Tag Archives: Đồng bằng sông cửu long

Hướng tới Ngày Nước Thế Giới 2020 với chủ đề nước và biến đổi khí hậu một ĐBSCL ô nhiễm giữa mùa hạn mặn

LGT: Ngày 22/3 hàng năm được Liên Hợp Quốc qui định là Ngày Nước Thế Giới (World Water Day) nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của nước — không chỉ trong sự sống — mà còn liên quan đến văn hóa. Chúng ta là dân tộc thuộc văn hóa sông nước. Văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một ca tiêu biểu của văn hóa sông nước. Sống trong môi trường sông nước có khi chúng ta không thấy nước là quan trọng. Nhưng mấy năm gần đây, cư dân ở ĐBSCL bắt đầu nhận ra rằng hình như khu vực đồng bằng này có vấn đề về nước. Nhận ra như vậy, nhưng ít người dân biết được cội nguồn của tình trạng thiếu nước (và xâm nhập mặn) từ đâu. Bài viết dưới đây của Bs Ngô Thế Vinh sẽ giải thích tại sao, và có lẽ chúng ta sẽ không ngạc nhiên về thủ phạm: các con đập ở thượng nguồn thuộc Tàu. Có lẽ sau khi đọc xong bài này, một vài người lại than rằng cách nhìn của Bs Ngô Thế Vinh là ‘cực đoan’, nhưng sự thật thì vẫn là sự thật: Những con đập của Tàu là nguyên nhân số 1 làm cho người dân ĐBSCL khốn đốn. NVT

****

Water, water, everywhere,
Nor any drop to drink
Nước, nước, khắp nơi,
Không có giọt nước uống
[Samuel Taylor Coleridge 1772-1834]

Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL
Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

HẠN MẶN VÀ Ô NHIỄM 13 TỈNH MIỀN TÂY

Trên một chuyến phà lớn từ Đại Ngãi qua Cù lao Dung, sóng đánh tung toé, khách như cảm thấy được vị mặn bám đọng trên môi. Thấy nước khắp nơi nhưng là nước mặn đã xâm nhập vào khắp các ngả sông rạch và người dân thì đang lao đao lùng kiếm tìm mua từng lu nước ngọt để uống. Rồi còn phải kể tới những cánh đồng lúa cháy và các vườn cây trái thối rễ do đất bị nhiễm mặn khiến nhiều nông gia mất trắng tay.

Người bạn đồng hành đứng bên, anh dạy Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên Đại học Cần Thơ, nói với tôi: “Kể cả có lũ ngọt đổ về, nước hết mặn cũng không uống được vì dòng sông quá ô nhiễm”. Do chất thải kỹ nghệ từ các nhà máy ven sông, do phân bón hoá học từ đồng ruộng tràn ra, và tệ hại hơn nữa là rác rưởi từ các khu gia cư.

Đó là tình cảnh của ngót 20 triệu cư dân ĐBSCL, phải sống chung với những dòng sông ô nhiễm, và nay họ đang nhận thêm được những tín hiệu báo nguy về hạn mặn sẽ trầm trọng hơn năm 2016 và tới sớm hơn ngay từ hai tháng đầu năm 2020. Do đó, cho dù có thấy “nước, nước, khắp mọi nơi, vậy mà không có giọt nào để uống”. Cho dù ĐBSCL vẫn là nơi nhận nguồn nước cao nhất Việt Nam tính theo dân số. Tuy nước vây bủa xung quanh nhưng là nước bẩn hay nước mặn. Thách đố lớn nhất là làm sao thanh lọc được nguồn nước tạp ấy để có nước sạch đưa vào sử dụng.

Với tầm nhìnqua lăng kính vệ tinh và biến đổi khí hậu, vùng châu thổ Mekong là hình ảnh khúc phim quay chậm / slow motion của một con tàu đang  đắm. Một cái chết rất chậm nhưng chắc chắn của một dòng sông Mekong dũng mãnh – lớn thứ 11 trên thế giới với hệ sinh thái phong phú chỉ đứng thứ hai sau con sông Amazon và cả một vùng châu thổ ĐBSCL đang từ từ bị nhấn chìm.


NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI 2020

Không thể tách rời vấn đề Nước và Biến đổi Khí hậu toàn cầuĐó cũng là quan điểm của Liên Hiệp Quốc, khi chọn chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu” cho Ngày Nước Thế giới 22/ 03/ 2020 năm nay.

Trước những tình huống cực đoan và biến đổi bất thường về khí hậu có thể làm gia tăng biến thiên chu kỳ nước – water cycle, khiến rất khó mà tiên đoán được về nguồn nước có thể sử dụng – water availability, với những ảnh hưởng trên phẩm chất nước, cả trên tính đa dạng sinh học / biodiversity, và đe doạ sự phát triển bền vững trên nhiều lưu vực của các con sông.

Dân số toàn cầu từ 7.2 tỷ năm 2015 đến nay 2020 – theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, đã vượt qua con số 7.7 tỷ người. Tăng dân số cũng có nghĩa là gia tăng nhu cầu nước,  kéo theo gia tăng nhu cầu năng lượng để bơm nước, vận chuyển và xử lý nước – water treatment. Tận dụng nguồn nước cũng dẫn tới sự suy thoái các hồ chứa carbon thiên nhiên – carbon sinks từ các vùng đất đầm lầy.

Tăng cường mối quan tâm về nước để đáp ứng nhu cầu nước ngày một gia tăng trong tương lai; điều ấy đòi hỏi phải có những quyết định mạnh mẽ, làm cách nào để phân chia các nguồn tài nguyên nước – allocate water resources, thích nghi với biến đổi khí hậu giữa những tranh chấp sử dụng nguồn nước giữa các địa phương và các quốc gia.

Một ví dụ điển hình: con sông Mekong dài hơn 4800 km chảy qua 7 quốc gia [Tây Tạng*, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam] giữa mùa khô hạn, đang bị tận lực khai thác bởi chuỗi những con đập thủy điện thượng nguồn, và làm cách nào để  chia sẻ và sử dụng công bằng nguồn nước từ con sông Mekong đang là một “tranh chấp nóng” diễn ra hiện nay. Khi mà Cambodia và Việt Nam là hai quốc gia cuối nguồn đang chịu những hậu quả tích luỹ nặng nề nhất: một Biển Hồ như trái tim của Cambodia đang thiếu nước, một ĐBSCL chịu hạn mặn chưa bao giờ khốc liệt như thế. Chưa kể tới khả năng nước lớn Trung Quốc sử dụng con sông Lancang-Mekong như một thứ vũ khí trong cuộc chiến tranh môi sinh – ecological warfare trừng phạt Việt Nam và các nước hạ lưu  khác.  

[* Tây Tạng nơi phát nguồn con sông Mekong, về phương diện địa dư chính trị, bấy lâu người viết vẫn ghi nhận như một quốc gia cho dù đang bị Trung Quốc xâm chiếm.]   

Chính sách đối phó với biến đổi khí hậu không chỉ trên quy mô quốc gia mà cho toàn lưu vực với mọi hoạch định cần theo một phương cách tích hợp – integrated approach, đối với nhu cầu sử dụng và quản lý nguồn nước.

Để phát triển và xây dựng một tương lai bền vững, cách làm ăn cũ bấy lâu với những quy hoạch thuỷ lợi không hiệu quả; do đó từ nay mọi phương cách quản lý nước cần được phân tích kỹ lưỡng qua lăng kính biến đổi khí hậu – through a climate change lens. Chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa để cải tiến và cập nhật những dữ liệu thuỷ học – hydrological data, qua các học viện, qua các chính phủ, qua giáo dục, cùng nhau chia sẻ mọi kiến thức, để có được khả năng tiên lượng và đối phó với những rủi ro khan hiếm nước như hiện nay và chắc chắn sẽ trầm trọng hơn nhiều trong tương lai.

Mọi chính sách cần bảo đảm tính đại diện rộng rãi các thành phần tham gia, với thay đổi tác phong ứng xử, tạo được sự tin cậy giữa nhà nước, các tổ chức xã hội dân sự và lãnh vực tư nhân.
Những kế hoạch thích ứng cần có chiến lược nêu rõ mục tiêu – targeted strategies, ưu tiên trợ giúp các cộng đồng cư dân lợi tức thấp – họ là nhóm người chịu tác động, dễ bị tổn thương và thiệt hại nhiều nhất do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu. (1)

GIỚI THIỆU DRAGON MEKONG

DRAGON là chữ viết tắt của Delta* Research And Global Observation Network / Mạng lưới Nghiên cứu Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu. DRAGON nhằm mục đích thiết lập một hệ thống thông tin toàn cầu, tăng cường quan hệ hợp tác và cùng chia sẻ kinh nghiệm lâu dài giữa các vùng châu thổ trên thế giới.

[Ghi chú: Delta* thay vì quen gọi là đồng bằng, nay được gọi là châu thổ do được hình thành từ phù sa của các con sông bồi đắp.]
Ủy ban Liên Chính Phủ về Biến đổi Khí hậu /Intergovernmental Panel on Climate Change (IPCC) do Tổ chức Khí tượng Thế giới (World Meteorological) và Chương trình Môi sinh Liên Hiệp Quốc (United Nations Environment Programme), bao gồm 195 quốc gia thành viên. Theo IPCC hiện có khoảng 300 triệu cư dân sống trong 40 vùng châu thổ / Deltas trên toàn cầu. Các vùng châu thổ là nơi được phù sa các con sông bồi đắp và IPCC đã đưa ra nhận định: “Những vùng châu thổ đó rất dễ bị tổn thương do tác động của biến đổi khí hậu, do nước biển dâng, do biến đổi dòng chảy, đồng thời với những chấn động qua quá trình sử dụng đất đai, do chính con người gây ra trong lưu vực / catchment area.” 

Từ năm 2007, IPCC đưa ra cảnh báo thêm: 13 vùng châu thổ lớn trên thế giới sẽ bị ảnh hưởng do hậu quả của Biến đổi Khí hậu và nước biển dâng, trong đó có hai vùng châu thổ sông Mekong Việt Nam và châu thổ sông Mississippi Hoa Kỳ được xếp là vùng dễ bị tổn thương ở mức độ rất cao.

Do tính tương đồng và tầm quan trọng về an ninh lương thực, kinh tế, xã hội và văn hóa của hai vùng châu thổ Mekong và Mississippi, ngày 21 tháng 11 năm 2008, Đại học Cần Thơ kết hợp với Cơ Quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ – US Geographical Survey (USGS) và Trung tâm nghiên cứu Đất ngập nước quốc gia – National Wetlands Research Center Hoa Kỳ (NWRC) đã tổ chức lễ thành lập Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu Mekong với tên viết tắt tiếng Anh là DRAGON Institute Mekong, thuộc Mạng DRAGON toàn cầu, có cơ sở tại Đại học Cần Thơ, ĐBSCL. (4)

Hình 1_ Logo Viện Nghiên Cứu Biến Đổi Khí Hậu Mekong – Đại học Cần Thơ. DRAGON là chữ viết tắt của Delta Research And Global Observation Network – Mạng lưới Nghiên cứu Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu, được thiết lập từ 2008, đến nay là 12 năm, có thể xem như một Viện Nghiên cứu của Đại học Cần Thơ. (4)

Hình 2_ Đoàn khảo sát môi sinh ĐBSCL chụp hình trước cơ sở đầu tiên của Viện Nghiên Cứu Biến đổi Khí hậu/ DRAGON – Mekong Institute, từ trái: TS Dương Văn Ni (Khoa Môi trường vàTài Nguyên Thiên nhiên ĐHCT), TS Lê Phát Quới (Viện Tài Nguyên Môi Trường ĐHQG Tp. HCM), Ngô Thế Vinh, TS Lê Anh Tuấn (Viện Nghiên cứu Biến Đổi Khí hậu ĐHCT), KS Phạm Phan Long (Hội Sinh Thái Việt), Th.S Nguyễn Hữu Thiện (Chuyên gia Đất Ngập nước / Wetlands), BS Nguyễn Văn Hưng. [tư liệu Ngô Thế Vinh 2017]

Xem ra, ngoài nét tương đồng giữa 2 vùng:  châu thổ Louisiana sông Mississippi – Vịnh Mexico và châu thổ Mekong sông Mekong – Biển Đông trước ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, thì riêng ĐBSCL hiện đang phải đương đầu với những thử thách khó khăn hơn nhiều. Tưởng cũng nên ghi nhận ở đây sự khác biệt quan trọng giữa hai dòng sông: (1) Độ dốc thượng nguồn sông Mekong cao hơn gấp 12 lần sông Mississippi, nên có một tiềm năng thuỷ điện vô cùng hấp dẫn mà sông Mississippi không có được; (2) Với 40 con đập cũ trên sông Mississippi phần lớn được xây từ thập niên 1930, không sao có thể sánh được với chuỗi đập khổng lồ trên sông Lancang-Mekong Vân Nam và các con đập dòng chính ở Lào;  (3) Sông Mississippi chỉ chảy trong lãnh thổ Hoa Kỳ, trong khi sông Mekong chảy qua 7 quốc gia: Tây Tạng, Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam với những mâu thuẫn về quyền lợi rất gay gắt. (3)

Hình 3_ Hình chụp cơ sở mới của DRAGON Mekong Institute, với các thành viên tham dự Khoá Tập huấn Báo chí về “Biến đổi Khí hậu và Năng lượng Bền vững” tổ chức từ ngày 22 tới 24 tháng 8, 2019, trong Dự án Mạng lưới Báo chí Địa cầu / Earth Journalism Network. [nguồn: CRUS.Vietnam, Aug 2019]

DRAGON Institute-Mekong-CTU sẽ là điểm nối kết các hoạt động nghiên cứu, giáo dục và chuyển giao kiến thức khoa học đến các nhà lãnh đạo, quản lý và cộng đồng các cấp từ địa phương, quốc gia tới các vùng châu thổ khác trên thế giới nhằm mục đích nâng cao năng lực thích nghi của cư dân đối với thiên tai; phát triển bền vững kinh tế và xã hội, đồng thời bảo tồn các hệ sinh thái thiên nhiên.

Từ khi được thành lập, Viện Biến đổi Khí hậu DRAGON-Mekong đã được nhiều tổ chức trong và ngoài nước đến trao đổi, đề xuất các hướng hợp tác. Với vai trò là một trung tâm dẫn đầu của ĐBSCL, Đại học Cần Thơ và Viện DRAGON-Mekong đang có các bước đi tiên phong trong nghiên cứu các vấn đề liên quan tới Biến đổi Khí hậu với một kế hoạch hành động trước mặt và lâu dài. (4)

DỰ BÁO MEKONG / FORECAST MEKONG

Qua Sáng kiến Hạ lưu Sông Mekong – Lower Mekong Initiative 2020  được khởi xướng từ 2009 do ngoại trưởng Mỹ Hillary Rodham Clinton cùng với các ngoại trưởng 4 quốc gia Cambodia, Lào, Thái Lan và Việt Nam  nhằm tăng cường cam kết của Mỹ đối với các quốc gia hạ lưu sông Mekong trong các lãnh vực môi trường, y tế, giáo dục và hạ tầng cơ sở.

Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS chuyên nghiên cứu các vùng châu thổ, đã liên kết / partnership với Viện DRAGON –  Mạng lưới Nghiên cứu Đồng bằng Châu thổ và Quan trắc Toàn cầu áp dụng kinh nghiệm từ sông Mississippi với chuyên môn về Mô hình  Khoa học-Trái đất[Earth-science modeling] sẽ hỗ trợ cho các quốc gia Mekong phương cách lượng giá biến đổi khí hậu và hoạt động của con người có thể ảnh hưởng trên hệ sinh thái và an ninh lương thực trong lưu vực sông Mekong.

KHOÁ TẬP HUẤN DỰ BÁO MEKONG

Trong ba ngày 9-10-11 tháng 12 năm 2009 cùng với viện DRAGON Đại học Cần Thơ, Việt Nam, Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS và Bộ Ngoại Giao Mỹ, đã cùng bảo trợ cho một khoá tập huấn / workshop nhan đề: “Tìm hiểu mối hiểm nguy / risk và đặc tính dễ tổn thương/ vulnerability của các hệ sinh thái nước ngập / Wetlands Ecosystems nơi hai vùng châu thổ Mekong và Mississippi do Biến đổi Khí hậu và Nước biển dâng.”

