"Bức tranh" dịch tễ học về dịch Vũ Hán ở Việt Nam

Một trong những sự ‘trống vắng’ lớn nhứt của dịch Vũ Hán ở VN là số liệu. Chúng ta không biết đặc điểm những ca nhiễm ra sao. Đa số các chuyên gia và báo chí chỉ nói trên bề mặt và chung chung, chớ không có bức tranh chuyên sâu. May mắn thay, tôi đã thu thập được dữ liệu cho từng cá nhân, và có thể cung cấp một ‘bức tranh’ chung để các bạn quan tâm tham khảo.

Dữ liệu

Trong mùa dịch, bất cứ dịch bệnh nào, dữ liệu thực tế đóng vai trò rất quan trọng. Dữ liệu thực tế có thể giúp chúng ta ước tính được qui mô của dịch, hoặc mô phỏng và dự báo cho tương lai. Dữ liệu còn cung cấp cho chúng ta những thông tin về bệnh nhân như họ là ai, đến từ đâu, bao nhiêu tuổi, v.v. Ở nước ngoài, các cơ quan như Bộ Y tế và các trung tâm nghiên cứu thì cung cấp dữ liệu rất tốt, giúp cho các chuyên gia có thể đóng góp vào việc kiểm soát dịch. Chẳng hạn như ở Úc, trong điều kiện làm việc từ nhà (WFH), họ huy động các chuyên gia dịch tễ học có kinh nghiệm về mô hình để cùng nhau làm việc, giúp cho chánh phủ một tay về dự báo. Tôi cũng có tham gia vào dự án này, giúp được vài việc, và thấy rất hay. Còn ở Việt Nam, vào các trang web của cơ quan Nhà nước thì hầu như không có những dữ liệu này. Còn số liệu trên trang của ĐH Johns Hopkins thì không có cho mỗi bệnh nhân.

Nhưng may mắn thay, tôi đã có một số dữ liệu về tình hình dịch Vũ Hán ở Việt Nam. Dữ liệu này thật ra là thu thập qua trang wikipedia do ai đó làm [1]. Xin cám ơn các bạn. Chỉ có điều cách nhập dữ liệu của các bạn này rất ư là bất lợi cho phân tích. Thành ra, tôi phải mất khá nhiều thì giờ để ‘curate’ các dữ liệu này vào một format có thể phân tích được.

Dữ liệu này bao gồm các thông tin như ngày nhiễm, giới tính, tuổi, quốc tịch, đã từng đến Tàu hay không, từ nước ngoài về hay trong nước, và tình trạng điều trị. Tính đến hôm nay, dữ liệu đã có cho 194 ca nhiễm. Tôi đã làm thử một phân tích mô tả để trước là thỏa chí tò mò của tôi, và sau là chia sẻ đến các bạn quan tâm.

Kết quả phân tích. Một vài nét chánh về kết quả phân tích có thể tóm tắt như sau:

Hình 1: Phân bố độ tuổi của 194 bệnh nhân nhiễm virus Vũ Hán ở VN (tính đến ngày 30/3/2020). Tuổi trung vị là 29. Chỉ có 11% (20 / 186) người có tuổi từ 60 hay cao hơn.

Giới tính

Khoảng 53% (103 / 193) bệnh nhân là nữ. Điều này hơi khác so với bệnh nhân ở Vũ Hán: trong số 44672 người bị nhiễm,49% là nữ. Tuy nhiên, vì con số nhiễm ở VN còn thấp, nên ước tính về phân bố giới tính có thể không ổn định.

Tuổi

Tính trung bình, tuổi của các 186 bệnh nhân có số liệu (8 người mất số liệu) là 35. Phân nửa bệnh nhân có tuổi 29 hoặc thấp hơn. Không có sự khác biệt về độ tuổi giữa nam và nữ (xem Hình 1). Chỉ có 11% (20 / 186) người có tuổi từ 60 hay cao hơn. Tuổi trung bình ở bệnh nhân bên Đức là 43, và Ý là 63. Do đó, bệnh nhân COVID-19 ở Việt Nam tương đối trẻ hơn so với nước ngoài.

Quốc tịch

Trong số 194 bệnh nhân, có 23% (n = 44 người) có quốc tịch nước ngoài. Đa số người nước ngoài là Anh (17 người), Mĩ (5), và Pháp (5). Nhưng cũng có vài người đến từ hay có quốc tịch Ba Tây, Canada, Tàu, Đan Mạch, Đức, Ái Nhĩ Lan, Latvia, Nam Phi, Mễ Tây Cơ và Tiệp (Hình 2).

Hình 2: Biểu đồ phân bố số bệnh nhân nhiễm dịch Vũ Hán ở VN tính theo quốc tịch. Có 23% bệnh nhân là người nước ngoài; đa số 77% là người Việt.

Nguồn bệnh

Trong số 190 ca có thể xác định, có 122 ca (64%) là từ nước ngoài. Trong số 150 người có quốct ích Việt Nam, 59% là bệnh ‘mang’ từ nước ngoài về. Tính chung, chỉ có 9 người (tức ~5%) từng ghé qua Tàu.

Tình trạng điều trị

Số liệu tính đến nay cho thấy có 24 người (tức 12%) đã được xuất viện; số còn lại 88% vẫn còn đang được điều trị. Điều thú vị là nữ bệnh nhân có tỉ lệ xuất viện cao hơn nam (16% so với 9%); tuy nhiên vì số còn ít nên khó nói đây là khác biệt có ý nghĩa hay không. Rất tiếc, chúng ta không biết được thời gian được điều trị là bao lâu.

Việt Nam đã mất bao nhiều tiền cho những bệnh nhân này? Chưa có câu trả lời, nhưng chúng ta có thể tính số ngày họ được điều trị (hay cách li?) Nếu chỉ tính số còn đang được điều trị thì tổng số ngày điều trị đến nay là 1541 ngày. Thời gian trung vị điều trị cho đến nay là 8 ngày, nhưng có người lên đến 46 ngày! Nếu mỗi ngày tốn 50 USD (và ở đây tôi chỉ đoán mò), thì tổng số chi phí là 77,000 USD. Xin các bạn trong nước cho biết chi phí điều trị trung bình là bao nhiêu.

Bảng số liệu về giới tính, tuổi trung bình, quốc tịch và thời gian điều trị phân tách theo tình trạng điều trị.

Tử vong

chúng ta biết rằng VN may mắn là chưa có ai chết vì nhiễm virus Vũ Hán. Tuy nhiên, vì bệnh nhân ở VN là còn trẻ, nên nguy cơ tử vong nếu có thì cũng thấp. Chúng ta thử tính số tử vong ‘kì vọng’ (expected mortality) NẾU bệnh nhân VN có cùng tỉ lệ tử vong như ghi nhận ở Vũ Hán [2] thì VN sẽ có bao nhiêu ca tử vong? Câu trả lời là chỉ chừng 1.6 hay cao lắm là 2 ca tử vong. Nhưng cho đến nay, VN chưa có ca tử vong nào, và chúng ta có thể nói là nguy cơ tử vong ở VN thấp hơn so với Vũ Hán.

***

Tóm lại, phân tích dữ liệu sơ khởi ở cho thấy phân bố về đặc tính bệnh nhân ở Việt Nam rất khác so với các nước khác trên thế giới. Chẳng hạn như đa số bệnh nhân là trẻ tuổi (trung bình 35), trong khi đó bệnh nhân ở Vũ Hán tuổi trung bình 51, Đức 43, Ý 63. Đa số bệnh nhân ở Âu châu là nam giới (~60%), nhưng ở VN đa số là nữ giới (53%). Dữ liệu cũng cho thấy chỉ có gần 60% bệnh nhân Việt Nam là từ nước ngoài về (chớ không phải như nhiều người nghĩ rằng ‘tuyệt đại đa số’). Rõ ràng, nguy cơ tử vong ở bệnh nhân Việt Nam thấp hơn so với ‘kinh nghiệm’ bên Vũ Hán.

