Tag Archives: featured

Tại sao xét nghiệm đại trà không đem lại hiệu quả?

Câu trả lời là (a) phương pháp xét nghiệm sẽ cho ra kết quả âm tính giả và dương tính giả; (b) chi phí cao; và (c) hiệu quả kinh tế – y tế thấp. Cái note này giải thích 3 nguyên do đó, và đề nghị một phương án xét nghiệm khác mà tôi gọi là ‘focus screening’.

1. Sai sót trong xét nghiệm

Có lẽ đa số công chúng đều nghĩ rằng khi họ nhận một kết quả dương tính thì họ bị nhiễm. Ngược lại, nếu họ nhận một kết quả xét nghiệm âm tính thì họ cảm thấy an tâm là mình không bị nhiễm. Nhưng niềm tin này sai.

Sai là vì không có phương pháp xét nghiệm nào là hoàn hảo cả. Mỗi phương pháp xét nghiệm đều có 2 sai sót chánh: dương tính giả và âm tính giả. Dương tính giả là hiện tượng người không bị nhiễm nhưng xét nghiệm cho ra kết quả dương tính. Âm tính giả là tình trạng người bị nhiễm nhưng xét nghiệm cho ra kết quả âm tính.

Trong xét nghiệm đại trà, âm tính giả dẫn đến nhiều hệ luỵ. Nếu một người nhận kết quả âm tính nhưng trong thực tế họ bị nhiễm thì họ lây lan cho người khác, bởi vì họ nghĩ mình không bị nhiễm nên đi lại thoải mái. Đây chính là mối quan tâm của giới dịch tễ học.

Xét nghiệm kháng nguyên

Tỉ lệ âm tính giả là bao nhiêu? Số liệu từ Liverpool (Anh), nơi làm xét nghiệm kháng nguyên sơ khởi (pilot), cho thấy tỉ lệ âm tính giả lên đến 51.1% [1]. Tỉ lệ này dựa trên ‘chuẩn vàng’ là PCR. Kết quả của Liverpool còn cho thấy trong số 3026 người, chỉ có 23 người thật sự bị nhiễm, tức tỉ lệ 0.76%.

Số liệu của Liverpool rất quan trọng, vì nó nói lên rằng cứ 100 người có kết quả xét nghiệm kháng nguyên âm tính, thì có 51 người thật sự bị nhiễm. Đó là một con số khá lớn, nếu tính chung cho cộng đồng hàng triệu người.

Xét nghiệm PCR

Như đề cập trên, phương pháp PCR được xem là tiêu chuẩn vàng. Nhưng ngay cả PCR cũng không phải là phương pháp chính xác 100%. Và, điều này ít ai chú ý khi kêu gọi xét nghiệm đại trà.

Phương pháp PCR dựa vào một giá trị có tên tiếng Anh là ‘cycle threshold’ (Ct), tức là số chu kì cần thiết để khuếch đại RNA của virus đến mức có thể phát hiện được virus. Ct là một biến liên tục, và có giá trị từ 0 đến 50, và độ lệch chuẩn có thể là khoảng 6.5.

Khi giá trị Ct thấp thì tải lượng virus cao; và ngược lại, nếu Ct cao thì đó là tín hiệu cho thấy tải lượng virus thấp. Nhưng cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng khi giá trị Ct càng thấp là một dấu hiệu báo trước bệnh nhân sẽ có diễn biến xấu.

Vậy thì câu hỏi là Ct bao nhiêu thì được xem là ‘dương tính’? Trả lời câu hỏi này hơi khó, vì phải có chuẩn vàng để gọi là nhiễm. Có thể lấy tỉ lệ cấy làm chuẩn vàng. Và, theo một nghiên cứu bên Pháp thì khoảng 70% mẫu với Ct <= 25 là có thể cấy [2], còn khi Ct > 35 thì tỉ lệ cấy được chỉ 3%. Nói cách khác, nghiên cứu này gợi ý là ngưỡng Ct để tuyên bố dương tính là 25 hay thấp hơn.

Riêng ở Việt Nam, các giới chức y tế dùng ngưỡng Ct < 30 để xem là ‘dương tính’. Theo một báo cáo ở TPHCM, trong số 2740 người được xét nghiệm (trong ngày 29/7 tại HCM), có đến 2030 người (hay 74%) có CT < 30 (dương tính). Điều này giải thích tại sao đa số ca dương tính không có triệu chứng.

Những phân tích trên cho thấy một kết quả dương tính từ phương pháp xét nghiệm ‘chuẩn vàng’ như PCR tuỳ thuộc vào một cái ngưỡng. Và, ở bất cứ ngưỡng nào cũng có dương tính giả và âm tính giả.

