giảng đường lớn, đông đảo sinh viên thuộc nhiều khoa và các lớp khác nhau, trên bục giảng là Gs VTX, với đề tài rất cơ bản “Phương pháp Khoa học và Lộ trình Nghiên cứu.” Cho dù đi vào từ phía sau giảng đường cũng không còn một chỗ trống, một em tự động đứng dậy nhường chỗ cho khách [sau này có dịp nói chuyện, tôi được biết là một sinh viên năm thứ tư sắp ra trường].

Bài giảng khúc chiết và dễ hiểu để ứng dụng đối với các sinh viên khi phải làm một luận văn / một thứ luận án nhỏ như điều kiện để tốt nghiệp ra trường. Luận văn ấy sẽ là nỗ lực cá nhân của sinh viên hướng về giải quyết các vấn đề thực tiễn liên quan đến phát triển kinh tế xã hội của vùng ĐBSCL. Riêng với tôi thì phần lý thú nhất trong bài giảng sáng hôm đó vẫn là những ví dụ nghiên cứu về “lúa gạo” của nhà nông học Võ Tòng Xuân.

GIÁO DỤC KHAI PHÓNG VÀ TỰ TRỊ ĐẠI HỌC

Sau lớp học buổi sáng, tôi được gặp anh Võ Tòng Xuân. Tuy gặp nhau lần đầu tiên nhưng từ nhiều năm “văn kỳ thanh”, tôi đã theo dõi những bước đi của anh, anh Xuân cũng đã là nguồn cảm hứng về “nhân vật Thầy Hộ” khi tôi viết cuốn Cửu Long Cạn Dòng – chúng tôi đã có ngay một mẫu số chung để nói chuyện với nhau. Phong cách giản dị, không nghi thức, anh Xuân tự tay pha trà tiếp tôi trong văn phòng Hiệu trưởng mà tôi vẫn quen gọi là Viện trưởng, căn phòng khá nhỏ, trông lại càng nhỏ chật hơn với ngập những sách. Trong số sách ấy, tôi cũng thấy cuốn Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, ấn bản đầu tiên của nhà xuất bản Văn Nghệ ở hải ngoại năm 2000, cũng là thời điểm Đại Học An Giang mới tuổi “thôi nôi”.

Hình 3: GS Võ Tòng Xuân, tại văn phòng Viện trưởng Đại Học An Giang 2006. Tuy gặp Anh VTX lần đầu tiên, nhưng “văn kỳ thanh” chúng tôi đã biết nhau. Cũng khá ngạc nhiên khi thấy cuốn Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, ấn bản đầu tiên do Văn Nghệ xuất bản ở hải ngoại năm 2000, đã có trên kệ sách của Anh Xuân. [Photo by Ngô Thế Vinh]

Như một ngoại lệ thật hiếm hoi, gốc từ một trí thức cũ trước 1975, không phải là đảng viên, Võ Tòng Xuân đã được chế độ mới khoác trên người Anh những danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lao động (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1986), Nhà Giáo Ưu Tú (1990) rồi Nhà Giáo Nhân Dân (1999).

Đã cùng sống qua hai chế độ trước và sau 1975, chúng tôi có nhiều điều để chia sẻ. Anh Xuân tỏ ra rất lo lắng và quan tâm về tình trạng xuống cấp của nền giáo dục hiện nay. Không có những phát biểu xu thời, VTX đã thẳng thắn nhận định:

Tôi lo nhất là nền giáo dục phổ thông của Việt Nam từ Nam ra Bắc đang quá kém so với các nước quanh ta. Tình trạng ấy ảnh hưởng tới phẩm chất của sinh viên khi lên đại học.” Như một hoài niệm, Anh Xuân nhắc tới nền giáo dục những năm 1960 ở Miền Nam. Anh Xuân nói: “Anh Vinh thấy không, hồi đó học sinh đậu tú tài xong có thể nói là đã khá trưởng thành, có thể làm được bao nhiêu việc. Chứ như bây giờ, học xong trung học rồi mà cứ “ngơ ngơ ngác ngác” – vẫn chữ của Anh Xuân, không biết làm gì. Cắm đầu học, chỉ để cho các kỳ thi, sau đó là quên hết, chữ nghĩa trả thầy, không có một căn bản kiến thức, không có chút vốn liếng ngoại ngữ, hầu như không được chuẩn bị gì để bước lên bậc đại học. Nếu vẫn với chương trình “nhồi sọ” học đủ các môn như hiện nay, thì Đại học cũng chỉ là một trường Trung học cấp Ba. Không hơn không kém !”

Đó là những khó khăn bất cập của hệ thống đại học trên cả nước – chứ không phải riêng một Đại học tân lập như ĐH An Giang hiện nay. VTX nói tới giáo dục đại học phải được cởi trói – Nhà nước phải trả quyền tự chủ cho Đại học về chương trình, tài chánh và cả quản trị con người. Anh Võ Tòng Xuân muốn nói tới một nền “Tự Trị Đại Học” [University autonomy], nói rộng hơn là một môi trường giáo dục khai phóng đã có trước đó ở Miền Nam mà người Cộng Sản – bên thắng cuộc đã xóa đi từ sau 1975.

Buổi trưa hôm ấy, tôi đã ngồi Honda ôm với anh VTX thay vì xe hơi, để xuống phố cùng với mấy cộng sự trẻ của anh dùng bữa ăn trưa với canh chua cá bông điên điển, cá kho tộ và có cả gỏi tôm ngó sen, toàn những món đặc sản của ĐBSCL.

Sau bữa ăn trưa ngắn ngủi, nửa ngày còn lại là một ngày ngập bận rộn của anh Xuân. Anh để tôi tùy nghi chọn lựa tham dự các sinh hoạt ấy. Như buổi trình luận án cấp trường của một giảng viên ĐHAG do anh Xuân chủ trì. Luận án liên quan tới những con số thống kê, những khiếm khuyết trong cách thu thập và phân tích dữ kiện đều được hội đồng giám khảo nhận xét, thí sinh có cơ hội được phản biện; cuối cùng thì thang điểm được cộng lại: chỉ đạt 52% số điểm có nghĩa là luận án không được thông qua. Cùng một lúc ở một giảng đường khác, là một buổi nói chuyện của một kỹ sư người Mỹ gốc Việt từ Florida về, dùng laptop và power point để giới thiệu với sinh viên về chiếc máy sấy lúa “tiết kiệm” do anh sáng chế. Cũng buổi chiều hôm ấy, có hai phái đoàn khách tới thăm, một đoàn từ đại học USC (University of Southern California). Tới đây, ai cũng muốn được gặp GS VTX.

Anh Xuân có những cộng sự viên trẻ, tốt nghiệp ở ngoại quốc từ nhiều nguồn khác nhau, lớp trẻ này có kiến thức khả năng và nhiệt tình nhưng chưa tới tầm vóc để có thể thay anh. Họ về với anh Xuân, về với ĐHAG vì họ biết đó là tương lai. Với trình độ chuyên môn và khả năng ngoại ngữ ấy nếu đi làm cho các công ty tư nhân ngoại quốc như Đài Loan, Đại Hàn chắc chắn họ sẽ có một số lương bổng cao hơn gấp nhiều lần. Cô Giám đốc phòng giao dịch quốc tế là một Ph.D. về giáo dục về từ đại học USC. Tổ chức thư viện và thiết kế website của ĐHAG là một kỹ sư có bằng MSc. tốt nghiệp ngành vi tính (computer science) từ một Đại học miền Đông Hoa Kỳ, cho dù nhiệm vụ chính của anh vẫn là giảng dạy về Tin học; được biết anh cũng vừa được một Đại học Úc thâu nhận vào chương trình Ph.D. trong năm tới. Cô nhà báo HV, xuất thân từ báo Tuổi Trẻ, tác giả nhiều bài ký và những bức hình chụp sinh động, nay cũng đã tự nguyện về với ĐHAG, cô ấy cũng được khuyến khích đi học thêm về báo chí ở Đại học Columbia New York… Ngoài ra, còn phải kể tới nguồn Voluntary Faculty – những giáo sư ngoại quốc thỉnh giảng tình nguyện. Anh Xuân cho biết tuy là trên căn bản tự nguyện nhưng ĐHAG vẫn tìm cách trả lương cho họ theo quy chế.

Hình 4: Ngồi xe Honda ôm với Anh Ba Xuân thay vì xe hơi của nhà trường. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Một “chuyện vui bên lề” là đã có một ông giáo sư thỉnh giảng tới với ĐHAG nhưng vì “đi một về hai” nên nhà trường đã có một tổn thất phụ / collateral damage về nhân sự.

Nhiệm vụ của ĐHAG cùng với ĐH Cần Thơ, là đào tạo nguồn nhân lực và nhân tài cung ứng cho các bước phát triển kinh tế và xã hội của ĐBSCL nhằm “tăng cường khả năng hợp tác và cạnh tranh, khả năng hội nhập vào thị trường quốc tế” khi Việt Nam sắp chính thức gia nhập WTO (World Trade Organization).

Tình trạng thực tế hiện nay, tỉnh An Giang nói riêng và ĐBSCL nói chung, không chỉ thiếu cán bộ có trình độ đại học và trên đại học trong các ngành kinh tế xã hội mà còn rất thiếu cả một đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề trong các lãnh vực công nghiệp chế biến thủy sản và nông phẩm, công nghệ sinh học và phát triển du lịch.

Với hướng đi từ nay tới 2010, dự trù sĩ số sinh viên sẽ lên tới 10.000 với chương trình đào tạo 4 năm cho các ngành như sư phạm, canh nông, công nghệ thực phẩm thủy sản, công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ sư điện toán, kỹ thuật môi trường / environmental engineering, quản trị kinh doanh nông thôn… và mục tiêu đào tạo là làm sao đáp ứng yêu cầu thực tiễn của các thành phần kinh tế. [Biện pháp đào tạo theo-địa-chỉ các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân chứ không phải với tương lai sinh viên tốt nghiệp chỉ là những công chức nhà nước].

Phải nói rằng số lượng giảng viên hiện nay của nhà trường còn rất hạn chế, với sĩ số 600 chỉ có 50% có bằng thạc sĩ (Master) và một số rất ít tiến sĩ (Ph.D.). Qua các em, tôi được biết anh Xuân không ngừng khuyến khích và tìm cơ hội gửi các giảng viên trẻ của ĐHAG đi ngoại quốc học thêm để tăng cường chất và lượng cho ban giảng huấn. Và cũng có cả kế hoạch thu hút thêm những nguồn chất xám mới đổ về. Nhiều hứa hẹn nhưng cũng thật nhiều thách đố cho một Đại học còn non trẻ như ĐHAG.

Ngoài chức vụ lãnh đạo ĐHAG, cụ thể rất sớm trước đó từ thập niên 1980, Anh VTX và các cộng sự đã có các công trình nghiên cứu sử dụng đất phèn ĐBSCL, tạo giống lúa cao sản mới quan tâm nhiều hơn tới chất lượng của lúa gạo thay vì số lượng, và VTX đã can đảm muốn nông dân ĐBSCL thoát khỏi “vòng kim cô của cây lúa” – vẫn ngôn từ của TS lúa gạo VTX, dám nuôi trồng những gì khác hơn cây lúa, với hướng nghiên cứu hệ thống canh tác nhằm chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nâng cao mức thu nhập của nông dân.

Anh Xuân còn những dự án dở dang khác: (1) tìm gene giống lúa mới chịu được nước lợ do Cửu Long Cạn Dòng và thêm nhiễm mặn; (2) vận động nông dân ĐBSCL áp dụng kế hoạch “3 giảm 3 tăng” trong đó có giảm thuốc trừ sâu rầy để giảm nhiễm độc đã tới mức độ nguy hiểm cho môi trường sống; (3) lập khu bảo tàng cây lúa ĐBSCL với sưu tập tất cả các nông cụ mà tiền nhân đã sử dụng từ thuở khai hoang.

Hình 5: Đại Học An Giang 6 tuổi nhưng do thiếu ngân sách, vẫn còn các công trình xây cất dở dang. [Photo by Ngô Thế Vinh]

Và còn nhiều nữa, anh Xuân có theo dõi và biết rõ hậu quả những con Đập Bậc Thềm Vân Nam và các dự án chuyển dòng lấy nước sông Mekong của Thái Lan ra sao trên ĐBSCL, mà theo anh Việt Nam cũng chẳng thể phản đối được gì. Trước nghịch cảnh, anh tìm cách làm sao để biến những “bất cập” hiện nay thành “thuận lợi” như phát triển ngành nuôi “tôm sú”, nuôi “cua biển” nơi vùng nước lợ đem lợi tức cho nông dân cao hơn là trồng lúa; áp dụng kỹ thuật tưới luân phiên mà vẫn bảo đảm năng suất lúa ở vùng thiếu nước khi Cửu Long Cạn Dòng… Hình như lúc nào anh Xuân cũng thiếu thời gian cho một ngày chỉ có 24 giờ, bản chất người Nam, anh vẫn lạc quan; luôn luôn nhìn thấy nửa phần đầy của ly nước thay vì nửa vơi. Tre già măng mọc, anh Xuân đang lo vun trồng thế hệ măng tiếp nối anh. Hẹn ngày tái ngộ với ĐHAG, lần tới khi trở lại ĐBSCL mong sẽ có dịp đến thăm Bảo Tàng Cây Lúa của anh Xuân.

2007 DOCTOR RICE GIÚP TRỒNG LÚA PHI CHÂU

An ninh Lương thực là một vấn đề toàn cầu, nhất là đối với các quốc gia nghèo đói Phi Châu. Đó cũng là lý do để Doctor Rice VTX đã cùng nhóm cộng sự được Anh Ba Xuân thân thương gọi họ là Các Anh Hai Lúa đến nước Cộng hòa Sierra Leone (Tây Phi châu) đem theo các giống lúa cao sản từ ĐBSCL, đem trồng thử nghiệm tại khu Mange Bureh và tại Trại nghiên cứu Rokupr. Nhóm chuyên gia nông nghiệp từ Việt Nam đã thành công trồng được lúa 2 vụ, năng suất đạt khoảng 4,7 tấn/ ha, thời gian tăng trưởng của cây lúa chỉ từ 95 đến 100 ngày. Thành quả này đã khiến Phó Tổng thống nước Sierra Leone, Solomon Berewa nói rằng nếu Việt Nam giúp Sierra Leone thử nghiệm và tổ chức sản xuất lương thực theo kỹ thuật của ĐBSCL thì không những nông dân Sierra Leone được no ấm mà Việt Nam còn có thể cùng Sierra Leone xuất cảng gạo trực tiếp từ cảng Freetown của Sierra Leone đến các nước Tây Phi. Sau Sierra Leone, VTX đã tiếp tục khảo sát thổ nhưỡng của Nigeria và Ghana giúp chính phủ Nigeria thành lập Ủy ban phát triển đồng bằng sông Niger.

Dr. Rice Võ Tòng Xuân phát biểu một câu đáng ghi nhớ: “Việt Nam là một quốc gia không giàu nhưng hoàn toàn có khả năng giúp nhiều quốc gia khác chiến thắng đói nghèo”.Đem giống lúa cao sản và kỹ thuật trồng lúa từ ĐBSCL vào các quốc gia Phi Châu là một chương trình hợp tác đầy triển vọng nhưng rồi bị khựng lại vì tình hình chính trị bất ổn tại các quốc gia này.

image

Hình 6: Do những thành tựu đã đạt tại Sierra Leone, Sứ giả Cây Lúa Võ Tòng Xuân, hàng đầu thứ hai từ phải, được dân làng IKPE, tỉnh Akwa Ibom, Nigeria chào đón nồng nhiệt. [nguồn: Tuổi Trẻ 18/08/2008]

2015 TÌNH NGHĨA GIÁO KHOA THƯ

GS Nguyễn Duy Xuân người Cần Thơ, sinh năm 1925 hơn Võ Tòng Xuân 15 tuổi, tốt nghiệp Tiến sĩ Kinh tế Đại học Vanderbilt Hoa Kỳ, trở về Việt Nam 1963, giáo sư Luật. Nhận chức Viện trưởng từ Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, Giáo sư Nguyễn Duy Xuân đã nỗ lực phát triển Viện Đại học Cần Thơ trên mọi lãnh vực từ chương trình giảng dạy, đào tạo ban giảng huấn, xây cất thêm giảng đường, phòng thí nghiệm, thiết lập ký túc xá như hệ thống campus cho sinh viên đến từ các tỉnh xa miền Tây. Ông là người tiên phong thực hiện giáo dục đại học theo tín chỉ / credits (giống như mô hình hệ thống Đại học Hoa Kỳ.

Chỉ trong vòng 9 năm [1966 – 1975] với công lao xây dựng của hai Viện trưởng: GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân, Viện Đại Học Cần Thơ như một Ngọn Hải đăng trí tuệ Miền Tây, trở thành một trung tâm đào tạo và nghiên cứu khoa học, đặc biệt bước đầu ưu tiên phát triển hai lãnh vực Sư phạm và Nông nghiệp, vững vàng sánh bước với các Viện Đại học lâu đời khác của Miền Nam, đóng góp cho sự thăng tiến của vùng ĐBSCL.

Võ Tòng Xuân thì chẳng thể nào quên thời điểm năm 1972, chính GS Nguyễn Duy Xuân – mà Anh coi như bậc thầy của mình, đã đích thân viết thư mời Anh, khi ấy đang làm việc ở Viện Nghiên cứu Lúa gạo Quốc tế / IRRI Los Baños Philippines về trường ĐH Cần Thơ. Võ Tòng Xuân kể lại: “Anh Nguyễn Duy Xuân nói ĐBSCL là cái vựa của lúa gạo nên rất cần những nhà khoa học về nông nghiệp. Chiến tranh rồi có ngày hòa bình, đất nước sẽ cần những người như tôi. Đó là một trong những lý do tôi về công tác ở Đại học Cần Thơ. Võ Tòng Xuân sau này trở thành một Giáo sư Nông học danh tiếng, “Doctor Rice”, tên tuổi anh gắn liền với sự tiếp nối phát triển cây Lúa Thần Nông nơi ĐBSCL.

Từ Ảo Vọng Tới Thảm Kịch. Chỉ mấy ngày trước biến cố 30/04/1975, cũng như GS Phạm Hoàng Hộ, GS Nguyễn Duy Xuân một trí thức yêu nước dấn thân, ông từ chối bước lên chuyến bay của Tòa Đại Sứ để di tản sang Mỹ, với quyết định ở lại phục vụ. Nhưng sau 1975, GS Nguyễn Duy Xuân vẫn bị bắt đi tù cải tạo, bị đưa ra Bắc, giam trong trại tù khắc nghiệt Ba Sao Hà-Nam-Ninh, hầu như không có ngày về.

Năm 1983, Võ Tòng Xuân, trong một lần ra Hà Nội dự hội nghị, anh đã vượt mọi khó khăn tìm cách vô được trại tù Ba Sao để thăm vị Viện trưởng của mình. GS Nguyễn Duy Xuân rất vui mừng khi gặp lại VTX, và cho dù đang trong nghịch cảnh tù đày, ông vẫn quan tâm hỏi han tới hiện trạng của Đại học Cần Thơ, nơi mà ông và GS Phạm Hoàng Hộ đã dày công xây dựng.

Đó cũng là lần duy nhất và cuối cùng VTX được gặp vị Thầy của mình. GS Nguyễn Duy Xuân tiếp tục bị đày ải thêm 3 năm nữa tổng cộng 11 năm, và đã chết trong trại tù Hà- Nam-Ninh ngày 10 tháng 11 năm 1986 trong đói khát và bệnh tật không thuốc men. Xác của ông được vùi nông trên một triền núi phía sau trại tù Ba Sao.

Phải mãi đến 30 năm sau, tháng 4 năm 2015, di cốt của GS Nguyễn Duy Xuân, mới được người con gái là Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ cha, đưa từ nghĩa địa trại tù Ba Sao về Chùa Thiên Hưng, quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Trong buổi lễ cầu siêu, ngoài thành viên của gia đình cố Viện trưởng GS Nguyễn Duy Xuân, còn có một số cựu giảng huấn và các cựu sinh viên tốt nghiệp Đại học Cần Thơ trước 1975 như GS Võ Tòng Xuân, đến tham dự buổi lễ trong nỗi thương tiếc và ngậm ngùi.

image

Hình 7a:Trại tù Hà-Nam-Ninh, miền Bắc Việt Nam, nơi triền núi phía sau trại tù là nghĩa địa chôn vùi xác rất nhiều tù nhân cải tạo có gốc từ Miền Nam sau 1975.Thân xác Giáo sư Nguyễn Duy Xuân được vùi nông và bị lãng quên trong suốt 30 năm trong nghĩa địa trại tù Ba Sao này. [tư liệu Võ Tòng Xuân]

image

Hình 7b:Mãi 30 năm sau, tháng 4/2015,con gái của GS Viện Trưởng Nguyễn Duy Xuân là bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga từ Pháp về bốc mộ cha từ nghĩa địa trại tù Ba Sao đưa về Chùa Thiên Hưng, quận Bình Thạnh, Sài Gòn. Hình chụp trong buổi lễ cầu siêu tại Chùa; từ trái, GS Võ Tòng Xuân, bà Nguyễn Thị Nguyệt Nga, ôm bình tro cốt của cha, và hai thân hữu [tư liệu Võ Tòng Xuân]

Với người viết, cái chết của GS Nguyễn Duy Xuân mang tầm vóc lịch sử của một tấn thảm kịch, bắt nguồn từ ảo vọng của những trí thức Miền Nam, với tài năng và giàu lòng yêu nước, đã tình nguyện chọn ở lại góp tay xây dựng đất nước, để rồi họ trở thành nạn nhân của một chính sách trả thù, giam hãm đày đọa độc ác và vô ích của những người Cộng sản bên thắng cuộc. Không có chính sách độc ác vô ích ấy, đất nước sẽ phát triển và còn tiến xa tới đâu. Đây là vết thương của một giai đoạn lịch sử, một bài học đắt giá cho các thế hệ Việt Nam tương lai.

Thành viên các Tổ chức Quốc tế:

Member, Board of Trustees of the Rockefeller Foundation (2002 to 2010); Member, Board of Governors, Asian Institute of Management in Manila (1997 to date); Member, Board of Trustees of the International Potato Center at Lima, Peru (1996–99; 2016 to date); Research fellow and trustee of the International Rice Research Institute; Member, Board of Directors of the International Fertilizer Development Center (2007-2017)

Các Giải thưởng quốc tế:

1993 Recipient of the Ramon Magsaysay Award for Government Service** – Giải thưởng Ramon Magsaysay 1993 “vì đã kết hợp nghiên cứu khoa học thực tế với vận động chính sách hiệu quả để cải thiện đời sống của người nông dân Việt Nam.”

1995 Canada’s Certificate of recognition for his “Dedication and contribution to the world of sciences”. Bằng tưởng lệ của Thủ tướng Canada (1995) về “Phụng sự và đóng góp vào khoa học thế giới”.

1996 French’s “Médaille Chevalier de l’Ordre du Mérite Agricole “. Huy chương “Kỵ mã Nông nghiệp” của Bộ Nông-Lâm-Thủy sản Pháp (1996).

2001 Philippines’ D.L. Umali Award. Giải “Cựu sinh viên xuất sắc nhất” của Đại học Philippines tại Los Baños.

2002 Japan’s Nikkei Asia Prize for Regional Growth. Giải thưởng Nikkei châu Á về Tăng trưởng vùng.

2005 Australia’s ASTD Derek Tribe Award. Giải thưởng Derek Tribe về khoa học kỹ thuật Australia

2019 Bằng khen của Bộ Ngoại giao Nhật Bản; GS.TS VTX là một trong 16 cá nhân của Việt Nam được Bộ Ngoại giao Nhật Bản tuyên dương và trao tặng Bằng khen.