===

[1] https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i_d%E1%BB%8Bch_COVID-19_t%E1%BA%A1i_Vi%E1%BB%87t_Nam

[2] https://github.com/cmrivers/ncov/blob/master/COVID-19.pdf

Mô phỏng dịch Vũ Hán ở Việt Nam

Tôi lại bận tâm với câu hỏi ‘chuyện gì sẽ xảy ra’ nếu dịch Vũ Hán ở VN tiếp diễn. Tôi dùng dữ liệu đến ngày hôm qua để làm vài mô phỏng (theo mô hình dịch tễ học), và kết quả cũng có ý nghĩa đến các nhà chức trách đang bận chống dịch. Thế là tôi xin chia sẻ ở đây.Mô hình SIR

Mô hình dịch tễ học đơn giản và cơ bản là SIR. Mô hình này mô phỏng số ca có nguy cơ nhiễm (S = susceptible); từ nguy cơ sang nhiễm (I = infected); và sau can thiệp thì sẽ đến tình trạng hồi phục (R = recovered). Tôi hay dịch (và sinh viên vài bạn đồng nghiệp hay cười) là “Mô hình Nguy – Nhiễm – Phục”.

Minh họa cho mô hình dịch tễ học SIR để dự báo diễn biến của dịch bệnh.

Xin nhắc lại 3 thành tố của mô hình là S(t), I(t), và R(t), thể hiện số ca có nguy cơ bị nhiễm, số ca đã nhiễm, và số ca hồi phục tại thời điểm t. Ba thành tố này chịu sự chi phối của 2 tham số chánh: beta và alpha. Giả dụ như mỗi người bị nhiễm sẽ tiếp xúc N người khác, và trong số này có k phần trăm bị nhiễm. Thành ra, tính trung bình số người bị nhiễm là N*k, và đây là tham số beta. Như vậy số ca nhiễm tại thời điểm t sẽ lây nhiễm cho là beta*I(t) người. Nhưng vì không phải ai tiếp xúc cũng đều có nguy cơ, nên số ca nhiễm gây ra bởi I(t) là beta*S/N*I. Còn alpha là phần trăm người bị nhiễm sẽ hồi phục. Do đó, 1/alpha là thời gian cần thiết để hồi phục.

Giả dụ như có 10 triệu người có nguy cơ nhiễm. Tính đến nay chúng ta có 153 ca nhiễm, và 17 ca bình phục. Dùng dữ liệu thực tế đó và với giả định beta = 0.1, 0.2, 0.3, và alpha = 0.10, tôi có thể mô phỏng cho tương lai 300 ngày. Biểu đồ dưới đây thể hiện số ca nhiễm, số ca có nguy cơ, và số ca phục hồi.

Mô phỏng số ca nhiễm (phần trên), số người có nguy cơ (phần giữa), và số ca bình phục (phần dưới) theo mô hình SIR. Giả định là beta (xác suất lây nhiễm) 0.1, 0.2 và 0.3. Ý nghĩa của kết qủa này là nếu chúng ta giảm beta xuống cỡ 0.1 bằng các biện pháp hạn chế giao tiếp xã hội (social distancing) thì số ca nhiễm sẽ giảm rất đáng kể, và không gây áp lực đến hệ thống y tế.

Chúng ta có thể rút ra vài kết quả chánh: Đỉnh điểm của dịch tùy thuộc vào tỉ lệ lây nhiễm. Nếu beta = 30% thì dịch sẽ đạt đỉnh điểm vào vào ngày 60-70, nhưng nếu beta = 20% thì đỉnh điểm của dịch sẽ kéo dài đến ngày 120. Với beta = 10% thì dịch sẽ kéo dài và giãn ra rất đáng kể, nhưng giả định này thiếu tính thực tế.

Kết quả này có ý nghĩa quan trọng về qui định ‘social distancing’ hay hạn chế tiếp xúc xã hội. Hạn chế xã hội sẽ giảm xác suất lây nhiễm (beta), và do đó giảm số ca nhiễm và giãn biểu đồ dịch tễ học theo thời gian.

Nhưng đó là mô phỏng với giả định nhà chức trách không can thiệp. Dĩ nhiên, nhà chức trách phải can thiệp … mạnh. Mục tiêu là giảm beta, hay đường màu xanh thành đường màu hồng, hay tệ lắm là đường màu xanh lá cây trong biểu đồ. Thành ra, tôi nghĩ Việt Nam nên hay đã thực hiện vài biện pháp như Úc:

  • Ngừng kinh doanh các cơ sở kinh doanh như quán cà phê, hộp đêm, quán bia, nơi giải trí, rạp chiếu phim, v.v.
  • Ngừng các tụ điểm như viện bảo tàng;
  • Các chợ có tụ tập hơn 20 người;
  • Các buổi tiệc có 10 người trở lên;
  • Giữ khoảng cách giữa 2 người thối thiểu 1.6 mét;
  • Tạm ngưng đi máy bay;
  • Xét nghiêm cộng đồng ít nhứt là 9000 người để tìm những ca tiềm ẩn (có thể chiếm đến 60% số ca thực sự nhiễm).

Với những biện pháp như vậy tôi nghĩ sẽ giảm số ca nhiễm rất nhiều và giảm áp lực lên hệ thống y tế VN vốn đã mong manh.

27/3/2020

Dịch Vũ Hán: Việt Nam nên xét nghiệm cộng đồng

Xin giới thiệu đến các bạn một cuộc trò chuyện của tôi với kí giả Lê Viết Thọ của BBC Vietnamese liên quan đến vấn đề dịch Vũ Hán (Covid-19) ở Việt Nam. Theo tôi, Việt Nam đã làm tương đối tốt trong việc kiểm soát dịch, nhưng vẫn có thể làm tốt hơn. Vấn đề là những ca tiềm ẩn trong cộng đồng, và do đó cần phải làm xét nghiệm cộng đồng để kiểm soát tốt hơn. Chiến lược này có thể tốn tiền, nhưng sẽ tiết kiệm cho kinh tế về lâu dài.

===

Virus corona: ‘VN không xét nghiệm đại trà, nên số ca nhiễm thấp có thể hiểu được’

Lê Viết Thọ | BBC News Tiếng Việt

https://www.bbc.com/vietnamese/vietnam-51922994

Giữa lúc tình hình phòng dịch corona virus đang căng như dây đàn, những thông tin khác nhau về các biện pháp phòng chống dịch đang được các nước áp dụng lại càng gây tranh cãi.

Có tin rằng ở châu Âu, nhất là Anh đang phòng chống dịch theo hướng tiến đến miễn dịch cộng đồng bằng chủ động cho dịch lây lan.

Tuy nhiên, mới đây, Bộ trưởng Y tế Anh lại nói ‘miễn dịch cộng đồng không phải là mục tiêu hay chính sách của chúng tôi’.

Và nước Anh cũng đã công bố nhiều biện pháp nghiêm ngặt để phòng ngừa dịch.

Như một ván bài?

Miễn dịch cộng đồng là gì? Tại sao ý tưởng này lại bị nhiều nhà khoa học phản đối?

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn (Đại học New South Wales, Úc) trao đổi với BBC News Tiếng Việt sáng 17/3 rằng, khái niệm miễn dịch cộng đồng (‘community immunity’ hay ‘herd immunity’) thường được đề cập trong tình huống can thiệp dịch bệnh bằng vaccine.

“Ý tưởng là nếu một cộng đồng bị nhiễm virus, thì cách can thiệp đơn giản nhứt là xây dựng một cộng đồng có khả năng miễn dịch để giảm lây lan sang người khác. Cách xây dựng hệ thống miễn dịch mạnh là tiêm chủng vaccine cho một số người trong cộng đồng, và do đó có kháng thể (antibodies) để chống trả virus và bacteria, thì sự lây lan của dịch bệnh sẽ được hạn chế. Nói cách khác, người được tiêm chủng ngừa gián tiếp bảo vệ người chưa/không được tiêm chủng”.