Hình 4_ Cho dù cách nhau 12 múi giờ, hai vùng châu thổ Mekong (trái) và Mississippi (phải), có những điểm tương đồng về sinh cảnh môi trường, kinh tế xã hội và văn hoá. [Mô hình chụp từ vệ tinh của Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ USGS ] (2)

Chương trình Dự báo Mekong được USGS thực hiện, không chỉ với ĐH Cần Thơ mà là một kết hợp mở rộng với các chính phủ địa phương và các Đại học trong lưu vực sông Mekong. Khoá tập huấn này là một phần của dự án có tên “Dự báo Mekong – Forecast Mekong,” một kết hợp dữ kiện hỗ tương, tạo mô hình / modeling, và hệ thống biểu đồ / visualization system nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý tài nguyên / resources managers, và công chúng am hiểu và tiên liệu được các tác động do biến đổi khí hậu và triển khai những dự án phát triển trong lưu vực sông Mekong. (2)

Khoá tập huấn quy tụ được hơn 75 thành viên tham dự, đã cùng xác định những thiếu sót về thông tin liên hệ tới vùng châu thổ Mekong / ĐBSCL và Biến đổi Khí hậu. Những thành viên tham dự bao gồm các nhà khoa học, các viên chức chính phủ từ các quốc gia Cambodia, Lào, Việt Nam, Thái Lan và cả Trung Quốc; đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ và các tổ chức NGOs phi chính phủ và dĩ nhiên với các chuyên gia USGS. Nhiều vấn đề khoa học quan trọng được đặt ra, bao gồm phẩm chất nước, lượng phù sa / sedimentation, những ảnh hưởng của các đập thuỷ điện trên sự đa dạng sinh học / biodiversity, an ninh lương thực, sự thích nghi với biến đổi khí hậu qua thời gian và mức nghiêm trọng của các mùa lũ lụt / seasonal floods, và ảnh hưởng trên sản lượng cá.

Những bước tiếp theo sẽ là các cuộc nghiên cứu phối hợp của USGS với các nhà khoa học trong lưu vực Mekong, nhằm cung cấp chuyên môn kỹ thuật để tạo thuận các bước thu thập phân tích và tích hợp dữ kiện / data analysis & integration, theo dõi môi trường / environmental monitoring, với các dụng cụ biểu đồ khoa học / science-visualization tools. Các thành viên tham dự cũng đã xác định nhu cầu được huấn luyện và chuyển giao kỹ thuật, cùng với ước muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn và chặt chẽ hơn với USGS.

Dự án Dự Báo Mekong / The Forecast Mekong project cũng sẽ giúp xây dựng nền móng cho các hoạt động trong tương lai qua tăng cường mối liên hệ giữa các nhà khoa học, các tổ chức trong lưu vực Mekong qua các cuộc nghiên cứu chung.

DRAGON đã xây dựng được một cộng đồng quốc tế giữa các nhà khoa học và quản lý tài nguyên nhằm chia sẻ những dữ kiện giữa các vùng châu thổ lớn và những con sông thế giới. Những cuộc nghiên cứu đối chiếu / comparative studies là cần thiết để hiểu biết và tiên liệu được hậu quả của biến đổi khí hậu trên các dự án xây dựng, sử dụng đất đai, biến đổi về thuỷ học và những ảnh hưởng khác do con người gây ra trên các hệ sinh thái vốn mong manh và dễ bị tổn thương.

Bằng triển khai những mô hình đối chiếu / comparative models và với các dụng cụ biểu đồ / visualization tools, mục đích của mạng lưới DRAGON là trợ giúp thông tin cho những quyết định chính sách công / public policy decisions có ảnh hưởng tới hệ sinh thái và  các cộng đồng cư dân sống trong các vùng châu thổ.

Cơ quan Khảo sát Địa dư Hoa Kỳ [USGS] đem tới những hiểu biết khoa học rộng rãi từ châu thổ sông Mississippi tới một vùng châu thổ tương đồng, cách xa nửa vòng trái đất đó là châu thổ sông Mekong [ĐBSCL].

Khoá tập huấn này là một phần của dự án có tên “Dự báo Mekong – Forecast Mekong,” một kết hợp dữ kiện hỗ tương, tạo mô hình / modeling, và hệ  thống biểu đồ / visualization system nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách / policy makers, các nhà quản lý tài nguyên / resources managers, và công chúng am hiểu và tiên liệu được các tác động do biến đổi khí hậu và triển khai những dự án trong lưu vực sông Mekong. (2)

Chương trình này được thực hiện bởi USGS kết hợp với các chính phủ địa phương và các Đại học trong lưu vực Mekong, Chương trình Dự Báo Mekong / Mekong Forecast sẽ cung cấp một dụng cụ rất giá trị để nhận rõ những hậu quả của Biến đối Khí hậu và cách quản lý dòng sông / river management.

Những bước tiếp theo sẽ là các cuộc nghiên cứu phối hợp của USGS với các nhà khoa học trong lưu vực Mekong, nhằm cung cấp chuyên môn kỹ thuật / technical expertise để tạo thuận các bước phân tích và tích hợp dữ kiện / data analysis & integration, hướng dẫn theo dõi môi trường / environmental monitoring, với những dụng cụ biểu đồ khoa học / science-visualization tools. Các thành viên tham dự cũng đã xác định nhu cầu được huấn luyện / training và chuyển giao kỹ thuật / technological transfer, cùng với ước muốn thiết lập mối quan hệ hợp tác dài hạn và chặt chẽ hơn với USGS.

Dự án Dự Báo Mekong / The Forecast Mekong project cũng sẽ giúp xây dựng nền móng cho các hoạt động trong tương lai qua tăng cường mối liên hệ giữa các nhà khoa học, các tổ chức trong lưu vực Mekong qua các cuộc nghiên cứu chung và chia sẻ các dữ kiện / data sharing. 

Hình 5_ Một ĐBSCL đã và đang bị tổn thương do những nguyên nhân: (1) do các con đập thượng nguồn, (2) do nạo vét cát dưới lòng sông, (3) do nước biển dâng, (4) do ô nhiễm sông rạch, (5) còn phải kể tới những dự án sai lầm ngăn mặn phá huỷ sự cân bằng hệ sinh thái mong manh của vùng châu thổ sông Mekong. Tính tới 2020, đã có 11 con đập dòng chính khổng lồ của Trung Quốc trên khúc sông Lancang-Mekong thượng nguồn; có thêm 2 con đập dòng chính của Lào (Xayaburi và Don Sahong) đã hoạt động từ 2019. Dự án Luang Prabang 1460 MW, sẽ là con đập dòng chính lớn nhất trên sông Mekong của Lào và điều rất nghịch lý là do Việt Nam làm chủ đầu tư, dự trù có thể được khởi công sớm trong năm nay. [International River 2004, do Ngô Thế Vinh cập nhật 2020].

Một ví dụ điển hình, USGS với kinh nghiệm về Trận Bão nhiệt đới Katrina 2005 của thế kỷ trên vùng châu thổ Mississippivới tổn thất 1800 nhân mạng, đã để lại những hậu quả tàn phá lớn nhất trong lịch sử thiên tai của Hoa Kỳ thiệt hại vật chất lên tới 125 tỷ USD, đã cho thấy nhu cầu cấp thiết chia sẻ thông tin và các dữ kiện với các vùng châu thổ trên toàn cầu.

DRAGON đã tạo ra một cộng đồng quốc tế giữa các nhà khoa học và quản lý tài nguyên nhằm chia sẻ những dữ kiện giữa các vùng châu thổ lớn và những con sông thế giới.  Những cuộc nghiên cứu đối chiếu comparative studies là cần thiết để hiểu biết và tiên liệu được hậu quả của biến đổi khí hậu trên các dự án xây dựng, sử dụng đất đai, biến đổi về thuỷ học và những ảnh hưởng khác do con người gây ra trên các hệ sinh thái vốn mong manh và rất dễ bị tổn thương.

Bằng triển khai những mô hình đối chiếu / comparative models cùng với các dụng cụ biểu đồ / visualization tools, mục đích của mạng lưới DRAGON là trợ giúp thông tin cho những hoạch định chính sách / public policy decisions có ảnh hưởng tới hệ sinh thái và  các cộng đồng cư dân sống trong các vùng châu thổ trên hành tinh này.

Hình 6_ĐBSCL với những cánh đồng bị khô nứt – sa mạc hoá / desertification, do trận hạn hán khốc liệt năm 2016. (trên) [VN Express 3/11/2016]; Dự báo Mekong: trận hạn hán và nhiễm mặn 2020 sẽ trầm trọng hơn năm 2016.  Mekong Delta barbecue / ĐBSCL bị nướng do khô hạn. (dưới) [tranh biếm hoạ của Babui, tặng Ngô Thế Vinh]

NƯỚC QUANH TA: GIẢI PHÁP DO THÁI

Khan hiếm nước là một thực trạng đang diễn ra ở những mức độ khác nhau trên toàn hành tinh này. Từ tiểu bang Vàng California giàu có tới các nước nghèo khó của lục địa Phi châu. Khủng hoảng thiếu nước sạch nơi châu thổ Mekong cũng nằm trong bối cảnh toàn cầu ấy.

Đất lún, mặt bằng châu thổ Mekong thấp hơn mặt biển, có bài học từ một đất nước Hoà Lan Vùng Đất Thấp vẫn cứ tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ.

Thiếu nước ngọt: nước uống và nước tưới cho hoa màu, có bài học từ một đất nước Do Thái mọc lên giữa sa mạc với đủ loại hoa màu xanh tươi.

Nước được khai thác từ nhiều nguồn, (1) từ giếng tới tầng nước ngầm, (2) từ nước biển khử mặn, (3) từ nguồn nước thải được thanh lọc tái sinh, (4) chiết xuất nước từ độ ẩm trong không khí…

Ưu tiên giải quyết vấn đề nước là một quốc sách của Do Thái ngay từ ngày lập quốc. Bằng trí tuệ sáng tạo và khoa học kỹ thuật  từ một sa mạc khô hạn, ngày nay Do Thái đã có đủ nước cho mọi nhu cầu gia dụng, canh nông và kỹ nghệ. Nhưng trên hết, vẫn là ý thức tiết kiệm nước của toàn dân – được giáo dục ngay  từ bậc tiểu học qua mọi cấp trong mọi lãnh vực sinh hoạt.

Không chỉ như vậy, họ còn biết sử dụng tối ưu các nguồn nước có được, tới mức còn dư nước viện trợ cho các quốc gia láng giềng thù nghịch và cả chuyển giao kỹ thuật giải quyết vấn đề thiếu nước ra thế giới như một quyền lực mềm trong ngoại giao. Kinh nghiệm Do Thái đã giúp nhiều quốc gia, trong đó có Trung Quốc, kể cả quốc gia tiên tiến như Mỹ để giải quyết vấn nạn thiếu nước.

Hình 7_ Nông gia Do Thái đã tiết kiệm được rất nhiều nước trong canh tác; một ví dụ nhỏ, bằng cách tưới nhỏ giọt / drip irrigation thay cho kỹ thuật tưới cổ điển tưới bằng vòi phun hay nước ngập đồng. Tưới ngay gốc giảm được lượng nước bốc hơi, cây lớn mạnh hơn và năng suất cũng cao hơn, thêm vào đó cách bón cây nhỏ giọt còn tránh được lượng nitrogen tràn vào các nguồn nước và cả giảm thiểu được lượng hoá chất trên vùng canh tác. [Let There Be Water. Seth M. Siegel 2017] (9) 

ĐBSCL SẼ VẪN MÃI XANH TƯƠI  

Rừng vàng biển bạc đất phì nhiêu, câu thuộc nằm lòng ấy đã có từ một nền giáo dục Quốc văn Giáo khoa thư từ buổi thiếu thời qua nhiều thế hệ. Và nay thì thực sự không còn nữa và cũng đừng tiếp tục gieo vào đầu óc trẻ thơ châu châm ngôn lỗi thời ấy.

Kể từ sau 1975, những khu rừng nguyên sinh bị tàn phá. Biển bị đầu độc không còn cá. Đất bị sa mạc hoá và xói mòn. Mọi nguồn tài nguyên bị tận lực  khai thác tới cạn kiệt. Cho đến cả một ngụm nước sạch để uống và một bầu không khí trong lành để thở rồi cũng trở thành điều mơ ước. Những điều cơ bản ấy cũng chính là quyền con người / human rights.

Với những công trình phát triển tự huỷ, và sắp tới đây, con đập thuỷ điện  Luang Prabang lớn nhất của Lào do Việt Nam đầu tư, rõ ràng Việt Nam đang chọn những bước đi liều lĩnh trên những tảng băng mỏng – walks on thin ice, với tiêu chuẩn nước đôi – double standards, và cũng  từ nay Việt Nam sẽ chẳng thể còn một tiếng nói chính nghĩa và thuyết phục nào đối với cộng đồng 70 triệu cư dân sống trong lưu vực sông Mekong và trước cả thế giới.

Với tầm nhìn của thiên niên kỷ thứ ba, duy trì từng hệ sinh thái phong phú của hành tinh này cũng là bảo vệ một nền văn minh rất đa dạng và lâu đời của con sông Mekong, mà không có mối lợi lộc ngắn hạn nào có thể vội vàng đem ra đánh đổi. Và cũng đã hơn một lần, trong hơn hai thập niên qua, người viết luôn luôn nhắc tới một vấn đề rất cốt lõi: “Môi sinh và Dân chủ” sẽ mãi mãi là bộ đôi không thể tách rời / Inseparable Duo.

THAY CHO LỜI KẾT

Nhân Ngày Nước Thế Giới 22 tháng 3 năm nay 2020, với chủ đề “Nước và Biến đổi Khí hậu”, trước tình cảnh một ĐBSCL đang ngày một suy thoái, người viết gửi tới các bạn trẻ cùng với 20 triệu cư dân 13 tỉnh Miền Tây trích dẫn câu nói của Oded Distel, một chuyên gia về nước của Do Thái: “Không có kỹ nghệ không gian các quốc gia vẫn sống được, nhưng không thể sống nếu không có nước”. (9)  Nước theo cái nghĩa là “nguồn nước sạch” có thể sử dụng được. Oded Distel muốn nhấn mạnh tới sự chọn lựa đâu là bước ưu tiên trong phát triển.

NGÔ THẾ VINH
California 21.02.2020
[Miền Tây, Cù Lao Dung 2017]

THAM KHẢO:

  1. UN-Water Policy Brief on Climate Change and Water, 12 July 2019 https://www.unwater.org/publications/un-water-policy-brief-on-climate-change-and-water/
  2. A Different Delta Force – USGS and U.S. Department of State Assist in the Mekong Delta, By   Gabrielle B. Bodin, March 2010 [revised Feb. 2013]
  3. The Mekong and Mississippi Sister-River Partnership, Similarities and Differences. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 01.15.2011
  4. Research Institute for Climate Change (DRAGON institute – Mekong) https://dragon.ctu.edu.vn/
  5. Thăm Khu Nhà Máy Xử lý Nước Thải và Hệ thống Bổ sung Tầng Nước Ngầm tại Quận Cam. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 23.03 – 24.07.2017
  6. From A Mekong Delta Threatened by Salinization to the Carlsbad Desalination Plant. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 01.2020
  7. Promising way to make fresh water for family use, 1.5 gallons per hour for each square meter of solar collecting area. http://news.mit.edu/2020/passive-solar-powered-water-desalination-0207
  8. Creating Drinking Water from Air. Watergen Technology from Israel. https://www.watergen.com
  9. Let There Be Water. Israel’s Solution for a Water-Starved World. Seth M. Siegel. Thomas Dunne Books. An imprint of St. Martin’s Press 2017.