2021 Order of the Rising Sun, Gold Rays with Neck Ribbon. Huân chương Mặt Trời Mọc, Tia Sáng Vàng và Ruy Băng Cổ.

Các Chức vụ Trong Nước:

Đại biểu Quốc hội 3 Khóa: II,III,IV; 1982-1997 Phó Viện Trưởng Trường Đại học Cần Thơ; 1999-2007 Viện Trưởng Trường Đại học An Giang; 1996-2006 Ủy viên Hội đồng Chức Danh Giáo sư Nhà nước Việt Nam; 01/2008-2010 Tổng Giám đốc Công ty TNHH Nông Thủy Sản Việt-Phi; 2010-2013 Viện Trưởng Trường Đại học Tân Tạo; 2013- Nay: Thành viên Hội đồng Sáng lập và Quyền Viện Trưởng và nay Viện Trưởng Danh Dự (Rector Emeritus) Trường Đại học Nam Cần Thơ.

Các Giải thưởng trong nước:

Giáo sư Nông học (1980), Anh hùng lao động (1985), Huân chương Lao động hạng Nhất (1986), Nhà giáo Ưu tú (1990), Nhà giáo Nhân dân (1999).

Các bài báo Khoa học: [Võ Tòng Xuân Publications]*:

_ Training manual for rice production / Vo-Tong Xuan and Vernon E, Ross; Illustration by Federico Gatmaitan. 1972, 1976

_ Role of resistant varieties in depressing brown planthopper populations in the Mekong Delta of Vietnam. Nguyen Van Huynh, Vo-Tong Xuan. International Rice Research Newsletter. 1981

_ Rice cultivation on acid sulphate soils in the Vietnamese Mekong Delta. Vo-Tong Xuan, Nguyen Kim Quang, Le Quang Tri. Publication, International Institute for Land Reclamation and Improvement. 1982

_ Curriculum development of agriculture in a post-war economy: the case of Vietnam. Vo-Tong Xuan, Mensvoort, T.E.F van. South-North partnership in strengthening higher education in agriculture. 1989

_ Cultivation of the sugarcane on acid sulfate soils in the Mekong Delta. Truong Thi Nga, Duong Van Ni, Vo-Tong Xuan. Selected papers of the Ho Chi Minh City symposium on acid sulfate soils, HCM City, Vietnam. 1992-1993

_ Vietnam and IRRI: a partnership in rice research : proceedings of a conference held in Hanoi, Vietnam 4-7 May 1994 / editors G.L. Denning and Vo-Tong Xuan. 1995

_ Mekong Delta plant genetic resources off-farm and on-farm conservation. Huynh Quang Tin, Nguyen Ngoc De, Vo-Tong Xuan. Plant genetic resources in Vietnam. Proceeding of a national workshop in Hanoi, Vietnam, on 28-30 March 1995.

_ Opportunities for upland rice research in Vietnam. Arraudeau,M.A., Vo-Tong Xuan. International Rice Research Institute, Los Baños, Laguna (Philippines). 1995

_ Vietnam-IRRI collaboration in training: progress and priorities in human resource development. Matheny, E.L., Raab, R.T., Vo-Tong Xuan. International Rice Research Institute., Los Baños, Laguna (Philippines). 1995

_ Vietnamese villages and rice production. [French, Campagnes vietnamiennes et production rizicoles]. Dogot,T.Lebailly, P., Dao Cong Tien, Pham Van Bien, Tran The Thong, Vo-Tong Xuan. Cahiers Agricultures. 1997

_ Genetic diversity of traditional varieties of upland rice from Vietnam and prospects offered by improved varieties [French: Diversité génétique des variétés traditionnelles du riz pluvial du Vietnam et perspectives offertes par les variétés améliorées] Courtois, B., Nguyen Huu Hong, Vo Thi Thu Huong, Carandang, C., Vo-Tong Xuan. Agriculture et Développement. 1997

_ Prospects for sustaining Vietnam’s re-acquired rice exporter status, Pingali, P.L., Nguyen Tri Khiem, Gerpacio, R.V., Vo-Tong Xuan. Food Policy. 1997

_ Land evaluation and land use planning of the area for rice-shrimp systems, Gia Rai District of Bac Lieu Province. Le Quang Tri, Vo Quang Minh, Vo-Tong Xuan. ACIAR Technical Reports Series. 2003

_ Enhancing food security and income through integrating an upland crop in the rainfed cropping systems. Nguyen Ngoc De, Vo-Tong Xuan, Abedin, M.Z., Bool. M.R. 2004

“New Direction for a Diverse Planet”, 4th International Crop Science Congress in conjunction with the 12th Australian Agronomy Conference, 26 Sep – 1 Oct 2004 Brisbane, Australia. 2004

_ Beach morning glory (Ipomea Biloba Forsk.) help prevent coastal erosion and desertification in Vietnam. Kroftf, M., Vo-Tong Xuan, Hoang Quang Ha. APA News 2012

_ Development of the Sugar Industry in ASEAN Countries. Vo-Tong Xuan et al. Sugar Tech 2016

_ Rice Production, Agricultural Research, and Environment. Vo-Tong Xuan 2018

VTX MỘT ĐỜI CẦU HỌC

Suốt một đời, trên bước đường “cầu học”, Võ Tòng Xuân đã đi khắp năm châu, cụ thể hơn, Anh đã đặt chân tới 80 quốc gia, và có thể dùng một từ tiếng Anh “globe trotter” cho Anh. Trước 1975, miền Nam có một nhà xuất bản tên Bốn Phương với câu châm ngôn rất hay: “Góp nhặt từ bốn phương, tung ra khắp bốn phương”. Võ Tòng Xuân đạt được chức danh Giáo Sư Lúa Gạo / Doctor Rice nhưng vẫn giữ hình ảnh là một “sinh viên suốt đời – étudiant éternel”.Anh khiêm cung trong cách “cho và nhận”, vẫn đi tìm học ở những nơi chính Anh có thể dạy dỗ.

image

Hình 8:GS Võ Tòng Xuân đi dự hội thảo về nông nghiệp thế giới tổ chức tại miền nam nước Pháp vào tháng 4 năm 2006. Ảnh chụp tại Gare de Lyon, Paris.[Photo by Ánh Nguyệt, RFI]

Cũng chỉ mới đây thôi, sau một hội nghị quốc tế về lúa gạo tại Lima 2017, thủ đô Peru, Võ Tòng Xuân đã tận dụng chuyến đi ấy để ghé Houston thăm ngôi mộ và thắp bó nhang tưởng nhớ nhà nông học Nhật Bản Shinpei Mykawa (1874-1906) người có công đầu đem lúa giống vào trồng trong vùng đông nam Texas. Sau khi mất, một cộng đồng và một con đường ở Houston được đặt tên Mykawa.

*

image

Hình 9a: Sau một hội nghị quốc tế về lúa gạo tại Lima 2017, thủ đô Peru, Võ Tòng Xuân đã tận dụng chuyến đi, ghé Houston để tới thăm ngôi mộ và thắp bó nhang tưởng nhớ nhà nông học Nhật Bản Shinpei Mykawa (1875-1906) người có công đầu đem lúa giống vào trồng trong vùng đông nam Texas[photo by Ngy Thanh]

*

image

Hình 9b: Bằng đường bộ từ Houston tới Louisiana với hơn 4 giờ lái xe (275,9 mi), Anh Xuân tới thăm hai Trung tâm Nông nghiệp của ĐH Louisiana / LSU: tới khu nghiên cứu lúa gạo cùng trao đổi kinh nghiệm với vị giáo sư trưởng khoa. [photo by Ngy Thanh]

Anh Xuân tới thăm Trung tâm Nông nghiệp của ĐH Louisiana / LSU: tới khu nghiên cứu lúa gạo và mía, để cùng trao đổi kinh nghiệm với vị giáo sư trưởng khoa, mà trong thực tế thì ai cũng hiểu rằng VTX có thể được mời tới như một giáo sư thỉnh giảng về cây lúa, cây mía tại chính những nơi Anh đến thăm.

Mỗi lần sang Mỹ, hay đến những các quốc gia khác – có các cộng đồng tỵ nạn người Việt, Anh VTX bao giờ cũng tìm cách ghé thăm chuỗi siêu thị Á Đông, và Anh rất “tâm tư – chữ của Anh Xuân”, khi thấy trong các siêu thị ấy chỉ bán gạo nhập từ Thái Lan với lý do Việt Nam không có được giống gạo ngon để có thể cạnh tranh với Thái. Anh VTX ao ước, một ngày nào đó – không phải chỉ có gạo, mà cả những nông sản khác của Việt Nam sẽ đạt được chất lượng cao và an toàn để có thể cung cấp rộng khắp cho thị trường thế giới. Và khi đó nông dân Việt Nam mới có thể thoát cảnh nghèo!

TUỔI NGOÀI 80 VTX VẪN BĂNG SÔNG LỘI RUỘNG

*

image
image

Hình 10: Ở tuổi ngoài 80, Anh Ba Xuân vẫn đi xe Honda ôm, đi qua mấy cây cầu khỉ cheo leo; hay vẫn ngồi trên tắc ráng băng sông đi khảo sát thực địa tại vùng xa và sâu U Minh. [Photo by Lục Tùng, báo Lao Động 30/12/2021]

NÔNG NGHIỆP VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 01/10/2022

Có lẽ đây là tấm hình chụp gần đây nhất – trước ngày Anh VTX nhập viện. Sau cuộc họp bàn về Dự án Phát triển Nông nghiệp ứng phó với Biến đổi Khí hậu cho tỉnh Hậu Giang, tối ngày 01/10/2022 tại nhà hàng Lúa Nếp, TP Cần Thơ, là buổi họp chia tay của một số thành viên trong đoàn.

image

Hình 11: Từ phải, GS Võ Tòng XuânHiệu trưởng Danh dự trường Đại học Nam Cần Thơ; PGS TS Lê Anh Tuấn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Biến đổi Khí hậu ĐH Cần Thơ; ThS Nguyễn Hồng Trúc, TS Trần Đình Lâm thuộcTrung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á (CVSEAS/ Center for Vietnam and Southeast Asian Studies)Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP HCM. TS Lâm hiện là giám đốc Trung Tâm CVSEAS. [tư liệu Lê Anh Tuấn]

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ

Võ Tòng Xuân đã là nguồn cảm hứng về “nhân vật Thầy Hộ” trên hơn 700 trang sách khi tôi viết cuốn Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng, cách đây cũng đã hơn 20 năm. Sau đây là một trích đoạn, phác thảo đôi nét chân dung về hình tượng văn học ấy.

BÊN TRỜI

TIẾNG HẠC KÊU THƯƠNG

Tới đây thì ở lại đây

Bao giờ bén rễ xanh cây thì về

ca dao Nam bộ

Bấy lâu gắn bó với sông Mekong, con sông ấy, vùng đất mới ấy bao giờ cũng đem lại cho Hộ / VTX niềm cảm hứng và cả những tình cảm lớn lao. Bảo vệ sự nguyên vẹn tinh khiết cho dòng sông ấy không chỉ vì vùng Đồng Bằng Châu Thổ Cửu Long mà chính là bảo vệ mạch sống cùng với hệ sinh thái của một vùng đất Á Châu hướng về một tương lai xa.

Là thành viên Ủy Ban Sông Mekong, Hộ có dịp để thấy được con sông ấy hùng vĩ nhưng cũng mong manh ra sao. Sinh ra và lớn lên từ vùng đồng bằng Nam Bộ, Hộ đã quá thân thiết với con sông ấy. Hồi nhỏ thì chỉ biết gắn bó với khúc sông Tiền nơi quê nhà qua hai mùa lũ hạn, lớn lên thì vươn tới suốt chiều dài của dòng sông, thân thuộc với nhịp điệu của con sông Mekong như nhịp đập của trái tim mình. Con sông ấy tưởng như bất trị nhưng lại là nguồn sống từ ngàn năm của người dân đồng bằng châu thổ. Mới hơn trăm năm trước người ta cũng chưa biết con sông ấy khởi nguồn từ đâu.

Con sông xanh cuồng nộ ấy như một con rồng với đầu ẩn khuất trên chín từng mây trên ngọn núi thiêng bên cao nguyên Tây Tạng với cả thân rồng uốn lượn khi thì dũng mãnh sủi bọt gào thét xuyên qua những cao nguyên và rừng già khi thì trải mình hiền hòa trên các bình nguyên rồi đồng bằng châu thổ với chín cái đuôi không ngừng quẫy đập để vươn tới thềm lục địa Biển Đông. Vào mùa lũ tháng Chín thì con sông ấy biến thành biển nước mênh mông thắm đỏ mang đầy phù sa tràn bờ dìm sâu hết cả ruộng đồng, và nhà cửa thì chỉ còn như những chiếc nón úp trên mặt nước. Tháng Tư mùa khô, con sông ấy vẫn phô bày kích thước của nó: vẫn khối nước một màu nâu sậm trải rộng ra từ hai tới ba dặm, cảnh trí quạnh quẽ, làng mạc thì thưa thớt. Ngược dòng xa hơn về phía bắc, không xa con thác Khemerat, đã mấy tháng sau mùa mưa, Hộ / VTX đã không thể không ngạc nhiên khi thấy vẫn có những khúc sông cạn như sắp khô kiệt tưởng chừng có thể lội bộ băng qua. Hộ cũng hiểu rằng nếu chưa có hạn hán dưới đồng bằng châu thổ, chưa có những cơn đau thắt ngực phía hạ nguồn nơi quê anh là do còn các dòng phụ lưu – tributaries, như những mạch phụ – collaterals.

Sông Mekong với Hộ bây giờ còn mang ý nghĩa của những mô hình cơ thể học, hơn thế nữa còn là một mô hình toán học – Mathematical Model, với đầy rẫy những con số: 40 ngàn mét khối giây lưu lượng mùa lũ, chỉ còn 2 ngàn mét khối giây mùa khô – 20 lần thấp hơn; lòng sông không những thiếu độ dốc mà lại góc độ âm nghĩa là cao hơn khi tiến gần ra biển. Rằng chỉ mới hơn mấy chục ngàn năm trước đây thôi, con sông Mekong hoang dã mới bắt đầu tạo hình vùng đồng bằng châu thổ từ đáy biển, do chất pyrite có trong trầm tích phù sa và cả thêm từ chất sắt trong phù sa kết hợp với sulphur trong nước biển để tạo thành hợp chất pyrite. Với thời gian tính bằng thiên niên kỷ, dần dần đất nhô lên khỏi mặt biển và để rồi hàng năm được các con nước lũ đổ về phủ lên tầng tầng lớp lớp phù sa ngày mỗi dày thêm để trở thành những ruộng đồng mênh mông và màu mỡ.

Nhưng dưới lớp phù sa tân bồi ấy, chất pyrite còn đó, bị dìm sâu trong đất hay dưới làn nước. Chỉ khi phơi ra ngoài dưỡng khí, nó trở thành chất phèn chua acid sulphate, thẩm thấu / trồi lên mặt đất, bắt đầu hoành hành và là nguyên nhân nỗi khổ của người nông dân Đồng Bằng Nam Bộ. Hộ sau này cũng được biết thêm rằng tính thổ nhưỡng vùng châu thổ cũng rất thay đổi ngay trong một khoảng cách gần. Ở một nơi này thì rất chua trong khi cách đó khoảng một trăm mét đã hoàn toàn đổi khác, do mực nước – thủy cấp, độ dày đất tân bồi và các loài thảo mộc trên đó. Chính Hộ đã học được biết bao nhiêu kinh nghiệm từ những người nông dân. Họ hiểu rõ hơn ai hết vùng đất đai mà họ đang sống như biết rõ dấu chỉ trên bàn tay của họ và đã khôn ngoan tìm ra cách gieo trồng trong những điều kiện tưởng như vô phương tìm ra lời giải đáp. Họ cũng hiểu rằng đất phèn như con cọp ngủ trong hang và chẳng bao giờ nên đánh thức một con cọp đang im ngủ!

Cho dù chẳng phải là một trí thức trong tháp ngà, từng là tác giả của một luận án đồ sộ về “Hệ Sinh Thái của Vùng Hạ Lưu Sông Mekong” nhưng chính Hộ đã được thực tế dạy cho những bài học đích đáng. Khởi đi từ lề lối suy nghĩ kinh điển cho rằng để tăng năng suất lúa thì phải ngăn mặn trong mùa khô và trong mùa lũ thì cần những đập lớn trữ nước để xả ra trong mùa khô, rửa muối rửa phèn cho đất và dẫn tưới ruộng đồng. Nhưng thay vì ngăn mặn thì người nông dân vùng nam đồng bằng châu thổ lại cho dẫn nước biển vào ruộng trong mùa hạn mà ban đầu ai cũng cho là điên khùng. Nhưng thực ra họ đã áp dụng kỹ thuật “trầm thủy” với kết quả thật kỳ diệu: đất bớt phèn, đến mùa mưa thì đã có nước rửa mặn cho đất khiến mùa màng tốt tươi, chưa kể thêm cái lợi khác là nước biển đã đem tôm cá vào ruộng đồng và mương rạch. Chính người nông dân đã sáng tạo ra một “nền nông nghiệp lúa-tôm / rice-shrimp culture” phù hợp với hệ sinh thái phức tạp của vùng đồng bằng châu thổ. Và đã trong nhiều kỳ trên kênh đài truyền hình / không phải “thầy Hộ” mà là người nông dân đầy sáng tạo ấy lên đài hướng dẫn bà con làm sao tận dụng cả nguồn nước mặn trong kết hợp trồng lúa và nuôi tôm. Sự kiện bà con nông dân phá vỡ con đê ngăn mặn ở Gò Công Tây là bài học thấm thía và nhớ đời cho chính Hộ và đám kỹ sư thủy lợi đến từ trung ương.

Rồi lại còn thiên tai lũ lụt mỗi năm, ai cũng cảm thấy bất an khi đương đầu với con rồng bất kham ấy. Với bài học ngàn năm từ con sông Hồng, người ta muốn chế ngự nó bằng những con đập với hệ thống đê điều vững chắc. Sơn Tinh / thần núi biểu tượng cho sức mạnh của đê điều, Thủy Tinh / thần nước là sức tàn phá của những cơn lũ. Cả hai đều muốn chiếm đoạt nàng công chúa xinh đẹp là vùng đồng bằng châu thổ. Nước dâng cao thì núi vươn cao và cuối cùng Sơn Tinh đã thắng. Đó là chiến thắng của sức người với hệ thống đê điều hai bên bờ con sông Hồng.

Nhưng xem ra người nông dân Đồng Bằng Cửu Long có cái nhìn Lão Trang hơn, thay vì trấn áp thì họ chọn sự thách đố chung sống với những cơn lũ. Không đắp đê cao mà đào thêm những rạch sâu để thoát lũ ra Biển Tây, Biển Đông và cải thiện giao thông, tiếp tục truyền thống từ nhiều ngàn năm trước của nền văn minh Óc Eo vương quốc Phù Nam cho dù cả vương quốc ấy đã tiêu vong do một cơn hồng thủy tràn ngập vùng châu thổ vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu.

Con thuyền máy chạy băng băng giữa lòng một con kinh đào mới – gọi là mới chứ cũng đã hơn năm năm rồi. Sẽ có thêm hàng ngàn cây số kinh rạch nữa được hoàn tất vào cuối thế kỷ này. Cảnh tượng nổi bật là màu vàng của rỉ sắt đã nhuốm lên mọi cảnh vật: từ gốc những cây tràm, tới thân ghe, cầu tàu, lưới cá và cả chân người ta nữa – nghĩa là bất kể vật gì nhúng vào làn nước ấy. Người ta đã thấy ngay được nanh vuốt con cọp đang im ngủ trong hang vừa bị đánh thức. Trừ đợt tôm cá trong mùa mưa do cơn lũ đổ vào, đã không có sinh vật nào sống được dưới làn nước trong leo lẻo đẫm chất phèn chua ấy, có chăng chỉ là lưa thưa mấy đám cỏ sậy chịu phèn. Người nông dân chỉ cần nhận ra giống cỏ nào là họ biết đâu có thể là khu đất gieo trồng. Và cho đến bây giờ thì họ vẫn kiên nhẫn chờ đợi những trận mưa to những con lũ lớn tới rửa phèn cho đất và họ vẫn không ngừng phá rừng, tiếp tục đào kênh và lên liếp. Những vùng đầm lầy như Tam Nông càng ngày càng thu hẹp và đã chẳng còn bao nhiêu nữa và tương lai của các Tràm Chim đang bị thả nổi. Hay rồi ra Đồng Tháp Mười chỉ còn là những cánh đồng chua nước mặn với mấy khu nuôi tôm sú, mấy khoảng ruộng lúa xanh hay những căn nhà ngói đỏ. Và rồi cũng chẳng còn một cánh hạc nào bên bờ con sông thiêng đang dần bị tát cạn.

Chính Hộ đã giúp Mười Nhe đưa lúa thần nông HYV (High-Yielding Variety) vào khu đệm huyện Tam Nông với hy vọng giống lúa cao sản này sẽ cải thiện đời sống bà con mà không cần phá thêm rừng tràm. Nhưng mọi chuyện diễn ra sau đó hoàn toàn ngoài dự kiến của Hộ. Khoa Thủy văn Đại học Cần Thơ với dự án xây bốn ống dẫn thoát lớn từ con kinh bao quanh khu bảo tồn, thay vì để điều hòa mực nước trong Tràm Chim thì lại bị bà con nông dân tận dụng để rút nước ra khỏi khu đầm lầy để tưới ruộng trong suốt mùa khô. Đã thế do nước cạn bà con còn phá rừng mau hơn, vì ai cũng thấy trồng lúa nhất là thứ “lúa cao sản của thầy Hộ” rất có ăn. Nhưng cũng do là giống lúa rất khát nước nên mùa hạn bà con không chỉ lấy nước từ Tràm Chim mà còn be bờ không cho nước xuống vùng dưới khiến bà con nông dân miệt dưới thiếu nước phải kêu trời. Chẳng cần ai điều hợp hay trọng tài, Mười Nhe đã thành công phát triển riêng cho huyện Tam Nông bằng cái giá của Tràm Chim với sinh mạng của cả ngàn cánh hạc và mùa màng khô hạn nơi miệt dưới. [Trích CLCD, BĐDS, Chương VIII]

Những trao đổi với Anh VTX:

Anh Xuân và tôi đều bận rộn, nhưng có dịp chúng tôi vẫn trao đổi emails với nhau về những vấn đề quan tâm chung.

Giữa năm 2017, khi Dự án cống ngăn mặn Cái Lớn Cái Bé – được quảng cáo là Công Trình Thế Kỷ; đang gây ra rất nhiều tranh cãi do thất bại của các công trình ngăn mặn trước đó – điển hình là cống đập ngăn mặn Ba Lai, tỉnh Bến Tre. Và gần như tuyệt đại đa số các tiếng nói trí tuệ độc lập của các chuyên gia hàng đầu đều lên tiếng phản đối và can ngăn.

Để chuẩn bị cho một bài viết, tôi thảo ngay một email hỏi ý kiến của Anh VTX, và Anh Xuân đã mau mắn trả lời:

“Tôi biết anh rất tâm tư mỗi khi nói đến ĐBSCL. Qua 40 năm tôi mới đạt thêm một thắng lợi về mặt Khoa học và Kiến Tạo Xã Hội bằng một xoay chuyển chính sách nhà nước, nhưng phải nói ngay rằng đây mới chỉ là bước đầu được Thủ Tướng (lúc đó là ông Nguyễn Xuân Phúc, ghi chú người viết) chấp thuận đưa vào Nghị Quyết 120 NQ-CP, nhưng phải cần một thời gian nữa mới có thay đổi thật sự, các Bộ, Ban, Ngành mới chấp hành chủ trương. Cho nên tôi xin trình bày với anh một cách tóm tắt như thế này:

Từ khi Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhất trí với đề nghị mà tôi đã từng nêu 28 năm nay sau khi Việt Nam trở lại vị trí nhóm 3 quốc gia xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, Nghị Quyết 120 NQ-CP của Chính phủ đã được ban hành vào tháng 11/2017. Đây là một nghị quyết lịch sử của nông nghiệp ĐBSCL, vì nó gỡ trói người nông dân thoát khỏi vòng kim cô phải sản xuất lúa muôn đời để cho cán bộ nhà nước hoàn thành chỉ tiêu pháp lệnh về sản lượng lúa, mặc kệ nông dân phải chịu giá rẻ bèo của sản phẩm thặng dư quá lớn này. Bây giờ chính sách phát triển thủy lợi của Việt Nam phải được chuyển đổi theo sự chuyển hướng của nông nghiệp, không thể theo mục tiêu cũ để tiếp tục tăng sản lượng lúa thông qua thâm canh nông nghiệp mà phải theo mục tiêu cải thiện sinh kế của nông dân thông qua đa dạng hóa cây trồng và canh tác tổng hợp.