“Điều này cũng có nghĩa là tỉ lệ tiêm chủng càng cao thì nguy cơ lây lan trong cộng đồng càng thấp, và dịch sẽ được dập tắt. Đây là nguyên lý chánh của khái niệm miễn dịch cộng đồng”.

Tuy nhiên, Giáo sư Tuấn cho hay rằng, ý tưởng miễn dịch cộng đồng được nhà chức trách Anh nghĩ đến như một chiến lược để làm giảm dịch Vũ Hán (Covid-19) và lý luận đằng sau chiến lược này không liên quan đến vaccine, mà liên quan đến thực tế sinh học.

Ông giải thích:

“Thực tế sinh học là khi một người bị nhiễm virus, và sau khi hồi phục thì cơ thể người đó sẽ có khả năng chống lại virus, không bị nhiễm nữa. Quy luật này được phát hiện từ thế kỉ 18 bên Anh, nhưng có lẽ một hoàng đế Trung Hoa đã phát hiện ra quy luận này trước từ giữa thế kỷ 17 khi ông bị bệnh đậu mùa. Do đó, một số nhà chức trách và khoa học Anh nghĩ rằng nếu để cho một phần dân số nhiễm SARS-cov-2 thì nhóm này sẽ tạo ra một hệ miễn nhiễm đủ mạnh để đẩy lùi dịch”.

“Nhưng có bao nhiêu người ‘cần’ được nhiễm tùy thuộc vào hệ số lây lan. Với hệ số lây lan hiện nay là 2, họ ước tính rằng khoảng 60% dân số Anh cần được nhiễm SARS-cov-2 để đủ lực miễn dịch”.

“Cách suy nghĩ và chiến lược của nhà chức trách Anh rất… táo bạo. Nhưng suy nghĩ này có vài vấn đề về giả định. Giả định quan trọng nhứt là người bị nhiễm sẽ có hệ miễn dịch tốt hơn chống chọi lại với virus. Nhưng sự thật thì đây là virus mới, nên chưa ai biết mô típ lây nhiễm của chúng, và trong thực tế thì đã có bệnh nhân hồi phục nhưng lại tái nhiễm”.

“Giả định thứ hai là chờ cho đến khi có vaccine mới để xây dựng hệ miễn dịch cho cộng đồng, nhưng phải chờ đến 6 tháng hay 1 năm. Và trong lúc đó thì số ca bệnh sẽ gây áp lực lớn đến hệ thống y tế. Chỉ cần 5% (trong số 60% nhiễm) phải nhập viện thì hệ thống y tế Anh Quốc sẽ lâm vào khủng hoảng. Do đó, chiến lược miễn dịch cộng đồng này giống như một ván bài”.

“Đó chính là lý do mà nhiều nhà khoa học Anh và ngoài Anh phản đối. Rất may là nhà chức trách Anh và chánh phủ Anh đã lắng nghe giới khoa học, nên họ đã đính chánh rằng đây chỉ là một ý tưởng khoa học chớ không phải là chánh sách của họ”.

Nếu áp dụng, VN sẽ có cả trăm ngàn người tử vong?

Cũng liên quan đến miễn dịch cộng đồng, có chuyên gia ước lượng với truyền thông Việt Nam rằng: ‘Nếu chọn cách miễn dịch cộng đồng, Việt Nam sẽ có ít nhất 126.000 người tử vong’.

Bình luận về ý kiến này, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn cho rằng, “Tôi nghĩ chắc chắn Việt Nam sẽ không áp dụng chiến lược miễn dịch cộng đồng, vì ngay từ đầu, khi dịch bộc phát bên Tàu, đã có chiến lược can thiệp rồi. Do đó, chúng ta bàn về chuyện này ở đây chỉ là lí thuyết có phần giả tưởng thôi”.

“Con số 126.000 tử vong thì tôi không rõ dựa vào cơ sở khoa học nào, vì nguy cơ nhiễm và tử vong tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố như mức độ lây lan, cơ cấu dân số theo độ tuổi, khả năng của hệ thống y tế, v.v”.

“Cách tính của tôi cho thấy kết quả rất khác với con số đó. Qua kinh nghiệm ở Vũ Hán, chúng ta biết rằng phân bố của số ca nhiễm dao động lớn giữa các độ tuổi, với người cao tuổi có nguy cơ cao hơn người trẻ tuổi; chúng ta cũng biết rằng nguy cơ tử vong tăng theo độ tuổi”.

“Tôi sử dụng dữ liệu của Vũ Hán và tạo ra hai phân bố như trình bày qua Biểu đồ 1”.

Số ca nhiễm SARS-cov-2 phân bố theo độ tuổi (bên trái, đường màu xanh), và nguy cơ tử vong tính theo xác suất (bên phải, màu đỏ)

Biểu đồ 1 cho thấy, đa số (72%) những ca bị nhiễm tuổi từ 40 trở lên. Nguy cơ tử vong tăng nhanh theo độ tuổi. Đa số (92%) những ca tử vong tuổi từ 50 trở lên và thường có những bệnh đi kèm như tiểu đường, cao huyết áp, tim mạch, ung thư, và viêm phổi mãn tính. Dữ liệu được mô phỏng từ kết quả nghiên cứu của nhóm nghiên cứu Vũ Hán.

Theo Giáo sư Tuấn, với phân bố về số ca nhiễm và xác suất tử vong, có thể ước tính hậu quả của chiến lược miễn dịch cộng đồng nếu Việt Nam theo đuổi theo ba tình huống: tình huống thứ nhứt là mức độ lây lan thấp (ví dụ như hệ số lây lan 1.4, theo ước tính của WHO), và tình huống thứ hai là hệ số lây lan cao như 2.0, và tình huống thứ ba là khi hệ số lây lan lên đến 2.5 (số liệu của WHO).

Mỗi tình huống sẽ có những con số tử vong và số nhiễm khác nhau.

Cụ thể, Giáo sư Tuấn phân tích:

“Tình huống thứ nhứt: với dân số có nguy cơ lây nhiễm 95 triệu (dân số ước tính năm 2020 là 97 triệu), Việt Nam sẽ có chừng 27.1 triệu người bị nhiễm để xây dựng miễn dịch quần thể. Chúng ta có thể thấy phân bố số ca nhiễm theo độ tuổi như biểu đồ 2, với đa số trên 40 tuổi.

Nguy cơ tử vong tùy thuộc vào độ tuổi, với người cao tuổi có nguy cơ tử vong cao hơn người trẻ tuổi. Giả định rằng hệ thống y tế Việt Nam tốt hơn Tàu và do đó tỉ lệ tử vong chỉ bằng 20% tỉ lệ tử vong quan sát bên Vũ Hán, thì có thể ước tính rằng có đến 102.300 ca tử vong”.

“Tình huống thứ hai: với hệ số lây lan là 2.0, sẽ có 47.5 triệu người bị nhiễm virus mới. Với giả định về cơ cấu dân số, phân bố số ca theo độ tuổi như tình huống 1, cùng tỉ lệ tử vong như tình huống 1, thì số ca tử vong có thể ước tính lên đến 179.300”.

“Tình huống thứ ba: với hệ số lây lan là 2.5, sẽ có 57 triệu người bị nhiễm virus mới. Và, với những giả định trên, có thể ước tính số số ca tử vong là 215.100 người”.

Theo Giáo sư Tuấn, qua mô hình trên, chúng ta có thể thấy nếu chiến lược miễn dịch cộng đồng được triển khai và nếu giả định rằng khả năng y tế của Việt Nam tốt hơn Trung Quốc, số ca tử vong vẫn có thể rất cao: từ 102.300 đến 215.100 ca, tuỳ theo tình huống và hệ số lây lan (Biểu đồ 2). Đó là chưa tính đến số ca phải nhập viện, mà theo ước tính của ông là khoảng 5% số ca bị nhiễm.