Từ một ĐBSCL đang ngập mặn đi thăm nhà máy khử mặn Carlsbad lớn nhất nước Mỹ

LGT: Chuyến về quê vừa qua, tôi nghe bà con than phiền về tình trạng nước mặn xâm nhập vào các con sông (làng tôi cách biển chừng 25 km). Điều đáng nói là người dân gần như chấp nhận đó là một thực tế và ‘sống chung với mặn’, vì họ không có khả năng nào khác. Nếu có một nhà máy khử nước mặn thì hay biết mấy. Xin giới thiệu đến các bạn một bài viết mới của Bs Ngô Thế Vinh về nhà máy khử nước mặn Carlsbad ở Mĩ. NVT

====

Từ một ĐBSCL đang ngập mặn đi thăm nhà máy khử mặn Carlsbad lớn nhất nước Mỹ

NGÔ THẾ VINH

Gửi 20 triệu cư dân ĐBSCL

sống trong cảnh hạn mặn

và thiếu nguồn nước ngọt

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

 

blank

Hình 1_ TỪ NGUỒN NƯỚC BIỂN. Poseidon Water / Carlsbad Desalination Plant, nhà máy khử mặn từ nguồn nước biển qua kỹ thuật thẩm thấu đảo nghịch / reverse osmosis mỗi ngày sản xuất / cung cấp 50 triệu gallons nước/ ngày (190,000 mét khối), là nguồn nước uống tinh khiết cho 400,000 ngàn cư dân Quận San Diego. Nhóm Bạn Cửu Long đi thăm khu nhà máy khử mặn Carlsbad lớn nhất nước Mỹ;  từ phải: Ngô Thế Vinh, Jessica H. Jones Director of Communications, Phạm Phan Long. [photo by Ngô Minh Triết] (1)

 

 blank

Hình 2_ TỪ NGUỒN NƯỚC THẢI. Thăm 2 khu Nhà máy: (1) Xử lý Nước Thải / Waste Water Treatment Plant thanh lọc từ nguồn nước thải và mỗi ngày sản xuất / cung cấp 100 triệu gallons / ngày (378,000 mét khối) nước sạch cho cư dân Quận Cam; (2) Hệ thống Bổ sung Tầng Nước ngầm / Ground Water Replenishement System (GWRS). Ms. Becky Mudd (giữa) đặc trách giao tế cộng đồng, KS Phạm Phan Long (phải), Ngô Thế Vinh (trái). [photo by Nguyễn Đăng Anh Thi] (4)

 

NGÀY NƯỚC THẾ GIỚI 2020

Cách đây 27 năm, kể từ 1993, Liên Hiệp Quốc đã chọn ngày 22 tháng 3 mỗi năm là Ngày Nước Thế Giới / World Water Day, do sáng kiến từ Hội nghị Môi Sinh và Phát Triển/ United Nations Conference on Environment and Development/ UNCED tại Rio de Janeiro, Brazil [1992].

Và mỗi năm Liên Hiệp Quốc đều chọn ra một “chủ đề” cho Ngày Nước Thế Giới để tập trung vận động qua những cuộc hội thảo, qua các phương tiện truyền thông và giáo dục xoay quanh chủ đề này.

Có thể nói, nước là biểu hiện của sự sống, vì thế mỗi khi tìm ra tín hiệu có nước trên một vì tinh tú xa xôi thì các nhà khoa học thiên văn đã lạc quan cho rằng có thể có sự sống và sinh vật ở trên đó. Trái đất này sẽ là một hành tinh chết nếu không có nước. Trong lịch sử nhân loại, đã có những nền văn minh cổ đại bị tiêu vong không chỉ vì dịch bệnh mà do thiếu nước.

Nhưng trước mắt, thiếu nước đang là một vấn nạn ngày càng trầm trọng của thế giới chúng ta đang sống hiện nay. Ngày Nước Thế Giới, như cơ hội để mọi người quan tâm tới tầm quan trọng của nguồn nước ngọt / freshwater và cùng nhau vận động hỗ trợ cho những phương cách quản lý bền vững các nguồn nước ấy.

Khan hiếm nguồn nước có thể ảnh hưởng trên an toàn lương thực thế giới, gây bất ổn về chính trị và là nguyên nhân đưa tới những cuộc tỵ nạn môi sinh ồ ạt. Với các đặc tính của Biến đổi Khí hậu – climate change, bao gồm những tình huống cực đoan về nguồn nước trong tương lai: hoặc là hạn hán khốc liệt hay là thiên tai bão lụt xảy ra nhiều hơn và tàn phá hơn.

Từ 2019, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guteres đã chủ toạ một Hội nghị Thượng đỉnh về Khí hậu – a Climate Summit để khẩn trương có những hành động thực thi Thoả ước Paris – Paris Agreement. Năm 2020 để chuẩn bị cho Ngày Nước Thế Giới – World Water Day, mỗi quốc gia đều nêu rõ chương trình hành động nhằm đối phó với vấn đề nước với chủ đề nước và trong tình trạng biến đổi khí hậu.

Và như truyền thống hàng năm, Ngày Nước Thế Giới  2020 sẽ diễn ra vào ngày 22 tháng 03 với chủ đề về Nước và Biến Đổi Khí Hậu; cuộc vận động sẽ được điều hợp bởi toán chuyên gia của LHQ. (2)

 

      Với biến đổi khí hậu, ĐBSCL được đánh giá là một trong những vùng châu thổ dễ bị tổn thương nhất, với nghịch lý: dư thừa nước mặn, nước bẩn nhưng rất thiếu nước sạch và nguồn nước ngọt phù sa.  

 

NHÀ MÁY KHỬ MẶN CARLSBAD

Được khánh thành ngày 14 tháng 12 năm 2015 tại thị trấn Carlsbsd, California nằm cận phía bắc nhà máy điện Encina Power Station. Địa chỉ 4600 Carlsbad Bld.

Carlsbad, CA 92008. Dự án US$ 784 triệu USD được thực hiện với tiền cổ phiếu – bond. Và sau đó bán lại cho tư nhân với giá 1 tỷ USD. Nhà máy mỗi ngày sản xuất 50 triệu gallons nước ngọt [tương đương với 190,000 mét khối nước], từ nguồn nước biển, đủ cung cấp nước cho 400,000 ngàn cư dân Quận hạt San Diego; với giá thành ½ xu [half a penny] cho một gallon. The San Diego County Water Authhority – SDCWA đã gọi nơi đây là “nhà máy khử mặn nước biển lớn nhất nước, với kỹ thuật tiên tiến nhất, và sử dụng năng lượng hiệu quả nhất – energy efficient.”

Dự án xây nhà máy khử mặn tại quận hạt San Diego bắt đầu từ 1993 sau 5 năm tiểu bang California bị khô hạn – drought. Kỹ thuật màng – membrane technology cho nhà máy đã được General Atomics La Jolla tiên phong áp dụng trước đó.

blank

Hình 3_ Nhà máy Khử mặn Carlsbad trên một diện tích 4 mẫu Anh – four-acre site, địa chỉ 4600 Carlsbad Bld. Carlsbad, CA 92008. Được khánh thành ngày 14 tháng 12 năm 2015, kế cận nhà máy điện không còn hoạt động Encina Power Station, sát bên vịnh Agua Hedionda Lagoon Thái Bình Dương. Vận hành nhà máy không cần nhiều công nhân do kỹ thuật tự động hoá – automation. (1,2)

Với viễn kiến, đây sẽ là nơi sản xuất nguồn nước ngọt bổ sung cho nguồn nước nhập từ sông Colorado, từ vùng châu thổ Sacramento bắc California, cùng với nguồn nước mưa và từ tầng nước ngầm / groundwater…

Ban đầu các nhà hoạt động hoạt động môi sinh – environmentalists đã mạnh mẽ chống đối dự án này, nêu ra những lý do: tiêu phí năng lượng – energy consumption, nước thải quá mặn – brine discharge, và cả lấy nguồn nước biển có thể làm chết cá. Đã có năm vụ kiện lớn chống dự án xây dựng nhà máy khử mặn nhưng đều không thành công.

Nhà máy được khởi công xây dựng từ tháng 12 năm 2012 – tức là 19 năm sau từ ngày hình thành dự án (1993- 2012), dự trù hoàn tất sau 4 năm 2016, nhưng đã được hoàn tất sớm hơn một năm do tình trạng hạn hán liên tục của California. Cho dù đã xây cất xong, nhà máy được chạy thử nghiệm 6 tháng trước khi bắt đầu cung cấp nguồn nước cho San Diego.

Nhà máy được tập đoàn Poseidon Water điều hành, và xây dựng công trình bao gồm một số công ty kỹ thuật chính như: GHD Group, IDE Americas Inc. – chi nhánh của một công ty Do Thái: Israel-based IDE Technology.

Nước ngọt từ nhà máy được chuyển xuống San Diego bằng một đường ống dài 16 km đường kính 1.4 m, để đưa nước về SDCWA tại San Marcos là trung tâm phân phối nước cho toàn vùng San Diego.

NHÀ MÁY CARLSBAD HOẠT ĐỘNG RA SAO?

Nhà máy lọc nước biển Carlsbad được cho xây ngay bên cạnh nhà máy nhiệt  điện không còn hoạt động và nhờ đó được sử dụng đầm nước/ lagoon và máy bơm nước biển và hệ thống thải nước ra biển chung với nhà máy điện mà không cần xây thêm.

Lấy 380,000 mét khối nước biển/ ngày từ nguồn nước làm mát máy điện / cooling water từ nhà máy nhiệt điện Encina Power Plant ngay kế cận, bước đầu được lọc qua các tầng đá vụn – gravel, cát và than đá cứng nhằm làm loại bỏ các hạt tạp chất và những hạt lơ lửng.

Sau đó được khử mặn qua hệ thống lọc theo kỹ thuật “thẩm thấu đảo nghịch / hay thẩm nghịch – reverse osmosis.” Nửa nguồn nước mặn này: 190,000 mét khối được chuyển thành nguồn nước uống tinh khiết, nửa còn lại được với độ mặn cao mà từ chuyên môn gọi là concentrated brine; do có độ mặn cao hơn 20% so với nước biển, nên lượng nước mặn đậm đặc này cần được pha loãng trước khi được đổ ra biển. Do nhà máy điện Encina Power Station đã ngưng hoạt động từ 2017,  Poseidon Water đã thay thế đảm trách giai đoạn pha loãng này.

blank

Hình 4_ Jessica H. Jones giải thích: nước biển được bơm vào nhà máy; trước hết phải qua giai đoạn gạn lọc các tạp chất và những hạt lơ lửng – suspended particles qua các tầng đá vụn, cát và tầng than đá cứng anthracite – hard coal, trước khi bước sang giai đoạn 2 thanh lọc khử mặn. (1,2)

 

blank

Hình 5_ Tiếp theo đó, nước biển được lọc khử mặn với kỹ thuật “thẩm thấu đảo nghịch – reverse osmosis qua các tấm màng lọc”. Các lỗ của màng lọc có kích thước cực nhỏ chỉ bằng 1 phần triệu đường kính của sợi tóc. (1,2)

Tuy đi vào hoạt động đã 5 năm nhưng ban kỹ thuật vẫn luôn luôn quan tâm theo dõi ảnh hưởng của nhà máy trên môi trường. Ví dụ, một cuộc khảo sát tháng Giêng, 2019 ghi nhận nước thải từ nhà máy đã tăng độ mặn nước biển vùng cận duyên – offshore nhưng không quá 10% không gây ảnh hưởng đáng kể tới các giống loài thuỷ sinh trong vùng.

blank

Hình 6_ Jessica đang giới thiệu mẫu màng lọc – reverse osmosis membranes dùng trong giai đoạn khử mặn từ nước biển. Khi được hỏi về độ bền của màng lọc là bao lâu? Câu trả lời của Jessica là “10 năm”, tuổi thọ ấy đối với chúng tôi là điều khá ngạc nhiên. Từ phải: Jessica, Ngô Thế Vinh, KS Ngô Minh Triết, và khách tham quan. [photo by Phạm Phan Long]

KHÔNG HOÀN TOÀN THUẬN BUỒM XUÔI GIÓ

Để cân bằng tác động trên môi trường – to offset environment impact, 27 mẫu đất (hectare) sình lầy – wetlands, được quy hoạch trong vịnh San Diego, hệ thống pin mặt trời – solar panels sẽ được lắp ráp trên nóc nhà máy, và lượng khí thải carbon – carbon emission sẽ được mua lại.

Nhóm Bảo vệ Bờ biển San Diego – San Diego Coastkeeper (2015) cũng đã kiện nhà máy nước SDCWA do những mối quan tâm về môi sinh, cho rằng nhà máy đã vi phạm California Environmental Quality Act do xử dụng nhiều năng lượng và gây hậu quả nhà kính – greenhouse effect từ nhà máy này. Họ không chống dự án khử mặn Carlsbad nhưng đòi hỏi nhà máy phải có những nỗ lực giảm thiểu thích đáng các hậu quả tiêu cực trên môi trường – proper mitigation, và yêu cầu trên đã được SDCWA quan tâm và đáp ứng.

Do tiêu chuẩn về môi trường của California được coi là khắt khe nhất nước Mỹ, nói chung chi phí của họ còn cao vì ngoài tổn phí nhà máy như bơm nước từ khoảng cách xa 16 km tới các thành phố tiêu dùng; còn phải kể tới các công trình vét nạo đáy biển, trồng rừng, Net Zero carbon footprint, nuôi trồng / farming hải sản tại trong đầm – lagoon, chuyển dịch hải sinh vật / cấy lại sang vùng biển khác gần San Diego, và cả chi phí cho PR Campaign liên tục để vận động ủng hộ của dân chúng.

PHẨM CHẤT NƯỚC VÀ GIÁ THÀNH

Nhà máy Khử Mặn Carlsbad đã hoạt động được 5 năm, tạo được uy tín do chất lượng nguồn nước cung cấp từ nhà máy này. Hiện nay, nhà máy mỗi ngày sản xuất 50 triệu gallons nước ngọt [190,000 mét khối nước], từ nước biển, đủ cung cấp nước cho 400,000 ngàn cư dân Quận hạt San Diego; với giá thành ½ xu [half a penny] cố định trong 30 năm cho một gallon. [So với giá mua nước từ sông Colorado là ¾ xu/ gallon và có thể sẽ còn tăng thêm trong tương lai].

The San Diego County Water Authhority – SDCWA đã gọi nơi đây là “nhà máy khử mặn nước biển lớn nhất nước, với kỹ thuật tiên tiến nhất, và sử dụng năng lượng hiệu quả nhất – energy efficient.”

 

            Được biết chuyến đi thăm của chúng tôi là mấy tours cuối cùng trong năm nay. Sau đó nhà máy khử mặn Carlsbad không còn chương trình tham quan nào khác, do Poseidon Water sẽ sớm khởi động một kế hoạch xây dựng giai đoạn 2  mở rộng và tăng công xuất nhà máy.

 

*
blank

Hình 7_ Với nguồn nước mặn gần như vô tận từ Thái Bình Dương, qua các công đoạn khử cặn rồi khử mặn, cuối cùng là nguồn nước uống tinh khiết. Poseidon Water sản xuất 50 triệu gallon – 190,000 mét khối nước ngọt / ngày, giá thành 1/2 xu / gallon và các thành phố mua nước qua SDCWA và trả tiền theo công tơ. [photo by Phạm Phan Long]  

ĐBSCL MỘT CÁI TẾT NGÃ MẶN VÀ BƯỚC CÔNG NGHIỆP HOÁ

Những ngày trước Tết, Anh Dohamide/ Đỗ Hải Minh gốc người Chăm, sinh trưởng ở Châu Đốc báo tin: Bến Tre đang ngập mặn nặng. Tuy sống ở hải ngoại, ở tuổi 86 không còn khoẻ nữa mà anh vẫn luôn luôn nặng lòng với quê nhà.

TS Phạm Đỗ Chí gửi cho tôi mấy dòng Tản mạn cuối năm của Lưu Trọng Văn:

Hôm nay 29 tết rồi. Sóc Trăng nước ngọt không về, nước mặn tràn bờ, nước giếng khoan sâu lòng đất không đủ cho người dùng, đâu đến lượt cây…

 

      Dự án 14 nhà nhiệt máy điện ở ĐBSCL, tuy chỉ mới 3 nhà máy hoạt động, mà đã gây tình trạng ô nhiễm đất đai với tràn ngập than sỉ, ô nhiễm không khí với khói và bụi mịn… Ưu tư với thảm trạng môi trường ấy, KS Phạm Phan Long, Hội Sinh Thái Việt / VEF cho rằng: với  nguồn Năng Lượng tái Tạo – NLTT từ mặt trời, từ gió sẽ quá rẻ bắt buộc các nhà máy nhiệt điện rồi ra sẽ phải đóng cửa và qua điển hình Nhà máy Khử Mặn Carlsbad được xây dựng trên nền của nhà máy điện than Encina Power Station, thì sau này các khu nhà máy nhiệt điện nơi ĐBSCL sẽ là những địa điểm rất thuận lợi để xây dựng nhà máy lọc nước biển, nước thải.