Nhưng rất tiếc các nhóm lợi ích vẫn bám mục tiêu đầu tiên đòi hỏi phải xây dựng hệ thống thủy lợi quy mô lớn, xây dựng cống đập ngăn mặn, đào kênh dẫn nước ngọt quý hiếm từ sông Hậu xa tít để tiếp tục bắt dân trồng lúa, như Dự án sông Cái Lớn – Cái Bé (CLCB). Nhóm lợi ích luôn có thế lực mạnh, để được duyệt dự án thì họ mới có ăn, mặc kệ dân trồng lúa cứ nghèo.

Các nhà khoa học chân chính đã đưa ý kiến đề nghị dừng dự án CLCB, với những lập luận bác bỏ các lý do cần phải thực hiện dự án. Nhưng lý do quan trọng mà các nhà phản biện nói rất ít là dưới ánh sáng của Nghị Quyết 120 NQ-CP của Chính phủ, lương thực không còn là mục tiêu chính mà nhà nước đã bắt buộc mọi người thực hiện bằng mọi giá bất kể tổn phí. Thời thế bây giờ không như trước nữa. Chúng ta dư thừa quá nhiều lúa gạo. Với kỹ thuật lúa gạo của chúng ta ngày nay, chỉ trong vòng 3 tháng là chúng ta có gặt vụ lúa mới. Tại sao những người trong nhóm lợi ích chỉ nghĩ là phải ngăn mặn để có thể tiếp tục trồng lúa mà không thấy những người chuyên trồng lúa cả 40 năm nay vẫn khổ vì lợi tức từ lúa quá thấp? Nhóm lợi tức này muốn những người trồng lúa của nước ta chịu nghèo khổ vĩnh viễn hay sao?”

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc – sau này là Chủ tịch Nước, với bàn tay phải ông đặt bút ký nghị quyết Nghị Quyết 120 NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL, hay nói theo ngôn từ của GS VTX đó là Nghị Quyết “Thuận Thiên” nhưng rồi cũng chính bàn tay trái của ông Phúc bật đèn xanh cho các nhóm lợi ích – có thế lực mạnh hơn ông, khởi công Dự án Cái Lớn Cái Bé, hơn 3 ngàn tỉ được mệnh danh là công trình của Thế kỷ.

Cả tôi và Anh Xuân đều hiểu rằng những khẩu hiệu thì quá nhiều, nhưng khoảng cách giữa những Nghị Quyết và Thực Tế của đất nước trong 48 năm qua vẫn còn là một khoảng cách đại dương.

Một Kỳ Thị Tuổi Tác:

Từ ngày Anh VTX qua tuổi hưu,phải sống trong một bộ máy hành chánh phức tạp và rất quan liêu, nên người Anh Hùng Lao Động, Nhà Giáo Nhân Dân Võ Tòng Xuân vẫn thường xuyên bị sách nhiễu về vấn đề tuổi tác của Anh, qua những tra vấn thủ tục giấy tờ và những buổi tái khám sức khỏe định kỳ. Biết tôi là một bác sĩ y khoa không thua tuổi Anh nhưng vẫn còn làm việc ở một môi trường hải ngoại, không có quy định cưỡng bách về hưu do tuổi tác. Và chỉ mới đây thôi, cách đây hơn một năm, với tất cả sự bực bội tới mức phẫn nộ, Anh VTX viết email cho tôi:

Mon, Jun 14, 2021, 7:38 PM

Anh Vinh quí mến,

Hiện nay, theo qui định ó đâm của đám lãnh đạo dốt của Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (nhờ tụi nó nên nền giáo dục của VN ngày càng lụn bại với tràn đầy “học giả bằng cấp thật”) rằng Hiệu trưởng đại học tư nhân không được quá 75 tuổi, nên Hội đồng quản trị Trường ĐH Nam Cần Thơ phải chuyển tôi sang chức vụ Hiệu Trưởng Danh Dự (Rector Emeritus) vĩnh viễn…

Đến hôm nay tôi mới nhận email đề ngày 6/6/2021 của anh. Hộp thư Gmail của tôi quá đầy mà chưa xóa bớt nên bị warning hoài. Có lẽ anh đổi địa chỉ gmail của tôi sang vtxuan@nctu.edu.vn thì tiện hơn. Cách đây hai tuần có một anh Bạn nhắn tin đến điện thoại di động tôi. Anh ấy là cựu giảng viên Trường ĐH Hàng Hải Hải Phòng, nay về hưu sống ở Nha Trang. Anh ấy viết rằng đã đọc được trên trang “Tiếng Dân” thông tin về quyển sách “Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch” rất tâm đắc, nhờ tôi chỉ chỗ nào để mua một quyển. Và tôi đã gửi ngay bản electronic tôi sẵn có, đồng thời tôi giới thiệu trang Vietecology Press có audiobook do Ánh Nguyệt diễn đọc để nghe cho sướng! Anh ấy cám ơn khi được tiếp cận sách của BS Vinh. Anh có thể cho gởi quyển sách mới của anh đến địa chỉ tôi tại ĐH NCT như sau:

GS Võ-Tòng Xuân,

Hiệu trưởng danh dự Đại Học Nam Cần Thơ

168 Nguyễn Văn Cừ (nối dài), Ninh Kiều, TP Cần Thơ

2022 VTX 82 TUỔI TRÊN CON DỐC TỬ SINH

08/12/2022: Cùng ngày, các tờ báo lớn trong nước như: Tuổi Trẻ, Thanh Niên, VNExpress, Người Lao Động đồng loạt đăng tin: Giáo sư Võ Tòng Xuân “cha đẻ” nhiều giống lúa ngon của vựa lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long vừa được Viện Tim TP. HCM cứu thoát khỏi nguy kịch sau cơn nhồi máu cơ tim, xuất huyết tiêu hóa. Theo TS-BS Bùi Minh Trạng, Giám đốc Viện Tim TP HCM:

“GS VTX được chuyển từ bệnh viện Nhân Dân 115 sang Viện Tim Mạch chiều ngày 05/12/2022 trong tình trạng nguy kịch. Trước đó, GS VTX được nhập viện BV Nhân Dân 115 do xuất huyết đường tiêu hóa nặng cần truyền máu. Tuy nhiên sau khi truyền máu và nội soi ổn định, và rồi thêm diễn tiến bất ngờ, GS VTX bị nhồi máu cơ tim cấp tính. Chẩn đoán bằng soi tim, GS VTX bị nghẽn các động mạch vành và được đặt 3 ống thông động mạch (stents). Bị suy hô hấp cấp tính, GS VTX cần hỗ trợ của máy thở với đặt ống nội khí quản”.

Và cũng cùng ngày, TS Nguyễn Xuân Xanh, qua một email-nhóm thông báo trên Diễn đàn edu-sci – trong đó Anh VTX là một thành viên lâu năm:

Anh chị thân mến,

Đọc tin này mà giật mình:

GS Võ Tòng Xuân – ‘cha đẻ’ của nhiều giống lúa – qua cơn nguy kịch sau cơn nhồi máu cơ tim – Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn)

Nhưng may mắn, anh Xuân đã qua cơn nguy kịch. Cầu chúc anh tiếp tục bình phục. Có lẽ do anh ở tuổi cao mà vẫn ham làm việc quá sức, không ngừng nghỉ. Mong anh mau bình phục. Thân mến, Xanh

11/12/2022:ngày 6.Là một bác sĩ tôi hiểu rất rõ rằng thông tin sức khỏe là thuộc quyền riêng tư của người bệnh, nhưng với GS VTX là một nhân vật nổi tiếng của cộng đồng – và cộng đồng ấy như một gia đình lớn, thương mến Anh Xuân, có những thao thức và mong muốn – trong một chừng mực nào đó được biết tới những bước tiến triển về sức khỏe của GS VTX.

Do đó, tôi đã tìm liên lạc được với một bạn đồng môn Đại học Y Khoa Sài Gòn từ trước 1975, Anh hiện là một TS-BS PGS chuyên khoa Tim Mạch vẫn còn làm việc toàn thời gian, do sự khiêm cung Anh yêu cầu tôi không nêu tên Anh. Các tin tức về diễn tiến sức khỏe của Anh VTX tôi được biết trực tiếp từ Anh.

Anh cho biết sang tới ngày thứ 6, Anh VTX vẫn còn nằm trong Phòng Chăm Sóc Đặc Biệt / ICU, với tình trạng tạm ổn định, vẫn cần thuốc vận mạch / inotrope để duy trì huyết áp, vẫn thở bằng máy. Mục tiêu tối hậu trong mấy ngày tới là làm sao anh Xuân có thể tự thở để rút ống / extubation.

14/12/2022: ngày 9. Bác Xuân tập thở yếu, nên hôm nay, toán điều trị ICU sẽ làm Tracheostomy – để có thể đưa ống thở qua lỗ mở khí quản. Bác khỏe, kiểm soát được nhiễm trùng phổi, tỉnh táo.

15/12/2022:ngày 10. Anh VTX vẫn cần máy thở. Được thử nghiệm thở tự phát (SBT / Spontaneous Breathing Trial) để chuẩn bị cho ra khỏi máy thở, nhưng với một người bệnh tuổi ngoài 80, tổng trạng yếu, sau xuất huyết tiêu hoá, nhồi máu cơ tim & nhiễm trùng phổi, quả là khó khăn. Tôi đã nhắn với Bạn đồng môn, là chừng nào Anh Xuân ra khỏi máy thở, tỉnh táo, nhờ Anh chuyển tới Anh VTX lời hỏi thăm của các Bạn Anh ở hải ngoại quý mến Anh Xuân với lời chúc lành.

16/12/2022:ngày 11. Bác Xuân vẫn cần thở máy qua lỗ mở khí quản, với nồng độ oxy FiO2 40% đạt được 100%. EF 40% (phân suất bơm máu tim). Bác tỉnh, nói hiểu. Hy vọng khá hơn.

18/12/2022:ngày 13. TS Nguyễn Xuân Xanh vẫn từ Diễn đàn edu-sci mới gửi ra một email thứ hai – lần này thì trực tiếp tới Anh VTX: “Anh Võ Tòng Xuân thân mến, hy vọng hôm nay Anh đã khỏe lại nhiều. Mong nhận được vài dòng của Anh trên diễn đàn như một tín hiệu vui, nếu được. Chúc Anh mau bình phục và ăn được một cái Tết ấm áp”. Thân mến, NXXanh

20/12/2022:ngày 15. Tình hình Bác Xuân: đã ngưng được kháng sinh điều trị viêm phổi. Thở máy với Oxy FiO2 30%, liều thấp Midazolam (thuốc an thần) qua ống thở khí quản, tim ổn định. Đề phòng huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT / Deep Vein Thrombosis) bằng Lovenox 0,4 ml.

NTV: Cám ơn Anh đã cho tin, sẽ là một tin vui chừng nào Anh VTX được ra khỏi ICU và không cần tới máy thở…  Btw: Prognosis / Dự Hậu, theo Anh? All the best, Ngô Thế Vinh.Với tất cả sự dè dặt, Bạn tôi đã trả lời: Dự Hậu “có thể” là tốt / Maybe good prognosis.

25/12/2022:ngày 20. NTV:Tôi hiểu rằng trong trường hợp khẩn cấp, khi có dấu hiệu suy hô hấp, người bệnh cần được đặt ống khí quản với máy thở. Thường thì bệnh nhân sẽ được rút ống thở càng sớm càng tốt; có thể phải sang tới ngày thứ 4 hoặc thứ 5. Nhưng nếu kéo dài hơn, bệnh nhân sẽ được làm Tracheostomy (mở lỗ khí quản) để có thể vẫn thở trên máy qua ống khí quản mới. Cho tới ngày hôm qua, đã qua hơn 3 tuần lễ Anh VTX vẫn còn phụ thuộc vào máy thở – theo thuật ngữ chuyên môn, thì nay Anh Xuân thuộc vào nhóm PMV cần thở máy kéo dài (Prolonged Mechanical Ventilation). Đây không phải là một chỉ dấu tốt cho bước hồi phục nhanh của Anh VTX. Càng phụ thuộc lâu vào máy thở, các cơ hô hấp ngày càng yếu đi; khả năng người bệnh được rút ống khí quản càng khó hơn; chưa kể nguy hiểm nhiễm trùng phổi do máy thở và các biến chứng khác do nằm lâu trong ICU là khá cao. Với quan tâm và lo lắng, về triển vọng hồi phục nhanh của Anh VTX.

27/12/2022: ngày 22. Các BS ở Hồi sức Viện Tim chăm sóc chu đáo cho Bác Xuân. Bác đang có thêm vấn đề: Cai máy thở / Ventilator weaning gặp khó khăn vì bệnh nhân yếu, chỉ thở bằng bụng, đang nhờ Vật lý Trị liệu giúp. Do sử dụng Lovenox (thuốc loãng máu) để ngừa đông máu cục trong tĩnh mạch sâu (DVT) nay lại bị chảy máu bàng quang. Phải ngưng Lovenox, toán bác sĩ Viện Tim quyết định đặt lưới lọc Greenfield ở Tĩnh Mạch Chủ Dưới (IVC) nhằm ngăn ngừa máu cục từ chân lên phổi. Đã ngừng được kháng sinh và thuốc vận mạch (Inotrope). Vẫn hy vọng và cầu nguyện Anh Vinh ạ.

31/12/2022: ngày 26. Hôm nay là ngày của năm cùng tháng tận, và chỉ còn mấy tiếng đồng hồ nữa là qua nửa đêm sang năm 2023, Anh VTX bước qua tuổi 83. Tin mới nhất từ Sài Gòn mà tôi nhận được – Anh VTX còn nằm trong ICU, với máy thở – và tôi hiểu rằng, cứ thêm một ngày trên máy thở thì thời điểm phục hồi càng lùi xa, và nay cuộc đấu tranh của Võ Tòng Xuân càng trở nên gian truân và khó khăn hơn. Từ một nơi rất xa, bên kia nửa vòng trái đất, tôi và các Bạn hữu quý mến Anh cùng gửi lời thăm hỏi tới “người hiệp sĩ đồng xanh” với lời chúc lành.

02/01/2023: ngày 28. Dear Anh Ngô Thế Vinh, báo Anh tin vui, GS VT Xuân đã ngưng được máy thở, hôm nay sẽ được chuyển lên trại bệnh, không còn nằm trong ICU. NTV_ Thật là một tin vui đầu năm. Không thể không gửi lời cám ơn tới toán điều trị trong ICU Viện Tim đầy khả năng, họ đã cống hiến trí tuệ và cả những phương tiện tối ưu lo cho người bệnh Võ Tòng Xuân, để cho đến hôm nay Anh Xuân đã ra khỏi máy thở, ra khỏi ICU sau 28 ngày ở một người bệnh tuổi 83, phải được kể là một thành tích Y Khoa ngoạn mục.

04/01/2023: ngày 30. Dear Anh Ngô Thế Vinh, Sáng nay tôi mới đưa anh Nguyễn Quốc Thái vào thăm GS Võ Tòng Xuân. GS Xuân khỏe, ngưng thở máy, hết viêm phổi. Anh Thái có chuyển lời thăm hỏi của Anh Vinh tới GS Xuân. Bác Xuân rất linh hoạt, sắc diện tươi tỉnh khi nghe Anh Thái nhắc đến BS Ngô Thế Vinh.

Các bác sĩ, và điều dưỡng tại đây rất tận tâm, còn giữ nếp nhà xưa. Tôi vẫn tới giúp các em ở Viện Tim, giảng dạy tại đây 2 buổi/ tuần. BS Phạm Nguyễn Vinh

image

Hình 12a: 7 giờ sáng thứ Tư 04/01/2023, PGS TS-BS tim mạch Phạm Nguyễn Vinh đưa nhà thơ Nguyễn Quốc Thái tới Viện Tim thăm GS Võ Tòng Xuân, khi ấy còn sớm, Anh Xuân vẫn chưa thức giấc.

image

Hình 12b: Trái,Bác sĩ tim mạch Nguyễn Nho Tiến – trong toán ICU chăm sóc GS Võ Tòng Xuân, sáng nay lên thăm GS Xuân trên trại bệnh. BS Tiến đang cầm cuốn vở để GS Võ Tòng Xuân có thể đọc mấy dòng chữ thăm Anh. Phải, hàng chữ cuối trên trang viết là chữ ký cứng cáp và mạnh mẽ của Anh Võ Tòng Xuân (phải). BS Phạm Nguyễn Vinh cho biết: Anh Nguyễn Quốc Thái có chuyển lời thăm hỏi Bác Xuân của BS Ngô Thế Vinh từ California. GS Võ Tòng Xuân rất linh hoạt, sắc diện tươi tỉnh. [photos by BS Phạm Nguyễn Vinh]

image

Hình 12c: Buổi chiều cùng ngày 04/01/2023, BS Phạm Nguyễn Vinh gửi cho tôi một đoạn video: GS Võ Tòng Xuân đang tập Vật Lý Trị Liệu, Anh Xuân đã có thể tự ngồi, tự đứng dậy với bước đi ngắn, tươi tắn linh hoạt, với ngón tay cái chĩa lên và cả giơ tay vẫy chào mọi người. Một thành tựu của “Bước Thứ Ba Y Khoa – Y Khoa Phục Hồi”.

Bài viết này như Một Thiệp Chúc Xuân 2023 gửi tới Anh Võ Tòng Xuân, cùng bao nhiêu Bạn hữu thương mến Anh Xuân với những lời chúc lành.

NGÔ THẾ VINH

California 05/12/2022 – 05/01/2023

Tham khảo:

1/ GS Võ Tòng Xuân – cha đẻ của nhiều giống lúa – qua cơn nguy kịch sau cơn nhồi máu cơ tim. Tuổi Trẻ Online 08/12/2022 GS Võ Tòng Xuân – ‘cha đẻ’ của nhiều giống lúa – qua cơn nguy kịch sau cơn nhồi máu cơ tim – Tuổi Trẻ Online (tuoitre.vn)

2/ Ngô Thế Vinh. ĐBSCL 2020 Cánh Đồng Chết và 45 Năm Ảo Vọng Trí Thức.

Viet Ecology Press, 2020. https://vietecologypress.blogspot.com/2020/04/bscl-2020-canh-ong-chet-va-45-nam-ao.html

3/ Ngô Thế Vinh. (1) Cửu Long Cạn Dòng, Biển Đông Dậy Sóng; (2) Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (in Print and Audiobook), Nxb Văn Nghệ 2000, 2006. Việt Ecology Press

*Luận án TS và các bài báo khoa học của GS Võ Tòng Xuân là do hai chuyên viên thư viện Phạm Lệ Hương (California) và Nguyễn Nga (Arizona) sưu tầm.

Người tù cao tuổi nhứt trên thế giới

Nhờ nhà cầm quyền huyện Đức Hoà (tỉnh Long An), Việt Nam đang lập một kỉ lục mới: có một người tù cao tuổi nhứt thế giới. Đó là ông cụ Lê Tùng Vân (hình), 92 tuổi.

Ở Úc, có ông Bill Wallace, sanh năm 1881 và bị phạt tù giam năm 1926, tức 45 tuổi, vì tội bắn chết một du khách người Mĩ do ông này hút thuốc lá trong quán ăn. Ông Wallace qua đời năm 1989 trong tù, ở tuổi 108. Thật ra, khi ông tròn 100 tuổi, một nhóm người đề nghị trả tự do cho ông ấy, và Nhà nước đồng ý, nhưng ông thì không. Tương truyền rằng, khi nghe tin trả tự do, ông nói “Đừng có dại dột, tôi sống ở đây”. Theo wiki, ông Wallace là tù nhân cao tuổi nhứt thế giới [1].

Nhưng ở Việt Nam đang có người lập kỉ lục mới. Đó là ông cụ Lê Tùng Vân, năm nay đã 92 tuổi, bị toà án Huyện Đức Hoà (Tỉnh Long An) phạt 5 năm tù vì tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Theo tin từ luật sư của ông thì Toà án Huyện Đức Hoà đã chánh thức bắt ông phải thi hành án, tức là đi tù [3]. Trên thế giới cho đến nay, chưa thấy ai đi tù ở tuổi 92. Do đó, có thể nói rằng ông cụ Lê Tùng Vân là tù nhân cao tuổi nhứt thế giới.

Ông Lê Tùng Vân năm nay đã 92 tuổi, là con của Nhà thơ và nhà giáo Lê Văn Tất (sanh năm 1917). Ông Lê Văn Tất từng bị chánh quyền Pháp bắt giam vì những bài thơ mang tính yêu nước và tình nghi hoạt động chánh trị. Năm 1955 ông bị tai nạn xe hơi, gãy xương, và về sống ở Châu Đốc cho đến ngày qua đời vào năm 1983. Những sáng tác thơ của ông vẫn còn lưu giữ trong các thi tập. Ông Vân lớn lên trong một gia đình nề nếp ở miền Tây. Ông Lê Tùng Vân từng tốt nghiệp cử nhân văn chương từ Đại học Văn khoa Sài Gòn trước 1975, và cử nhân tiếng Anh sau 1975. Ông Lê Tùng Vân từng giữ chức vụ Tỉnh hội trưởng Bửu Sơn Kỳ Hương ở An Giang. Ông không có vợ, nhưng nuôi rất nhiều trẻ mồ côi. Ông lập trung tâm dưỡng lão, cô nhi Thánh Đức, nhận nuôi dưỡng cho 56 người, trong đó có 22 người dưới 16 tuổi, và 9 người trên 55 tuổi. Ông lập Tịnh Thất Bồng Lai và vẫn tiếp tục nuôi trẻ mồ côi, nhiều người sau này trở thành những tài năng và có ích cho xã hội. Ông bị báo chí Nhà nước, ông Thích Nhật Từ và đồng bọn Nguyễn Phương Hằng phỉ báng, bôi nhọ triền miên, nhưng ông thản nhiên làm việc của mình. Ông chưa bao giờ lên mạng xã hội xúc phạm ai, ông chưa bao giờ có phát biểu xúc xiểm ai. Ông kêu gọi tôn trọng luật pháp và tu tại tâm, qua những phát biểu sâu sắc và tỏ ra là người đọc nhiều. 

Kỉ lục đó phải nói là có công rất lớn của cơ quan công an Huyện Đức Hoà, và đặc biệt là ông Thích Nhật Từ (53 tuổi) [3]. Theo luật sư của cụ Lê Tùng Vân, ông đi tù chỉ vì câu nói “Thích Nhật Từ ngu như bò”. Đi tù chỉ vì một câu nói như thế (chẳng biết có hay không) cũng là một kỉ lục về án phạt trên thế giới.

Giam cầm người cao tuổi trong nhà tù đặt ra nhiều vấn đề về đạo đức và công lí. Một người cao tuổi như ông cụ LTV mắc nhiều bệnh mãn tính, đi lại rất khó khăn (ông suốt ngày chỉ nằm võng), mà đi tù thì rất khó dự báo chuyện gì sẽ xảy ra. Nếu chẳng may ông ‘khuất núi’ trong tù thì Việt Nam chắc chắn sẽ chẳng đẹp mặt với thế giới chút nào.