Biểu đồ 2: Ước tính số ca tử vong cho mỗi độ tuổi theo 3 tình huống: tình huống 1 (màu đỏ) với hệ số lây lan là 1.4; tình huống 2 (màu xanh lá cây) với hệ số lây lan 2; và tình huống 3 (màu xanh dương) với hệ số lây lan 2.5.

“Với 5% ca nhập viện thì hệ thống y tế của Việt Nam sẽ rất khó mà đáp ứng được. Do đó, tôi nghĩ Việt Nam sẽ không bao giờ – và cũng không nên – theo đuổi chiến lược miễn dịch cộng đồng”- ông Tuấn nói.

Còn quá sớm để đánh giá hiệu quả chiến lược của VN

Được hỏi về đánh giá cá nhân của ông về thực tế xử lý dịch COVID-19 của Việt Nam thời gian qua, Giáo sư Tuấn nói rằng, do ông không có mặt ở trong nước, cũng chẳng có trải nghiệm thực tế ở trong nước, nên ông không thể nói gì cụ thể.

Tuy nhiên, ông cho rằng, “Số ca nhiễm được báo cáo từ Việt Nam thì đúng là có quan điểm cho rằng thấp. Nhưng số ca nhiễm tùy thuộc vào số người được xét nghiệm. Kinh nghiệm bên Hàn Quốc cho thấy xét nghiệm càng nhiều thì số ca nhiễm cũng càng nhiều. Việt Nam không theo đuổi chánh sách xét nghiệm đại trà, nên số ca nhiễm thấp cũng có thể hiểu được”.

So sánh cách chống dịch của Việt Nam và Trung Quốc, Giáo sư Tuấn cho rằng: “Cách chống dịch ở Việt Nam có vẻ giống với Trung Quốc, nhưng không hà khắc như Trung Quốc. Việt Nam cũng cho xây dựng bệnh viện dã chiến, cũng tầm soát ca có nguy cơ cao, và có cách li tại gia. Nhưng Việt Nam không hạn chế làn sóng du khách từ Trung Quốc”.

“Vì số ca nhiễm còn quá ít và chưa có tử vong, nên còn quá sớm để đánh giá chiến lược của Việt Nam thành công cỡ nào”, Giáo sư Tuấn nói.

Phòng chống dịch giai đoạn 2 cần thay đổi gì?

Trả lời câu hỏi về việc, trước tình hình số ca nhiễm ở Việt Nam đang tăng nhanh, phương án chống dịch của Việt Nam cần thay đổi gì? Giáo sư Tuấn cho rằng, tuy số ca nhiễm ở Việt Nam có tăng trong thời gian gần đây, nhưng nhà chức trách Việt Nam cũng ‘tích cực’ tầm soát và cách li những người có nguy cơ cao.

Tuy nhiên, ông cho rằng Việt Nam cân thúc đẩy mạnh hơn các biện pháp như hạn chế du khách vào Việt Nam, hay cho phép vào, nhưng phải áp dụng biện pháp cách li tại gia 2 tuần; ứng dụng công nghệ thông tin, như qua điện thoại di động, để thông báo những địa điểm có dịch đến từng người trong cộng đồng; và quan trọng nhứt là nên xét nghiệm ở qui mô cộng đồng.

Ông nói: “Nếu tôi là nhà chức trách Việt Nam, tôi sẽ chọn ngẫu nhiên một số địa điểm, lấy mẫu ngẫu nhiên theo độ tuổi, và làm xét nghiệm trên những người đó để tìm kháng thể liên quan đến SARS-Cov-2”.

“Kinh nghiệm từ Đức, Ý, và Hàn Quốc cho thấy, có những ca nhiễm tồn tại trong cộng đồng có liên quan một cách tiềm ẩn chưa được phát hiện, và những ca này có thể chẳng liên quan gì với những người đã bị nhiễm. Qua cách xét nghiệm ngẫu nhiên này, nhà chức trách sẽ dễ phát hiện thêm những ổ nhiễm mới và can thiệp kịp thời”.

Bên cạnh đó, theo Giáo sư Tuấn, chống dịch là quan trọng, nhưng bảo vệ nhân phẩm cho bệnh nhân cũng là yếu tố quan trọng. “‘Bảo vệ nhân phẩm’ ở đây tôi muốn nói về bảo mật danh tánh cho bệnh nhân, tránh những xỉ vả gián tiếp hay trực tiếp gây ấn tượng bệnh nhân như là thủ phạm gây nhiễm”.

Toàn cảnh về dịch Covid-19: hỏi và đáp

Dịch COVID-19 đã diễn ra tại nhiều nơi, và đã có rất nhiều nghiên cứu khoa học tuyệt vời, với những thông tin mới. Tôi soạn cái note này (có lẽ hơi dài) cho một bạn bác sĩ ở trong nước, nhưng thật ra cũng là để tôi tự hệ thống hóa những thông tin liên quan đến dịch COVID-19. Tôi sẽ tập trung vào những chủ đề như nguồn gốc của dịch, qui mô của dịch, về coronavirus, cơ chế lây lan, điều trị, và phòng ngừa. Đây là tài liệu cá nhân, không phải của một cơ quan nào, dù nguồn thông tin và nghiên cứu khoa học đều được tham khảo.

Nguồn gốc của dịch COVID-19

1. Dịch bắt đầu từ lúc nào và ở đâu?

Dịch COVID-19 (trước đây gọi là Dịch Vũ Hán) bắt nguồn từ chợ Thủy Sản thuộc thành phố Vũ Hán bên Tàu. Đây là chợ nổi tiếng nhứt nhì ở Vũ Hán, và phía Tây của chợ chuyên bán những động vật hoang dã (nhưng không có bán dơi). Ngày 11/2/2020, dịch được WHO chánh thức định danh là “COVID-19” và kèm theo câu “public enemy number one” (kẻ thù số 1 của công chúng) [1].

2. Dịch Covid-19 bộc phát từ ngày nào?

Theo báo chí và WHO thì dịch bộc phát vào tháng 12/2019, nhưng không rõ ngày nào. Tuy nhiên, trong một bài báo trên Bloomberg, tôi chú ý thấy 1 ca được nhập viện vào tháng 11/2019 [2]. Do đó, rất có thể dịch đã bộc phát trước hay trong tháng 11/2019, và mãi đến tháng 12/2019 thì nhà chức trách Tàu mới báo cáo cho WHO.

3. Có phải ‘xổng chuồng’ từ labo vi sinh ở Vũ Hán?

Trong mạng xã hội và thậm chí được một dân biểu Mĩ đề cập một ‘thuyết âm mưu’ rằng virus gây dịch COVID-19 là một vũ khí sinh học do một labo ở Vũ Hán chế ra, và vì lí do nào đó bị ‘xổng chuồng’! Một nhóm gồm 27 nhà khoa học ngoài Tàu đã xác định là virus Covid-19 không phải do nhân tạo [3]. Hơn thế nữa, phân tích di truyền cho thấy con virus mới (nay gọi là SARS-Cov-2) có nguồn gốc từ coronavirus tìm thấy trong dơi, với tỉ lệ tương đồng lên đến 96% [4]. Cần nói thêm rằng con virus mới có 6 đột biến tại vùng thụ thể giúp nó kết nối với thụ thể ACE2 ở người, heo, mèo, tê tê (và có thể động vật khác). Sự đột biến này nhất quán với quá trình tiến hoá của virus hơn là từ nhân tạo. Trong tổng số 585 mẫu lấy từ chợ thuỷ sản Vũ Hán, 33 có kết quả dương tính cho SARS-Cov-2. Và, trong số 33 này, 31 mẫu được thu thập ở phía Tây chợ Vũ Hán, nơi bán động vật hoang dã. Tất cả những sự thật này nói lên rằng SARS-Cov-2 là tiến hóa từ virus corona trong dơi, chớ không phải do nhân tạo.