Bước vào Thế kỷ 21, nhân loại không thiếu giải pháp kỹ thuật bền vững và khả thi kinh tế cho NLTT và nguồn nước, chỉ thiếu chính sách, quy hoạch và lãnh đạo có bản lãnh có tầm nhìn chiến lược.

 

blank

Hình 8_ Trước nạn ngập mặn nặng toàn tỉnh Bến Tre, sáng 10.01.2020 một buổi hội thảo giới thiệu túi trữ nước ngọt (có sức chứa từ 1 tới 100 mét khối) theo Chương trình Khoa Học & Công Nghệ Cấp Nhà Nước [sic] do công ty nhựa Tân Đại Hưng sản xuất [trên, SGGP Online 11.01.2020]. Người dân Bến Tre có dịp tìm hiểu thêm “giải pháp hữu hiệu” để ứng phó với tình trạng hạn mặn địa phương [dưới: báo điện tử Bộ TN & MT 12.01.2020]. 

Một nước Mỹ giàu mạnh như hiện nay có phần công lao rất lớn từ sáng kiến đầu tư của tư nhân. Họ biết tìm nguồn lợi nhuận cho cả mục đích công ích. Đứng trong khu nhà máy Khử Mặn Carlsbad lớn nhất nước Mỹ, được hình thành với 100% vốn từ tư nhân; không thể không trạnh nghĩ nhìn về Việt Nam, về ĐBSCL, nghĩ đến những đại gia của Việt Nam hiện nay. Đa số khởi nghiệp bằng đầu tư bất động sản từ đất đai của dân chúng, hoặc họ có đặc quyền khai thác nguồn tài nguyên nào đó của đất nước và rồi trở thành tỷ phú USD. Và có bao giờ họ nghĩ được rằng, sẽ trả ơn phần nào cho đất nước và người dân đã nuôi dưỡng họ bằng đất đai có thấm đẫm mồ hôi và nước mắt để họ có được ngày hôm nay.

Rồi nhìn về phía Nhà nước, với bao nhiêu công trình xây cất lãng phí hàng tỷ USD, điển hình như cống đập Cửa Ba Lai và các hệ thống ngăn mặn cùng khắp ĐBSCL, có thể nói là một thất bại toàn diện. Sau bài học thất bại của cống đập Ba Lai, và rồi sắp tới đây, là một công trình khác lớn hơn thế nữa: Cái Lớn Cái Bé.

Nhà nước nên có sáng kiến thực tiễn hơn: dùng số tiền  tỷ USD ấy để xây dựng những dự án thật sự công ích. Khởi đầu là một tỷ USD cho xây một nhà máy khử mặn / Desalination Plant, một tỷ đồng khác xây dựng một nhà máy thanh lọc nước thải / Waste Water Treatment Plant, đó là những gì khẩn cấp nhất mà 20 triệu cư dân  ĐBSCL đang thiếu nước ngọt giữa cơn hạn ngập mặn và nguồn nước ô nhiễm trầm trọng như hiện nay.

Đó mới thực sự là bước công nghiệp hoá chứ không phải với những túi nhựa chứa nước ngọt đang bán ra cho nông dân mà vẫn được gán cho danh hiệu Công trình Khoa Học & Công Nghệ Cấp Nhà Nước. [sic]

Nếu điều ấy là hiện thực, thì Việt Nam sẽ là quốc gia tiên phong trong vùng Đông Nam Á ứng dụng các bước công nghiệp hiện đại đối phó với biến đổi khí hậu và các bước khai thác huỷ hoại và từ những con đập Mekong thượng nguồn.

Nhóm Bạn Cửu Long gửi bài viết này tới 20 triệu cư dân 13 tỉnh Miền Tây đang sống những ngày thiếu nước, kể cả nước uống. Và cũng để thấy rằng vẫn có đó những giải pháp để sống còn nếu có được một cấp lãnh đạo biết lo cho dân và cả có một tầm nhìn chiến lược.

NGÔ THẾ VINH

Carlsbad Desalination Plant 14.01.2020

California, Little Saigon Mùng Một Tết

THAM KHẢO:

1/ Claude “Bud” Lewis Carlsbad Desalination Plant, Wikipedia https://en.wikipedia.org/wiki/Claude_%22Bud%22_Lewis_Carlsbad_Desalination_Plant

2/ Carlsbad Deslination Project. Enhancing Water Reliability for San Diego County. https://www.carlsbaddesal.com/uploads/1/0/0/4/100463770/pw_tour_boards_48x96_012916_webv4.pdf

3/ World Water Day 2020: Water and Climate Change. UN Water 22 March World Water Day https://www.worldwaterweek.org/event/8398-world-water-day-2020-water-and-climate-change

4/ Ngày Nước Thế giới 2017 với chủ đề Nước Thải. Đi Thăm Khu nhà máy xử lý Nước thải và Hệ thống bổ sung tầng nước ngầm tại Quận Cam. Ngô Thế Vinh, Viet Ecology Foundation 23.03.2017 http://vietecology.org/Article/Article/266

Với dự án Luang Prabang: từ 2007 Việt Nam đã quy hàng chiến lược thủy điện của Lào

Với chính phủ Lào thì Biên bản Ghi nhớ – Memorandum of Understanding – năm 2007 về dự án thủy điện Luang Prabang với Việt Nam không thuần chỉ là một “quid pro quo – trao đổi dịch vụ giữa hai bên” nhưng có một ý nghĩa chiến lược lớn lao hơn một con đập rất nhiều: đó là Việt Nam đã bật tín hiệu đèn xanh đối với toàn chuỗi 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. Chính phủ Lào đã rất khôn ngoan hiểu rõ rằng từ nay 2007, trên thực tế – de facto, mọi phản đối của Việt Nam nếu có cũng chỉ là chiếu lệ; và giới am hiểu tình hình lưu vực sông Mekong đã thấy rõ một Hà Nội bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, và đã bị khuất phục và quy hàng trước chiến lược thủy điện của Lào. Ngô Thế Vinh

Gửi tới 20 triệu cư dân ĐBSCL không được quyền có tiếng nói

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

CON DOMINO THỨ NĂM

Ngày 31/07/2019 chính phủ Lào chính thức gửi hồ sơ tới Ủy Hội Sông Mekong / MRC về dự án xây con đập dòng chính Luang Prabang với yêu cầu tiến hành thủ tục PNPCA ba giai đoạn: (1) Thủ tục Thông báo / Procedures for Notification, (2) Tham vấn trước / Prior Consultation, (3) Chuẩn thuận / Agreement. Thay vì ra thông báo ngay, MRC đã trì hoãn 7 tuần lễ sau mới đưa ra thông cáo báo chí về sự kiện này. Đến ngày 25/09/2019, MRC đã bào chữa cho quyết định im lặng 7 tuần lễ với lý do: “Thông báo của Lào gửi tới chưa đầy đủ để có thể tiếp cận với phần tổng quan của dự án / project overview và lộ trình tham khảo / roadmap for consultation, giúp quần chúng hiểu tốt hơn về dự án và tiến trình tham vấn”.

Cũng vẫn ban Thư ký MRC giải thích tiếp, “Học được từ kinh nghiệm, lần này chúng tôi có kế hoạch thông báo chính thức khi có đủ những tài liệu cần thiết để quần chúng và các bên liên quan / stakeholders có thể khảo sát và đóng góp ý kiến cho tiến trình tham vấn thêm ý nghĩa. Chúng tôi sẽ duy trì cùng mức độ cởi mở và minh bạch / transparency trong suốt tiến trình tham vấn.” (2)

Hình 1: Luang Prabang, con Domino thứ 5, cũng là con đập dòng chính sông Mekong lớn nhất của Lào và điều rất nghịch lý: do công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation của Việt Nam là chủ đầu tư. Với 11 con đập dòng chính trên sông Lancang-Mekong thượng nguồn, Trung Quốc đã lưu trữ 40 tỉ mét khối nước, sản xuất 21300 MW điện; riêng Lào cũng lưu trữ 30 tỉ mét khối nước hàng năm và đang thực hiện giấc mơ trở thành “Bình điện Đông Nam Á / S.E. Asia’s Battery” bất chấp hậu quả môi sinh xuyên biên giới ra sao với hai quốc gia hạ nguồn là Cambodia và Việt Nam. Nguồn: Michael Buckley, cập nhật 2019 do Ngô Thế Vinh bổ sung.

TRAO ĐỔI GIỮA TOM FAWTHROP VÀ NGÔ THẾ VINH

Tom Fawthrop là một nhà báo Anh và nhà làm phim, từ năm 1979 đã từng sống lăn lộn 30 năm trong vùng Đông Nam Á, có tiếng nói bền bỉ chống lại các con đập thủy điện nhằm bảo vệ hệ sinh thái sông Mekong qua rất nhiều bài báo và các bộ phim phóng sự. Bài báo gần đây nhất trên báo Diplomat 26/8/2019 của Tom Fawthrop là: Something Is Very Wrong on the Mekong River, cho rằng hạn hán như năm nay sẽ trầm trọng hơn nữa nếu như các chính phủ trong lưu vực Mekong không thay đổi chính sách.

Và trong một email trao đổi với tiêu đề: Có mâu thuẫn khi Việt Nam đầu tư vào đập thủy điện mới ở Lào, Tom Fawthrop viết: “như anh Vinh đã biết, chính phủ Lào vừa thông báo cho MRC ý định tiến hành dự án đập Luang Prabang mà Hà Nội là nhà đầu tư chính, qua công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation, một quyết định sẽ làm cho cuộc sống của 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL thê thảm hơn. Và anh nghĩ sao về nghịch lý này của Hà Nội?”

Và phần trả lời của người viết cho nhà báo Tom Fawthrop là: “Với một Việt Nam vừa thỏa hiệp vừa bị động từ sau 1975 cho tới nay. Việt Nam trước đó cũng đã xây những đập thủy điện với hồ chứa nơi các phụ lưu sông Mekong trên cao nguyên Trung phần, đi xa hơn nữa qua EVN Công ty quốc doanh Điện lực VN đã đầu tư vào đập thủy điện Hạ Sesan-2 của Cambodia… Hồ chứa những con đập phụ lưu của Việt Nam, Cambodia chẳng phải là vô can trong tình trạng thiếu nước khô hạn nơi ĐBSCL. Và nay, thêm một bước khổng lồ tiến xa hơn nữa, PetroVietnam Power Corporation, một công ty quốc doanh đã hợp tác với chính phủ Lào như một nhà đầu tư chính để tiến hành xây con đập Luang Prabang 1410 MW, với hồ chứa diện tích 90 km2 sản xuất 7380 Gwh và là con đập dòng chính thứ 5 lớn nhất của Lào. Ai cũng biết PetroVietnam Power Corporation vốn là một công ty của nhà nước với một lịch sử dài tai tiếng về tham nhũng đưa tới nhiều vụ bắt bớ tù tội của các viên chức cao cấp của công ty (5). Và Nhà nước Việt Nam luôn luôn bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, mà PetroVietnam Power Corporation là một điển hình. Và một câu hỏi khác được đặt ra là: Ủy ban Mekong Việt Nam sẽ phải ứng xử ra sao với tiến trình PNPCA về con đập Luang Prabang khi mà chính công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation lại là kẻ đầu tư chính? Một “chiến lược không chiến lược” lại có chính sách “nước đôi / double standard”, trước những tác hại hiển nhiên của các con đập trên sông Mekong và ĐBSCL: biến đổi dòng chảy, mất nguồn nước, mất nguồn phù sa và cá… không những Việt Nam đã không có tiếng nói quyết liệt ngăn chặn mà còn góp vốn đầu tư thực hiện dự án tai hại ấy, có thể ví như một hành động cầm súng tự bắn vào chân mình / shoot oneself in the foot. Nói cho rõ hơn, thì đây là một hành động phản bội đối với đời sống của 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL và cả với sự bất chấp vô cảm đối với quyền lợi của hơn 10 triệu cư dân Cambodia sống quanh Biển Hồ, cũng là trái tim của Cambodia. [Hết trích dẫn]

[BS Ngô Thế Vinh, tác giả cuốn CLCD BĐDS xuất bản từ năm 2000, cùng với nhóm Bạn Cửu Long, từng theo dõi và lên tiếng báo động liên tục về một Lưu Vực Sông Mekong và ĐBSCL trước nguy cơ. Và một bài viết cập nhật vào tháng 8/2019, với một nhận định khá bi đát là: Việt Nam đã bị thất thủ chiến lược trên địa bàn sông Mekong – và ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ bị tan rã.] Viet Ecology Foundation

Bài viết dưới đây là một khai triển phần phát biểu của người viết với Tom Fawthrop về sự kiện Luang Prabang, đang được xem như một trái bom tấn nổ chậm / time-bomb mà Hà Nội ném trên đầu 20 triệu cư dân đang sống ngất ngư nơi ĐBSCL.

NHỮNG GÌ HÀ NỘI NÓI

Bấy lâu chính phủ Việt Nam đã từng bày tỏ mối quan tâm trong các tiến trình Tham vấn trước đối với những con đập dòng chính trên sông Mekong, do những tác động tiêu cực xuyên biên giới đối với các quốc gia hạ nguồn nhất là đối với ĐBSCL. Đối với con đập Xayaburi, là con đập dòng chính đầu tiên của Lào, chính phủ Việt Nam đã từng kêu gọi Lào “hoãn lại 10 năm” con đập Xayaburi và các con đập dòng chính khác.

Và gần đây nhất, chính Việt Nam kêu gọi sự quan tâm khai thác các nguồn năng lương tái tạo để thay thế cho thủy điện trong lưu vực sông Mekong, điều ấy có thể giúp “bảo vệ và khai thác bền vững nguồn tài nguyên nước sông Mekong, đồng thời tránh được những ảnh hưởng tác hại tiêu cực trên đời sống các cộng đồng cư dân ven sông.”

NHỮNG GÌ HÀ NỘI LÀM

Việt Nam sau khi đã xây tràn lan những con đập thủy điện lớn nhỏ thiếu tiêu chuẩn an toàn môi trường trên khắp lãnh thổ Việt Nam, phá hủy cả một hệ thống sông ngòi và cũng là cơn ác mộng của bao nhiêu triệu cư dân sống quanh các con đập.

Do Việt Nam, còn rất ít tiềm năng thủy điện ở các con sông trong nước nên Hà Nội đã hướng sang nước láng giềng Lào. Từ năm 2007, theo VOA [25/12/2007] có thể là sớm hơn, Việt Nam đã lập kế hoạch xây nhiều đập thủy điện trên lãnh thổ Lào; (4) trong đó có cả dự án đập thủy điện Luang Prabang lớn nhất trong số 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào với kinh phí lên đến trên 2 tỉ đôla, ước tính theo thời giá lúc bấy giờ.

Hình 2: Khu vực dự kiến xây đập Luang Prabang 1410 MW trên dòng chính sông Mekong, chỉ cách thị trấn Luang Prabang 25 km.; hình chụp khúc sông Mekong chảy qua địa phận cố đô Luang Prabang, đã được UNESCO công nhận là Khu Di sản Thế giới / World Heritage Site từ năm 1995, vốn được ca ngợi như một trong những thành phố cổ đẹp nhất Đông Nam Á thì nay Luang Prabang đang bị thương mại hóa và cả Hán hóa. Nguồn: Photo 2000 by Ngô Thế Vinh

Với một Biên bản Ghi nhớ / Memorandum of Understanding (MoU) về Dự án đập thủy điện Luang Prabang đã được ký kết từ 2007 giữa công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation và chính phủ Lào, theo hãng thông tấn AFP trích đăng các nguồn tin từ Việt Nam cho biết công ty PetroVietnam Power Corporation đang hoàn thành luận chứng về kinh tế kỹ thuật cho dự án xây dựng đập thủy điện Luang Prabang gần cố đô của Lào. (4)

Lào, vốn được xem là một trong những nước nghèo Châu Á, đang xông xáo đi tìm các nguồn đầu tư nhằm tận dụng khai thác tiềm năng thủy điện từ các con sông chảy qua địa hình rất nhiều đồi núi của đất nước này. Từ ước mơ giàu có và trở thành một “nhà máy cung cấp điện của khu vực” với khách hàng láng giềng chính là Việt Nam và Thái Lan, là hai quốc gia đang có nhu cầu năng lượng điện có nền công nghiệp đang phát triển.