(Xin mở ngoặc để nói thêm: trước đây (2018), ông Đặng Thanh Bình, cựu Phó thống đốc Ngân hàng Nha Nước, bị phạt 3 năm tù vì tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”. Thế nào là ‘nghiêm trọng’? Trả lời: thất thoát 15,000 tỉ đồng (tức khoảng 750 triệu USD). Có lẽ vì ông đã 64 tuổi, nên Toà án TPHCM đồng ý cho ông hưởng án treo. Công lí ở Việt Nam có vẻ tuỳ vào địa lí và hên xui?)

Liên hiệp quốc phê chuẩn một bộ qui chuẩn dành cho tù nhân, và bộ qui chuẩn này lấy tên của một tù nhân vĩ đại: Nelson Mendela. Qui chuẩn Nelson Mandela có điều lệ phát biểu rằng tù nhân nên được chăm sóc y tế y như những người ngoài cộng đồng, và họ (tù nhân) có quyền được tiếp cận các dịch vụ y tế bình đẳng với mọi người khác. Nhưng vấn đề là ông đang đi tù ở tỉnh Long An, nơi có vẻ như là một ‘vương quốc’ đặc biệt trong nước Việt Nam. Nếu các bạn chưa biết ‘đặc biệt’ ra sao (và hành xử của các cơ quan công quyền huyện Đức Hoà như thế nào) thì các bạn nên đọc cái đơn kêu cứu của Thiền Am theo đường link ở đây [4].

Vụ việc Thiền Am (cứ tạm gọi như thế) không còn là chuyện trong nước nữa mà đã gây sự chú ý của thế giới. Ông cụ Lê Tùng Vân và các đệ tử của ông đã được Bộ Ngoại giao Mĩ nêu trên website mà họ cho là ông đi tù vì ‘religious activity’ (hoạt động tôn giáo) [5]. Bộ Ngoại giao Mĩ mới đây đã đưa Việt Nam vào danh sách ‘Special Watch List Countries’, đứng chung với những Algeria, Cộng hoà Trung Phi, và Comoros. Không đẹp mặt chút nào, nhứt là trước đây Việt Nam đã ‘thoát’ khỏi cái danh sách này nhưng nay lại bị đưa vào đó.

Tôi nghĩ các vị lãnh đạo cấp trung ương nên xem xét lại bản án dành cho những người trong Thiền Am, vì các luật sư có uy tín (như Ls Trần Văn Sỹ [6] và nhóm luật sư đại diện Thiền Am) cho rằng các cơ quan liên quan thuộc huyện Đức Hoà đã có vi phạm trong qui trình tố tụng và bản án không thuyết phục. Không thể nào để sự việc xảy ra ở một huyện nhỏ làm ảnh hưởng đến uy tín của một quốc gia 100 triệu dân đang có vai trò quan trọng trong Liên hiệp quốc.

_______

[1] https://en.wikipedia.org/wiki/Bill_Wallace_(Australian_prisoner)

[2] Video của Luật sư Đào Kim Lân nói về việc ông cụ Lê Tùng Vân phải chấp hành lệnh của toà án: https://www.youtube.com/watch?v=c9mlhz7x70c

[3] Xin nhắc lại rằng ông Lê Tùng Vân là người đứng đầu hộ gia đình tụ tại gia có tên là ‘Thiền Am Bên Bờ Vũ Trụ’. Ông là người đã có công nuôi nhiều trẻ mồ côi và người cơ nhỡ. Ông cụ Lê Tùng Vân bị ông Thích Nhật Từ (chùa Giác Ngộ), ông Thích Minh Thiện (Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Long An) và Công an Huyện Đức Hoà kiện ra toà. Để biết ông Thích Nhật Từ viết gì trong lá đơn dài 6-7 trang, chúng ta có thể nghe qua nhận xét của Luật gia Trần Đình Thu được tóm tắt trong 2 chữ: “rùng mình”:

[4] Đơn kêu cứu của Thiền Am gởi cho Bộ trưởng Bộ Công an về những hành vi của cơ quan công an Huyện Đức Hoà:

[5] https://www.uscirf.gov/religious-prisoners-conscience/forb-victims-database/le-tung-van

[6] Video của Ls Trần Văn Sỹ: ‘Hãy tham khảo quyết định không khởi tố Võ Hoàng Yên lừa 138 tỷ, để soi xét Thiền Am.’ Luật sư Sỹ nói thẳng là bằng chứng để phạt Thiền Am là không vững chắc và bản án 331 dành cho Thiền Am là không thuyết phục.

[7] Nhóm luật sư đại diện Thiền Am đã quyết định cho trình chiếu 24/24 những thông tin liên quan đến vụ án Thiền Am theo kênh n11tv dưới đây: https://www.youtube.com/@n11tv

[8] Một trong những vu khống nham hiểm nhứt mà những người hãm hại Thiền Am (kể cả ông Thích Nhật Từ) tung ra là có quan hệ huyết thống trong Thiền Am. Nhà chức trách đã 3 lần lấy mẫu máu hay niêm mạc để xét nghiệm (có lẽ là) DNA. Nhưng theo Ls Trần Văn Sỹ khẳng định, và chẳng ai ngạc nhiên, thì:

“KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH ADN 100% KHÔNG CÓ LOẠN LUÂN; ĐỒNG THỜI, CỤ LÊ TÙNG VÂN KHÔNG CÓ QUAN HỆ HUYẾT THỐNG VỚI BẤT KỲ AI TRONG SỐ 27/28 NGƯỜI ĐÃ ĐƯỢC LẤY MẪU GIÁM ĐỊNH Ở THIỀN AM”

10 điều nên học từ phương Tây

‘Phương Tây’ ở đây là chỉ những người ở các nước như Tây Âu, Bắc Âu, Anh, Mĩ, Canada, Úc, Tân Tây Lan, v.v. Những điều dưới đây tôi rút ra từ kinh nghiệm thực tế trong giao tiếp với người phương Tây. Còn ‘Mười điều’ thì chỉ là cách nói tượng trưng thôi, vì trong thực tế tôi nghĩ chúng ta có thể học từ họ cả … trăm điều.

Điều thứ nhứt: Sự bao dung

Trái lại với nhiều người nghĩ Tây chúng nó ích kỉ và quỉ quyệt, trong thực tế Tây rất rộng lượng và bao dung. Người Mĩ, người Úc, người Canada có thể chẳng quen biết gì với người Việt chúng ta, nhưng họ lại sẵn sàng bảo trợ và nâng đỡ rất nhiều gia đình gốc Việt trong thời gian sau 1975. Ở cấp độ lớn hơn, các nước phương Tây đã mở rộng cánh cửa đón hàng triệu người tị nạn, không phải chỉ từ Việt Nam mà còn từ nhiều nước Đông Âu và Phi châu nữa, và họ đón với tấm lòng chân thành. Ngay cả những nước mà đất hẹp (như Thuỵ Sĩ và Bắc Âu) và chẳng liên hệ gì nhiều với Việt Nam, nhưng họ lại đón nhận hàng vạn người Việt trong thời tị nạn.

Không chỉ đón nhận ‘người dưng’ vào nước họ định cư, họ còn tạo điều kiện để người dưng được tiến thân trong môi trường mới. Từ nhà ở đến cái áo mặc đều được lo lắng chu đáo. Tôi nghĩ nhiều khi ngay cả người Việt cũng chưa chắc gì cư xử với người Việt như người phương Tây cư xử với người Việt.

Họ còn tích cực giúp đỡ các nước nghèo khó nữa, và Việt Nam là một trong những nước nhận rất nhiều giúp đỡ từ phương Tây. Họ tài trợ không hoàn lại để Việt Nam xây cầu, xây đường xá, họ hỗ trợ về kĩ thuật và công nghệ, họ giúp Việt Nam vào các thiết chế kinh tế thế giới, v.v. Trong trận đại dịch vừa qua, họ cấp vx miễn phí cho rất nhiều nước trên thế giới. Trong giáo dục, họ cấp học bổng cho mấy nước nghèo qua nhiều năm liền. Đó không là rộng lượng thì là gì?

Điều thứ 2: Đạo đức xã hội

Hồi còn ở Việt Nam, tôi thường nghe nói rằng ở mấy nước phương Tây người ta sống phóng đãng lắm, họ rất suy đồi, hay nói chung là chẳng có đạo đức gì đâu. Sai. Sai nghiêm trọng. Người phương Tây sống rất đạo đức, có khi còn hơn cả người phương Đông. Họ rất quan trọng đến con người, và lấy con người làm gốc cho mọi quyết sách. Họ cũng rất quan tâm đến chữ ‘lễ’ trong giao tế hàng ngày.

Người phương Tây, cũng giống như chúng ta, rất biết kính trên và nhường dưới. Họ có những qui chuẩn về lễ nghi rất lâu đời. Hãy nhìn các buổi lễ thụ phong huân chương do Nữ Hoàng Anh tiến hành, hay những buổi lễ tốt nghiệp đại học, chúng ta sẽ thấy họ có truyền thống ‘lễ’ rất lâu đời, và đáng nể là họ vẫn duy trì những lễ nghi đó cho đến ngày nay.

Không chỉ quan tâm đến con người, người phương Tây còn hơn chúng ta ở chỗ quan tâm đến thú vật. Cách họ cư xử với gia cầm và thú vật có thể làm cho nhiều người phương Đông kinh ngạc. Đó không phải là hình thức ‘hoa hoè’, mà là tôn trọng với thực chất. Trong thí nghiệm khoa học, nếu làm trên chuột là phải qua sự phê chuẩn của một uỷ ban đạo đức khoa học.

Không chỉ với thú vật, họ cũng rất quan tâm đến môi trường, cây cỏ. Đến những nước như Bắc Âu và Úc, chúng ta sẽ thấy chánh phủ và người dân ở những nước này gìn giữ môi trường ra sao. Không phải gìn giữ môi trường bằng khẩu hiệu; họ đưa vào đời sống những đạo luật và chương trình giáo dục ngay từ tuổi thiếu niên để các em biết trân quí môi trường sống.

Điều thứ 3: Tôn trọng phụ nữ

Một khác biệt lớn lớn nhứt giữa Việt Nam và phương Tây là cách xã hội cư xử với phụ nữ. Ở Việt Nam, người ta quen thói ‘trọng nam khinh nữ’ và thói gia trưởng, nên xã hội đối xử với nữ giới có thể nói là tệ. Trước đây, nữ giới trong các xã hội phương Tây từng bị đối xử rất tệ, nhưng họ đã biết lỗi lầm và chỉnh sửa. Do đó, ngày nay ở xã hội phương Tây, nữ giới được đối xử với sự tôn trọng.

Các chánh phủ phương Tây làm đủ mọi cách để bình đẳng hoá giới tính trong mọi hoạt động xã hội. Từ sự hiện diện của nữ giới trong Quốc hội đến các chức vụ trong đại học và tập đoàn kinh tế, họ có những qui định và chánh sách rất thực tế để bình đẳng hoá giới tính. Họ làm thật chớ không hô hào khẩu hiệu. Nên học họ về vấn đề nâng cao sự hiện diện của nữ giới trong mọi hoạt động.

Tôi cũng làm một phần của mình trong chiến lược này. Labo tôi có nữ và nam bằng nhau. Đó là một chủ trương cá nhân. Có lúc, tôi còn bị phê bình là dành ưu tiên cho nữ nhiều quá, nhưng tôi không hề nhân nhượng. Lí do đơn giản là mình thấy má mình, dì mình, em mình và cháu mình trong đó thì làm sao hối tiếc gì. Nên học Tây về cách cư xử với nữ giới.

Điều thứ 4: Tôn trọng quyền cá nhân

Người Việt chúng ta nhìn chung rất quan tâm đến cá nhân. Gặp nhau lần đầu, người ta hay tìm hiểu người nói chuyện là ai, giữ chức vụ gì, quan điểm chánh trị ra sao, v.v. Họ đánh giá người đối thoại dựa trên những thông tin về cá nhân. Rất tiêu biểu cho câu “trông mặt đặt tên”. Nói chung là người phương Đông thích soi mói đời tư cá nhân.

Người Tây thì khác: họ chẳng quan tâm đến mình là ai, đến từ đâu, quan điểm chánh trị là gì hay theo đảng phái nào. Họ chỉ quan tâm đến ý kiến và hàm lượng tri thức, hay nói theo họ là ‘merit’.

Tôi làm việc chung với một hội đồng trong một hiệp hội khoa học cả 10 năm mà họ không biết tôi là ‘boat people’. Sếp tôi phải 10 năm sau mới biết tôi từng làm phụ bếp ở bệnh viện mà tôi đang làm. Không có giấu diếm gì cả; họ không hỏi thì mình cứ giữ im lặng. Họ không hỏi, có lẽ là tôn trọng sự riêng tư.

Người Tây không đánh giá một cá nhân qua quan điểm chánh trị hay niềm tin tôn giáo; họ đánh giá qua việc làm và chất lượng. Chính tôi trong vai trò người đánh giá, chưa bao giờ tôi tự hỏi họ là ai, đến từ đâu hay xuất thân từ ‘danh gia vọng tộc’ nào. Tôi nghĩ cách làm như vậy rất bình đẳng và khách quan. Chúng ta nên học họ về việc tôn trọng quyền riêng tư và cá nhân.

Điều thứ 5: Sự tử tế và lời nói “Cám ơn”

Sự tử tế của người phương Tây có thể thấy qua chữ ‘Cám ơn’. Có thể nói ‘cảm ơn’ là câu nói đầu môi của người phương Tây. Được giúp đỡ thì nói cảm ơn đã đành, họ giúp người khác mà cũng cảm ơn luôn! Mệnh đề ‘cám ơn’ đã thành một nét văn hoá đẹp của người Tây. Chúng ta nên học họ.

Đã có nhiều nghiên cứu tâm lí học cho thấy nói lời cám ơn là một hành vi tích cực. Hành vi này làm cho người thốt ra câu nói cảm thấy hạnh phúc. Nhiều người nói câu cảm ơn là một cách tạo ra nguồn năng lượng tích cực cho cộng đồng. Thành ra, cảm ơn vừa có lợi ích cho cá nhân, vừa tạo ra một cộng đồng tử tế.

Ngày xưa, khi còn theo học, sếp tôi nhắc nhở chúng tôi khi đi dự hội nghị, phải đến quầy của các công ti dược để nói lời cảm ơn vì họ đã tài trợ cho chuyến đi. Trong báo cáo khoa học cũng phải có một slide cảm ơn mọi người đã giúp đỡ trong quá trình nghiên cứu. Sau này, tôi cũng nhắc nhở các em nghiên cứu sinh trong lab làm như vậy. Nói ra lời cảm ơn, mình thấy thoải mái làm sao.

Người Việt chúng ta rất ít nói lời cảm ơn. Có khi họ nói ‘cám ơn’ cho có lệ chớ không thực lòng. Việt Nam chúng ta cần học người phương Tây về cảm ơn.

Điều thứ 6: Tôn trọng chánh kiến khác (sống với dị biệt)

Có lần, một anh bạn giáo sư kinh tế, người Úc, rất sùng cánh tả, hỏi tôi về quan điểm chánh trị. Tôi nói rằng chưa bao giờ bầu cho đảng Lao Động và chưa bao giờ thích mấy ứng cử viên của phe Dân Chủ và dứt khoát không thích anh Bảy Đờn và phe Pelosi. Anh ấy nói tôi có xu hướng right wing. Cười hoà.

Đặc điểm quan trọng của xã hội phương Tây là đa sắc tộc, đa nguyên và đa đảng. Ngay từ thời tiểu học, học sinh đã được dạy phải tôn trọng ý kiến khác mình. Học sinh được dạy để biết sanh hoạt đa đảng ra sao. Do đó, trong công việc, họ hoàn toàn không có kì thị đảng phái.

Tôi mới đọc hồi kí của Clive Hamilton, một giáo sư hữu khuynh, mà trong đó tôi học cách ứng xử của giới khoa bảng Úc. Giáo sư Hamilton kể rằng lúc trẻ ông là một tay tả khuynh (left wing), mê xã hội chủ nghĩa. Ông tốt nghiệp tiến sĩ và xin việc tại một khoa kinh tế nổi tiếng hữu khuynh. Ông nghĩ mình sẽ không được phỏng vấn. Nhưng ngạc nhiên thay, ông được phỏng vấn và nhận vào làm việc. Ông cho biết sau này bà khoa trưởng thổ lộ rằng bà muốn có ý kiến ngược lại số đông nên sẵn sàng nhận ông vào làm nghiên cứu. Ông cho biết thời gian ở cái khoa hữu khuynh đó ông học rất nhiều và xem là thời gian đáng nhớ nhứt trong đời.

Điều thứ 7: Dí dỏm

Hồi còn ở Việt Nam tôi say mê chương trình hài của ‘Sạc Lô’ mà sau này tôi mới biết tên thật là Charlie Chaplin. Ông ấy không nói gì nhưng trong thực tế thì nói rất nhiều, rất hay. Khi qua Úc tôi mê chương trình Benny Hill trên tivi. Không phải mê vì mấy cô gái đẹp đóng chung với ổng (Hill), mà là những câu đối thoại vừa ý nhị vừa hài hước ghê nơi. Có những câu nói ra mình chưa biết ý nghĩa là gì, nhưng nghĩ một hồi thì cười ha hả.

Tôi thấy người phương Tây có óc hài hước chẳng kém dân Việt mình. Mark Twain từng nói “The human race has one really effective weapon, and that is laughter” (Con người có một vũ khí rất hiệu quả: đó là tiếng cười). Hài hước là một đức tính rất hay và được xem là một hành vi tích cực. Nó (hài hước) giúp chúng ta đối phó với những khó khăn và phiền toái trong cuộc sống. Có lẽ chính vì vậy mà người Tây rất hài hước.

Người tiêu biểu về tính hài hước là mấy ông sếp cũ của tôi. Một ông sếp cũ của tôi là một giáo sư về thần kinh học là một người hài hước đáo để. Ổng là viện trưởng, nhưng lần nào họp viện ổng đều mở đầu bằng một câu nói hay một câu chuyện làm cho khán phòng cười nghiêng ngả. Cái tánh hài hước của tôi chính là bị ông này ‘lan truyền’.

Điều thứ 8: “Give and take”

Rất khó dịch thành ngữ ‘Give and take’, nhưng nó tương đương với câu ‘Có qua có lại mới toại lòng nhau’ trong cách nói của chúng ta. Người phương Tây rất trọng ‘Give and take’ vì đó là một thể hiện của sự công bằng (fairness). Công bằng là một nguyên lí rất quan trọng trong xã hội phương Tây, và hầu như chánh sách hay chủ trương nào cũng được xây dựng trên nguyên lí này.

Người Việt ngày nay hay có thói “có lợi gì cho tôi”. Bất cứ một đề nghị nào, dù tốt cỡ nào, giới lãnh đạo hay hỏi ‘có lợi gì cho tôi’. Rất hẹp hòi. Chỉ nghĩ đến mình mà không nghĩ đến người khác. Tôi thấy Tây khác ta: họ lúc nào cũng nghĩ ‘mình đem lợi gì cho người và cho mình’ hay nói theo tiếng Anh là công bằng (cho và nhận). Nên học cách suy nghĩ ‘give and take’ của Tây.

Điều thứ 9: Làm chậm mà chắc

Người Việt chúng ta hay tự hào là làm nhanh. Họ hay so sánh kiểu một công trình Tây làm 2 năm, nhưng Việt Nam làm chỉ 6 tháng. Trong thực tế và đó đây thì đúng là có sự việc như vậy. Hay trong y khoa, có những thuật mà Tây không dám làm, nhưng Việt Nam dám làm; chẳng những dám làm, mà còn quảng bá rùm beng.

Nhưng vấn để không phải là làm được hay làm nhanh. Tây họ rất cẩn thận và suy nghĩ lâu dài. Làm cái gì họ cũng tham vấn nhiều người từ nhiều chuyên ngành khác nhau. Làm một cái giường cho bệnh nhân, họ không chỉ tham khảo ý kiến của chuyên gia mà còn hỏi ý kiến của bệnh nhân. Làm một con lộ cao tốc, họ phải nghiên cứu tác động môi trường cả 2 năm trời để đánh giá tác hại đến cư dân ra sao. Ngay cả triển khai một nghiên cứu thành hiện thực họ cũng phải xem xét lợi và tác hại có thể cho bệnh nhân.

Người phương Tây làm chậm không phải họ dở, mà là họ quan tâm đến chất lượng và lâu dài. Chúng ta nên học họ về tầm nhìn xa và phẩm chất.

Điều thứ 10: Tinh thần cách tân

Người phương Đông chúng ta trọng tĩnh, nhưng người Tây trọng động. Họ lúc nào cũng nghĩ đến cách tân hay làm mới một ý tưởng cũ. Ở viện tôi công tác, năm nào cũng có ‘retreat’. Và, mỗi retreat, sếp tôi hay hỏi ‘vấn đề lớn hiện nay là gì và chúng ta phải làm gì mới để giải quyết vấn đề.’ Năm nào câu hỏi đó cũng được đặt ra. Riết rồi, chúng tôi buộc phải suy nghĩ đến cái mới. Tinh thần cách tân thật là đáng học.

Trong thời đại cạnh tranh khoa học và công nghệ, tinh thần cách tân rất quan trọng vì nó giúp mình đứng đầu. Các nước mới nổi ở Châu Á họ hay mời chúng tôi sang nói chuyện. Có khi một bài nói chuyện chỉ 30-40 phút, nhưng họ biết được hướng mới là gì. Trả có 10 ngàn đôla mà có ý tưởng mới thì quả là quá rẻ.

***

Tôi có hứng chia sẻ vài ý nghĩ trong cái note này nhân một câu nói của cô phát ngôn viên Bộ Ngoại giao về nước Nga. Cô ấy nói rằng [1]: “Tôi gắn bó với nước Nga vì tiếng Nga là ngôn ngữ tôi học từ bé. Nước Nga của những áng thi ca và các tác phẩm nghệ thuật bất diệt. Tôi đã đọc hầu hết các tác giả Nga và Liên Xô, đi thăm các bảo tàng Tretchiacov và Hermitage nhiều lần. Nhưng nước Anh để lại trong tôi nhiều ấn tượng vô cùng sâu sắc. Đó không chỉ là cái nôi của văn minh châu Âu mà còn là văn hóa đa sắc tộc, hiện đại nhưng cũng rất bản sắc.”

Cô ấy nói nước Anh là ‘cái nôi của văn minh châu Âu’? Wow! Thiệt vậy sao? Kiến văn của một phát ngôn viên ngoại giao là vậy?

Bất cứ nền văn hoá và văn minh nào cũng có nhiều điều để chúng ta học hỏi. Người phương Tây có một nền văn minh rất lâu đời (chẳng kém gì văn minh phương Đông), và họ đã có rất nhiều thành tựu vật chất và phi vật chất. Tôi nghĩ người phương Tây cũng muốn học từ văn hoá phương Đông, chứ không phải sự học chỉ diễn ra 1 chiều.

Sống trong xã hội phương Tây chỉ 40 năm thôi, nhưng tôi thấy mình phải học họ nhiều lắm. Mười năm đầu tôi chưa ‘thấm’ đâu, phải 20 năm sau mới bắt đầu biết chút chút. Mười điều tôi nêu trên đây chỉ là những điều hiển nhiên và mang chút cá nhân tánh. Tôi tin rằng các bạn có thể rút ra nhiều nhiều hơn những gì tôi liệt kê. Tôi nghĩ những giá trị như bao dung, sự tử tế, tôn trọng quyền cá nhân, tôn trọng nữ giới, tôn trọng chánh kiến khác, và tinh thần cách tân là những gì chúng ta có thể soi rọi và tự làm mới mình.

Thôngbáo lớp học Phân tích dữ liệu và Công bố quốc tế (ĐH Văn Lang 12/2022)

Tôi rất hân hạnh thông báo đến các bạn một khoá học về ứng dụng mô hình hồi qui (applied regression analysis) và công bố quốc tế do Đại học Văn Lang tổ chức. Khoá học 7 ngày sẽ diễn ra từ 19/12 đến 26/12/2022.