4. Dịch COVID-19 đã lây lan đến đâu?

Tình hình lây lan càng ngày càng rộng trên thế giới. Tính đến nay (ngày 27/2/2020), dịch đã diễn biến ở 45 quốc gia trên thế giới, từ Á châu (Tàu, Nhật, Hàn, Việt Nam, Thái Lan, Singapore, Úc), Mĩ, Nam Mĩ, Trung Đông (Iran, Ai Cập), đến Âu châu (Ý, Đức, Thụy Sĩ).

Qui mô và ‘độc lực’ của dịch

5. Bao nhiêu người bị nhiễm và bao nhiêu phần trăm là bệnh nặng?

Một lần nữa, tình hình thay đổi hàng ngày, nên khó có thể nói chính xác. Tính đến nay (27/2/2020), đã có 82,419 ca nhiễm trên thế giới; trong số này 95% là từ Tàu, kế đến là Nam Hàn (1766 ca), du thuyền Diamond Princess (705 ca), Ý (470), Nhật (207), Iran (141). Trong tổng số 82419 ca, có 35,979 (44%) đã được ‘giải quyết’, tức có kết quả: 2808 (8%) tử vong và 33171 (92%) xuất viện và hồi phục. Số còn lại (46440) đang được điều trị, và trong số này 18% được xem là ‘serious hay critical’ [5].

6. Thời tiết ấm/nóng có làm giảm qui mô lay lan của dịch?

Ý tưởng về ảnh hưởng của thời tiết đến khả năng sống sót của virus (như SARS-Cov-2) đã được đề cập ngay từ những ngày đầu trong dịch Covid-19. Ngay cả Tổng thống Mĩ Donald Trump — có lẽ qua cố vấn của các chuyên gia — cũng dự báo rằng dịch Covid-19 sẽ giảm đi vào mùa xuân.

Nhìn lại các trận dịch ảnh hưởng đến hệ thống hô hấp trước đây, kể cả dịch cúm mùa, thường xảy ra vào mùa đông và tàn lụi vào mùa nắng ấm. Chẳng hạn như năm nay, dịch Covid-19 xảy ra vào mùa đông ở Vũ Hán. Hơn thế nữa, các nước đang ở vào nhiệt độ lạnh như Trung Quốc, Hàn Quốc, và Nhật Bản cũng bị dịch nặng hơn các nước có khí hậu ấm (như Nam Dương). Trước đó, dịch SARS cũng xảy ra vào mùa đông ở Hồng Kông. Tuy nhiên, cũng có một ca ngoại lệ là dịch H1N1 xảy ra vào mùa hè năm 2009, mặc dù con virus này được xem là ‘virus mùa đông’. Do đó, rất nhiều chuyên gia Mĩ và Á châu hi vọng rằng dịch Covid-19 lần này cũng sẽ suy giảm vào mùa xuân và mùa hè.

7. Tỉ lệ tử vong là bao nhiêu?

Rất khó ước tính tỉ lệ tử vong trong khi dịch vẫn còn diễn ra. Tuy nhiên, tính chung theo ‘case fatality rate’ thì tỉ lệ tử vong hiện nay là 3.4% (2808 tử vong trên 82419 ca nhiễm). Tuy nhiên, sau khi phân tích dữ liệu của một bài báo [6], tôi ước tính tỉ lệ tử vong trong 30 ngày là 4.6%, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 4.4 đến 4.9%. Tuy nhiên, đa số ca tử vong là nam giới (64%) và trên 60 tuổi (81%). Ở những người không có bệnh đi kèm, nguy cơ tử vong là 1.6 /100-người-tháng. Nhưng những bệnh nhân tim mạch có nguy cơ tử vong lên đến 20.4 / 100-người-tháng, tức cao gấp ~13 lần so hơn những người không có bệnh đi kèm. Nguy cơ tử vong cũng tăng cao ở những bệnh nhân tiểu đường (13.4 / 100-người-tháng), hô hấp mãn tính (~12), cao huyết áp (11), và ung thư (~11) [7].

Nguy cơ tử vong tính bằng tỉ suất trên 100 người-tháng theo độ tuổi (bên trái) và tính theo CFR (bên phải: tức tỉ lệ tử vong trên 100 người bị nhiễm — bất kể thời gian theo dõi). Đường đứt đoạn màu nâu là nguy cơ trung bình. Người trên 60 tuổi có nguy cơ tử vong tăng gấp 2.2 lần so với trung bình (4.6 / 100 người-tháng). Nguồn: Tôi tính toán và vẽ biểu đồ dựa trên số liệu từ bài báo “The Epidemiological Characteristics of an Outbreak of 2019 Novel Coronavirus Diseases (COVID-19) — China, 2020”, CCDC Weekly / Vol. 2 / No. x.

Nguy cơ tử vong tính bằng tỉ suất trên 100 người-tháng theo bệnh đi kèm. Đường đứt đoạn màu nâu là nguy cơ trung bình (4.6 / 100-người-tháng). Bệnh nhân tim mạch, tiểu đường, ung thư, hô hấp mãn tính có nguy cơ tử vong liên quan đến SARS-Cov-2 tăng cao.
Nguồn: Tôi tính toán và vẽ biểu đồ dựa trên số liệu từ bài báo “The Epidemiological Characteristics of an Outbreak of 2019 Novel Coronavirus Diseases (COVID-19) — China, 2020”, CCDC Weekly / Vol. 2 / No. x.

8. Như vậy, có thể xem dịch COVID-19 là ‘đại dịch’ (pandemic) chưa?

Theo định nghĩa của WHO thì dịch COVID-19 chưa được xếp vào ‘đại dịch’, nhưng là dịch địa phương ‘epidemic’. Tuy nhiên, vài nước (như Úc) đã chuẩn bị một đại dịch và sẵn sàng đối phó.

Về coronavirus

9. Coronavirus gây dịch lần này có liên quan gì với virus gây dịch SARS và MERS trước đây?

Virus gây dịch COVID-19 được định danh là SARS-Cov-2, và điều này cho thấy nó có liên quan mật thiết với virus SARS-Cov gây dịch SARS trước đây. Các con coronavirus thuộc chi (genus) beta-coronaviruses (viết tắt là beta-Cov). Chi beta-Cov được chia thành 4 dòng (lineages) như sau:

  • Dòng A: OC43, HKU1
  • Dòng B: SARS-Cov và SARS-Cov-2
  • Dòng C: MERS-Cov
  • Dòng D: Rousettus trong dơi, HKU9

10. Cơ cấu sinh học của coronavirusnhư thế nào?

Cấu trúc của các con vi khuẩn corona bao gồm 4 protein cơ cấu: nucleocapsid, envelope, membrane và spike. Protein nucleocapsid có chức năng hình thành các chất liệu di truyền cơ bản, và có hình trái banh tròn. Bề ngoài của nucleocapsid là cái ‘bao thư’ (envelope) và màng nhầy (membrane). Còn cái protein ‘spike’ nó có hình dáng của một cái dùi cui, và nó cắm trên ‘trái banh’. Thành ra, nhìn con virus này thì chúng ta thấy nó giống như cái vương miện hình tròn. Chính vì vậy mà người ta đặt cho nó cái tên hơi vương giả là ‘corona’.

Các coronavirus được xếp vào nhóm ‘enveloped single-stranded RNA’, tức là hệ gen của chúng là RNA (chứ không phải DNA) và hai là hệ gen của chúng ‘gói’ trong một cái vỏ giống protein như bao thư. Các coronavirsus có ‘sợi dây’ RNA dài đến 30,000 mẫu tự, và độ dài này được xem là dài nhất so với các cgi virus khác.

Cấu trúc của các con vi khuẩn corona bao gồm 4 protein: nucleocapsid, envelope, membrane và spike. Nguồn: Peiris et al. Nature Medicine 2004; 10:S88-97.