Cho dù đã được các nhà bảo vệ môi trường cảnh báo rằng xây dựng các đập thủy điện lớn sẽ tàn phá sinh cảnh của các con sông, cưỡng bách bao nhiêu chục ngàn cư dân địa phương phải di dời, gây tác hại nghiêm trọng đối với hệ sinh thái, làm mất nguồn cá, cả đe dọa diệt chủng một số loại cá hiếm quý như cá Pla Beuk, và cá heo Irrawaddy, nghiêm trọng hơn nữa là đe dọa an ninh lương thực trong toàn lưu vực.

Và hơn ai hết, Hà Nội biết rất rõ ĐBSCL, một vựa lúa của cả nước và Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, sẽ gánh chịu tất cả hậu quả tác hại tích lũy xuyên biên giới từ những con đập thượng nguồn ra sao đối với nguồn nước, nguồn phù sa, nguồn cá, và thảm họa nước biển dâng càng trầm trọng hơn nữa khi thiếu nguồn nước ngọt đổ xuống từ khúc sông Mekong thượng nguồn. Xa hơn nữa, không còn nguồn phù sa, ĐBSCL sẽ theo một tiến trình đảo ngược thay vì được bồi đắp thì sẽ dần dần tan rã.

VỚI MoU LUANG PRABANG 2007, VIỆT NAM ĐÃ QUY HÀNG CHIẾN LƯỢC THỦY ĐIỆN CỦA LÀO

Hơn một lần người viết đã nhắc tới bước sai lầm chiến lược thứ nhất của Việt Nam khi ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm đặt bút ký Hiệp định Ủy Hội Sông Mekong 1995 với 4 nước Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam chấp nhận từ bỏ quyền phủ quyết / veto power [có nghĩa là mỗi dự án phải có sự đồng thuận tuyệt đối / unanimous agreement], một điều cơ bản đã có trong quy định của Ủy Ban Sông Mekong 1957 / Mekong River Committee [hay còn có tên gọi: Statute of the Committee for Coordination of Investigations of the Lower Mekong, Basin Statute]. Và ai cũng biết Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, sẽ gánh chịu tất cả những hậu quả tích lũy từ các con đập thượng nguồn.

Đến tháng 10/2007, tức 12 năm sau Việt Nam lại phạm vào bước sai lầm chiến lược thứ hai khi để cho công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation ký kết một Biên bản Ghi nhớ / A Memorandum of Understanding (MoU) với chính phủ Lào về Dự án đập thủy điện Luang Prabang. Lúc đó những dự án chuỗi 9 con đập dòng chính của Lào mới chỉ có trên giấy: chưa có Xayaburi, Don Sahong, Pak Beng, Pak Lay…

Kể từ đầu năm 2006, các công ty Trung Quốc, Thái Lan, và Mã Lai được phép tiếp tục thực hiện những cuộc khảo sát về tính khả thi / feasibility của những con “đập dòng chảy / run-of-river” thuộc Lưu Vực Dưới sông Mekong; thứ tự những dự án đập ấy từ bắc xuống nam: [Hình 1]

1. Đập Pak Beng, Lào 1320 MW; bảo trợ dự án: công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co. và chánh phủ Lào.

2. Đập Luang Prabang, Lào 1410 MW; bảo trợ bởi PetroVietnam Power Corporation và chánh phủ Lào.

3. Đập Xayaburi, 1260 MW, tỉnh Xayaburi, Lào; bảo trợ bởi công ty Thái Lan Ch. Karnchang và chánh phủ Lào.

4. Đập Pak Lay, Lào, 1320 MW tỉnh Xayaburi; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Sinohydro Co. tháng 6, 2007 để khảo sát của dự án.

5. Đập Xanakham, Lào, 1000MW; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc” Datang International Power Generation Co.

6. Đập Pak Chom, biên giới Lào Thái, 1079 MW

7. Đập Ban Koum, biên giới Lào Thái, 2230 MW, tỉnh Ubon Ratchathani; bảo trợ bởi Italian-Thai Development Co., Ltd và Asia Corp Holdings Ltd. và chánh phủ Lào.

8. Đập Lat Sua, Lào, 800 MW; bảo trợ bởi Charoen Energy and Water Asia Co. Ltd. /Thái Lan và chánh phủ Lào.

9. Đập Don Sahong 360 MW, tỉnh Champasak, Lào: được bảo trợ bởi công ty Mã Lai Mega First Berhad Co. thực chất phía sau là một công ty “Trung Quốc”.

10. Đập Stung Treng, Cam Bốt, 980 MW; bảo trợ bởi chánh phủ Nga

11. Đập Sambor, Cam Bốt; bảo trợ bởi công ty “Trung Quốc”/ China Southern Power Grid Co./ CSG.

Với chính phủ Lào thì Biên bản Ghi nhớ – Memorandum of Understanding – ký kết năm 2007 về dự án thủy điện Luang Prabang với Việt Nam không thuần chỉ là một “quid pro quo – trao đổi dịch vụ giữa hai bên” nhưng có một ý nghĩa chiến lược lớn lao hơn một con đập rất nhiều, đó là: Việt Nam đã bật tín hiệu đèn xanh đối với toàn chuỗi 9 con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. Chính phủ Lào đã rất khôn ngoan hiểu rõ rằng từ nay 2007, trên thực tế – de facto, mọi phản đối của Việt Nam nếu có cũng chỉ là chiếu lệ; và giới am hiểu tình hình lưu vực sông Mekong đã thấy rõ một Hà Nội bị chi phối bởi các nhóm lợi ích, và đã bị khuất phục và quy hàng trước chiến lược thủy điện của Lào.

ĐẬP LUANG PRABANG VÀ MỐI QUAN TÂM VỀ MÔI SINH

KS Phạm Phan Long, sáng lập Hội Sinh Thái Việt / Viet Ecology Foundation có trụ sở tại California Hoa Kỳ hoạt động từ hơn 20 năm qua, phát biểu:

Lào ngang nhiên tuyên bố sẽ xúc tiến dự án thủy điện Luang Prabang. Việt Nam tham gia làm đối tác, góp phần vốn nhiều nhất trong dự án. VN mất hết cơ sở pháp lý để phản đối Lào về bất cứ dự án thủy điện khác. Lào và nhóm kỹ sư cố vấn cổ võ cho thủy điện thường tuyên truyền trấn an dân cư là các thang cá / fish ladder sẽ bảo tồn các đoàn di ngư, nhưng trên 40 năm kinh nghiệm thủy điện Hoa Kỳ với cá hồi, loài di ngư lừng danh nhất đang trên đà suy thoái dần đến tuyệt chủng, các chuyên gia cho rằng sẽ phải phá gỡ cả bốn đập trên sông Columbia để cứu chúng. Lào xem thủy điện như là ân sủng thiên nhiên, là nguồn kinh tế “vạn đại dung thân”, cũng đã mướn chuyên gia làm thang cá, nhưng cá Mekong không biết nhảy qua thang cá, với kinh nghiệm thang cá đập Pak Mun trên một phụ lưu sông Mekong của Thái Lan. [Hình 3] Kinh nghiệm đắt giá thủy điện Columbia đang rơi vào bế tắc, dù trải qua mấy thập niên huy hoàng, nhưng nay không thể ngờ lại sắp bị tê liệt vì hệ quả sinh thái tiềm ẩn, chi phí ngày càng tăng, thu nhập giảm vì công nghệ cổ điển, lỗi thời. https://www.eenews.net/stories/1061110823

Hình 3: Mẫu thang cá / fish ladder vô dụng của đập Pak Mun; nay lại được đưa vào thiết kế cho con đập dòng chính Xayaburi. Nguồn: International River

Đây là bài học lớn cho Lào và Việt Nam để kịp nghĩ kỹ lại, trước khi để Thái Lan mang trang bị máy móc vào xây đập Luang Prabang. VN cần thức tỉnh.” Thêm nữa, thủy điện đang bị thách thức bởi năng lượng tái tạo từ gió và mặt trời, sạch và vô tận, trẻ trung hiện đại và chỉ cần 1 năm sinh ra là chúng trưởng thành hoạt động, và rất rẻ.”

Đặng Thùy Trang thuộc tổ chức Quỹ Động Vật Hoang Dã / WWF trong chương trình phát triển thủy điện bền vững ở Lào khi nói về “thang cá” đã phát biểu: “Chúng ta không nên dùng sông Mekong như phòng thí nghiệm để trắc nghiệm kỹ thuật này.” Nay cũng vẫn mẫu thang cá vô dụng ấy, được đưa vào thiết kế cho con đập dòng chính Xayaburi như một trang trí thay vì là một đáp số cho những đoàn di ngư ở một quy mô lớn lao hơn rất nhiều.

TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu về Biến đổi khí hậu (Dragon Institute – Mekong), Đại học Cần Thơ, phát biểu:

Điều rất tệ hại nếu một công ty Quốc doanh Việt Nam tham gia đầu tư bất kỳ dự án thủy điện nào ở dòng chính sông Mekong. Sự kiện này phải được xem là một hành động cực kỳ nghiêm trọng, dẫn nhanh đến sự hủy hoại hệ sinh thái và cuộc sống ở Hạ lưu Đồng bằng Sông Cửu Long. Các quan chức Việt Nam đồng lõa với quyết định hợp tác xây dựng dự án thủy điện Luang Prabang phải chịu trách nhiệm lịch sử và chính trị với nhân dân Việt Nam.

Maureen Harris, hiện là giám đốc chương trình Đông Nam Á của International River nhận định:

“Tôi bất bình về quyết định của Lào, đồng thời cũng chỉ trích nước này đã không hợp tác trong những kế hoạch phát triển mang tính chất vùng – more regional approach. Bằng chứng khoa học về những tác động tích lũy của những dự án đập này rất rõ ràng. Các tác hại bao gồm: hủy hoại nguồn cá, mất phù sa và làm biến đổi dòng chảy – đưa tới đe dọa an toàn lương thực và sinh cảnh sống của các cộng đồng cư dân trong lưu vực.”

Harris đã trả lời ký giả Andrew Nachemson, thuộc hãng thông tấn Al Jazeera như trên qua một email. Cô cũng nêu ra câu hỏi về hiệu quả của tiến trình tham vấn trước (Prior Consultation) có dám đối đầu với những nan đề đặt ra không: “Không đáp ứng mối quan tâm của quần chúng là một thực trạng đang diễn ra, đã đưa tới sự tẩy chay – boycott, đối với giai đoạn tham khảo trước của con đập Pak Lay”. Harris tiếp (1)

Brian Eyler, Giám đốc chương trình Đông Nam Á của Trung tâm Stimson, tác giả cuốn sách Last Days of the Mighty Mekong 2019, cũng bày tỏ mối quan tâm về dự án Luang Prabang, Eyler đặt ra câu hỏi: “Liệu con đập Luang Prabang này có là một dự án con voi trắng / bạch tượng / white elephant project của chính phủ Lào?” (ghi chú của người viết: con voi trắng / bạch tượng được xem là biểu tượng của sự may mắn, giàu có, và sự thịnh vượng).

Cũng Brian Eyler tiếp: “Tại sao lại đồng ý với con đập dòng chính Luang Prabang này khi mà rõ ràng con đập dòng chính Xayaburi đầu tiên đã gây tình trạng hạn hán gia tăng nơi hạ nguồn?”

Toàn lưu vực sông Mekong đã trải qua một Mùa Khô kéo dài lẽ ra được kết thúc với Mùa Mưa năm nay. Nhưng do những con đập thượng nguồn giữ nước đã khiến cho tình trạng hạn hán thêm tệ hại hơn.

Ngày 23/09/2019 rất sớm các tổ chức NGOs xã hội dân sự của Thái Lan cũng đồng loạt lên tiếng chống lại dự án thủy điện Luang Prabang của Lào. (6)

Ngày 8/10/2019 Liên Minh Cứu Sông Mekong / Save The Mekong Coalition mạnh mẽ lên tiếng kêu gọi Hủy dự án Luang Prabang và các con đập dòng chính trên sông Mekong của Lào. (7)

Ngày 10/10/2019 Mạng Lưới Sông Việt Nam / Vietnam River Network cũng có một Thông cáo báo chí nhưng chỉ với đề nghị yếu ớt hơn: yêu cầu Tổng công ty Điện lực Dầu khí Việt Nam (PV Power) và các cơ quan chức năng xem xét lại việc đầu tư vào dự án Thủy điện Luang Prabang tại Lào. (8)

Còn với 20 triệu cư dân nơi ĐBSCL thì sao? Như từ bấy lâu, họ vẫn bị thiếu thốn thông tin và không được quyền có tiếng nói cho dù đó là “lẽ sống còn” của họ.

THAY LỜI KẾT: MÔI SINH VÀ DÂN CHỦ

Không phải bây giờ mà từ tháng 10/2007, cách đây 12 năm khi Hà Nội cho phép công ty quốc doanh PetroVietnam Power Corporation ký bản Biên bản Ghi nhớ MoU với chính phủ Lào đầu tư xây con đập Luang Prabang, con đập dòng chính lớn nhất của Lào, cũng có nghĩa là Việt Nam đã gửi đi một tín hiệu “bật đèn xanh” cho toàn 9 dự án đập dòng chính của Lào.

Sự kiện này có thể ví như Hà Nội quyết định ném lên đầu 20 triệu cư dân đang sống ngất ngư nơi ĐBSCL những chuỗi bom tấn nổ chậm / time bomb, phá hoại không chỉ cuộc sống hiện tại của họ mà cả những thế hệ tương lai.

Việt Nam khi đặt bút ký trên vào Hiệp Ước Hợp Tác Phát Triển Bền Vững Lưu Vực Sông Mekong 1995: “Các quốc gia thành viên ký kết cùng đồng ý là bằng mọi cố gắng phòng tránh, làm nhẹ hay giảm thiểu những hậu quả tác hại trên môi trường… do phát triển và sử dụng Lưu vực Sông Mekong.” Nhưng điều cơ bản ấy chưa hề được các quốc gia Mekong tôn trọng, trong đó phải kể cả quốc gia Lào nhỏ bé nhưng hung hãn do được chống lưng bởi nước lớn Trung Quốc.

Trong một tương lai không xa, con sông Mekong – con sông Danube của Châu Á ấy, sẽ chỉ còn là một con sông chết, chỉ để sản xuất thủy điện, dùng làm thủy lộ giao thông.

Rồi nhìn về Việt Nam với hình ảnh ước lệ của hơn nửa thế kỷ trước về một Đồng Bằng Sông Cửu Long, với ruộng vườn thẳng cánh cò bay, tôm cá đầy đồng – thì rồi ra tất cả đã đi vào quá khứ. Chỉ mới đây thôi có dịp trở lại viếng thăm, để chỉ thấy trên toàn cảnh là một ĐBSCL đang rất nhanh trên đà suy thoái và cứ nghèo dần đi. Và không biết một trăm năm sau, liệu có còn không một Đồng Bằng Sông Cửu Long và một Nền Văn Minh Miệt Vườn?

Rồi nhìn vào toàn cảnh các quốc gia trong lưu vực Sông Mekong từ Trung Quốc xuống tới Miến Điện, Thái Lan, Lào, Cambodia và Việt Nam cho dù mang những tên gọi khác nhau nhưng đó vẫn là những đất nước chưa có dân chủ, vẫn là những “xã hội hình tháp – social pyramid”, nói theo ngôn từ của nhà xã hội học Miến Kyaw Nyein, với đỉnh tháp là thiểu số thống trị và dưới đáy vẫn là đa số những người dân nghèo khổ bị khai thác và bóc lột.