Các mô hình hồi qui là ‘guồng máy’ đằng sau Machine Learning (ML) và Khoa học Dữ liệu. Tuy nhiều bạn làm ML và data science nhưng kiến thức và kĩ năng về các mô hình hồi qui còn hạn chế. Do đó, mục tiêu của khoá học này là đem lại kiến thức và trang bị kĩ năng phân tích dữ liệu dùng mô hình hồi qui tuyến tính và hồi qui logistic. Sau khi hoàn tất khoá học, chúng tôi kì vọng rằng học viên sẽ:

  • biết sử dụng ngôn ngữ R;
  • biết cách hiển thị dữ liệu khoa học;
  • diễn giải ý nghĩa của các mô hình hồi qui;
  • biết cách soạn bài báo khoa học;
  • biết tiêu chuẩn đứng tên tác giả;
  • biết nguyên lí của đạo đức khoa học trong công bố;
  • biết cách phân biệt tập san chánh thống và dỏm.

Chương trình học bao gồm 20 bài giảng được chia ra 2 phần như sau:

Phần 1: Các mô hình hồi qui

Bài giảng 1: Giới thiệu R. Ngày nay, học về khoa học dữ liệu hay phương pháp phân tích đòi hỏi phải biết ngôn ngữ R. (Hãy quên đi mấy software thương mại vì mắc tiền quá). Học viên sẽ học về các hàm/lệnh căn bản trong R để đọc dữ liệu, biên tập dữ liệu, và làm các phân tích đơn giản.

Bài giảng 2: RStudio và R Markdown. Trong phần này học viên sẽ làm quen với RStudio và RMarkdown, hai phần rất quan trọng trong các công cụ của khoa học dữ liệu. RStudio là một ‘add on’ nhằm giúp người sử dụng R quản lí file tốt hơn. RMarkdown là một sáng kiến tuyệt vời nhằm giúp cho việc lưu trữ các mã phân tích và chia xẻ files với nhau. Với RMardown, người dùng có thể tạo ra một trang web cá nhân trên Rpubs.com và ‘báo cáo’ kết quả phân tích ngay trên đó.

Bài giảng 3: Quản lí và biên tập dữ liệu bằng tidyverse. Bài này sẽ giới thiệu các nguyên lí quản lí dữ liệu cho phân tích (vì đây là một bước rất quan trọng). Bài giảng cũng sẽ hướng dẫn sử dụng các hàm căn bản trong việc biên tập dữ liệu, đặc biệt là dùng chương trình tidyverse.

Bài giảng 4-5: Nguyên lí hiển thị dữ liệu và giới thiệu “ggplot2” cho biểu đồ chất lượng cao. Ngày nay, bài báo khoa học với biểu đồ phẩm chất cao là vô cùng quan trọng, vì nó thể hiện tính chuyên nghiệp và tinh tế của nhà khoa học. Nhu liệu ‘ggplot2’ là một chương trình tuyệt vời để cho nhà khoa học soạn các biểu đồ ‘không chê vào đâu được’.  Học về ggplot2 không dễ, nhưng chúng tôi đã tìm ra một cách giới thiệu mà học viên có thể học rất nhanh.

Bài giảng 6: Phân tích mô tả. Bài giảng giới thiệu cách mô tả dữ liệu liên tục (continuous data) và dữ liệu phân nhóm (categorical data) dùng các hàm đơn giản trong R.

Bài giảng 7: Giới thiệu mô hình hồi qui tuyến tính. Giới thiệu mô hình hồi qui tuyến tính, cách ước tính tham số, giả định và ứng dụng. Nói chung, mô hình hồi qui tuyến tính có 3 ứng dụng: tìm hiểu mối liên quan, hiệu chỉnh cho yếu tố nhiễu, và tiên lượng.

Bài giảng 8: Kiểm tra giả định, ảnh hưởng tương tác, hoán chuyển dữ liệu: Trong phần này, học viên sẽ học cách diễn giải các tham số trong mô hình như RMSE, R-squared.

Bài giảng 9: Ứng dụng mô hình hồi qui tuyến tính. Bài giảng hướng dẫn cách ứng dụng mô hình hồi qui tuyến tính trong việc thay thế t-test, đánh giá sự tương tác, cách đánh giá tầm quan trọng của biến số, và cách chọn mô hình tối ưu.

Bài giảng 10: Khái niệm odds và odds ratio. Giới thiệu khái niệm odds, odds ratio, và log odds.

Bài giảng 11: Mô hình hồi qui logistic. Học viên sẽ học về mô hình hồi qui logistic và cách diễn giải kết quả của mô hình logistic.

Bài giảng 12: Phương pháp tìm mô hình “tối ưu” (tìm các yếu tố liên quan). Một trong những vấn đề làm nhiều người ‘đau đầu’ là trong số hàng trăm — thậm chí hàng triệu — biến số, thì biến nào có liên quan đến outcome. Nhiều người nghĩ đến phương pháp stepwise, nhưng đó là cách làm sai. Trong bài này, chúng tôi sẽ giới thiệu một phương pháp Bayes và LASSO để tìm các biến số liên quan.

Phần 2: Công bố khoa học

Phần 2 của khoá học là 3 ngày tập trung vào cách soạn và công bố bài báo khoa học. Mục tiêu chung của khoá học (3 ngày) này là trang bị kiến thức và kĩ năng cho học viên trong việc soạn một bài báo khoa học. Chúng tôi kì vọng rằng sau khi xong lớp học, học viên sẽ:

  • hiểu tại sao cần phải công bố khoa học;
  • biết cơ cấu của một bài báo khoa học;
  • biết các nguyên tắc viết phần Dẫn nhập, Bàn luận, Kết quả của một bài báo; và
  • biết phân biệt tập san dỏm và thật.

Bài giảng 13: Phương pháp viết Title. Bài giảng sẽ giới thiệu cấu trúc chuẩn của một bài báo khoa học là IMRaD. Những bước cần chuẩn bị cho việc soạn một bài báo khoa học. Phần nào cần viết trước và phần nào cần viết sau sẽ được bàn luận trong bài giảng. Tựa đề bài báo khoa học là một yếu tố rất quan trọng, có khi quyết định sự thành bại của bài báo, nhưng rất ít được các tác giả chú ý. Bài giảng này sẽ giới thiệu những nguyên tắc trong việc đặt tựa đề, cùng những điều không nên làm khi đặt tựa đề. Một số nghiên cứu khoa học về tựa đề bài báo cũng sẽ được trình bày để minh họa cho các nguyên tắc chung.

Bài giảng 14: Phương pháp viết phần Abstract. Bài báo khoa học đòi hỏi phải có một abstract (tóm tắt), thường giới hạn trong 250 đến 300 chữ. Tóm lược một bài báo 20-30 trang thành 250-300 chữ là một thách thức. Bài giảng này sẽ giới thiệu hai dạng abstract: loại có cấu trúc và loại không có cấu trúc. Bài giảng cũng sẽ bàn về những chiến lược cụ thể để viết phần abstract sao cho đầy đủ thông tin trong vòng 250-300 chữ.

Bài giảng 15: Phương pháp viết phần Kết Quả. Kết quả là trái tim của một công trình nghiên cứu. Nhưng viết phần Kết quả có khi là một thách thức đáng kể cho những người mới vào nghiên cứu, vì không biết viết cái gì trước và cái gì sau, hay viết sao cho thuyết phục. Bài giảng này sẽ trình bày một số phương pháp và nguyên tắc quan trọng trong việc mô tả kết quả nghiên cứu. Phần đầu sẽ bàn về cách viết. Phần hai hướng dẫn cách thiết kế bảng số liệu và những biểu đồ có phẩm chất cao.

Bài giảng 16: Phương pháp viết phần Dẫn Nhập và Bàn Luận. Phần Dẫn nhập của một bài báo khoa học là lí do tồn tại của bài báo, nên cần phải được quan tâm đúng mức. Bài giảng sẽ giới thiệu công thức viết dẫn nhập có tên là CaRS (creating a research space). Bàn luận là phần khó viết nhất trong một bài báo khoa học. Trong bài giảng này, học viên sẽ học một công thức đơn giản (gồm 6 đoạn văn) nhưng rất hiệu quả trong việc cấu trúc phần bàn luận.

Bài giảng 17: Phương pháp viết phần Phương Pháp. Bài giảng sẽ giới thiệu những thông tin liên quan đến thiết kế nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp đo lường, phương pháp phân tích, v.v. cho một bài báo khoa học. Mỗi mục sẽ được minh họa bằng những câu văn quen thuộc hay những mô tả đã được công bố trên các tập san khoa học nổi tiếng trên thế giới.

Bài giảng 18: Tiếng Anh trong khoa học. Tiếng Anh là một khó khăn đáng kể cho các nhà nghiên cứu mà tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Tiếng Anh trong khoa học càng là một loại ‘ngôn ngữ’ khá đặc thù. Trong bài giảng này, chúng tôi sẽ giới thiệu nguyên lí IDEA cho viết văn khoa học dùng tiếng Anh.

Bài giảng 19: Tiêu chuẩn đứng tên tác giả. Đứng tên tác giả một bài báo khoa học là một vấn đề tế nhị nhưng quan trọng. Bài giảng sẽ điểm qua các tiêu chuẩn đứng tên tác giả theo Tuyên bố ICMJE và trách nhiệm của tác giả bài báo khoa học.

Bài giảng 20: Tiêu chuẩn chọn tập san khoa học để công bố. Chọn tập san thích hợp để công bố kết quả nghiên cứu đang là một vấn đề thời sự, vì có quá nhiều tập san “dỏm” trên thế giới. Điều nguy hiểm hơn nữa là có những tập san nằm ở biên giới dỏm và thật. Rất nhiều nhà khoa học Việt Nam đã trở thành nạn nhân của những tập san dỏm. Bài giảng này sẽ giới thiệu các tiêu chuẩn để giúp các bạn phân biệt tập san dỏm và tập san thật, cùng những tiêu chí để chọn tập san chuyên ngành thích hợp cho nghiên cứu.

Liên lạc

Mọi thông tin chi tiết về chương trình, học viên vui lòng liên hệ Trung tâm Đào tạo và Phát triển – Tập đoàn Giáo dục Văn Lang


Hotline: 0287.1099.137 – 0908.046.521

Email: dtpt.vlg@vlu.edu.vn

Link đăng ký: http://bit.ly/dangky-DHVL

https://www.vanlanguni.edu.vn/tin-tuc-size-bar/3633-dang-ky-khoa-hoc-phan-tich-du-lieu-va-cong-bo-quoc-te-cung-gs-ts-nguyen-van-tuan-giao-su-top-1-the-gioi

Ơn nặng, oán sâu

Ở Việt Nam có Ngày Nhà Giáo (mang màu sắc chánh trị) [1] nhưng có ý nghĩa ‘đền đáp công ơn dưỡng dục của thầy cô’. Rất nhiều quà cáp và những câu chữ bay bổng. Tuy nhiên, người xưa có câu ơn càng nặng thì oán càng sâu.

Hôm nọ đọc một bài luận rất hay trên một tạp chí ở hải ngoại, tôi mới biết nghĩa của chữ ‘Ân’ rất thâm thuý. Trong tiếng Hán ngữ Ân bao gồm 2 chữ ghép lại: chữ ở trên giống như một người bị bao bọc bởi 4 bức tường, còn chữ phía dưới là chữ Tâm (xem hình).

Cái hình đó có thể hiểu là khi người ta chịu ơn có nghĩa là chấp nhận có người ngồi trên mình, còn làm ơn là được ở trên người. Người chịu ơn cũng đồng nghĩa với việc cái tâm bị đè, hay nói cụ thể hơn là lòng tự ái bị tổn thương, bị nhục. Người ta sẽ rửa nỗi nhục bằng cách vong ơn, thậm chí phản bội.

Trong đời thường, tôi nghĩ chắc chắn ai trong chúng ta cũng từng bị phản bội. Mình làm ơn cho người, nhưng chính người đó phản bội lại mình. Cái kinh nghiệm phản bội cũng đau lắm, nhưng nếu mình hiểu nghĩa của chữ Ân thì sẽ không có gì ngạc nhiên, và chấp nhận sự phản bội như là một qui luật của cuộc sống.

Nói đến chuyện ơn và vong ơn là phải nói đến nhân vật Hàn Tín (sống vào thời Nhà Hán) mà tôi nghĩ nhiều người thuộc thế hệ tôi đã đọc qua. Lúc thiếu thời, Hàn Tín rất nghèo, cơm không đủ ăn, nay đây mai đó ngoài chợ để chờ sự bố thí của người hảo tâm. Một trong những người hảo tâm đó là Phiếu Mẫu, cũng nghèo rớt mồng tơi, thương Hàn Tín nên bà hay chia cơm cho chàng thanh niên nghèo. Cảm kích trước sự giúp đỡ, Hàn Tín hứa rằng một ngày nào đó ‘công thành danh toại’ thì sẽ đền ơn. Nhưng Phiếu Mẫu nói bà không cần đền ơn, chỉ mong Hàn Tín nuôi chí lớn và hành xử như một bậc trượng phu.

Sau này, Hàn Tín trở thành tướng lãnh tài ba dưới trướng Lưu Bang. Hàn Tín được xem là một khai quốc công thần cho Lưu Bang. Tuy vậy, Hàn Tín vẫn không quên thời hàn vi được Phiếu Mẫu giúp đỡ, nên ông đã đem nhiều vàng đến biếu tặng cho bà.

Phiếu Mẫu đúng mà người làm ơn mà không cần nhớ (Thi ân mạc niệm). Hàn Tín đúng là người chịu ơn mà không quên ân nhân (Thọ ân mạc vong).

Nhưng trong đời sẽ có người vong ơn, và một người tiêu biểu có lẽ là Lưu Bang, người sáng lập triều Hán lừng danh bên Tàu. Hàn Tín là người giúp Lưu Bang dựng cơ đồ, đánh đông dẹp bắc, đem lại những chiến công vang dội. Nhưng Lưu Bang là người cao ngạo, thậm chí được xem là ‘lưu manh vô lại’. Lưu Bang thọ ơn của Hàn Tín, và việc này làm cho ông cảm thấy nhục. Nhiều lần Lưu Bang tỏ ra không hài lòng với Hàn Tín, nhưng họ Hàn không biết.

Sau này, khi Lưu Bang xưng vương, thì ông lại giết ân nhân Hàn Tín. Chuyện kể rằng khi Hàn Tín bị đem đi chém, Lưu Bang vừa cười ha hả, vừa khóc thảm thiết. Hành vi của Lưu Bang là giả dối? Không. Lưu Bang cười là vì ông khôi phục được lòng tự ái của mình, còn khóc là vì tâm cang bị giày xé do cái sự phản bội của mình. Hành vi của Lưu Bang rất đúng với câu:

Ân càng thâm, oán càng sâu

Chợt nghĩ đến … ‘dân oan’.

Vậy nên các thầy cô đừng nghĩ mình làm ơn cho trò. Thật ra, tôi nghĩ thầy cô, bác sĩ, y tá, tiếp viên, v.v. tất cả chỉ làm nhiệm vụ của họ mà thôi. Nếu họ làm hơn và trên cái nhiệm vụ được trao thì họ nên được thưởng. Họ chẳng ban ơn cho ai, và cũng không nên nghĩ như vậy. Làm ơn cũng có nghĩa là chạm vào lòng tự ái của người khác, và sự va chạm đó có thể dẫn đến những hậu quả nguy hiểm.

___

[1] Ngày 20/11 có một ý nghĩa chánh trị thời Chiến Tranh Lạnh. Theo sách sử thì năm 1949, tại Warszawa (Ba Lan) diễn ra một hội nghị của Liên đoàn quốc tế các công đoàn giáo dục trong khối cộng sản ra bản “Hiến chương các nhà giáo”. Bản hiến chương đó có nội dung đấu tranh chống nền giáo dục tư sản và xây dựng nền giáo dục XHCN, đồng thời bảo vệ quyền lợi của nhà giáo XHCN. Năm 1957, cũng tại Warszawa, một hội nghị khác triển khai hiến chương đó, và họ đề nghị từ năm 1958 trở đi, khối XHCN sẽ lấy ngày 20/11 làm ngày “Quốc tế hiến chương các nhà giáo”. Việt Nam ở ngoài Bắc trước 1975 và toàn quốc từ 1982 cũng lấy ngày 20/11 làm “Ngày Nhà Giáo Việt Nam”. Như thấy, trong thực tế ngày 20/11 chẳng có dính dáng gì đến nhà giáo Việt Nam cả.

Trên thế giới, có những nước không có Ngày Nhà Giáo. Việt Nam Cộng Hòa trước đây không có ngày nhà giáo. Tuy nhiên, một số lớn nước thì có Ngày Nhà Giáo. Tuy rằng đa số chọn ngày 5/10 theo khuyến nghị của UNESCO làm Ngày Nhà Giáo, nhiều nước chọn ngày khác làm Ngày Nhà Giáo. Hungary lấy ngày Chủ Nhật đầu tiên của Tháng 6, Ukrainia lấy ngày Chủ Nhật đầu tiên của Tháng 10, Ba Lan (14/10), v.v. Một số nước chọn những ngày gắn liền với một nhân vật hay sự kiện mang tính lịch sử. Tôi nghĩ Việt Nam nên bỏ ngày 20/11 làm Ngày Nhà Giáo. Nếu cần phải có một Ngày Nhà Giáo, tôi đề nghị lấy ngày sanh của Chu Văn An (25/8/1292).

Bốn điều chúng ta học được khi luống tuổi

Hôm nọ, ngồi tán gẫu bên tách cà phê, một anh bạn vong niên đưa ra 4 điều chúng ta học được khi luống tuổi. Bốn điều liên quan đến: bạn bè; ứng xử; trực giác; và dung nạp. Tôi thấy rất hợp lí và hợp ý mình, nên bèn viết lại và diễn giải theo cách hiểu của tôi dưới đây.

Điều thứ nhứt: Khi đã luống tuổi, chúng ta không thể nào kết bạn với những người giả nhân giả nghĩa.

Trên đường đời và qua tương tác xã hội, chúng ta quen biết rất nhiều người trong nhiều tình huống khác nhau. Nhưng trong số đó, những người được xem là ‘bạn’ thì chắc chẳng bao nhiêu. ‘Bạn’ ở đây là người chúng ta quen, quí mến, và có thể tin tưởng được; đó là người không bỏ chúng ta trong cơn hoạn nạn; đó là người đứng bên ta đưa ra lời khuyên hợp lí, sẵn sàng ủng hộ việc làm vì lợi ích của tha nhân.

Thử đếm xem, những người bạn theo định nghĩa trên không nhiều đâu. Thành ra, khi đã luống tuổi, chúng ta mới nhận ra câu hỏi của Nhạc sĩ Vũ Thành An (‘Triệu người quen, có mấy người thân’) là … có lí, và tiết kiệm kết bạn hơn.

Điều thứ hai: Khi đã có tuổi, chúng ta nhìn thế sự một cách bình thản và nhận ra rằng không phải cái gì cũng cần phải phản ứng.

Lúc còn trẻ, chúng ta háo thắng, muốn vượt trội, và có khi tham lam trong danh vọng, tiền tài. Thấy cái gì ‘gai mắt’ là chúng ta phản ứng ngay. Thấy người ta có hành vi và hành động không hợp lí (với mình) và thế là có phản ứng gay gắt, thậm chí phê phán. Nhưng vì còn trẻ người non dạ, chúng ta không biết câu chuyện đằng sau của những hành động và hành vi đó, nên chúng ta đã phạm phải sai lầm và mang tội. Mấy dư luận viên và youtuber kền kền ngày nay là như vậy, họ không biết rằng họ đã gây tội ác vì cái tánh bồng bột và ngạo mạn của tuổi trẻ.

Nhưng khi đã luống tuổi, chúng ta tạm đạt được cái ‘tri thiên mệnh’, và do đó không vội vã phản ứng trước những điều trái tai gai mắt. Chúng ta cảm thấy bình thản hơn, suy nghiệm nhiều hơn trước khi phản ứng. Chúng ta nhận ra rằng trước nhiều sự việc, phán xét và đánh giá của chúng ta chỉ là những kẻ mù sờ voi. Hôm nọ, ngồi trong hội đồng đề bạt chức danh giáo sư, một anh chàng khoa trưởng kia phản bác ý kiến của tôi về công bố khoa học, nhưng tôi mỉm cười và không phản ứng. (Nếu là 20 năm trước thì tôi đã ‘đập bàn và chỉ tay’ rồi). Kì diệu thay, chỉ 2 giờ sau anh ta gởi lời xin lỗi (chắc đã ngộ ra vấn đề), nhưng tôi nói “Mày hãy xin lỗi lương tâm của mày kìa. Tao không cần lời xin lỗi đâu.”

Điều thứ ba: Khi đã luống tuổi, chúng ta nhận ra rằng trực giác có khi là chỗ dựa quan trọng, và các giá trị bảo thủ là cần thiết.

Khi còn trẻ chúng ta thường tỏ ra ‘cấp tiến’, muốn làm ‘cách mạng’. Thấy cái gì cũng muốn thay đổi. Thấy cái cũ là ngứa mắt, muốn dẹp qua một bên và thay vào cái mới. Thấy mái nhà tranh là lạc hậu và muốn hiện đại hoá nó bằng một mái tole!

Nhưng càng về già, chúng ta hình như càng … tự diễn biến. Tự diễn biến về các giá trị bảo thủ. Chúng ta nhận ra cái thời sôi nổi là bồng bột và tai hại. Chúng ta nhận ra mình từng có tội khi đánh đổ cái cũ và thay bằng cái mới tệ hại hơn.

Chúng ta cũng nhận ra rằng không phải cái gì cũng được quyết định dựa trên chứng cớ, và trực giác trở thành một chỗ dựa rất quan trọng trong điều kiện bất định. Nhìn vào một cái đơn xin đề bạt, trực giác cho chúng ta biết rằng kẻ viết ra nó là xạo, nhưng chứng cớ thì không có hay không thể xác minh. Nghe một kẻ thuộc phe ‘cấp tiến’ nói chúng ta thấy hắn ta xạo, ngoa ngôn, dù chưa có chứng cớ. Nhưng chúng ta đúng.

Nhìn ông cụ 92 tuổi bị một bộ máy nhà nước vùi dập chúng ta biết ổng là nạn nhân của cái bộ máy thiếu lương thiện, dù chúng ta chỉ nhìn mặt mũi và hành vi của ổng.

Hoá ra, trực giác đóng vai trò quan trọng và giúp chúng ta tồn tại trong những tình huống thiếu thông tin. Hoá ra, những giá trị thủ cựu và bảo thủ rất quan trọng để chúng ta không bị chìm đắm trong những ngôn từ quyến rũ và ma mị (kiểu như anh Bảy Đờn bên Mĩ.)

Điều thứ tư: Càng về già chúng ta càng thấy không có nhu cầu được dung nạp hay được công nhận.

Khi còn trẻ chúng ta muốn ‘thành công’, muốn được ghi nhận, muốn được visible, hay nói chung là … bon chen. Vì bon chen, chúng ta hay so sánh. Vì còn trẻ, so sánh của chúng ta ấu trĩ. Tại sao hắn được vào bộ lạc, còn mình với thành tích nổi trội hơn hắn lại không được? Bất công. Tại sao lúc nãy phát biểu, họ quên đề cập đến mình? Họ cố ý. Tại sao họ không bầu mình vào hội đồng? Họ ghét mình. Nói chung, khi còn trẻ, chúng ta muốn được dung nạp, và khi không được dung nạp thì chúng ta tức giận.

Nhưng khi luống tuổi, khi chúng ta đã qua những chặn đường đời, đã [nói theo tiếng Anh là] ‘been there, done that’, chúng ta thấy bình thản hơn. Bình thản khi người ta bỏ quên mình. Bình thản khi người ta loại mình ra khỏi bộ lạc — có lẽ họ cần ‘máu mới’. Chúng ta không có nhu cầu được thấy, được ghi nhận, hay được vượt trội gì cả. Chúng ta nhìn sự đời như một vở kịch và thấy tội nghiệp cho những diễn viên trong vở kịch.