11. Cơ chế tấn công người của coronavirus ra sao?

Tất cả virus chỉ có một việc: xâm nhập vào kí chủ và nhân bản càng nhiều càng tốt. Để xâm nhập vào kí chủ, chúng phải kết nối với thụ thể của tế bào người. Các SARS-Cov kết nối với thụ thể có tên là ACE2 (angiotensin-converting enzyme 2), nhưng virus MERS thì dùng thụ thể DPP4. Cả hai thụ thể ACE2 và DPP4 đều được tìm thấy ở tế bào phổi và vài cơ phận khác (Jia et al. Virol 2005;79:14614-21). Thụ thể DPP4 hoạt động tích cực ở phần dưới của phế quản. Sự phân bố của các thụ thể này trong các mô và cơ phận có thể là yếu tố giải thích tại sao một số virus như MERS lại độc hại hơn virus Covid-19.

Sau khi xâm nhập vào tế bào của con người, chúng bắt đầu nhân bản (hoặc tiếp tục xâm nhập vào các tế bào khác). Để nhân bản, chúng phải dùng đến ‘bộ máy’ RNA (và sự thật này có liên quan đến thuốc điều trị sẽ đề cập dưới đây). Sau khi xâm nhập vào phổi, chúng tấn công vào tế bào celia của phổi (vốn có chức năng sản xuất ra chất nhầy để bảo vệ phổi).

12. Cơ thể con người ‘chống trả’ sự tấn công của virus corona như thế nào?

Khi tế bào bị virus tấn công, một hệ thống phòng thủ được hệ miễn dịch nội sinh kích hoạt. Sau kích hoạt, các tế bào sẽ tiết ra một protein có tên là interferon. Protein interferon lại kích thoạt một loạt hoạt động chống virus. Các hoạt động này bao gồm đóng cửa ‘nhà máy’ sản xuất protein để làm cho tế bào chết đi, và như thế thì virus sẽ khó có đường xâm nhập. Nhưng trong vài trường hợp, hệ miễn dịch trong người bị rối loạn, và các đội quân tế bào của hệ miễn dịch có thể tiêu diệt bất cứ vật nào trên đường chúng ‘hành quân’. Nói ví von theo tiếng Anh là ‘collateral damage’ – tác hại ngoài dự kiến. Một trong những tác động đó là làm suy giảm tế bào T và cytokines – hai yếu tố rất quan trọng trong phòng vệ. Nói cách khác, chúng ta mắc bệnh một phần là do hệ thống miễn dịch nội sanh phản ứng thái quá [khi virus tấn công], và một phần là do virus xấu tấn công.

Bởi vì hệ miễn dịch của chúng ta bị ‘cuống cuồng’ chống trả SARS-Cov, nên gây tổn hại không chỉ cho phổi mà còn vài cơ phận khác. Thật vậy, điều này có thể giải thích cho kết quả của một phân tích trước đây cho thấy hơn 90% bệnh nhân trong trận dịch MERS mắc một số triệu chứng khác như tăng men gan, suy giảm bạch cầu và platelet, suy giảm huyết áp. Trong vài trường hợp hơi hiếm, bệnh nhân còn bị tổn thương ở thận và suy tim.

Cơ chế lây lan

13. Coronavirus lây lan sang người bằng con đường nào?

Vi khuẩn chỉ sống nhờ vào một động vật hay người, hay gọi chung là ‘kí chủ’. Cho đến nay, chúng ta đã biết khá chắc chắn rằng kí chủ đầu tiên của coronavirus là loài dơi. Cơ sở khoa học là qua phân tích giải trình tự gen (gene sequencing). Kết quả giải trình tự gen con coronavirus trong dơi coronavirus gây ra dịch Covid-19 năm nay cho thấy 95%-97% trình tự gen của virus giống với trình tự gen của virus corona trong loài dơi [8].

Thật ra, dơi đã bị nhiễm coronavirus rất lâu, nhưng dơi không bị những chứng bệnh như người khi bị nhiễm coroavirus. Một giả thuyết có thể giải thích cho sự khác biệt này là hệ thống miễn dịch của dơi có vẻ chấp nhận coronavirus, còn hệ miễn dịch của người thì phản ứng thái quá trước sự xâm nhập của virus.

14. Từ dơi sang người qua trung gian nào?

Chưa ai biết rõ kí chủ trung gian. Nhưng rất có thể đó là con tê tê, cầy hương hay heo. Một nghiên cứu do Đại học Nông nghiệp, Quảng Châu (Guangzhou) so sánh trình tự gen của virus corona lây nhiễm con tê tê và người thì thấy trùng hợp đến 99%, hàm ý rằng tê tê là kí chủ trung gian đưa virus khuẩn corona đến người trong trận dịch Covid-19. (Ghi chú thêm: công trình này chưa được công bố trên một tập san khoa học, mới chỉ được báo cáo trong một hội nghị y khoa).

Một chứng cớ khác là thụ thể (receptor), ví von như là cánh cửa của một tế bào. Các coronavirus gây ra dịch SARS, MERS (và có thể Covid-19) đều dùng một thụ thể ACE2. Thụ thể này hiện diện trong loài dơi, heo, và cầy hương. Do đó, ngoài tê tê, rất có thể heo và cầy hương là những vật trung gian ‘đưa đường dẫn lối’ virus từ dơi sang người. Trước đây, người ta nghi ngờ rằng rắn hổ mang là vật trung gian, nhưng các phân tích mới cho thấy nghi ngờ này không có cơ sở khoa học.

15. Lây lan giữa người và người xảy ra như thế nào?

Một số báo cáo khoa học mới đây cho thấy coronavirus có thể lây lan từ người sang người. Tuy nhiên, Cơ chế lây lan từ người sang người cũng là một câu hỏi chưa có câu trả lời chính xác. Chúng ta biết rằng coronavirus không lây qua đường không khí. Chúng chỉ có thể đi với một yếu tố trung gian, và yếu tố đó là những cái hắt hơi và ho. Khi chúng ta hắt hơi hay ho, chúng ta phun ra môi trường hàng trăm ngàn giọt li ti (bao gồm chất lỏng, đàm, nước bọt, hay gọi chung là ‘droplets’).

Do đó, nếu một người bị nhiễm coronavirus hắt hơi hay ho, và nếu người đứng gần (1.8 mét) trong thời gian 10 phút sẽ rất dễ bị lây nhiễm. Một cơ chế lây nhiễm khác được đặt ra là các giọt droplets lắng đọng xuống bề mặt của các vật dụng như bàn, ghế, sàn, cánh cửa, tay cầm, v.v.

16. Thời gian virus sống sót trên mặt vật dụng là bao lâu?

Theo số liệu nghiên cứu thì các droplets chứa virus có thể tồn tại trên mặt các vật dụng như bàn, ghế, tay cầm của cửa, v.v. Thời gian tồn tại, theo một nghiên cứu từ Đức, dao động trong khoảng 4-5 ngày trong điều kiện nhiệt độ phòng (tức 20 độ C), nhưng tối đa chúng có thể sống đến 9 ngày. Nhiệt độ càng thấp và càng ẩm thì coronavirus sẽ sống lâu hơn.

17. Hệ số lây lan là bao nhiêu?

Hệ số này chỉ được ước tính trong điều kiện dữ liệu hiện hành. Theo WHO, hệ số lây lan (R0) của SARS-Cov-2 dao động trong khoảng 1.4 – 2.5. Mới đây, có một nghiên cứu cho thấy R0 là 2-3 [9]. Trước đây, hệ số R0 cho SARS-Cov là 2-5 [10].

18. Những người đã được điều trị hết bệnh có tiềm ẩn virus trong cơ thể hay không?

Đây là một câu hỏi đang được nhiều người quan tâm. Câu trả lời là có thể. Bằng chứng mới được công bố hôm nay (27/2/2020) trên JAMA [11] báo cáo rằng có 4 bệnh nhân được cho xuất viện theo tiêu chuẩn (không còn triệu chứng, 2 xét nghiệm âm tính, và không có dấu hiệu trên X quang), nhưng sau đó (5-13 ngày) thì lại có kết quả xét nghiệm dương tính! Do đó, có khả năng là virus vẫn tồn tại và tái nhiễm dù bệnh nhân tưởng như đã hết bệnh!