Từ năm 2000, người viết cũng đã đưa ra nhận định: “Và hiển nhiên không có giải pháp đơn lẻ cho vấn đề môi sinh mà phải là bước chuyển hóa cơ bản và đồng bộ của các hệ thống xã hội từ “Toàn Trị” tiến lên “Dân Chủ”. Có dân chủ là có cơ hội mở mang dân trí và chính cư dân sống hai bên bờ sông Mekong sẽ có ý thức và tiếng nói bảo vệ dòng sông như là mạch sống của chính họ. Và người dân sẽ có cơ hội đồng đều, có quyền được uống một ngụm nước trong lành, được hít thở một bầu không khí tinh khiết và có tự do, đó chính là “nhân quyền” chỉ có được trong một đất nước dân chủ.”

Vấn đề cốt lõi: Môi Sinh và Dân Chủ sẽ mãi mãi là một “Bộ Đôi Không Thể Tách Rời / Inseparable Duo.”

NGÔ THẾ VINH

Columbus Day, 14.10.2019

____________

THAM KHẢO:

1/ Laos to go ahead with Luang Prabang dam project despite warnings, by Andrew Nachemson, 24 Sept 2019

https://www.aljazeera.com/news/2019/09/laos-luang-prabang-dam-project-warnings-190924102523452.html

2/ Mekong River Commission Defends Seven-Week Silence on Lao Dam Project Submission. 2019-09-25

https://www.rfa.org/english/news/laos/laos-mrc-silence-submission-mekong-dam-09252019170454.html

3/ Laos’ Luang Prabang dam reaches key development stage by Ekaphone Phouthonesy; 3 October 2019 http://annx.asianews.network/content/laos-luang-prabang-dam-reaches-key-development-stage-105442

4/ Việt Nam lập kế hoạch xây nhiều đập thủy điện trên lãnh thổ Lào; VOA 25/12/2007; https://www.voatiengviet.com/a/a-19-2007-12-25-voa17-81755767/795551.html

5/ In Vietnam the case of corruption in PetroVietnam. 22.06.2018 http://anticorr.media/en/vo-vetname-rassleduetsya-delo-o-korrupcii-v-gnk-petrovetnam/

6/ Thai NGOs Speak Out Against Proposed Dam in Laos 2019-09-23; https://www.rfa.org/english/news/laos/laos-luang-prabang-dam-mekong-09232019161400.html

7/ Save the Mekong Coalition Calls for the Cancellation of the Luang Prabang Dam. https://www.rfa.org/english/news/laos/save-mekong-coalition-luang-prabang-10082019144557.html

8/ Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam lên tiếng về việc xây dựng Thủy điện Luang Prabang. Thông cáo Báo chí: Ngày 10 Tháng 10 năm 2019 https://tapchilaoviet.com/tin-bai-noi-bat/mang-luoi-song-ngoi-viet-nam-len-tieng-ve-viec-xay-dung-thuy-dien-luang-prabang-10685.html

Đồng bằng sông Cửu Long và những phát triển tự huỷ hoại

Nói đến vùng Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) thì có nhiều cái nhìn và quan điểm trái chiều. Nhìn từ ngoài và nhìn bao quát thì vùng đất này có phát triển, nổi bật nhất là tăng lượng xuất khẩu nông thuỷ sản do làm lúa nhiều vụ mùa. Mỗi năm vùng ĐBSCL xuất khẩu trị giá hơn 12 tỉ USD, tương đương số tiền “Việt kiều” gửi về VN hàng năm. Nhiều người trong giới kĩ thuật thì xem thuỷ lợi là một phát triển ngoạn mục, đóng góp vào việc tăng mùa vụ và sản lượng lúa. Những phát triển đó đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho người dân. Đó là một ‘bức tranh’ mà nhà nước và những quan chức kĩ thuật muốn tô vẽ cho vùng ĐBSCL. Ngay cả nhạc sĩ Lam Phương, tác giả “Khúc ca ngày mùa”, cũng khó có thể miêu tả một bức tranh đẹp hơn.

Thế nhưng nhìn chi tiết hơn và quan sát cuộc sống của người dân tại miền quê (thay vì qua con số) lại cho ra một bức tranh khác: người dân vẫn nghèo. Nghèo nhất nhì nước. Không chỉ nghèo mà còn “thiếu chữ”, kém học. Thanh niên bỏ ruộng đồng đi tha hương làm công nhân trong các khu kĩ nghệ; thanh nữ thì bỏ nước làm dâu xứ người, gây mất cân bằng cơ cấu dân số trong miền quê. Tại sao? Tại vì những thu nhập bạc tỉ USD từ xuất khẩu lúa gạo không về đến người nông dân mà về tay những con buôn — những con buôn ngồi trong phòng máy lạnh, những con buôn dưới danh nghĩa tập đoàn không hẳn vì lợi ích của nông dân. Tại vì nguồn sống ở vùng đất này càng ngày càng cạn kiệt. Sông ngòi ô nhiễm nghiêm trọng và là mối đe doạ lớn nhất đến sức khoẻ trong tất cả các mối đe doạ. Nước mặn xâm nhập gây xáo trộn mùa vụ. Đường xá và hệ thống giao thông tồi tệ nhất nhì trên cả nước. Những cảnh thanh bình Lam Phương miêu tả không còn nữa, vì đồng xanh không còn “vui khúc ca ngày mùa”. Những thực trạng đó là một sự mỉa mai cho hai chữ “phát triển”.

Thành ra, khái niệm “phát triển bền vững” là rất liên quan đối với ĐBSCL. Trong bối cảnh đó, tôi hân hạnh giới thiệu bài thứ 5 trong loạt bài về Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) của Nhà văn Ngô Thế Vinh. Bài này chỉ ra những ‘phát triển’ mà tác giả dùng chữ ‘tự huỷ hoại’ ở vùng đất vựa lúa của cả nước và thế giới.

——

ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG VÀ NHỮNG BƯỚC PHÁT TRIỂN TỰ HUỶ HOẠI 1975 – 2018

NGÔ THẾ VINH

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

Để tưởng nhớ Mai Chửng

điêu khắc gia tượng đài Bông Lúa 1970

Primum Non Nocere / Trước hết không gây hại.

Hình 1: tới Cửa Trần Đề mút cuối con Sông Hậu, từ trái: Ngô Thế Vinh trên bãi biển Trần Đề; giữa & phải: ĐBSCL với bờ biển ngày đêm bị sạt lở và sói mòn. [photo by Phạm Phan Long & Ngô Thế Vinh]

TỚI CỬA TRẦN ĐỀ MÚT CUỐI SÔNG HẬU

Từ con Kênh Vĩnh Tế biên giới Việt Miên tới Cửa Trần Đề, có thể nói chúng tôi đã đi gần suốt chiều dài con Sông Hậu.

Nguy cơ rối loạn dòng chảy hạ lưu là có thật và có thể nhìn tử thượng nguồn. Nhìn về Phương Bắc, từ hơn hai thập niên qua, người viết không ngừng báo động về những mối nguy cơ tích luỹ không thể đảo ngược từ phía thượng nguồn do nạn phá trắng những khu rừng mưa nhiệt đới (rainforest), rồi những khu rừng lũ (flooded forest) quanh Biển Hồ, tới kế hoạch phá đá phá các ghềnh thác (Mekong rapids blasting project) khai thông mở rộng dòng sông Mekong để cho tàu bè của Trung Quốc vận chuyển hàng hoá tràn xuống các quốc gia hạ lưu, cùng với ảnh hưởng lâu dài là những con đập bậc thềm khổng lồ Vân Nam, tiếp đến là chuỗi 12 dự án đập dòng chính hạ lưu ở Lào và Cam Bốt với hậu quả gây rối loạn dòng chảy, mất nguồn cát nguồn phù sa nơi các hồ chứa, với thời gian có thể đưa tới một tiến trình đảo ngược, một Đồng Bằng Sông Cửu Long / ĐBSCL còn non trẻ có thể từ từ tan rã.

Hình 2: 16 năm trước thời điểm tháng 9.2002, tác giả đứng bên chân con đập Mạn Loan / Manwan 1,500 MW, con đập lịch sử, con đập dòng chính / mainstream dam đầu tiên trên thượng nguồn Sông Lancang-Mekong Vân Nam, Trung Quốc. [tư liệu Ngô Thế Vinh]

Trung Quốc đang khống chế không chỉ Biển Đông mà còn trên toàn Lưu Vực Sông Mekong, Việt Nam là một quốc gia cuối nguồn, giới cầm quyền VN thì lệ thuộc về chính trị vào Trung Quốc và do đó hoàn toàn bị động. Cho dù Việt Nam thỉnh thoảng có lên tiếng phản đối yếu ớt nhưng thực tế không có chiến lược gì cụ thể và hầu như không làm được gì để bảo vệ sự sống còn của hơn 17 triệu cư dân ĐBSCL và cũng là vựa lúa của cả nước. Đó là một sự thật.

Quá trình tự huỷ xảy ra ngay tại ĐBSCL. Lòng sông không ngừng bị nạo vét để lấy cát. Diện tích rừng tràm rừng đước tiếp tục bị phá và thu hẹp. Khai thác vô hạn các tầng nước ngầm. Thêm vào đó là những dự án trọng điểm của nhà nước được cổ xuý là để “cải tạo” ĐBSCL từ sau 1975, nhưng đã gây tác hại nhiều hơn. Đó là những huỷ hoại mang tính tích luỹ.

Hậu quả nhãn tiền là bờ sông, bờ biển không ngừng bị sạt lở, đất lún nhanh hơn biển dâng, nạn nhiễm mặn trầm trọng hơn và rõ ràng là nguồn tài nguyên thiên nhiên của cả một vùng đất mới vốn được ưu đãi thì nay cứ nghèo dần đi. Kết luận dễ dàng nhất để rũ bỏ mọi trách nhiệm là đổ lỗi cho Mẹ Thiên nhiên, cho Biến đổi Khí hậu nhưng không thể không kể tới một chuỗi hậu quả tích luỹ của những yếu tố nhân tai, do chính con người gây ra với sự thụ động của giới cầm quyền.

Hình 3: 600 km bờ sông các tỉnh Miền Tây đang bị sạt lở; hình trái, Sông Hậu tỉnh An Giang với nhiều khúc bờ sông bị sạt lở do nhiều yếu tố nhân tai: mất lượng phù sa do hồ chứa nơi những con đập thuỷ điện thượng nguồn, nạn phá rừng, nạo vét lòng sông khắp nơi để khai thác cát. [photo by AX, VN Express 15.05.2017]; hình phải, bờ Sông Hậu sạt lở nơi huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp. [photo by PanNature VN 2009]

Hình 4: Dọc bờ biển ĐBSCL cũng ngày đêm âm thầm bị xói mòn / beach erosion; so với sạt lở ven sông, tình trạng sạt lở ven biển trầm trọng hơn nhiều. Một dãy nhà bị đổ sụp xuống sông được báo chí và dân chúng quan tâm nhiều hơn nhưng sạt lở ven biển là một cái chết chậm và rất âm thầm; hình trái, là cây bần bật gốc bị cuốn trôi rạt nơi Cửa sông Trần Đề. [photo by Ngô Thế Vinh 2017]; hình phải, sạt lở rừng ven biển gây mất đất đai tại huyện Phú Tân tỉnh Kiên Giang. [photo by PanNature VN 2012]

QUA CÙ LAO DUNG

Gần tới Biển Đông, gặp Cù Lao Dung, Sông Hậu chia làm hai nhánh: hữu ngạn chảy ra cửa Trần Đề (trước đây còn có tên gọi là Trấn Di) thuộc tỉnh Sóc Trăng; tả ngạn chảy ra cửa Định An thuộc tỉnh Trà Vinh. Ở giữa hai cửa Trần Đề và Định An là cửa Ba Thắc rất nhỏ đã bị phù sa vùi lấp từ trăm năm trước. Cửu Long chín cửa: 9, thực tế chỉ có Bát Long: 8, nay thêm cửa Ba Lai của Sông Tiền bị bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xây cống đập chặn mặn bít kín, chỉ còn là Thất Long: 7. [Hình 5a]

Hình 5a: Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng, nay chỉ còn Bảy Cửa: Sông Hậu ba cửa nay còn hai: (1) cửa Trần Đề, (2) cửa Định An, (cửa Ba Thắc / Bassac đã bị lấp). Sông Tiền sáu cửa nay còn năm: (3) cửa Cung Hầu, (4) cửa Cổ Chiên, (5) cửa Hàm Luông, (cửa Ba Lai đã bị đắp đập làm cống chặn mặn từ năm 2000), (6) cửa Đại, (7) cửa Tiểu. [nguồn: bản đồ Dragon/ CTU; với ghi chú của Ngô Thế Vinh, CLCD BĐDS p.360]

Hình 5b: Cù lao Dung chia Sông Hậu ra làm hai nhánh: nhánh hữu ngạn chảy ra cửa Trần Đề, nhánh tả ngạn chảy ra cửa Định An. [nguồn: Wikipedia, thêm ghi chú của người viết].

Cù Lao Dung là một trong những cù lao lớn trên Sông Hậu, nằm giữa 2 tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh. Cù Lao Dung là một huyện thuộc tỉnh Sóc Trăng, diện tích 24.944 hecta với dân số khoảng 63,000 người [62,931 người theo thống kê 2009]. Phía Đông và Bắc giáp tỉnh Trà Vinh; phía Tây giáp huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng; phía Nam giáp Biển Đông. [Hình 5b]

Nếu từ bản đồ Google bung ra, chúng ta sẽ thấy có rất nhiều cù lao lớn nhỏ trên hai con Sông Tiền và Sông Hậu. Nói chung, đất cù lao là do phù sa bồi đắp nên phì nhiêu, rất thích hợp cho các loại cây trái. Cư dân sống trên đất cù lao, qua nhiều thế hệ, được thiên nhiên ưu đãi phải nói sung túc nếu không muốn nói là giàu có.

Do là một cù lao rất lớn và trải dài trên Sông Hậu, nửa cuối Cù lao Dung tiếp cận với Biển Đông nên được hưởng cả hai chế độ thuỷ văn và thuỷ sản nước mặn và nước ngọt theo mùa.

Hình 6: tới cuối năm 2017, vẫn còn một nền văn-hoá-phà, hoạt động rất hiệu quả trên nhiều vùng sông nước Cửu Long; các chuyến phà Đại Ngãi trên nhánh Sông Hậu qua lại Cù lao Dung. [photo by Ngô Thế Vinh]

Hình 7: trái, túi trữ nước ngọt lấy từ giếng bơm; 100% nước tưới ruộng hành, kể cả nước dùng cho tiện dụng gia cư đều lấy từ các giếng bơm từ các tầng nước ngầm, là nguyên nhân khiến nền đất ĐBSCL lún nhanh hơn mực nước biển dâng. [photo by Phạm Phan Long]; phải, cảnh vẫn thường thấy ngày đêm là những chuyến xà lan chở đầy cát được nạo vét từ hai con Sông Tiền và Sông Hậu, cũng là một trong những nguyên nhân gây sạt lở trầm trọng ven sông. [photo by Ngô Thế Vinh]

QUA KÊNH QUAN CHÁNH BỐ

Kênh Quan Chánh Bố nguyên là một kênh đào thuộc huyện Duyên Hải tỉnh Trà Vinh. Một đầu kênh nối với Sông Hậu ở xã Định An (Trà Cú). Con kênh chạy dọc theo ranh giới huyện Duyên Hải và Trà Cú phía bắc Quốc lộ 53, và đổ ra Biển Đông. Nguyên thuỷ, con Kênh Quan Chánh Bố được đào từ thế kỷ 19 [thời gian 1837 – 1838] để dẫn nước từ Sông Hậu vào rửa mặn vùng đồng lầy Láng Sắt, công trình đào kênh thời đó do Quan Chánh Bố Trần Trung Tiên đảm trách.