Chúng ta càng nhận ra rằng tất cả sự vật — từ cây cỏ đến sinh vật và con người — đều là những kẻ ‘ở trọ’. Thậm chí thời gian và bóng tối cũng ở trọ, y như Trịnh Công Sơn viết:

Trăm năm ở đậu ngàn năm

Đêm tối ở trọ chung quanh nỗi buồn

Ơ hay là một vòng xinh

Tôi như người bỗng lênh đênh giữa đời

Những người luống tuổi nhìn lại quãng đường đời mình đi qua là một sự lênh đênh nội tâm. Con đường nội tâm là con đường phức tạp nhứt vì điểm đến gần như không tồn tại. Cái gọi là ‘thành công’, ‘thành đạt’ chỉ là ngoa ngữ cho một điểm đến không có thật, và nó làm cho con người chìm đấm và đau khổ trong đường đời. Thành ra, thay vì nhắm tới điểm đến, chúng ta nên quan tâm đến cách mà chúng ta đi và cùng đi với mọi người khác.

Đơn Kêu Cứu của Thiền Am gởi Bộ trưởng Bộ Công An

Lời giới thiệu: Dưới đây là đơn kêu cứu của những người trong Thiền Am () gởi cho Bộ trưởng Tô Lâm ngày 1/2/2022 (Mồng Một Tết). Lá đơn được viết bằng một văn phong ‘có sao báo vậy’. Có vài chỗ lặp đi lặp lại, nhưng là cần thiết. Câu chuyện có thể tóm tắt như sau: ngày 4/1/2022, nhiều công an (hơn 100 người) xông vào Thiền Am (một nhóm tu tại gia ở Huyện Đức Hoà, tỉnh Long An), cúp điện, cắt mạng, cắt toàn bộ camera, và khám xét và thu giữ 210 lượng vàng của Thiền Am. Nghiêm trọng hơn là một cô gái 25 tuổi bị ép phải đi khám phụ khoa một cách dã man. Không rõ lá đơn đã được giải quyết ra sao, nhưng sau đó thì Toà án Huyện Đức Hoà tuyên phạt ông Lê Tùng Vân và các đệ tử của ông 23 năm 6 tháng tù giam vì tội “Lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân“.

_______

Ngày 1/2/2022 (Mồng Một Tết)

Kính gởi: Ông Bộ trưởng Tô Lâm

Bộ Công An

Hà Nội

Chúng tôi ký tên sau đây gồm:

            Lê Tùng Vân, sinh ngày 24/2/1932

            Cao Thị Cúc, sinh năm 1960

            Lê Thanh Nhị Nguyên, sinh ngày 8/5/1998

            Lê Thanh Nhất Tuệ, sinh ngày 30/8/1994

            Lê Thanh Huyền Trang, sinh ngày 29/1/1993

            Lê Thanh Huyền Trân, sinh ngày 25/2/2002

            Bùi Ngọc Trâm, sinh ngày 26/2/1997

            Vòng Thị Kim Thoa, sinh ngày 20/7/1990

            Vòng Kim Xuân, sinh ngày 18/1/1995.

Tất cả chúng tôi hiện tại đều đang sống tại địa chỉ 191A, Ấp Lập Thành, Xã Hoà Khánh Tây, Huyện Đức Hoà, Tỉnh Long An.

Xin phép ông Bộ Trưởng – kính xin ông Bộ Trưởng vui lòng cho giải quyết gấp những việc làm trái pháp luật đặc biệt nghiêm trọng của Chính quyền Công An Huyện Đức Hoà – Tỉnh Long An đã làm ra với hộ gia đình gần 30 người của chúng tôi như sau.

1.  Công An khám xét nhà trái pháp luật, khám xét nhà không có giấy tờ, không có lệnh khám xét.

2.  Công an thu giữ đồ đạc tài sản của người dân trái pháp luật, họ đã thu giữ hết đồ đạc cá nhân, máy tính, điện thoại, laptop, nhất là điện thoại đã thu giữ gần 2 tháng nay, ngày Tết, tất cả hộ chúng tôi như bị bỏ tù bởi vì không có điện thoại để liên lạc với bạn bè ở quốc tế và quốc nội. Và những giấy tờ cá nhân, họ đã lấy hết tất cả đồ đạc của gần 30 người mà không có một cái biên bản nào, không có giấy tờ xác nhận họ thu giữ món gì. Kể cả gói đừng tiền 210 lượng vàng của ông Lê Tùng Vân cũng bị họ tịch thu mà không báo cho ông Lê Tùng Vân được biết. Và bóp tiền đựng CMND của Bùi Ngọc Trâm và Lê Thanh Kỳ Duyên, giấy phép lái xe, hộ chiếu cùng các giấy tờ linh tinh khác và 7.800.000 (bảy triệu tám trăm ngàn đồng) để trong bóp bị họ lấy đi mà không có biên bản để lại.

3.  Chúng tôi bị ép cung, mấy trăm người công an Huyện Đức Hoà đã dùng vũ lực ôm tay, ôm chân, bẻ ngón tay, bóp miệng gần 20 thành viên trong gia đình tôi để ép chúng tôi phải lăn tay vào những biên bản gì đó của họ đưa ra mà họ không hề cho chúng tôi được đọc, được nghe, được thấy, được biết.

4.  Họ đã bắt hết mười mấy thành viên trong gia đình chúng tôi đi mà không có một giấy tờ hay lệnh bắt nào cả, họ giam chúng tôi tại Huyện 4-5 ngày sau họ mới thả về nhưng vẫn còn giam lại 3 người cho đến nay trên 1 tháng vẫn bị giam.

5.  Một thành viên nữ trong chúng tôi tên Bùi Ngọc Trâm 25 tuổi. Công an đã chở cô gái này đi đưa vào phòng riêng, họ đã ép cô gái này phải lột quần áo ra rồi họ đã lấy cái gì đó thọt vào cửa mình của cô gái, cô gái đau đớn la lên nhưng họ vẫn không dừng lại, cô gái này đã bị xâm hại thân thể. Những việc làm này của công an Huyện Đức Hoà đều không có một giấy tờ gì, không có một lệnh khám gì hay một biên bản nào.

6.  Không có một giấy tờ hay lệnh canh giữ nào mà ngang nhiên công an Huyện Đức Hoà lại cho gần 20 công an đi vào ở trong nhà của chúng tôi, những người này được lệnh ngồi canh gác khắp nhà của chúng tôi, để canh giữ chúng tôi 24/24. Trong khi đó, tất cả gần 30 người trong gia đình chúng tôi không ai có tội gì cả.

7.  Công an Huyện Đức Hoà đã bắt tạm giam 3 người trong gia đình tôi, 3 người này tên: Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Trùng Dương. Họ đã bị tạm giam đến nay đã 1 tháng rưỡi, công an đã nói họ phạm vào tội 331 Bộ Luật Hình Sự, lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của Nhà Nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Chúng tôi có hỏi ban Công an là chúng tôi đã đăng mạng câu nói nào để gọi là phạm tội thì ban Công an làm thinh không trả lời.

Ba người Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên, Trùng Dương trước nay sống hiền lành, không làm gì hại ai, chưa từng có tội, chưa từng có tiền án tiền sự. Với những gì công an Huyện Đức Hoà kết tội họ, cho rằng họ đã có những lời nói gì đó trên mạng xã hội phạm vào điều 331 của Bộ Luật Hình Sự thì công an Huyện Đức Hoà có cần thiết phải bắt tạm giam họ đến nay cả tháng rưỡi không? Nhìn vào hành vi và mức độ nguy hiểm thì họ có đáng phải bị bắt giam lâu đến vậy không? Và họ sẽ còn bị giam đến bao lâu nữa? Tại sao họ bị giam mà không phải ra toà án xét xử?

Kính mong ông Bộ Trưởng xem xét cho điều tra gấp về những hành vi trái pháp luật nghiêm trọng mà công an Huyện Đức Hoà đã làm ra. Và cho điều tra những gì công an Huyện Đức Hoà đã buộc tội cho 3 người Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên, Trùng Dương là đúng hay sai và bắt giam họ gần 1 tháng rưỡi như vậy là có đúng tiêu chuẩn pháp luật đề ra không? Hay công an Huyện Đức Hoà đã lạm dụng chức quyền để ép tội cho dân.

Kính mong ông Bộ Trưởng cho điều tra gấp để tránh trường hợp công an lạm dụng chức quyền để ép tội dân khiến người dân oan sai khổ sở, và kính xin cho điều tra gấp để thả cho 3 người dân vô tội bị giam trên 1 tháng nay tại nhà tù – cho đến giờ phút tôi đang viết lá đơn này thì 3 người công dân vô tội vẫn còn đang bị giam trong tù.

Tường trình chi tiết

Chúng tôi xin tường trình lại sự việc như sau: Vào ngày 4/1/2022 vào lúc 09h có rất đông công an khoảng 300 – 400 người lẻn vào ngõ sau – xin nhấn mạnh là họ LẺN VÀO NGÕ SAU – xông vào nhà của chúng tôi. Họ xông vào từng phòng bắt hết gần 30 người trong gia đình chúng tôi ra ngoài sân đứng, họ đã cúp điện, cắt mạng và cắt toàn bộ camera tại nơi ở của chúng tôi. Chúng tôi yêu cầu công an khám xét phải có giấy tờ, phải có lệnh khám xét nào. Sau đó họ bắt từng người chúng tôi phải lăn tay và phải ký vào những giấy tờ và biên bản gì đó của họ đưa ra mà không hề cho chúng tôi được đọc, được thấy, được biết.

Chúng tôi thấy rằng những gì công an Huyện Đức Hoà làm là trái pháp luật nên chúng tôi đã phản đối và nhất định không ký, không lăn tay gì cả. Họ đã ôm tay, ôm chân, bịt miệng, bẻ ngón tay chúng tôi ra để ép chúng tôi phải lăn tay vào những biên bản đó. Công an Huyện Đức Hoà đã dùng vũ lực ép cung chúng tôi, sau đó họ khám xét từng phòng, từng ngõ ngách trong nhà chúng tôi. Họ lục lọi kiểm tra từng món đồ, từng cái tủ, điện thoại – máy tính, đồ dùng riêng tư họ cũng tuỳ tiện mở ra xem tự nhiên như đồ của họ.

Công an Huyện Đức Hoà đã xâm phạm đến quyền riêng tư của chúng tôi. Họ đã lục xét nhà cửa và mở điện thoại ra để xem những thông tin và những chuyện riêng tư của chúng tôi tư 9h sáng đến 10h khuya mới xong, tức gần 11 giờ đêm, họ mới dừng lại, để bắt tất cả chúng tôi đi về Huyện mà tra hỏi tiếp.

Sau khi họ khám xét xong, thì họ đã thu giữ hết toàn bộ các cục modem, camera và các cục modem của wifi, máy tính, điện thoại, và các giấy tờ cá nhân riêng tư của chúng tôi đi mà không hề để lại cho chúng tôi một biên bản hay một tờ giấy xác nhận nào rằng là “công an Huyện Đức Hoà đã có thu giữa những món đồ này của chúng tôi”, họ thu giữ tới nay trên cả tháng rồi mà chưa trả, kể cả ngày Tết mà tất cả gần 30 người chúng tôi như đang ở trong tù vì không có điện thoại nào để sử dụng. Bạn bè chúng tôi ở ngoại quốc khóc sướt mướt vì tưởng chúng tôi đã bị tai nạn chết chóc hay tù tội gì đó.

Mấy trăm người công an Huyện Đức Hoà làm việc bạo lực như vậy, làm việc mà không có giấy tờ, không có biên bản, họ làm việc như ở trong rừng trong rú như vậy thì có khác gì là ĂN CƯỚP không?

Công an Huyện Đức Hoà đã bắt hết mười mấy người trong gia đình của chúng tôi lên Huyện, giam chúng tôi đến 4 ngày mà không hề có một tờ giấy mời hay lệnh bắt nào cả. Trên Huyện, công an đã đưa chúng tôi mỗi người vào một phòng riêng để làm việc, lấy lời khai. Trong quá trình làm việc, công an đã dùng những từ ngữ thô tục, chửi bới, đe doạ chúng tôi (đụ má, đụ mẹ, tao đập chết cha mày, mà mà không khai ,ày chết mẹ mày với tao, mày mà không có tội tao cũng làm cho mày có tội, v.v.) Họ bắt chúng tôi làm việc ngày đêm, làm từ khuya đến sáng, làm bất kể giờ giấc, không được nghỉ ngơi. Chúng tôi rất ngạc nhiên về những việc mà công an Huyện Đức Hoà đã làm, cách làm việc rất MỌI RỢ, rất CÔN ĐỒ.

Một thành viên nữ trong chúng tôi: Bùi Ngọc Trâm 25 tuổi đã bị công an Huyện Đức Hoà bắt đi đưa vào phòng riêng. Họ đã bắt ép cô Ngọc Trâm phải lột quần áo ra rồi họ đã lấy cái gì đó thọt vào cửa mình của cô, cô đau đớn la lên nhưng họ vẫn không ngừng lại. Cô Ngọc Trâm đã bị xâm phạm thân thể.

Những việc làm này của công an Huyện Đức Hoà đều không có biên bản, giấy tờ hay lệnh của ai ban xuống cả. Sau gần 4 ngày họ bắt giam chúng tôi trên Huyện Đức Hoà thì họ đã cho xe chở chúng tôi về nhà, nhưng còn 3 người tên Hoàn Nguyên, Nhất Nguyên và Trùng Dương vẫn bị họ bắt giam giữ lại. Họ nói đã ra quyết định khởi tố 4 người về tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của Nhà Nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, điều 331 Bộ Luật Hình Sự. Bốn người bị khởi tố là Lê Tùng Vân, Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Trùng Dương. Họ nói 4 người này đã có những lời nói sai phạm trên mạng xã hội phạm vào điều 331 này.

Ông Lê Tùng Vân hỏi ông sai phạm chỗ nào thì họ chỉ ắm ớ không nói rõ ra được. Trong 4 người khị khởi tố này thì có 3 người đã bị công an Huyện Đức Hoà ra quyết định bắt tạm giam tới nay hơn 1 tháng. Riêng ông Lê Tùng Vân vì quá lớn tuổi (trên 90 tuổi) nên họ cho ông Lê Tùng Vân được tại ngoại.

Ngoài 4 người bị khởi tố này thì tất cả gần 30 người trong nhà chúng tôi không ai có tội gì cả, Nhưng công an Huyện Đức Hoà lại cho trên 20 công an đi vào nhà chúng tôi, ở trong nhà chúng tôi. Công an Huyện Đức Hoà ra lệnh cho những người này chia ra ngồi canh khắp nhà chúng tôi để canh giữ chúng tôi. Trong khi tất cả chúng tôi thì lại không có tội gì cả và việc Công an Huyện Đức Hoà cho người ở trong nhà chúng tôi, canh giữ 24/24 như thế này cũng không hề có một biên bản hay một giấy tờ gì cả. Như vậy có phải Công an Huyện Đức Hoà đã phạm tội XÂM PHẠM GIA CƯ BẤT HỢP PHÁP hay không?

Những người này đã ngồi trong nhà chúng tôi, canh giữ chúng tôi đã trên 1 tháng nay, canh giữ 24/24 tức là họ đã xâm nhập gia cư của chúng tôi BẤT HỢP PHÁP cho tới nay đã hơn một tháng trời. Chúng tôi không phải tội phạm, công an này lại ngang nhiên dám ở trong nhà của chúng tôi như vậy?

Sau những sự việc nêu trên kính mong ông Bộ Trưởng cho điều tra gấp những việc sau đây:

1.  Tại sao không có lệnh khám xét mà Công an Huyện Đức Hoà lại dám đi mấy trăm người xông vào khám xét nơi ở của gần 30 người chúng tôi?

2.  Ngoài 4 người đang bị khởi tố thì tất cả gần 30 người còn lại trong gia đình chúng tôi không ai có tội gì cả, không ai liên quan gì cả. Vậy tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám thu giữ hết đồ đạc, điện thoại, máy tính của chúng tôi, lại tự ý mở điện thoại máy tính của chúng tôi ra để xem những tin nhắn riêng tư? Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám xâm phạm đến quyền riêng tư của mỗi cá nhân tất cả gần 30 người trong gia đình chúng tôi?

3.  Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lấy hết đồ đạc máy tính, điện thoại, giấy tờ cá nhân riêng tư của chúng tôi mà lại không có một giấy tờ xác nhận nào? Kể cả tịch thu gói tiền 210 lượng vàng của chúng tôi mà cũng không có một giấy tờ xác nhận nào. Và công an cũng đã lấy cái bóp của cô Bùi Ngọc Trâm trong bóp có đựng CMND, giấy tờ xe, hộ chiếu mang tên Lê Thanh Kỳ Duyên và Bùi Ngọc Trâm và kể cả số tiền 7.800.000 đồng của cô Bùi Ngọc Trâm để trong bóp đó cũng bị công an tịch thu luôn mà không để lại bất kỳ giấy tờ gì.

4.  Cô Bùi Ngọc Trâm chỉ mới 25 tuổi, không làm gì có tội, vậy tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám bắt cô đi, bắt ép cô cởi quần áo rồi lấy cái gì thọt vô cửa mình của cô như vậy. Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám xâm phạm thân thể của cô như vậy?

5.  Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám ôm tay, ôm chân, bịt miệng, bẻ ngón tay của gần 30 người trong gia đình chúng tôi để ép phải lăn tay vào những biên bản mà không hề cho chúng tôi được đọc, được nghe, được thấy, được biết biên bản ấy nói cái gì, viết cái gì, trình bày cái gì. Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám ép cung gần 30 người như vậy?

6.  Tại sao Công an Huyện Đức Hoà bắt hết mười mấy người trong gia đình chúng tôi đi lên Huyện gần đến 4 ngày mà không có một gia61y mời hay lệnh bắt gì cả.

7.  Tại sao Công an Huyện Đức Hoà làm việc với người dân mà lại chửi bới thô tục, hăm he, đe doạ giống như bọn lưu manh côn đồ như vậy? Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám nói rằng ‘tụi bay không có tội tao cũng làm cho tụi bay thành tội.’ Tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám nói ra một câu xem thường luật pháp Việt Nam, xem thường dân chúng đến như vậy? Tiếng ‘đụ má’ và ‘đụ mẹ’ mà công an cũng dám dùng nữa sao?

8.  Chúng tôi không có tội gì cả, tại sao Công an Huyện Đức Hoà lại dám sai 20 công an xâm phạm gia cư bất hợp pháp nơi ở của chúng tôi như vậy? Tại sao lại dám ngồi trong nhà canh giữ chúng tôi trên cả tháng nay như vậy? Đến hiện nay, lúc đang viết lá thư này, họ cũng còn ngồi trong nhà chúng tôi mà canh giữ chúng tôi.

9.  Xin cho điều tra những gì Công an Huyện Đức Hoà đã khởi tố 4 người Lê Tùng Vân, Lê Thanh Hoàn Nguyên, Lê Thanh Nhất Nguyên, Lê Thanh Trùng Dương là đúng hay không?

Những lời nói của 4 người này trên mạng xã hội mà Công an Huyện Đức Hoà cho rằng phạm điều 331 Bộ luật hình sự thì mức độ nguy hiểm có đến mức cần phải tạm giam họ vào ngục (ở tù) tới nay đã ở tù gần 2 tháng rồi, ở tù mà không có chỉ thị của Toà án, vậy là Công an Huyện Đức Hoà có làm đúng pháp luật của Nhà nước Việt Nam ta hay không? Và có cần phải ở tù lâu đến vậy không?

Nếu 4 người này có những lời nói trên mạng xã hội phâm vào điều 331 Bộ luật hình sự như vậy thì Công an cứ mời 4 người này lên làm việc điều tra chứ sao lại xông vào lục xét nhà của lấy hết máy móc, xâm phạm đến quyền riêng tư, đến tài sản riêng tư của gần 30 người như vậy? Bởi lẽ nếu 4 người này lỡ nói gì không đúng thì Công an có thể mời họ lên nhắc nhở hoặc phạt hành chánh cảnh cáo thôi, chứ sao lại bị xét nhà, lại bị lấy hết đồ đạc lại bị ở tù đến mức như vậy, lại bị công an xâm phạm đến quyền riêng tư cá nhân của từng người đến như vậy?

Một điều rất lạ và đáng suy nghĩ là: dụng cụ làm việc văn phòng của tôi như laptop, máy in, họ tịch thu đem về Huyện cả 2 tháng nay mà không chịu trả cho tôi. Chẳng lẽ nguyên cái Huyện Đức Hoà có những nhân viên nào đó trong nhà không có laptop, không có máy in rồi lại lấy đại của tôi đem về xài cả 2 tháng nay rồi mà không chịu trả. Điều này chứng tỏ Chánh Quyền đã tham của cải của dân, đã lấy của cải của người dân đem về để làm của mình, chứ Huyện mà đem máy in của dân về Huyện làm gì? Chỉ có các nhân viên thiếu máy in, thiếu laptop mới tịch thu máy móc của dân chúng để đem về nhà riêng để xài. Kính xin ông Bộ trưởng vui lòng cho điều tra cái máy in của tôi mà Huyện đem vè Huyện để làm gì?

Kính mong ông Bộ trưởng cho điều tra gấp tất cả những việc làm của Công an Huyện Đức Hoà vừa nêu trên để xem Công an Huyện Đức Hoà làm đúng hay sao? Để biết xem Công an Huyện Đức Hoà có lạm dụng chức quyền ép tội cho dân khiến cho dân phải khổ sở như vậy không? Để xem coi Công an Huyện Đức Hoà có ăn tiền của ai không (của ông Thắng ba Diễm My và bà Phương Hằng chủ khu du lịch Đại Nam) mà tại sao lại dám ra những chuyện trái pháp luật kinh thiên động địa đến như vậy? Điều tra gấp để cứu giúp cho 3 người đang bị Công an Huyện Đức Hoà bắt ở tù gần cả 2 tháng nay, không được về nhà ăn Tết và hiện vẫn còn giam mấy vị đó cho tới giờ phút tôi đang viết lá đơn này, xin cho 3 vị đó được về nhà, vì các vị đó không có tội gì cả.

XIN CHÚ Ý:

Trong trường hợp Công an Huyện Đức Hoà có làm sai luật pháp, có giam giữ trái với Luật pháp Việt Nam (vì Toà chưa xét xử, chưa tuyên án) thì xin cho Chủ tịch Huyện và Phó chủ tục Huyện phải bị rớt chức và ngồi tù 2-3 tháng gì đó để cho tương xứng ngang bằng với thời gian đã bắt 3 người công dân hiền lành, vô tội ngồi tù từ trước tới nay.

Chỉ có làm như vậy thì Chủ tịch và Phó chủ tịch Huyện ở các địa phương khác thấy đó mà không dám ngang nhiên muốn bắt giam ai thì bắt như họ đả làm đối với 3 vị công dân trong Huyện Đức Hoà này.

Trân trọng kính chào ông Bộ trưởng Tô Lâm.

Và xin hết lòng cảm ơn ông Bộ trưởng.

Kính đơn

Bước qua lời nguyền: tiến hành dự án Đập Stung Treng là huỷ diệt môi sinh (ecocide) – một nhìn lại

Lời giới thiệu: Một trong những vấn đề thời sự quan trọng nhứt, có ảnh hưởng xấu đến sự sống còn của người Việt và cư dân vùng Đông Nam Á là những can thiệp vào sông Mekong. Sự can thiệp đó bao gồm những con đập lớn do Trung Quốc xây dựng ở thượng nguồn và cả những con đập ở hạ nguồn (Thái Lan, Lào, Cam bốt, Việt Nam). Mới đây, nhà cầm quyền Cam bốt cho phục hoạt dự án thuỷ điện Stung Treng, vốn đã là mối quan tâm của các cơ quan quốc tế. Dự án này sẽ làm cho hơn 10,000 người dân mất chỗ ở và ảnh hưởng tiêu cực đến môi sinh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trớ trêu thay, những ảnh hưởng này có sự góp phần của Việt Nam (ta tự hại mình).