Lâm sàng

19. Triệu chứng hay thấy nhứt ở bệnh nhân nhiễm là gì?

Theo một nghiên cứu trên 138 bệnh nhân (75% nam bệnh nhân) ở Vũ Hán, các triệu chứng sau đây được ghi nhận: gần 99% sốt, 70% mệt mỏi, ~60% ho, 35% đau cơ. Ngoài ra, còn có một số triệu chứng khác: nhức đầu, chóng mặt, đau bụng, tiêu chảy, ói mửa. Gần 50% có bệnh đi kèm như cao huyết áp (31%), tiểu đường (10%), và bệnh tim mạch (14%) [12].

20. Thời gian ủ bệnh là bao lâu?

Theo WHO [13], thời gian ủ bệnh là 5-6 ngày (nhưng có thể dao động từ 0-14 ngày). Đó cũng chính là lí do các nhà chức trách cách li người có nguy cơ cao 14 ngày. Còn một nghiên cứu bên Tàu thì cho thấy thời gian trung bình (thật ra là trung vị) ủ bệnh của SARS-Cov-2 virus là 4 ngày, dao động từ 3 đến 5 ngày [14].

21. Virus gây cúm mùa và SARS-Cov-2 khác nhau như thế nào?

Một cách ngắn gọn, SARS-Cov-2 tấn công vào phần dưới của hệ thống hô hấp (phổi), còn virus gây cúm mùa tấn công vào phần trên (cổ họng, mũi, v.v.). Phổi là môi trường độc hại cho virus, nên chỉ có những con virus ‘hung dữ’ mới có thể tồn tại, chớ virus ‘bình thường’ thì không dám đến vùng hiểm nguy đó.

Điều trị

22. Đã có vaccine cho dịch Covid-19 chưa?

Cho đến nay, khoa học chưa có vaccine đặc trị cho bệnh nhân bị nhiễm SARS-Cov-2. Một số công ti đang ráo riết nghiên cứu sản xuất vaccine cho SARS-Cov-2, nhung thời gian thử nghiệm và đến bệnh nhân cũng phải mất ít nhứt là 12 tháng.

23. Có thể dùng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh nhân nhiễm SARS-Cov-2?

Không. SARS-Cov-2 là virus (chớ không phải bacteria – vi trùng), nên thuốc kháng sinh không có hiệu quả lâm sàng.

24. Vậy bệnh nhân được điều trị như thế nào?

Hiện nay, trong điều kiện không có vaccine đặc trị, điều trị bệnh nhân SARS-Cov-2 chủ yếu là bơm oxygen vào phổi, theo dõi các cơ phận thiết yếu, và đối phó với các biến chứng.

Hai nhóm thuốc đang được dùng cho điều trị bệnh nhân nhiễm SARS-Cov-2 là nucleoside analogues (NA) và protease inhibitors (PI) [15].

Nhóm thuốc ‘nucleoside analogues’ đã được FDA phê chuẩn bao gồm favipiravir và ribavirin. Hai thuốc cũng trong nhóm NA là remdesivir và galidesivir thì còn đang được thử nghiệm trong giai đoạn III. Các thuốc NA có cơ chế ức chế sự hình thành RNA của virus. Cần nói thêm rằng chất liệu di truyền của các coronavirus là RNA.

Các loại thuốc trong nhóm PI bao gồm disulfiram, lopinavir và ritonavir vốn đã được dùng cho điều trị chống dịch SARS và MERS trước đây. Disulfiram là thuốc từng được dùng để điều trị những người nghiện alcohol nhưng có khả năng ức chế protease của MERS và SARS trên tế bào, nhưng trên người thì chưa có chứng cớ. Ở vài trường hợp cá biệt, các bác sĩ dùng thuốc điều trị HIV cho bệnh nhân nhiễm SARS-Cov-2, nhưng xin nhấn mạnh đây là những ca cá biệt.

Phòng ngừa

25. Biện pháp phòng ngừa thực tế nhứt là gì?

Bởi vì vi khuẩn có thể lây lan qua các giọt droplets khi hắt hơi, chúng ta cần phải tập thói quen của người phương Tây nhằm kiềm chế lây lan. Thói quen này bao gồm hắt hơi vào khuỷu tay, hoặc/và sử dụng giấy tissue để ngăn ngừa các giọt droplets phun ra ngoài môi trường.

Có người cho rằng dùng khẩu trang để ngăn ngừa bị lây nhiễm từ các giọt droplets. Tuy ý tưởng đó thoạt nghe qua thì hợp lí, nhưng rất nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy đeo khẩu trang không giúp làm giảm nguy cơ lây lan virus. Thậm chí, đa số công chúng đeo khẩu trang không đúng cách, hay vẫn theo thói quen dùng tay điều chỉnh khẩu trang, hay đeo khẩu trang lâu giờ mà không vệ sinh, tất cả những thói quen đó còn tạo điều kiện cho vi khuẩn lây lan dễ hơn!

Bởi vì virus có thể hiện diện trên bề mặt của các vật dụng trong nhà, nên việc lau chùi diệt khuẩn thường xuyên là biện pháp hữu hiệu giảm nguy cơ lây lan. Chúng ta hay sờ vào các vật dụng trong nhà, và nếu các vật dụng này hàm chứa coronavirus, thì khi chúng ta bắt tay hay sờ một người khác hay sờ mặt mũi chúng ta, thì nguy cơ lây nhiễm cũng rất cao. Do đó, cần phải tập thói quen rửa tay thường xuyên. Thật ra, rửa tay thường xuyên (chứ không phải đeo khẩu trang đại trà) được xem là biện pháp phòng ngừa lây nhiễm vi khuẩn hữu hiệu nhất ở qui mô cộng đồng.

26. Có nên đóng cửa trường học để giảm lây lan?

Rất nhiều nghiên cứu trong quá khứ cho thấy đóng cửa trường trong mùa dịch có thể giảm số ca nhiễm ở đỉnh điểm và hoãn thời gian đến đỉnh điểm, nhưng không ngăn chận được dịch. Chủ trường đóng cửa trường hay mở cửa trường trong mùa dịch đều có những lợi ích và bất lợi và tùy thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi có nguy cơ cao, hệ số lây lan, và phân bố của dịch [16].

Đóng cửa trường trước mắt là có thể giảm số ca lúc đỉnh điểm hay trì hoãn thời gian đến đỉnh điểm. Nhưng chủ trương này có vài bất lợi trong việc kiểm soát dịch. Thứ nhứt là không hạn chế được sự tiếp xúc và quây quần đám đông của trẻ em (như đi xem cinema). Thứ hai là không thể kiểm tra dịch, nếu dịch xảy ra, và không kiểm tra được những tiếp xúc nơi đông người. Đó là chưa nói đến tổn thất về kinh tế – xã hội, vì cha hay mẹ phải ở nhà để chăm sóc các cháu, gây ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của xã hội.

Tuy nhiên, nếu mở cửa trường trong mùa dịch thì sẽ tăng cao nguy cơ nhiễm và lây lan, nên phải áp dụng các biện pháp sau đây một cách triệt để: Phun thuốc phòng chống virus; kiểm tra sốt hàng ngày; giám sát chặt chẽ những trẻ em có nguy cơ cao (tiền sử nhiễm virus); hạn chế tiếp xúc nới quá đông người; và áp dụng chủ trương cô lập hóa khi phát hiện ca nhiễm.

Dự báo tương lai

27. Đến bao giờ thì dịch sẽ hết?