Sang thập niên đầu của thế kỷ 21, [năm 2009], Bộ Giao thông Vận tải [GTVT] dưới thời bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng, người Đà Nẵng [nhiệm kỳ 06.2006 – 08.2011] triển khai một dự án nạo vét con Kênh Quan Chánh Bố nhằm tạo một thuỷ lộ từ biển đi vào Sông Hậu tới giang cảng Cần Thơ thay cho luồng đi qua cửa Định An, viện lý do cửa Định An bị nhiều phù sa bồi đắp khiến các con tàu trọng tải lớn có nguy cơ mắc cạn khi đi vào Sông Hậu.[sic]

Hình 8: Dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố với mức đầu tư ban đầu lên tới 9,781 tỷ đồng, từ ngày đi vào giai đoạn vận hành thử nghiệm đang là nguồn cơn thống khổ của cư dân đang sống hai bên bờ con kênh. [nguồn: tài liệu của Bộ Giao Thông Vận Tải]

Với kế hoạch mở rộng và vét sâu theo suốt chiều dài 19.2 km con Kênh Quan Chánh Bố tính từ chỗ nối với Sông Hậu đến xã Long Khánh; đồng thời, khai mở thêm một khúc kênh mới có tên gọi là Kênh Tắt dài 8.2 km được nối phần cuối đoạn mở rộng con Kênh Quan Chánh Bố qua xã Đông Hải thông ra tới biển và thêm đoạn kênh biển dài 7 km. Nếu kể cả đoạn Sông Hậu dài 12.1 km Luồng Kênh Quan Chánh Bố có tổng chiều dài là 46.5 km. [Hình 8]

Dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố với mức đầu tư ban đầu lên tới 9,781 tỷ đồng, được khoe đây là “con kênh đào Panama của Việt Nam“, một so sánh rất khiên cưỡng. Kênh Panama có tầm vóc thế giới và là một con kênh chiến lược cắt ngang eo đất Panama Trung Mỹ nối liền hai biển lớn là Đại Tây Dương với Thái Bình Dương, thay vì phải vòng qua Mũi Sừng / Cape Horn điểm cực nam của Nam Mỹ, với rút ngắn hơn nửa khoảng cách đường biển, như tàu bè đi từ New York chỉ phải vượt qua 9,500 km để tới San Francisco thay vì 22,500 km nếu không qua kênh đào Panama.

Cũng giống như các dự án trọng điểm khác nơi ĐBSCL, phải nói là dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố được hình thành khá vội vã, cả với những ý kiến bất đồng (4) nhưng vẫn cho khởi công từ cuối năm 2009. Như từ bao giờ, đa số các dự án chưa có đủ thời gian nghiên cứu để có được cơ sở khoa học, thảo luận và đánh giá một cách khách quan, và nhất là thiếu minh bạch; đã thế khi đi vào thực hiện dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố lại không có được hình thức đấu thầu công khai theo luật định, mà là chỉ định nhà thầu thuộc các nhóm lợi ích. Tiêu tốn ngân sách hàng nhiều ngàn tỷ đồng chỉ với mục tiêu đơn giản và cuối cùng là tìm được một đường tàu biển trọng tải lớn ra vào ĐBSCL mà không quan tâm gì tới tính bền vững về môi trường, đến hiệu quả kinh tế, và nhất là sự an toàn cho người dân. Nạn nhân không ai khác hơn vẫn những người “dân đen” được đưa ra làm thử nghiệm. Và, những cuộc thử nghiệm cứ nối tiếp nhau, dù hiệu quả thì chưa thấy rõ nhưng hậu quả thì hầu như ai cũng thấy.

Tưởng cũng nên có một ghi chú bên lề, bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng sau nhiệm kỳ 5 năm ở Bộ Giao Thông Vận Tải cho tới lúc nghỉ hưu vào tháng 8.2011 khi đó công trình con Kênh Quan Chánh Bố còn dở dang và cũng theo báo chí lề phải trong nước, để chuẩn bị trước về hưu, khi còn tại nhiệm chính ông Hồ Nghĩa Dũng cũng đã chỉ định một nhà đầu tư cho một Dự án lớn khác: Xây đường hầm Đèo Cả để rồi sau đó không ai khác hơn là chính ông tham gia vào Hội đồng Quản trị Công ty Cổ phần đầu tư Đèo Cả. Bước chuẩn bị này đã từng gây tai tiếng, bị chính báo chí trong nước gọi đây là “hành động lót ổ” đồng thời là “một tiền lệ xấu”. Ông bộ trưởng Hồ Nghĩa Dũng còn được nhớ tới với thành tích đề xuất xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam dài 1570 km với kinh phí 55 tỉ USD, may mà sau đó dự án đã bị Quốc hội khoá XII biểu quyết bác bỏ.

Công trình Kênh Quan Chánh Bố sau đó được tiếp tục qua thời Bộ trưởng kế nhiệm Đinh La Thăng, người Nam Định, [nhiệm kỳ 03.2011 – 08.2016] với một tiểu sử rất dày: trước khi về bộ Giao thông Vận tải, ông đã là Chủ tịch Hội đồng Dầu khí Quốc gia VN (2008-2011), Chủ tịch Hội đồng Quản trị Dầu khí Quốc gia VN (2005-2008), Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tổng Công ty Sông Đà (2001-2003); và nay 2018 thì đang bị dính vào vòng lao lý do “cố ý làm sai trái quy định nhà nước gây hậu quả nghiêm trọng khi ông giữ chức Chủ tịch Hội đồng Dầu khí Quốc gia VN”.

Và rồi sau 7 năm khởi công [2009 – 2016], công trình Luồng Kênh Quan Chánh Bố được hoàn thành vào đầu năm 2016; với thành tích là những con số: Kênh Quan Chánh Bố nay có thể tiếp nhận các tàu biển lớn 20.000 tấn giảm tải và 10.000 tấn đầy tải vào Sông Hậu. WIKIPEDIA

Và chỉ một năm đi vào hoạt động với không ít hệ luỵ, theo báo Đất Việt [ngày 10.04.2017], Bộ Giao Thông Vận Tải / GTVT lại tính thay thế Phà Kênh Tắt bằng một Đường hầm chui qua Kênh Tắt, khiến dư luận hết sức băn khoăn.

Hình 9: Kênh Tắt là đoạn kênh đào mới nối đoạn cuối con Kênh Quan Chánh Bố thông ra biển. Để nối hai bờ Kênh Tắt trên QL 53 dự tính ban đầu là Cầu Kênh Tắt; sau đó cầu được thay thế bằng Phà Kênh Tắt, chỉ mới một năm Phà Kênh Tắt đi vào hoạt động, Bộ GTVT lại tính thay thế bằng Đường Hầm Chui qua Kênh Tắt với dự tính tổn phí lên tới 10,319.2 tỷ đồng… khiến GS Nguyễn Ngọc Trân, người theo dõi dự án Luồng Kênh Quan Chánh Bố từ giai đoạn đầu tiên đã phải vô cùng ngạc nhiên vì chủ đầu tư thay đổi phương án như thay áo cho dù phải chi hàng ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước. (2) [photo by Ngô Thế Vinh]

GS Nguyễn Ngọc Trân, [người gốc người Miền Tây, sinh ra trên một cù lao giữa Sông Tiền, huyện Chợ Mới tỉnh An Giang, là thành viên lâu năm Hội đồng Chính sách Khoa học và Công nghệ Quốc gia, cơ quan tư vấn của Thủ tướng Chính phủ từ 1992 phải lên tiếng:

Điều gây ngạc nhiên đến khó có thể tưởng tượng là thông báo trong Trang địa phương của vị Thứ trưởng, nguyên Cục Trưởng Cục Hàng hải, rằng Thủ tướng Chính phủ có chủ trương giao cho Bộ GTVT nghiên cứu làm hầm qua Kênh Tắt để tránh cho người dân không phải qua phà đồng thời đảm bảo an toàn cho luồng tàu biển. Để làm việc này, Trang địa phương cho thông tin sẽ cần thêm 50 ha đất, và trên 3,000 tỷ đồng. Dự kiến sẽ triển khai vào cuối năm nay.

Gây ngạc nhiên vì phương án đầu tiên nối hai bờ Kênh Tắt trên QL 53 là Cầu Kênh Tắt. Qua quá trình triển khai dự án, phương án cầu đã được thay thế bằng Phà Kênh Tắt. Phà này mới được đưa vào hoạt động từ ngày 20.01.2016, ngày thông luồng Kênh Tắt. Như vậy, chỉ sau một năm đi vào hoạt động, Bộ GTVT lại tính thay thế Phà Kênh Tắt bằng một Hầm Chui qua Kênh Tắt. Và thay đổi này không phải là duy nhất.

Khi được cho triển khai (công văn số 123/TTg-CN ngày 22.01.2007) tổng mức đầu tư của dự án là 3,148.5 tỷ đồng. Mười tháng sau, tổng mức đầu tư của dự án được Bộ GTVT duyệt tại Quyết định số 3744/QĐ-BGTVT ngày 30.11.2007 tăng từ 3,148.5 lên 10,319.2 tỷ đồng, nghĩa là gấp 3.28 lần. Bởi vì khối lượng nạo vét luồng từ 22 triệu m3 tăng lên 28.1 triệu m3; kè dọc tuyến luồng 35.94 km thay vì 27.57 km; giải phóng mặt bằng 1406.47 ha thay vì 300 ha; thay đổi mái dốc nạo vét do nền đất yếu; thay đổi đê chắn cát thành đê chắn sóng; kết hợp đê chắn sóng của dự án luồng với dự án cảng biển Trà Vinh…

Ngạc nhiên vì chủ đầu tư thay đổi phương án… giống như thay áo, cho dù phải chi hàng ngàn tỷ đồng ngân sách nhà nước cho những thay đổi đó. Cử tri, những người đóng thuế cho ngân sách, có quyền đặt câu hỏi về tính nghiêm túc của dự án! Khó có thể tưởng tượng vì chi ngân sách hàng ngàn tỷ đồng sao mà dễ dàng đến thế! Đó là chưa nói đến hiệu quả kinh tế, tác động lên môi trường tự nhiên và xã hội. Liệu lần này với phương án hầm chui rồi cũng sẽ làm như các lần trước?” [sic] hết trích dẫn (2)

Không lâu sau đó, theo VTV.VN [16.11.2017] cơ quan truyền hình nhà nước đã lại phải lên tiếng báo động (3):

Tàu biển hàng chục nghìn tấn lưu thông qua Kênh Quan Chánh Bố, tỉnh Trà Vinh gây sóng lớn đe dọa tính mạng, làm thiệt hại tài sản khiến người dân nơi đây vô cùng lo sợ. Tháng 1/2016, luồng tàu biển vào Sông Hậu chính thức được thông luồng, đáp ứng cho tàu biển có tải trọng 10,000 tấn chở đầy hàng và 20,000 tấn vơi hàng lưu thông. Luồng tàu vào Sông Hậu có đoạn đi qua Kênh Quan Chánh Bố của các huyện Trà Cú và Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Từ ngày thông luồng đến nay, hàng trăm hộ dân ở hai xã Long Vĩnh và Đôn Xuân sống ven Kênh Quan Chánh Bố luôn sống trong cảnh thấp thỏm, lo lắng. Nguyên nhân là do tàu biển đã nhiều lần gây sóng lớn, làm thiệt hại tài sản và đe dọa đến tính mạng người dân. Người dân cho biết, hiện tượng sóng tràn vào nhà xảy ra rất nhiều lần. Theo bà Đặng Thị Cúc (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh), cháu ngoại của bà đã từng bị sóng lớn do tàu biển gây ra cuốn trôi xuống con lạch trước nhà, rất may cháu được phát hiện và cứu kịp thời. Sau tai nạn kinh hoàng đó, để bảo vệ các cháu, gia đình bà đã phải làm hàng rào lưới trước nhà. Vết sẹo trên chân bà Kim Thị Tiến vẫn chưa lành hẳn, hậu quả sau một lần bà bảo vệ chiếc ghe của gia đình tránh bị sóng đánh vỡ. Đến nay, bà Dương Thị Phượng vẫn chưa hết bị ám ảnh khi nhắc lại câu chuyện tàu biển gây sóng lớn đánh nát một chiếc xuồng và ghe cào. Ngoài ra, một lượng hải sản lớn đã bị thất thoát khiến gia đình bà bị thất thoát khoảng 100 triệu đồng. Người dân cho biết, các tàu này hoạt động không thường xuyên mà cách 1 – 2 ngày. Tuy nhiên, điều nguy hiểm là các tàu biển gây sóng cao từ 3-4 m nhưng ít khi bấm còi khi qua khu vực đông dân cư và có thể chạy vào bất cứ giờ nào trong ngày, kể cả ban đêm… [sic]

Rồi tới báo Đại Đoàn Kết [04.07.2017], cho biết có tình trạng sạt lở hai bên bờ con kênh, đòi hỏi thêm kinh phí ứng phó được đề xuất lên đến 1,600 tỷ đồng nữa. (1)

Nhưng theo nguồn tin từ công ty Hải Vận Ship, thì dù đang trong giai đoạn thử nghiệm [sic] nhưng đến nay đã có 14 chuyến tàu từ biển đi qua Kênh Tắt đến Kênh Quan Chánh Bố để vào Sông Hậu.

Sau khi chuyến tàu Đông Thiên Phú Diamond tải trọng hơn 4,000 tấn đi vào ngày 7/7, có nhiều tàu tải trọng lớn khác như tàu Tân Cảng Glory chở container tải trọng gần 9,000 tấn vào Sông Hậu một chuyến/ tuần. Cuối tháng 11, chuyến tàu Vinalines Unity tải trọng trên 20 nghìn tấn chở hàng nhẹ cũng hai lần vào Kênh Tắt an toàn để cập cảng trên Sông Hậu.

Ông Võ Minh Tiến, Giám đốc Cảng vụ Hàng hải Cần Thơ cho biết, do đang trong quá trình khai thác thử nghiệm [sic] nên đơn vị phải phối hợp với lực lượng biên phòng, chính quyền địa phương thường xuyên tổ chức tuần tra, thanh thải luồng lạch để đảm bảo cho các chuyến tàu ra vào an toàn. Đến thời điểm này, dự án Luồng cho tàu biển trọng tải lớn vào Sông Hậu đã đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, đảm bảo an toàn cho tàu thuyền tải trọng lớn ra vào. HẢI VẬN SHIP

Điều đang lưu ý là ông Giám đốc Cảng vụ Hàng hải Cần Thơ chỉ quan tâm tới bảo đảm an toàn cho tàu biển trọng tải lớn ra vào Sông Hậu, mà lại không đề cập gì tới an toàn và sinh mạng của chính những người dân ngày đêm sống lo âu thấp thỏm ven kênh.

Với những hệ lụy nổi cộm từ khi Luồng Kênh Quan Chánh Bố từ khi đi vào vận hành, cũng vẫn GS Nguyễn Ngọc Trân đã phải kiến nghị thẳng thắn đối với Dự án luồng Sông Hậu qua Kênh Tắt và Kênh Quan Chánh Bố cần được Quốc hội giám sát, đặc biệt là việc thực hiện giám sát những vấn đề liên quan đến Luồng Quan Chánh Bố. Bởi vì, các luồng tự nhiên như Định An thì ngày càng nông trong khi luồng qua Kênh Quan Chánh Bố còn phải nạo vét nhiều và chưa biết độ ổn định ra sao.

Còn TS Lê Kế Lâm mong muốn, Bộ Giao thông Vận Tải / GTVT trong quá trình thực hiện Dự án cần có cơ sở cho các nhà khoa học nghiên cứu, thảo luận và đánh giá một cách khách quan chính xác. Và, Bộ GTVT nên tổ chức phản biện đối với Dự án này, nhất là phản biện của các tổ chức tư vấn, của các hội. Ngay cả khi lựa chọn tổ chức tư vấn phản biện theo hình thức đấu thầu công khai theo luật định, chứ không thể chỉ định thầu. Mục tiêu cuối cùng là tìm được một luồng tàu biển ra vào ĐBSCL một cách kinh tế, an toàn, bền vững về môi trường, không phụ lòng mong mỏi của người dân.

[Tưởng cũng nên nói thêm, TS Lê Kế Lâm nguyên Thiếu tướng Hải quân tương đương Phó Đô đốc, hiện là chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển TP. HCM nhiệm kỳ 2014-2019, TS Lê Kế Lâm được nhiều người biết đến qua sự kiện Hội KHKT mà ông là Chủ tịch đã can đảm công khai lên tiếng phản đối mạnh mẽ Trung Quốc trong vụ giàn khoan Hải Dương 981].

Đại Đoàn Kết [04.07.2017], Lê Anh.