Trong bài viết dưới đây mà tôi hân hạnh giới thiệu, Bác sĩ Ngô Thế Vinh trình bày chi tiết về những tác động đó. Bs Ngô Thế Vinh cảnh báo rằng nước phương Bắc có sẵn trong tay một loại ‘vũ khí nước’ để phát động một cuộc chiến môi sinh mà nếu chúng ta không lên tiếng phản đối thì sẽ chịu những hậu quả nghiêm trọng cho cả vùng ĐBSCL. NVT

****

Bước qua lời nguyền: tiến hành dự án Đập Stung Treng là huỷ diệt môi sinh (ecocide) – một nhìn lại

NGÔ THẾ VINH

Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL

không được quyền có tiếng nói

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

Lời Dẫn Nhập: Năm 2020, đã có một lúc bao nhiêu triệu cư dân vùng hạ lưu sông Mekong thở phào nhẹ nhõm khi nghe tin Bộ Điện Lực Cam Bốt   tuyên bố hoãn mọi dự án thuỷ điện trên sông Mekong trong 10 năm tới [1], như vậy là ít nhất có một thời kỳ dưỡng thương cho dòng sông bị đầy những vết cắt do chuỗi đập thuỷ điện của Trung Quốc và Lào phía thượng nguồn. Nhưng rồi mới đây, chỉ hai năm sau, 2022, là một tin chấn động khác: Phnom Penh tuyên bố cho tái phục hoạt / resurrection dự án thủy điện Stung Treng 1.400 MW trên dòng chính sông Mekong phía đông bắc Cam Bốt sát ranh giới với Lào. Dự án này không chỉ sẽ tàn phá sinh cảnh các khu đất ngập được bảo vệ bởi Công ước Ramsar ký kết từ năm 1971, mà còn gây tác hại vô lường trên hai vùng châu thổ phì nhiêu Tonlé Sap và ĐBSCL. Đây là bài đầu tiên trong loạt 3 bài viết nhìn lại toàn cảnh cuộc hành trình gian truân của một dòng sông – Sông Mekong hơn nửa thế kỷ qua.      

*

MEKONG SẼ KHÔNG XÂY THÊM ĐẬP THUỶ ĐIỆN MỚI

Tổng Giám đốc Điện Lực Cam Bốt, Keo Rattanak đã nói với các phóng viên báo chí tại tòa nhà Hội đồng Bộ trưởng ở Phnom Penh ngày 8/8/2019.

Cam Bốt không có kế hoạch xây các đập thủy điện trên dòng chính Sông Mekong mặc dù vẫn để các nhóm nghiên cứu khảo sát tiềm năng của các dự án. Chúng tôi không bàn cãi về bất cứ đầu tư nào trong lãnh vực này,” Rattanak nói tiếp. “Như vậy, quý vị không phải quan tâm về vấn đề này. Chúng tôi sẽ cố gắng đáp ứng nhu cầu điện theo những phương thức khác.[1]

     Cam Bốt phải đối đầu với tình trạng thiếu điện trầm trọng, với các khu dân cư hàng ngày bị cúp điện cùng với giá điện tăng. Thủ tướng Hun Sen nói sẽ gửi ông Rattanak đi Thổ Nhĩ Kỳ mua một con tàu phát điện (Power ship 200 MW) để bù đắp. Chính phủ cũng cố gắng gia tăng sản xuất điện mặt trời để đáp ứng nhu cầu điện cho cư dân.

     Hem Odom, một chuyên viên tham vấn độc lập về nguồn năng lượng thiên nhiên, đã hoan nghênh phát biểu của ông Rattanak, với cảnh báo về một con đập dòng chính sông Mekong sẽ gây những tổn thất rộng lớn, với xói lở hai bên bờ sông, cạn kiệt nguồn cá cũng là nguồn protein trong bữa ăn hàng ngày của người dân Cam Bốt. Không phải chỉ có Cam Bốt, mà cả Việt Nam cũng bị ảnh hưởng. Thiếu nước từ thượng nguồn sông Mekong và từ Biển Hồ, nước mặn xâm nhập vào ĐBSCL sâu và xa hơn.”  

TIN TỐT ĐẸP CHO SÔNG MEKONG     

World Wildlife Fund (Quỹ Đời Sống Hoang Dã Thế giới)đã vui mừng khi nghe được bình luận mới đây của Ngài Keo Rattanak, Tổng Giám đốc Điện lực Cam Bốt, rằng ông không muốn thấy hai dự án thủy điện dòng chính sông Mekong Sambor và Stung Treng được có trong quy hoạch năng lượng từ nhiều nguồn / mix energy.

      Bình luận trên được phát trong chương trình truyền hình hội thảo “Tầm nhìn Năng lượng” ở Phnom Penh do Phòng Thương mại Hoa Kỳ tổ chức và được vui mừng đón nhận do giá trị vô hạn của một dòng chảy tự do trên sông Mekong đối với hàng triệu cư dân Cam Bốt đang sống phụ thuộc vào con sông, với lượng cá bắt được là nguồn protein chính của họ. 

      Sông Mekong là định hình địa lý của đất nước Cam Bốt. Chảy xuống từ biên giới Nam Lào, và cuối cùng thì đổ vào ĐBSCL của Việt Nam qua hai nhánh: sông Tiền, và sông Bassac – có tên là sông Hậu khi vào Việt Nam. Sông Mekong cũng là nguồn cá nước ngọt lớn nhất thế giới.  Vùng đất ngập Ramsar thuộc tỉnh Stung Treng cũng là nơi cư trú của các chủng loại cá vô cùng hiếm quý như Irrawaddy Dolphin và Pla Beuk chỉ có trên sông Mekong và đang có nguy cơ bị tuyệt chủng. 

      Cho tới hiện nay, khúc sông Mekong hạ lưu phía Nam Lào còn chảy tự do. Nếu Cam Bốt xây đập lớn ngăn chặn bất cứ ở khúc đoạn nào cũng sẽ gây những rối loạn về thủy học và hủy hoại của cả một hệ sinh thái không thể đảo nghịch, và cũng là thiết yếu cho sự sống còn của Biển Hồ với con sông Tonlé Sap chảy hai chiều theo mùa mỗi năm.

       Những dòng sông thoáng chảy đem tới những lợi ích quan trọng từ hệ sinh thái. Dòng sông bảo dưỡng nguồn cá nước ngọt bảo đảm an toàn lương thực cho hàng triệu cư dân, đem phù sa màu mỡ cho canh nông và cả ngăn ngừa tổn thất các cơ sở hạ tầng và đất đai do sạt lở. 

      Thay vì xây những con đập khổng lồ như Stung Treng và Sambor, Cam Bốt nên chú tâm tới nguồn năng lượng tái tạo bền vững như năng lượng mặt trời và điện gió. Những trại điện mặt trời có thể được xây dựng nhanh chóng, với giá thành rẻ hơn và tác động môi sinh rất ít. Trong khi những con đập thủy điện khổng lồ thì cực đắt và tốn kém, mà còn đưa tới hậu quả hủy hoại nguồn cá, sự đa dạng sinh học và đời sống cộng đồng. 

      Một dòng sông thoáng chảy sẽ giúp cho hàng triệu cư dân vốn sống phụ thuộc vào con sông ấy tiếp tục duy trì cuộc sống ổn định, với sự đa dạng sinh học của dòng sông, để phát triển lợi ích cho những thế hệ tương lai… Teak Seng, WWF Cambodia director

https://www.phnompenhpost.com/opinion/good-news-mekong

MỚI HAI NĂM MÀ ĐÃ BƯỚC QUA LỜI NGUYỀN

Dự án Đập Stung Treng 1.400 MW trên dòng chính sông Mekong đang  ngủ yên bấy lâu, thì nay 2022 lại được phục sinh (resurrection), khiến các cộng đồng cư dân trong lưu vực hết sức lo ngại, và cả giới bảo vệ môi sinh  vô cùng ngỡ ngàng.

Chỉ ba ngày trước khi bước sang năm 2022 (29/12/2021), Nhóm Hoàng Gia / Royal Group thuộc Tập đoàn (Conglomerate) tài phiệt lớn và thanh thế nhất của Cam Bốt đã viết thư cho chính phủ Phnom Penh xin phép cho họ được  nghiên cứu trong vòng 6 tháng tính khả thi (feasibility) của con đập thủy điện Stung Treng. Yêu cầu trên đã được Bộ trưởng Năng lượng và Hầm mỏ Cam Bốt chấp thuận, và tỉnh trưởng Stung Treng Svay Sam Eang cũng đã ra lệnh cho các giới lãnh đạo quận hạt hợp tác với Nhóm Nghiên cứu và Phát triển SBK được Nhóm Hoàng gia thuê mướn. [1]

Vị trí nghiên cứu để xây con đập thủy điện lớn nhất xứ Chùa Tháp nằm trên các vùng đất ngập (wetlands) tỉnh Stung Treng phía đông bắc Cam Bốt được bảo vệ bởi Công ước Ramsar 1971 – một Công ước mà chính Cam Bốt cũng đã đặt bút ký cam kết tuân thủ từ 1999.

Dự án thủy điện Stung Treng đã có từ năm 2007 nhưng đã phải khựng lại do bị các tổ chức bảo vệ môi sinh chỉ trích mạnh mẽ vì những tác động hủy hoại rộng lớn trên môi trường và cả sinh kế của người dân Cam Bốt.

Đến nay 2022, dự án ấy lại được Nhóm Hoàng Gia Cam Bốt phục hoạt – mà ai cũng biết Royal Group là một nhóm tài phiệt của chính quyền Phnom Penh, đã từng đứng sau dự án thủy điện Hạ Sesan-2 (Lower Sesan-2) trên một phụ lưu lớn nhất của sông Mekong đã từng gây tai tiếng trong các cộng đồng cư dân trong lưu vực.

Khu đất ngập Ramsar tỉnh Stung Treng chiếm một diện tích 14.600 hectares, trải dài 40 km lên tới phía bắc nơi con sông phụ lưu Sekong đổ  vào sông Mekong, ngay sát với biên giới Cam Bốt và Nam Lào. Đây cũng là sinh cảnh (habitats) cuối cùng còn sống được cho các loài cá hiếm quý và rất nhiều loài chim nước đang có nguy cơ tuyệt chủng.

VÙNG XÂY CON ĐẬP STUNG TRENG:

Năm 2007 nhóm Bureyagesstroy thuộc tập đoàn Thủy điện nhà nước Nga (RusHydro) tham gia cuộc nghiên cứu xây đập Stung Treng, nhưng chỉ hai năm sau, công ty Nga này bỏ cuộc. Và rồi Công ty quốc doanh Sông Đà của Việt Nam nhảy vào thay thế. Kết quả của các cuộc nghiên cứu ấy đã gây ra rất nhiều chỉ trích gay gắt nên dự án Stung Treng phải gác lại. [1]

Tới năm 2012, cuộc khảo sát của Viện Nghiên cứu và Phát triển Ngư nghiệp Nội đảo (Inland Fisheries Research and Development Institute)

thuộc Bộ Ngư nghiệp Cam Bốt nhận thấy con đập Stung Treng sẽ làm giảm lượng thủy  sản xuống tới 24% vào năm 2030. Và các nhà nghiên cứu đã cảnh báo con đập Stung Treng có thể gây tình trạng suy dinh dưỡng và ảnh hưởng tới sức khỏe của các cộng đồng cư dân nghèo.

Hình 1: trái, sơ đồ khu đất ngập trong tỉnh Stung Treng, nơi Nhóm Hoàng Gia dự trù sẽ xây con đập thủy điện 1.400 MW; phải: cảnh quan của vùng đất ngập Stung Treng. [nguồn: Gerald Flynn / Mongabay][1]

Tháng 10/2017 Thủ Tướng Hun Sen đã đến Stung Treng chủ trì lễ khánh thành đập thủy điện Hạ Sesan-2 công suất 400 MW với diện tích hồ chứa 340 km2 gần bằng nửa diện tích đảo quốc Singaporedo Công ty HydroLancang của Trung Quốc nắm 51% cổ phần, Nhóm Hoàng gia Cam Bốt 39% và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) 10%.

Con đập Hạ Sesan-2 được xem là tệ hại nhất: nó đe dọa sự sinh tồn của hơn 50 chủng loại cá và cũng làm giảm 9,3 % tổng sản lượng cá trong lưu vực [khoảng 200.000 tấn cá/ năm]. Ảnh hưởng tác hại môi sinh đó không chỉ trên lãnh thổ Cam Bốt mà lên xa tới Lào, Thái Lan và xuống tới ĐBSCL, được coi như vựa lúa của Việt Nam.

Năm 2021, Tổ chức Theo Dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) đã ấn hành một hồ sơ dày 137 trang gọi “Hạ Sesan-2 một thảm họa — Lower Sesan-2 a disaster” [1], lên án các nhà xây đập đã vi phạm nhân quyền, chà đạp các cộng đồng cư dân bản địa (indigenous peoples) và con đập đã hủy hoại nguồn cá trên sông Sesan một cách nghiêm trọng, cùng lúc là sự thất bại cả về mục tiêu của sản xuất điện. Chỉ có chính người dân Cam Bốt là phải trả một cái giá quá đắt!

Hình 2: Tưởng cần nói thêm là EVN / Electricity of Vietnam, Công Ty Điện Quốc Doanh Việt Nam cũng đã nhúng tay rất sâu vào dự án Hạ Sesan-2 này ngay từ những bước đầu.

Với những hậu quả tiêu cực đó khiến công ty xây đập Trung Quốc HydroLancang và Nhóm Hoàng Gia thân chính phủ Hun Sen và đã cố gắng tô vẽ sao cho tạo ra được một hình ảnh tích cực về con đập Hạ Sesan-2. Nhưng vẫn có một cơn bão chỉ trích từ các tổ chức NGOs bảo vệ môi sinh đồng loạt lên án dự án đập Hạ Sesan-2 do những than vãn của bao nhiêu chục ngàn cư dân đã phải di dời (resettlements), do hồ chứa đã làm ngập 30,000 mẫu đất vốn là những khu sinh sống trù phú yên ổn và hạnh phúc bấy lâu của bao nhiêu ngàn gia đình qua rất nhiều thế hệ.

Đã từng qua những trải nghiệm đắng cay từ con đập Hạ Sesan-2, nay cư dân sinh sống trong tỉnh Stung Treng đang vô cùng lo ngại khi thấy Nhóm Hoàng Gia trở lại và vẫn với toán Nghiên cứu và Phát triển SBK khảo sát địa chất (geological studies) cho con đập lớn 1.400 MW – thay vì hoãn lại cho tới năm 2030.

Mao Sareth, trưởng khu ngư nghiệp Koh Khan Din, là một nội đảo vùng phía nam khu đất ngập Ramsar, tỉnh Stung Treng đã phát biểu:

“Chúng tôi đã từng phản đối con đập Don Sahong của Lào vì biết rõ nó sẽ tác hại trực tiếp trên cuộc sống của chúng tôi. Nhưng rồi, những phản đối ấy cũng vô ích và chẳng thay đổi được gì. Con đập Don Sahong vẫn cứ hoàn tất. Rồi chúng tôi phản đối con đập Hạ Sesan-2 ngay trong lãnh thổ đất nước chúng tôi và rồi cũng vô ích thôi, con đập ấy vẫn hoàn tất, chỉ có chúng tôi là mất tất cả: mùa màng, thủy sản và sinh kế cuộc sống.”[1] 

Ian Baird, gốc Canada là một  tên tuổi rất quen thuộc, nhà hoạt động môi sinh, từng sống nhiều năm trên đất Lào, Cam Bốt và là chuyên gia bảo vệ nguồn cá sông Mekong, khi nghe nói về kế hoạch phục hoạt đập thuỷ điện Stung Treng 1.400 MW,  Ian Baird nhận định rằng con đập ấy sẽ là một đe dọa nghiêm trọng trên lưu vực sông Mekong.

“Công ước Ramsar quả thật là rất yếu, chính quyền vẫn có thể làm điều mà họ muốn, nhưng nếu so với Việt Nam và Lào, thìCam Bốt vẫn có quan tâm nhiều hơn tới phản ứng của cộng đồng quốc tế và với Công ước Ramsar. Đó là lý do mà năm 2020, Cam Bốt đã tuyên bố hoãn mọi kế hoạch thủy điện trong 10 năm 2020-2030.  Điều mà các quốc gia Mekong khác trong lưu vực không hề làm.

Hình 3: TS Ian Baird, Đại học Wisconsin, nhà hoạt động môi sinh, từng sống nhiều năm trên đất Lào, Cam Bốt và là chuyên gia bảo vệ nguồn cá sông Mekong. [Nguồn: Tom Fawthrop]

“Có rất nhiều lý do để phải quan tâm ở đây, nếu con đập Stung Treng vẫn cứ tiến hành. Con sông Mekong đang chết bởi hàng ngàn vết cắt / death by a thousand cuts. Tôi đã quan sát trong nhiều năm, và thật là buồn, nhưng nhưng liệu chúng ta sẽ làm được gì?”[1]

VẪN CÓ MỘT LỰA CHỌN TỐT HƠN

Trước một thực tế: Cam Bốt đang thiếu điện, mà giá điện thì rất cao, và thủy điện cũng không hề rẻ. Không những thế, 2 dự án đập dòng chính Stung Treng và Sambor sẽ có tác động hủy hoại môi sinh rất nghiêm trọng trên nguồn nước và nguồn cá trong lưu vực.

Câu hỏi đặt ra là liệu có một lựa chọn nào tốt hơn thủy điện cho đất nước Cam Bốt? Câu trả lời là có, KS Phạm Phan Long đã viết trên tạp chí chuyên ngành PV Magazine (03/12/2019) về tiềm năng điện mặt trời nổi (FSS / floating solar system) của Biển Hồ có thể lên tới 28 GW (tức là 28.000 MW), tức là gấp 20 lần công suất con đập Stung Treng (1.400 MW), với giá thành cho kwh rẻ hơn, không kể cái giá môi sinh phải trả với thủy điện.Dự án FSS này có thể được thực hiện qua nhiều giai đoạn trên một phần mặt Biển Hồ với một mạng lưới tải điện thông minh (smart grid)  sẽ có khả năng giải quyết nhu cầu năng lượng điện sạch, là một ưu điểm với “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” – một ưu đãi thiên nhiên mà đất nước Cam Bốt có được. [3]

Sáng kiến dự án mặt trời nổi khác trên hồ chứa đập thủy điện phụ lưu Nam Ngum, KS Phạm Phan Long đề xuất công bố trên PV Magazine 01/11/2019 nay đang trở thành một hiện thực qua bản tin của Laotian Times ngày 20/02/2020: “chính phủ Lào đã ký kết với công ty Trung Quốc Hangzhou Safefound Technology để xây dựng giàn điện mặt trời nổi 1.200 MW trên mặt hồ đập Nam Ngum-1 khi hoàn thành có thể coi như lớn nhất thế giới.”

Nếu Phnom Penh cũng như Lào –  quyết tâm thực hiện dự án mặt trời trên Biển Hồ, thì 2 con đập Stung Treng và Sambor sẽ vĩnh viễn không cần thiết, mà FSS còn bảo đảm sinh kế cho hơn 30 triệu cư dân sống trong hai vùng châu thổ Tonlé Sap và ĐBSCL Việt Nam. Nhưng đến bao giờ?

KHỞI ĐẦU CHO MỘT KẾT THÚC: MỘT NHÌN LẠI

Sự kiện Phnom Penh bước qua lời nguyền, cho phục sinh dự án đập Stung Treng 1.400 MW, sẽ  là con đập dòng chính đầu tiên và lớn nhất trên sông Tonle Thom (tên Khmer của con sông Mekong) trong lãnh thổ Cam Bốt, như một hồi chuông báo động cho giới bảo vệ môi sinh, họ coinhư đây là bước “khởi đầu cho một kết thúc” đối với hệ sinh thái trong Lưu Vực Dưới sông Mekong (Lower Mekong Basin).  

Đây cũng chính là lúc để chúng ta ÔN CỐ TRI TÂN,  nhìn lại cuộc hành trình gian truân hơn nửa thế kỷ của một dòng sông, là mạch sống (lifeline) của hơn 70 triệu cư dân sống ven sông trong lưu vực.

NHỮNG CON ĐẬP LANCANG-MEKONG

Vậy mà đã 65 năm từ khi Liên Hiệp Quốc khai sinh Ủy Ban Sông Mekong 1957 (Mekong River Committee) cùng với các dự án đập thủy điện trên sông Mekong đã có rất sớm, nhưng rồi các dự án ấy bị gác lại do cuộc chiến tranh Việt Nam kéo dài và lan ra cả 3 nước Đông Dương, sau chiến tranh thì là mối e ngại về tác hại  rộng rãi của các con đập ấy trên môi sinh.

Có thể nói, trước thập niên 1970, Mekong vẫn còn là một con sông hùng vĩ và hoang dã, lớn thứ ba Châu Á, chảy qua 7 quốc gia kể cả quốc gia Tây Tạng* (Tây Tạng về phương diện địa dư chính trị, bấy lâu người viết vẫn ghi nhận như một quốc gia cho dù đang bị Trung Quốc xâm chiếm), với nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon Nam Mỹ.

Với chiều dài 4.800 km, Mekong là con sông lớn thứ 11 của thế giới,  
với tiềm năng thủy điện khoảng 60.000 MW, chia ra như sau:

_ 28.930 MW cho Lưu Vực Trên sông Mekong (Upper Mekong Basin) hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Trung Quốc;

_ 30.000 MW cho Lưu Vực Dưới (Lower Mekong Basin) nằm ngoài lãnh thổ Trung Quốc, chảy qua 5 quốc gia Myanmar, Lào, Thái Lan, Cambodia  và Việt Nam.

Nhưng cho tới nay, do nhu cầu năng lượng điện ngày càng gia tăng cho phát triển, con sông Mekong ấy đã và  đang bị hàng ngàn “vết cắt” do vô số những con đập thủy điện trên dòng chính và khắp các phụ lưu, từ bắc xuống nam với một chuỗi những hậu quả tiêu cực như sau:

1/ _ Các Hồ Chứa Thủy Điện Giữ Lại Hơn 75 tỉ m3 Nước:

Kỹ sư Phạm Phan Long, Viet Ecology Foundation – người đã theo dõi và lên tiếng bảo vệ sông Mekong rất sớm từ thập niên 1990, đã làm một kết toán về dung tích tổng cộng (total storage) chuỗi hồ chứa đập thủy điện hiện nay – kể cả các hồ chứa đập phụ lưu (tributary dam reservoir) trong lưu vực sông Mekong với kết quả là: tổng số dung tích lên tới 75 tỉ mét khối (m3),chiếm 16% lưu lượng trung bình hàng năm của sông Mekong,[2] lượng nước lưu trữ và tỉ lệ so với từng nước góp vào sông Mekong như sau:

_ Trung Quốc chiếm phần lớn nhất 43 tỉ mét khối (56%),

_ Lào 25 tỉ mét khối (15%),

_ Thái Lan 5 tỉ mét khối (6%)

_ Cam Bốt 1.8 tỉ mét khối (2%)

_ Việt Nam chỉ có 1 tỉ mét khối (1.5%).

Hình 4a (trái), những đập thủy điện dòng chính Sông Mekong: 11 con đập trên sông Lancang-Mekong Vân Nam, TQ đã lưu trữ 43 tỉ m3 nước, sản xuất 21.300 MW điện; riêng Lào đang hiện thực giấc mơ trở thành “Bình điện Á Châu / Asia’s Battery”, với 9 đập thủy điện dòng chính và vô số đập phụ lưu. Lào cũng lưu trữ 25 tỉ m3 nước. Riêng con đập Luang Prabang 1.410 MW do công ty quốc doanh PetroVietnam là chủ đầu tư.  [nguồn: Michael Buckley, Ngô Thế Vinh cập nhật và ghi chú].
Hình 4b (phải), vùng xám là Lưu Vực Lớn Sông Mekong [GMS / Greater Mekong Subregion] diện tích: 795.000 km2, chiều dài chính: 4.400 km, dòng chảy trung bình: 15.000 m3 /giây. [nguồn: MRC Secretariat 2000].