Theo Bác sĩ Zhong Nanshan, người đang điều phối một nhóm chuyên gia để chống dịch, dự báo rằng dịch sẽ đạt đỉnh điểm vào cuối tháng này (2/2020) [17]. Dự báo này chỉ là định tính, chớ không có tính toán. Tuy nhiên, một phân tích định lượng của một nhóm nghiên cứu bên Anh cũng có vẻ nhất quán với dự báo của Zhong. Nhà thống kê học Sebastian Funk [18] dùng mô hình thống kê (với giả định hệ số lây lan R0 = 1.5 – 4.5) dự báo rằng khoảng 10% dân số Vũ Hán (1 triệu người) sẽ bị nhiễm SARS-Cov-2. Số liệu mới nhứt (số ca nhiễm giảm trong vài ngày gần đây) thì quả thật dự báo lạc quan là có cơ sở.

28. Dự báo chung cho tương lai như thế nào?

Hiện nay, ở bên Tàu thì số ca nhiễm đang chựng lại, nhưng ở vài nước trên thế giới (như Nam Hàn) thì lại đang tăng. Giới khoa học nghĩ đến 3 viễn cảnh [19] như sau:

Viễn cảnh 1: dịch Vũ Hán sẽ được kiểm soát sau 1 năm. Dịch bệnh truyền nhiễm sẽ chấm dứt khi nào giới khoa học có vaccine đặc chủng. Nhưng cho đến nay thì thế giới chưa có vaccine cho SARS-Cov-2. Tuy hiện nay đã có vài thử nghiệm vaccine, nhưng cũng phải chờ ít nhứt là 1 năm để vaccine có mặt trên thị trường. Trước đây, dịch SARS xảy ra vào tháng 2/2003, và các biện pháp can thiệp y tế công cộng được triển khai nhanh chóng. Đến giữa tháng 7/2003 thì đa số các nước tuyên bố là đã dứt dịch, và đến đầu năm 2004 thì SARS coi như chấm dứt. Do đó, với biện pháp y tế công cộng như hiện nay, dịch COVID-19 có thể sẽ còn với chúng ta cho đến cuối năm 2020.

Viễn cảnh 2: Giới dịch tễ học xem dịch bệnh truyền nhiễm như lửa; mà trong đó virus là ngọn lửa và con người là củi. Đến một lúc nào đó thì ngọn lửa sẽ tàn khi củi không còn nữa. Tương tự, dịch bệnh truyền nhiễm sẽ ‘tàn lụi’ khi virus không tìm thấy người lí tưởng để nhiễm. Dịch Zika 2016, thoạt đầu chúng lây nhiễm rất nhiều người (hơn 35000 ca), nhưng đến khi kí chủ không còn bao nhiêu thì dịch bắt đầu suy giảm. Mặc dù các giới chức y tế cho biết Zika vẫn còn đó, nhưng chúng không còn lan nhiễm như trước đây.

Viễn cảnh 3: SARS-Cov-2 sẽ trở thành một trong đại gia đình virus thông thường với chúng ta. Giới truyền nhiễm học cho biết virus H1N1 trước đây (2009) bùng phát thành một đại dịch (pandemic), nhưng sau một thời gian thì nó trở thành một phần của quần thể virus sống chung với cộng đồng con người. Hiện nay, đã có 4 chủng coronavirus sống chung với cộng đồng con người và gây ra cảm cúm mỗi năm. Mặc dù chúng ta chẳng ai muốn có thêm coronavirus, nhưng chúng ta cũng khó có thể tiêu diệt chúng hoàn toàn, và có thể chúng ta phải chấp nhận sống chung với một thành viên thứ 5 trong gia đình coronavirus. Tôi nghĩ viễn cảnh thứ 3 là thực tế nhứt.

Hi vọng rằng note này — trong môi trường thông tin giả tràn lan — đã cung cấp vài thông tin và trả lời những thắc mắc liên quan đến dịch Covid-19 của nhiều bạn trong và ngoài ngành y. Tình hình dịch COVID-19 thay đổi hàng ngày, và có rất nhiều nghiên cứu được công bố mỗi tuần. Do đó, tôi sẽ cố gắng cập nhựt thông tin khi có thêm nghiên cứu.

Trong khi quan tâm đến dịch COVID-19 (chánh đáng), chúng ta cũng đừng quên rằng dịch cúm mùa giết chết rất nhiều người hàng năm. Chỉ riêng ở Mĩ tính đến tháng 2/2020 có ít nhứt 16,000 chết vì cúm mùa [20]. Ở VN, chúng ta chưa có dữ liệu về cúm mùa, nhưng dịch COVID-19 nhắc nhở chúng ta rằng còn có các bệnh truyền nhiễm khác (như lao chẳng hạn) vẫn là mối đe doạ dài lâu.

Một lần nữa, tôi phải nói rõ rằng đây là cái note cá nhân, nhận xét cũng mang tính cá nhân dù dựa trên dữ liệu nghiên cứu, chớ tôi không đại diện cho những nơi tôi làm việc.

Tài liệu tham khảo:

Dưới đây là danh sách tài liệu tham khảo cho các câu trả lời trên. Đa số tài liệu là những nghiên cứu đã được công bố trên Lancet, JAMA, NEJM, Nature, v.v. và có một số các bạn sẽ không có bản nguyên văn.

[1] https://www.abc.net.au/news/2020-02-12/coronavirus-public-enemy-number-one-vaccine/11956446

[2] https://www.bloomberg.com/news/articles/2020-01-23/several-china-coronavirus-victims-didn-t-even-have-a-fever

[3] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(20)30418-9/fulltext

[4] https://www.tandfonline.com/doi/full/10.1080/22221751.2020.1727299

[5] https://www.worldometers.info/coronavirus

[6] https://github.com/cmrivers/ncov/blob/master/COVID-19.pdf

[7] Để xác định đúng nguy cơ tử vong, chúng ta cần phải xem xét đến yếu tố thời gian. Tôi sử dụng số liệu từ nghiên cứu (tài liệu tham khảo #6) và tính số tháng-người (person-months) và từ đó ước tính nguy cơ tử vong. Kết quả cho thấy tỉ suất tử vong trên 100 người-tháng là 4.6, với khoảng tin cậy 95% dao động từ 4.4 đến 4.9. Con số này có thể hiểu như sau: nếu chúng ta theo dõi 100 người trong vòng 1 tháng, chúng ta kì vọng sẽ ghi nhận khoảng 5 ca tử vong. Nói cách khác, nguy cơ tử vong [liên quan đến SARS-Cov-2] trong 1 tháng là 5%. Ở những người không có bệnh đi kèm, nguy cơ tử vong là 1.6 /100-người-tháng. Nhưng những bệnh nhân tim mạch có nguy cơ tử vong lên đến 20.4 / 100-người-tháng, tức cao gấp ~13 lần so hơn những người không có bệnh đi kèm. Nguy cơ tử vong cũng tăng cao ở những bệnh nhân tiểu đường (13.4 / 100-người-tháng), hô hấp mãn tính (~12), cao huyết áp (11), và ung thư (~11).

[8] https://www.nature.com/articles/s41586-020-2012-7

[9] https://academic.oup.com/jtm/advance-article/doi/10.1093/jtm/taaa021/5735319

[10] https://www.mdpi.com/2077-0383/9/2/388/pdf

[11] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2762452

[12] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2761044

[13] https://www.who.int/docs/default-source/coronaviruse/situation-reports/20200219-sitrep-30-covid-19.pdf?sfvrsn=6e50645_2

[14] https://www.bmj.com/content/368/bmj.m606

[15] https://www.nature.com/articles/d41573-020-00016-0

[16] https://nccid.ca/publications/effectiveness-of-school-closure-for-the-control-of-influenza

[17] https://www.nature.com/articles/d41586-020-00361-5

[18] https://cmmid.github.io/ncov/wuhan_early_dynamics/index.html

[19] https://www.vox.com/science-and-health/2020/1/31/21115109/coronavirus-outbreak-end-sars-comparison

[20] https://jamanetwork.com/journals/jama/fullarticle/2762386