Hình 10: tàu 7,000 tấn lưu thông từ biển qua Kênh Quan Chánh Bố vào Sông Hậu. [nguồn: báo Đại Đoàn Kết 04.07.2017], nói về giá trị kinh tế của dự án Kênh Quan Chánh Bố cho tàu trong tải lớn từ Biển Đông đi vào Sông Hậu để tới giang cảng Cần Thơ, cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời và vẫn đang gây rất nhiều tranh cãi. Hiệu quả kinh tế của Luồng Kênh Quan Chánh Bố chưa thấy đâu nhưng đã gây ra nhiều hậu quả tiêu cực.

NHỮNG DỰ ÁN SAI LẦM TỪ HỆ THỐNG

Từ sau 1975, như một chuỗi sai lầm từ hệ thống, nhà nước đã thiết lập vội vã nhiều dự án trọng điểm nhằm “cải tạo” ĐBSCL, đa phần là can thiệp thô bạo gây tác hại trên hệ sinh thái mong manh của cả một vùng châu thổ, do thiếu sót trong Đánh giá Chiến lược Tác động Môi trường ĐTM [SEA hay Strategic Environment Assessment], với những “nghiên cứu mệnh danh là khoa học” nhưng theo phong cách: làm nhanh ăn nhanh; rồi đem chính mạng sống và kế sinh nhai người dân ra thử nghiệm, khi mà người dân đã bị tước đoạt tự do và quyền tự vệ. Đây hẳn là điều không thể nào được chấp nhận trong một quốc gia có dân chủ.

Có thể nói đa số các quy trình SEA là nguỵ tạo do thiếu minh bạch và trách nhiệm khi mà:

1. Mâu thuẫn lợi ích. Báo cáo SEA do chính chủ đầu tư chọn nhóm tư vấn, trả chi phí cho họ và đương nhiên toán tư vấn phải viết báo cáo biện hộ tối đa cho dự án và che đậy tối đa các tác động xấu cho chủ đầu tư. Những cố vấn có lương tâm trách nhiệm sẽ từ chối không tham dự vào những hợp đồng có hại cho uy tín lâu dài của họ. Hệ quả là các báo cáo SEA cho các dự án Việt Nam sẽ không thể tin cậy để đưa tới quyết định.

2. Thiếu minh bạch khoa học. Báo cáo SEA không được công bố rộng rãi trên truyền thông báo chí, mà là đặc ân dành cho những viên chức trong bộ máy cầm quyền tham vấn với nhau và người dân muốn tìm hiểu thì phải mò mẫm trong bóng tối và khi có ý kiến phản đối thì họ và cả gia đình có thể bị hăm doạ và cả đàn áp tù đầy.

3. Hội đồng thẩm định báo cáo SEA không có sự tham sự của các chuyên gia khoa học độc lập và xã hội dân sự. Đôi khi các nhà khoa học ấy còn bị mạo danh là tác giả của bản báo cáo để che chắn cho chủ thầu, lừa cả nhà cầm quyền và không ai phải chịu một sự chế tài hay trừng phạt nào. Hệ thống SEA bị ô nhiễm ở cả hai phía chủ thầu và uỷ ban duyệt xét.

4. Những cơ quan quản lý phát triển cơ sở hạ tầng như VN Food, EVN, PVN, Vinacomin… là những tập đoàn chịu sự chi phối và khống chế bởi các nhóm lợi ích. Họ liên kết nhau đề ra những công trình quy mô để tạo cơ hội sinh lợi, một thứ văn hoá tham nhũng đã thành nề nếp cả nước đều biết mà vẫn phải im lặng chịu đựng.

5. Sau khi dự án đi vào vận hành, hệ thống quan trắc vi phạm ô nhiễm hoạt động không hiệu quả và không có báo cáo rộng rãi. Như một ví dụ, theo điều tra riêng của Hội Sinh Thái Việt / Việt Ecology Foundation, thì ngay cả thông tin chỉ số chất lượng không khí / Air Quality Index cũng bị chính cơ quan cầm quyền cố ý tự sửa đổi để né tránh trách nhiệm, tạo những thông tin sai lạc và đánh lạc hướng dư luận.

6. Một thể chế tạo ra và dung dưỡng các nhóm lợi ích như thế sẽ không có chỗ cho nhân tài tham gia nếu họ không chấp nhận từ bỏ ý thức trách nhiệm và tiếng nói của lương tri. Vẫn có những trí thức chân chính trong nước từ chối tham gia vào guồng máy nhưng khi cần họ vẫn can đảm lên tiếng phản biện cả với cái giá phải trả nhằm giảm thiểu những tác hại lâu dài trên nguồn tài nguyên đất nước của các thế hệ tương lai.

Nguyên lý bất di bất dịch là: Trước Hết là Không Gây Hại (Primum Non Nocere), vẫn cứ mãi là bài học vỡ lòng, là kim chỉ nam cho các bộ trưởng, vụ trưởng các ngành trước khi khởi công bất cứ một dự án nào trên ĐBSCL. Thế nhưng trong thực tế chưa có một chứng cớ nào cho thấy các vị ấy hành động theo nguyên lý căn bản trên.

Có thể liệt kê ngay những dự án chính đã và đang gây tác hại và tổn thương lâu dài cho ĐBSCL như:

_ Dự án đê bao chống lũ: [Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn], với những đê bao ngăn lũ chỉ để có thêm đất làm lúa cao sản 3 vụ, vắt kiệt đất đai, lại không có nguồn phù sa, nước tù đọng tích luỹ ô nhiễm đồng thời làm giảm lượng nước vào hai vùng trũng Đồng Tháp Mười và khu Tứ Giác Long Xuyên như nguồn dự trữ cho toàn ĐBSCL trong Mùa Khô.

_ Dự án cống đập chặn mặn: [Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn], ngăn chặn dòng chảy tự nhiên biến những con sông khoẻ mạnh thành ao hồ tù đọng, xoá đi một nền văn hoá nước lợ / brackish water và gây rối loạn dây chuyền trên toàn nhịp đập / Mekong Pulse của hệ sinh thái ĐBSCL.

_ Dự án 14 nhà máy nhiệt điện than: [Bộ Công Thương], biến ĐBSCL là bãi tiếp nhận các nhà máy nhiệt điện chạy than phế thải từ Trung Quốc với hậu quả tàn phá môi trường đất đai, nguồn nước và không khí với sức khoẻ của người dân không hề được quan tâm tới nếu không muốn nói là bị hy sinh.

_ Dự án Nhà Máy Giấy Lee & Man: [Bộ Tài Nguyên & Môi Trường] gây ô nhiễm nghiêm trọng vì nguồn nước thải với đủ loại hoá chất được chính Bộ TNMT cấp phép cho xả thải ra Sông Hậu đang giết chết dòng sông, rồi còn phải kể tới bụi khói độc hại, mùi hôi thối, tiếng ồn từ nhà máy ngày đêm bào mòn sức khoẻ của người dân.

_ Dự án Kênh Quan Chánh Bố: [Bộ Giao thông & Vận tải], với tốn kém hàng nhiều ngàn tỷ đồng chỉ để cho mấy tàu trọng tải lớn từ Biển đi vào Sông Hậu để tới giang cảng Cần Thơ gây bao khốn khổ cho người dân khi mà giá trị kinh tế của dự án kênh Quan Chánh Bố, cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời và vẫn đang gây rất nhiều tranh cãi gay gắt.

Danh sách trên vẫn chưa đầy đủ. Trong thực tế còn nhiều dự án nhỏ cấp địa phương đã và đang được triển khai nhưng không có những nghiên cứu làm cơ sở và cũng chẳng có đánh giá tác hại môi trường từ các chuyên gia độc lập.

Ấy vậy mà cho đến nay vẫn có những người trong giới cầm quyền và giới khoa học thuộc quản lý của nhà cầm quyền cho rằng họ đã thành công trong việc nâng cao sản lượng nông nghiệp qua các công trình thuỷ lợi và “ém phèn” được xem là “thành công ngoạn mục”. Thật ngạc nhiên, một thành tựu lớn như vậy mà không hề có bất cứ một công bố khoa học nào trên các diễn đàn khoa học quốc tế! Tuy nhiên, đối với những người sống và làm việc ở ĐBSCL thì những thành tựu đó chỉ là trên giấy. Những “ngôi sao” khoa học hình như xuất hiện nhiều trên hệ thống truyền thông của Nhà nước hơn là trên diễn đàn khoa học nghiêm chỉnh.

GS Nguyễn Văn Tuấn, một nhà khoa học có nhiều trải nghiệm ở trong nước và qua nhiều năm quan sát miền quê ĐBSCL cho rằng: “Sự thật là một số không nhỏ trong giới khoa học Việt Nam làm nghiên cứu không theo chuẩn mực quốc tế, kết quả không được công bố, nên chẳng ai biết thực hư ra sao. Báo chí trong nước và ngay cả Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ cũng thừa nhận rằng nhiều ‘công trình’ của họ thường nằm trong hộc tủ, chứ ít khi nào được công bố. Ngay cả khi được công bố thì dấu hỏi lớn vẫn lơ lửng trên những số liệu họ báo cáo.”

Cũng GS Nguyễn Văn Tuấn, nhận định: “[…] còn quá sớm để quy những công trạng – nếu có – cho giới khoa học. Tôi quan sát ở miền quê tôi thì thấy sự thật là những thành tựu về tăng năng suất trồng trọt và lúa là do người nông dân xoay xở. Nông dân tự thử nghiệm cho đến khi đạt được kết quả tốt (kiểu trial-and-error). Họ có thể không biết những nguyên tắc thí nghiệm hay ngẫu nhiên hoá, họ có thể không rành tính toán như các kỹ sư & tiến sĩ, nhưng qua trial-and-error, họ có thể lai giống và tạo giống mới, chế tạo máy gặt lúa, máy cấy lúa, máy hút lục bình, v.v. Giới khoa học chẳng giúp gì cho họ trong các sáng kiến đó. Người nông dân thiếu chữ để nói đó là công trạng của họ, và thay vào đó có những người mang mác ‘tiến sĩ’ giành công trạng cho mình. Ai cũng biết tác nhân làm nghèo làm khổ nông dân miền Tây là cái tập đoàn lương thực có tổng hành dinh nằm ngoài … Hà Nội.”

Ở Việt Nam, người ta có câu khuyên các nhà quản lý và khoa học quốc doanh: đừng làm gì hết, ngồi yên đó để dân nuôi, vì họ làm là hư hỏng.

Trong thực tế miền nào (Nam, Trung, Bắc đều) có những hiền tài với cả nhân cách, họ như những cánh sen giữa bùn lầy và nhà cầm quyền đã không có một chính sách chiêu hiền đãi sĩ khiến nguồn chất xám ấy không được trọng dụng; để rồi những tài năng ấy hoặc bị mai một hoặc họ phải chọn con đường bỏ đất nước ra đi.

Và cũng không phải là quá khắt khe khi dân gian nhắc tới khái niệm “giới khoa học quốc doanh” theo cái nghĩa xấu nhất: đó là một tập đoàn đội lốt khoa bảng bị mua chuộc, chèn ép những người có thực tài, họ cấu kết với nhau, mai phục trong các bộ các ngành ở Việt Nam và nghiễm nghiên trở thành công cụ, tệ hơn nữa họ trở thành một dàn kèn dư luận viên bênh vực vô điều kiện cả những sai trái cho một guồng máy chuyên chính chỉ biết vơ vét và chia chác quyền lợi. Và nạn nhân không ai khác hơn chính là đám dân đen câm nín và tiếng kêu than của họ nếu có cũng không được lắng nghe.

THAY LỜI KẾT: CON ĐƯỜNG VÒNG 43 NĂM

Bây giờ, chúng tôi đang đứng ở mút cuối con Sông Hậu, nhìn từng đợt sóng vỗ vẫn còn màu nâu nhạt của phù sa nơi cửa sông trải rộng để chan hoà vào biển cả; bao nhiêu cảm xúc tràn về, như một flashback, chợt nhớ lại hơn một lần qua Long Xuyên, nơi có tượng đài Bông Lúa Con Gái của Mai Chửng, [Hình 11] một cố tri và cũng là một tên tuổi lớn trong lãnh vực điêu khắc của Miền Nam.

Sau 1975, cùng với chiến dịch đốt sách, Tượng đài Bông Lúa ấy cũng đã bị phá sập, quả không phải là một “điềm lành” cho tương lai nền Văn Minh Lúa Gạo và cả hậu vận của toàn vùng Sông Nước Cửu Long.

Hình 11a: Tượng đài Bông Lúa Con Gái 1970 bằng đồng lá, một tác phẩm nghệ thuật lớn của điêu khắc gia Mai Chửng Hội Hoạ Sĩ Trẻ VN, [nguồn: tư liệu Hội Hoạ Sĩ Trẻ 1966-1975].

Hình 11b: trái, điêu khắc gia Mai Chửng đứng bên công trình tượng đài Bông Lúa thực hiện bằng đồng lá, cao hơn 16 m đang xây cất tại tỉnh Long Xuyên ĐBSCL; toàn cảnh pho tượng Bông Lúa tại Công viên Trưng Vương tỉnh Long Xuyên 1970; nhưng chỉ 5 năm sau, sau 30 tháng 4, 1975 tượng đài Bông Lúa ấy đã bị phá sập, quả không phải là một “điềm lành”. [nguồn: sưu tập Dương Văn Chung, Thatsonchaudoc.com]

Người dân Việt Nam, và hơn 17 triệu cư dân ĐBSCL nói riêng đang thầm mơ ước gì? Mơ được trở lại với một nền giáo dục nhân bản đã có từ 43 năm trước. Mơ được sống trở lại với một Miền Tây trù phú với gạo trắng nước trong, cây trái trĩu cành và tôm cá đầy đồng. Thời hoàng kim ấy đã qua rồi, sau 43 năm “cải tạo”, một ĐBSCL với nguồn tài nguyên thiên nhiên không những đã nghèo đi, người dân còn phải chứng kiến những dòng sông đang chết, phẩm chất cuộc sống / quality of life của họ sa sút, họ phải sống ngày đêm trong nỗi bất an với đất, nước, không khí ngày càng thêm ô nhiễm. Và cũng dễ hiểu tại sao đã có ngót 2 triệu cư dân ĐBSCL bỏ làng xóm ra đi. Cuộc tỵ nạn môi sinh ấy không có dấu hiệu suy giảm.

Và cũng đã hơn một lần, trong các bài viết, người viết đã nêu rõ quan điểm: “môi sinh và dân chủ phải là một bộ đôi không thể tách rời“.

NGÔ THẾ VINH

ĐBSCL 12.2017 California 04.2018

Tham Khảo:

1/ Luồng Quan Chánh Bố trước nguy cơ sạt lở. Việc nạo vét luồng Quan Chánh Bố được dự báo sẽ tiêu tốn chi phí lớn trong nhiều năm. Báo Đại Đoàn Kết 04.07.2017 http://daidoanket.vn/xa-hoi/luong-quan-chanh-bo-truoc-nguy-co-sat-lo-tintuc371653

2/ Để Không Phải Tiếp Tục Theo Lao. GS Nguyễn Ngọc Trân. Báo Đất Việt, Thứ Hai 10.04.2017 http://baodatviet.vn/dien-dan-tri-thuc/gs-nguyen-ngoc-tran-de-khong-phai-tiep-tuc-theo-lao-3332924/

3/ Người dân Trà Vinh sống thấp thỏm cạnh luồng tàu biển. Diệp Phong-Phú Cường VTV9, 16.11.2017 http://vtv.vn/xa-hoi/nguoi-dan-tra-vinh-song-thap-thom-canh-luong-tau-bien-20171116100021216.htm

4/ Giới Trí Thức và Quan Chức bàn về Luồng Tàu Biển vào ĐBSCL. Kinh Tế Biển VN, 29.01.2012 http://kinhtebien.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=464:gii-tri-thc-va-quan-chc-ban-v-lung-tau-bin-vao-bscl-&catid=87:cng-min-nam&Itemid=2

5/ Cống Đập Chặn Mặn Gây Rối Loạn Hệ Sinh Thái và Những Cái Giá phải Trả. Ngô Thế Vinh. Viet Ecology Foundation. 12.2017 http://vietecology.org/Article/Article/289

6/ Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng. Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ 2000. Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch. Ngô Thế Vinh, Nxb Văn Nghệ 2006.

VEF_CLCDBDDS 2011.pdf