Không phải chỉ có lượng nước, còn thêm các yếu tố quan trọng hơn nữa là phương thức vận hành (operation) và điều tiết (regulation) của các con đập ấy. Do lấy nước vào các hồ chứa trong mùa mưa nên đã làm suy yếu dòng chảy của con sông Mekong, triệt tiêu sức mạnh của nhịp lũ (flood pulse), để tạo được dòng chảy ngược (reverse flow) trên con sông Tonlé Sap đưa nước vào Biển Hồ, vốn là  một hồ chứa nước ngọt thiên nhiên lớn nhất thế giới – như một trái tim điều hòa và tiếp máu cho hai vùng châu thổ Tonlé Sap của Cambodia và ĐBSCL Việt Nam. [2]

Với hậu quả nhãn tiền là: thời điểm con sông Tonlé Sap chảy ngược vào Biển Hồ không những đến trễ hơn 3 tháng (2019) và cũng chấm dứt sớm hơn, chỉ còn có 3 tháng thay vì 5 tháng như trước đây. Rừng lũ / floodforest thiếu lũ và cá không đủ thời gian để vào đẻ trứng và tăng trưởng… Cho nên các mùa thu hoạch cá chưa bao giờ thấp đến như vậy.

Hình 5: (1) Thời kỳ trước đập (Pre-Dam Period): Diện tích Biển Hồ co giãn theo hai mùa Mưa Nắng: Mùa Khô (trái) là hồ cạn chỉ với diện tích 2.500 km2; Mùa Mưa (phải), từ tháng 5 đến tháng 9, do nước sông Mekong dũng mãnh đổ về, con sông Tonlé Sap đổi chiều, chảy ngược vào Biển Hồ làm nước hồ dâng cao hơn từ 8 tới 10 mét và tràn bờ và làm ngập các khu Rừng Lũ / flooded forest, diện tích Biển Hồ tăng gấp 5 lần hơn, khoảng 12.000 km2. (2) Thời kỳ sau đập (Post-Dam Period): do các hồ chứa thượng nguồn lấy nước vào mùa mưa, lưu lượng dưới nguồn bị giảm mạnh, sông Mekong mất nhịp lũ / flood  pulse, khiến cho con sông Tonlé Sap không còn duy trì được dòng chảy ngược, Biển Hồ thiếu nước, thiếu phù sa, thiếu cá – được ví như một trái tim thiếu máu… ảnh hưởng tới hàng triệu cư dân sống trên hai vùng châu thổ Tonlé Sap và ĐBSCL. [nguồn: bản đồ Tom Fawthrop; ghi chú Ngô Thế Vinh].

Từ 15 năm qua diện tích Biển Hồ ngày càng bị thu hẹp; ước tính lượng nước từ sông Mekong thượng (upper Mekong) đổ vào Biển Hồ đã giảm mất 30 tỉ m3/ năm – ảnh hưởng trầm trọng tới nguồn nước, nguồn cá  và cả thiếu phù sa là nguồn phân bón thiên nhiên thiết yếu cho đất đai  nông nghiệp.

Ngày Hội Nước Sẽ Trở Thành Quá Khứ: Không biết từ bao lâu rồi, Lễ Hội Nước Bon Om Tuk có lẽ có từ thời vua Jayavarman VII thế kỷ thứ XII, người có công xây dựng khu đền đài Angkor như một kỳ quan của thế giới, và từ đó cứ hàng năm, khi vừa hết Mùa Mưa, mực nước sông Mekong bắt đầu ổn định và con sông Tonlé Sap lại chảy xuôi dòng đem theo vô số tôm cá từ Biển Hồ đổ vào các nhánh sông Mekong, xuống xa tới ĐBSCL. Đây cũng là thời điểm của Ngày Hội Nước được tính theo tuần trăng vào khoảng tháng 11 diễn ra trước Hoàng Cung, nơi bốn nhánh sông Mekong hội tụ, khu mà người Pháp gọi là Quatre Bras*. Trong dịp lễ hội này, vua và hoàng hậu tới đây chung vui với thần dân, và “Khai Mùa” cho ngư dân đánh cá, cho nông dân bắt đầu mùa gieo trồng.

[*Quatre Bras, tiếng Pháp là bốn cánh tay, tên Khmer là Chatomuk, là nơi hội tụ của 4 nhánh sông: nhánh thứ nhất từ thượng nguồn là sông Mekong Thượng (1), tới Phnom Penh chia làm hai nhánh: Mekong Hạ (2) và sông Bassac (3) là cánh tay thứ hai và thứ ba, cũng là sông Tiền và sông Hậu khi chảy vào Việt Nam, còn cánh tay thứ tư là con sông nước ngọt Tonlé Sap (4) bắt nguồn từ Biển Hồ. Đây cũng là nơi diễn ra Ngày Hội Nước Bon Om Tuk vào khoảng tháng 11 hàng năm trước Hoàng Cung.]

Nhưng rồi những năm gần đây, theo tin báo Phnom Penh Post [31/10/2015] TT Hun Sen một lần nữa đã phải ký sắc lệnh huỷ bỏ ngày Lễ Hội Nước dự trù tổ chức vào ngày 24 tới 26 tháng 11 “do mực nước sông quá thấp và tình trạng hạn hán mà Vương quốc Cam Bốt đang phải đối đầu.” Đây là lần thứ tư trong vòng 5 năm chính phủ Hun Sen đã phải hủy bỏ Lễ Hội Nước truyền thống hàng năm, thường tụ hội hàng mấy trăm ngàn người đổ về thủ đô Nam Vang để tham dự lễ hội đua thuyền trên sông Tonlé Sap.  

Như một nhịp điệu có từ ngàn năm, với con Sông Tonlé Sap chảy hai chiều một hiện tượng thiên nhiên được coi như kỳ quan của thế giới, rồi ra sẽ không còn nữa và trở thành truyện cổ tích cho các thế hệ mai sau của đất nước Khmer.   

2/ _ Các Hồ Chứa Cắt Giảm Hơn 65% Lượng Phù Sa:

Trước năm 1992 khi chưa có nhiều thủy điện, trung bình hàng năm qua hai nhánh sông Tiền và sông Hậu, sông Mekong  đổ ra Biển Đông 166.7 Mt/ năm phù sa  ((Mt/ Megatone: triệu tấn)), từ năm 1993 do các hồ chứa trên thượng nguồn đã chắn giữ lại một số lượng lớn phù sa, tới thời điểm 2020, lượng phù sa ấy đã giảm xuống chỉ còn 57.6 Mt/ năm, giảm 65%và tới năm 2040 có lẽ sẽ không còn lượng phù sa đáng kể nào từ con sông Mekong đổ ra biển.[4]

Tình trạng ngăn chặn phù sa trong các hồ chứa không chỉ  làm mất nguồn dinh dưỡng cho đất; dòng chảy “đói phù sa” (hungry water) còn gây ra  “một tiến trình đảo ngược”, thay vì vùng châu thổ ĐBSCL được bồi đắp thêm đất thì nay dòng chảy lại nạo vét sỏi cát phù sa dưới lòng sông (riverbed incision), gây xói mòn sạt lở suốt dọc hai bên bờ sông và cả các vùng đất duyên hải. Hậu quả là một ĐBSCL đang mất đất, và mũi Cà Mau thì đang bị cắt lẹm mỗi năm. Theo ước tính của TS Lê Anh Tuấn, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu Đại học Cần Thơ thì mỗi năm ĐBSCL đã mất đi hơn 600 hectares đất do sạt lở. Và do không có dòng chảy mạnh với phù sa để chắn sóng, khiến nước biển ngày càng lấn sâu và xa thêm vào trong đất liền.   

3/ _ Lượng Nước Quan Trọng Từ Các Phụ Lưu Sông Mekong

Nước sông Mekong không chỉ từ nguồn tuyết tan trên Cao nguyên Tây Tạng, mà phần nước từ các phụ lưu đổ vào cũng rất quan trọng. Theo tường trình từ Ủy Hội Sông Mekong (MRC) thì tỉ lệ trung bình hàng năm phần góp nước từ các phụ lưu theo mỗi quốc gia như sau:

Trung Quốc 16%, Lào là lớn nhất 35%, rồi tới Thái Lan 18%, Cambodia 18%, Việt Nam 11%, Myanmar là ít nhất 2%.

Mối Hiểm Nguy Mạng Lưới Đập Phụ Lưu: Nam Ngum 150 MW có thể được xem là con đập thủy điện phụ lưu đầu tiên của Lào và được hoàn tất rất sớm 1971 giữa giông bão của cuộc chiến tranh Việt Nam.

Trước khi Lào và Cambodia có kế hoạch thực hiện dự án 12 con đập dòng chính hạ lưu, thì Lào, Cambodia, Việt Nam, Thái Lan đã và đang liên tục xây những đập phụ lưu. Thái Lan với đập Pak Mun 136 MW (1994) trên sông Mun, Việt Nam với con đập Yali Falls 720 MW (1996) cùng với các con đập phụ lưu khác trên sông Sesan và Seprok trên Cao nguyên Trung phần, Lào thì từ sau con đập Nam Ngum (1971), đã xây thêm nhiều con đập phụ lưu khác như: Nam Theun-Hinboun 210 MW trung Lào, Nam Leuk 60 MW trong vùng Bảo tồn Sinh thái tỉnh Vạn Tượng, Nam Theun 2 lớn nhất 900 MW trung Lào, Houay Ho 150 MW giữa hai tỉnh Champassak và Attapeu nam Lào, Xe Pian-Xe Namnoy 438 MW trên cao nguyên Bolovens đông nam Lào, Xe Kaman 1.468 MW tỉnh Attapeu cực đông nam.

Việt Nam tuy đứng hàng thứ 5 trong 6 nước, nhưng cũng đã xây những  đập thủy điện trên khắp các phụ lưu sông Mekong trên Cao nguyên Trung phần; Việt Nam còn là một thành viên đầu tư vào dự án Mekong của Lào và Cam Bốt như vậy, Việt Nam không phải là hoàn toàn vô can, “bàn tay cũng đã tự nguyện nhúng chàm” góp phần trực tiếp gây biến đổi lưu lượng và cả sút giảm phù sa trên dòng chính con sông Mekong. Cùng với các con đập dòng chính Mekong, mạng lưới những con đập phụ lưu cũng có ảnh hưởng tích lũy đáng kể đối với tình trạng dòng chảy, lượng phù sa và nguồn cá lưu vực sông Mekong.

Hình 6: Nam Ngum, con đập phụ lưu đầu tiên của Lào, biểu ngữ giăng ngang con đập đánh dấu 25 năm thống nhất nước Lào. Hiện đang có một dự án độ phá trên mặt hồ đập Nam Ngum-1, xây dựng giàn điện mặt trời nổi 1.200 MW nếu hoàn thành sớm có thể coi như lớn nhất thế giới.”  [nguồn: photo by Ngô Thế Vinh 2000] 

Đập Phụ Lưu Hạ Sesan-2: Cùng với các con đập dòng chính Mekong, mạng lưới những con đập phụ lưu – điển hình là con đập phụ lưu Hạ Sesan 2 (Lower Sesan 2) đã có ảnh hưởng tích lũy đáng kể đối với tình trạng dòng chảy, lượng phù sa và nguồn cá lưu vực sông Mekong.

Con đập phụ lưu Hạ Sesan 2 gây ảnh hưởng nghiêm trọng hơn cả do nằm dưới điểm hợp lưu của hai con sông Sesan và Srepok. 3S là tên hệ thống 3 con sông phụ lưu lớn sông Mekong: Sekong, Sesan, Srepok cùng đổ vào dòng chính sông Mekong nơi tỉnh Stung Treng, đông bắc Cam Bốt. Đập Hạ Sesan 2 với chiều cao 75 m, diện tích hồ chứa 340 km2 (gần bằng nửa diện tích đảo quốc Singapore), công suất 400 MW. Điện Lực Việt Nam (EVN/ Electricity of Vietnam) đã góp 10% cổ phần trong số 816 triệu MK, phần còn lại là của Nhóm Hoàng Gia Cam Bốt (Cambodia’s Royal Group) và Công ty Năng lượng Lan Thương Trung Quốc (HydroLangcang International Energy Co., Ltd). Lại vẫn Trung Quốc, ngoài chuỗi đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam, nay cánh tay TQ nối dài xuống xa tới cả những con đập phụ lưu hạ nguồn. 

Hình 7: Mạng Lưới 3S, ba sông phụ lưu: Sekong, Sesan, Srepok
cùng hội tụ đổ vào dòng chính sông Mekong [nguồn: Decarboni] 
Hình 8: Công ty quốc doanh Điện Lực Việt Nam (EVN / Electricity of Vietnam) cũng chung sức xây đập thuỷ điện Hạ Sesan 2 như hành động cầm súng bắn vào chân mình [nguồn: Decarboni]

Cư dân Cam Bốt sống trong vùng xây đập Hạ Sesan 2 đã cùng với Nhóm Bảo vệ 3 Dòng Sông (3S Rivers Protection Network), đã viết thư lên Quốc Hội Cam Bốt phản đối con đập, và họ cũng kéo nhau lên tới thủ đô Phnom Penh biểu tình tạo áp lực nhưng đã không đưa tới một kết quả nào.

Trước những tác hại hiển nhiên của con đập Hạ Sesan 2 trên ĐBSCL: biến đổi dòng chảy, mất nguồn nước, mất nguồn phù sa và cá… Việt Nam không những đã không có tiếng nói ngăn chặn phản đối mà còn góp vốn cho Cam Bốt thực hiện dự án tai hại ấy, có thể ví như một hành động cầm súng tự bắn vào chân mình / shoot oneself in the foot.

Nguồn Nước Sông Mekong Theo Mùa: nếu tính theo mùa, thì vào mùa khô do tuyết tan nhiều hơn trên Cao nguyên Tây Tạng, lượng nước từ khúc sông Lancang-Mekong Vân Nam đổ qua Lào xuống tới Vạn Tượng chiếm tới 80%, và xuống tới tỉnh Kratié đông bắc Cambodia là tới 40%. [2]

Khi Trung Quốc hoàn tất 11 con đập dòng chính trên khúc sông Lancang-Mekong, và chỉ riêng với hai con đập lớn nhất như hai con khủng long Nọa Trác Độ (Nuozhadu, 2014) 5.850 MW với hồ chứa lớn nhất và Tiểu Loan (Xiaowan, 2010) 4.200 MW là con đập cao nhất – theo Fred Pearce, Đại học Yale, thì “sông Mekong đã trở thành “tháp nước và nhà máy phát điện của Trung Quốc”. Philip Hirsch, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu sông Mekong Đại học Sydney đưa ra nhận định “Hai con đập Nọa Trác Độ và Tiểu Loan sẽ ảnh hưởng trên suốt dòng chảy của con sông Mekong xuống tới tận ĐBSCL của Việt Nam.”

Không thể không kể tới những yếu tố hủy hoại khác từ Trung Quốc: phá những khu rừng nguyên sinh (deforestation); dùng chất nổ dynamite khai thông các khúc sông ghềnh thác, vốn là sinh cảnh (habitats) thiết yếu của các loài cá, ảnh hưởng nghiêm trọng trên sự cân bằng thủy học, gây sụp lở bờ sông cùng phá hủy các loại hoa màu trồng ven sông, với mục đích chỉ để mở rộng lòng sông cho các con tàu lớn Trung Quốc dễ dàng đi xuống phương nam.

Với hơn 40 tỉ mét khối nước dự trữ trong các hồ chứa khổng lồ Vân Nam, Trung Quốc có trong tay thứ “vũ khí nước” đầy quyền lực để giáng cho các nước nhỏ Mekong “những bài học”. Và trong thầm lặng, Trung Quốc đã phát động một “cuộc chiến môi sinh” mà không cần tuyên chiến.

VẪN MỘT ĐIỆP KHÚC NGỤY BIỆN CỦA TRUNG QUỐC

Ngay từ thập niên 1990, khi chỉ mới có con đập dòng chính đầu tiên Mạn Loan (Manwan) 1.500 MW (1993), trong suốt bao nhiêu năm sau đó, như một điệp khúc, các học giả Trung Quốc luôn luôn ngụy biện cho rằng: “Các con đập thủy điện Vân Nam đã giúp tăng dòng chảy trong mùa khô làm giảm hạn nơi các quốc gia hạ nguồn, như vậy các con đập Trung Quốc chỉ có lợi !” [sic]

Đã thế, mà vẫn có những vị khoa bảng người Việt, cũng chỉ dựa trên lý luận thô thiển ấy với con số 16% lưu lượng trung bình/ năm từ khúc sông Lancang-Mekong Vân Nam để bảo rằng tác hại của chuỗi đập thuỷ điện bậc thềm Vân Nam / Mekong Cascades là không đang kể và đừng có đổ lỗi cho Trung Quốc!  [sic] KS Phạm Phan Long, trong một bài viết trên VOA, đã nhận định: “Do Biến đổi Khí Hậu, mưa ít dần nơi lưu vực trên là có thật, nhưng hạn hán tới sớm hơn và khắc nghiệt hơn khi thiếu mưa là do trữ nước vào các hồ chứa thủy điện, chính chúng có khả năng gây ra hạn hán cả khi có mưa, chưa kể vào những năm ít mưa, lại vẫn tích trữ nước gây hạn hán càng thêm kinh khủng.

Hình 9a: Mạn Loan (Manwan) 1.500 MW, là con đập lịch sử, con đập thủy điện dòng chính đầu tiên (1993) trên sông Lancang-Mekong, Vân Nam. Ngô Thế Vinh 09/2002 đứng bên chân con đập Manwan. Hàng chữ Hán phía trên đập: Mạn Loan Điện Xưởng 漫湾电厂 . [tư liệu Ngô Thế Vinh, Việt Ecology Foundation]
Hình 9b: Nọa Trác Độ (Nuozhadu) 5.850 MW, con đập dòng chính lớn nhất (2014) trên sông Lancang-Mekong, Vân Nam. Hàng chữ đỏ bên trái: “Hoa Năng Nọa Trát Độ thủy điện trạm” [Trạm thủy điện Nọa Trát Độ của công ty Hoa Năng / Huaneng Power International, Ltd.”]; Hàng chữ trắng bên phải tấm hình: “Năng nguyên vu thủy — Hữu dung nãi đại” (Khả năng bắt nguồn từ nước — Có sức chứa sẽ thành lớn). [photo by Ying Qiu, International River]

Và như đã phân tích, chuỗi tác hại không đơn giản chỉ có yếu tố nước, [mà nguồn nước ấy cũng rất “bất trắc” do Trung Quốc “tùy tiện” xả ra trong mùa khô từ các con đập thượng nguồn], mà còn phải kể tới những yếu tố “sinh tử” khác như: (1) phá vỡ chu kỳ dòng chảy thiên nhiên của con sông Mekong, (2) triệt tiêu nhịp lũ – flood pulse trong mùa mưa khiến không còn dòng chảy ngược trên con sông Tonlé Sap tiếp nước cho Biển Hồ — cũng là trái tim tiếp máu cho hai vùng châu thổ Tonlé Sap và ĐBSCL, (3) làm mất nguồn phù sa, mất nguồn dinh dưỡng cho đất canh tác, gây sạt lở hai bên bờ sông và cả vùng duyên hải khiến mất đất và diện tích  vùng châu thổ ĐBSCL ngày một teo quắt lại, (4) lưu lượng hàng năm trên 2 con sông Tiền sông Hậu ngày một xuống thấp, dòng chảy không còn phù sa tỷ trọng thấp khi đổ ra Biển Đông rất yếu, không có khả năng chắn sóng khiến nạn ngập mặn ngày càng lấn sâu và lấn xa vào vùng châu thổ… Chưa kể tới yếu tố kép: đất lún do lạm dụng khai thác các tầng nước ngầm. Theo Thạc sĩ Nguyễn Hữu Thiện, tốt nghiệp Đại học Wisconsin, một  chuyên gia sinh thái vùng đất ngập (wetlands) đã đưa ra những con số báo động (2017): “Nông thôn vùng sông nước Cửu Long bây giờ toàn xài nước ngầm; có khoảng 1 triệu giếng khoan mỗi ngày rút lên 2 triệu m3/ngày, dùng cho sinh hoạt đủ thứ, vậy nên ĐBSCL đang bị sụt lún nhanh gấp 10 lần nước biển dâng do biến đổi khí hậu.” 

Tới tháng 3/2022, theo Tổng Cục Thủy Lợi, việc khai thác nước ngầm nơi ĐBSCL đã tăng lên với 2 triệu giếng khoan, mỗi ngày rút lên 2,5 triệu m3/ngày, và 40% lượng nước ngầm ấy phục vụ cho sinh hoạt, phần còn lại cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.[5]

Từ sau 1975, những dự án trọng điểm của nhà nước CS Việt Nam được cổ xuý là để “cải tạo” ĐBSCL, nhưng thực tế đã chứng minh là gây tác hại nhiều hơn. Đó là những hủy hoại mang tính tích lũy. Và kết luận dễ dàng nhất để rũ bỏ mọi trách nhiệm là đổ lỗi cho Mẹ Thiên nhiên, cho Biến đổi Khí hậumà không kể tới một những hậu quả tích lũy của những yếu tố nhân tai, do chính con người gây ra do sự vô cảm và chạy theo các nhóm lợi ích của giới cầm quyền Hà Nội.   

Hình 10: Với hơn 600 km bờ sông các tỉnh Miền Tây đang bị sạt lở; hình trái, Sông Hậu tỉnh An Giang với nhiều khúc bờ sông bị sạt lở do nhiều yếu tố nhân tai: mất lượng phù sa do hồ chứa nơi những con đập thủy điện thượng nguồn, nạn phá rừng, nạo vét lòng sông khắp nơi để khai thác cát. [VN Express 15.05.2017]; hình phải, bờ Sông Hậu sạt lở nơi huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. [photo by PanNature VN 2009]

Người dân Việt Nam đang phải chứng kiến một kịch bản ảm đạm, như một cuốn phim quay chậm, một Đồng Bằng Sông Cửu Long còn rất non trẻ đang  từ từ tan rã – cùng với cả một nền Văn Minh Miệt Vườn cũng chỉ mới hơn 300 năm tuổi”.  

NGÔ THẾ VINH

Columbus Day, 10/10/2022

Tham khảo:

1/ Cambodian Mega Dam’s Resurrection on the Mekong “The Beginning of the End”. Gerald Flynn, Nehru Pry,15 Sept. 2022

2/  Thủy Điện Lancang-Mekong gây khát nước và đói phù sa cho Đồng Bằng Sông Cửu Long cách nào?  Phạm Phan Long, PE., Viet Ecology Foundation, 20.03.2020 http://vietecology.org/article/article/2382

3/ Mặt Trời Trên Biển Hồ Cứu Dòng Mekong. Phạm Phan Long, PE, Viet Ecology Foundation, 15.12.2019 http://vietecology.org/article/article/1351

4/ Effects of riverbed incision on the hydrology of the Vietnamese Mekong Delta. Doan Van Binh, et al. First published: 02 January 2021, https://doi.org/10.1002/hyp.14030

5/ Vũ Khí Giải Cứu Sông Mekong: Chất Xám và Tiếng Nói. Phóng viên Môi sinh Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị phỏng vấn BS Ngô Thế Vinh 25/04/2016.

6/ Ứng phó sụt lún đất ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Tổng Cục Thuỷ Lợi 13/03/2022. http://www.tongcucthuyloi.gov.vn/tin-tong-hop/ung-pho-sut-lun-dat-o-vung-dong-bang-6260