Có nhiều lí do tại sao phương pháp PCR vẫn có thể cho ra kết quả sai. Cách xử lí và bảo quản mẫu từ khâu lấy mẫu có thể không tốt nên chất lượng xét nghiệm cũng không cao. Ngay cả khi một người đã hết covid nhưng xét nghiệm PCR vẫn cho ra kết quả dương tính vì nó phát hiện những con virus chết. Nhìn chung, phương pháp xét nghiệm PCR có tỉ lệ dương tính giả khoảng 1-2% và âm tính giả khoảng 20% [3]. Mức độ sai sót còn tuỳ thuộc vào labo xét nghiệm [4].

2. Bao nhiêu người có kết quả âm tính giả và dương tính giả?

Chúng ta có thể làm vài tính toán đơn giản để trả lời câu hỏi trên. Giả dụ rằng Hà Nội có 8.4 triệu dân, và các giới chức y tế làm xét nghiệm toàn dân số.

Số người có kết quả âm tính giả và dương tính giả tuỳ thuộc vào (a) tỉ lệ nhiễm trong cộng đồng; (b) xác suất âm tính giả; và (c) xác suất dương tính giả của phương pháp xét nghiệm. Vì Hà Nội có số ca nhiễm thấp, nên chúng ta có thể giả định rằng tỉ lệ nhiễm là 1% (trong thực tế có thể thấp hơn). Chúng ta biết rằng xác suất dương tính giả của PCR là 2% và âm tính giả là 20%. Từ đó, có thể thấy:

  • Số người có kết quả dương tính nhưng không bị nhiễm: 0.99 * 8.4 triệu * 0.02 = 166,320
  • Số người có kết quả âm tính giả nhưng bị nhiễm: 0.01 * 8.4 triệu * 0.20 = 16,800

Nói cách khác, sẽ có hơn 166,000 người bị đưa đi cách li … oan. Ngược lại, sẽ có chừng 17,000 người tiếp tục lây nhiễm trong cộng đồng.

Nhưng tính toán trên là dựa vào giả định tỉ lệ nhiễm là 1%. Trong thực tế, tỉ lệ này có thể thấp hơn, và do đó con số dương tính giả sẽ cao hơn (xem Biểu đồ 1).

Biểu đồ 1: Số người có kết quả dương tính giả (trái) và âm tính giả (phải), với giả định: dân số Hà Nội 8.4 triệu; độ nhạy của PCR là 80% và độ đặc hiệu là 98%.

3. Xét nghiệm ‘gộp’

Một phương án khác có thể tiết kiệm tiền là xét nghiệm gộp. Thật ra, phương án này không phải là mới, vì nó đã triển khai từ năm 1943 và được ứng dụng cho tầm soát ung thư ruột. Nhưng cũng như bất cứ phương án nào, xét nghiệm gộp có những điểm mạnh và điểm yếu.

Xét nghiệp gộp mẫu có nghĩa là trộn mẫu từ nhiều nhiều người (n) thành một mẫu chung, rồi dùng phương pháp xét nghiệm trên mẫu chung đó. Nhiều người ở đây có thể là những cá nhân trong một gia đình, hay trong một con hẽm, hay trong một nhóm. Có hai tình huống xảy ra:

  • Nếu kết quả xét nghiệm là âm tính, thì có nghĩa là tất cả người đều âm tính.
  • Nếu kết quả là dương tính, tức là có ít nhứt 1 người trong mẫu chung đó có thể bị nhiễm. Điều này cũng có nghĩa là phải tiếp tục xét nghiệm, nhưng lần này thì làm xét nghiệm từng mẫu một.

Nhưng bởi vì phương pháp xét nghiệm có sai sót về dương tính giả và âm tính giả (thể hiện qua độ nhạy và đặc hiệu), nên vấn đề không đơn giản như trên. Khi chúng ta trộn nhiều mẫu từ nhiều người thành 1 mẫu gộp thì nó tiết kiệm, nhưng nếu số mẫu càng nhiều thì sẽ tăng xác suất âm tính giả (vì mẫu trở tên loãng). Ngược lại, còn nếu thấp thì có thể tăng xác suất dương tính giả.

Thành ra, vấn đề là xác định số mẫu cần gộp là bao nhiêu thì sẽ tối ưu? Ông bộ trưởng đưa ra ví dụ con số n = 10, nhưng chưa rõ dựa vào giả định nào. Tôi thì nghĩ khác ông bộ trưởng.

Thật ra, con số này lệ thuộc vào các tham số sau đây: tỉ lệ nhiễm trong cộng đồng (p); độ nhạy của phương pháp xét nghiệm (se); độ đặc hiệu của phương pháp xét nghiệm (sp); và sai số mà chúng ta chấp nhận. Có thể đặt vấn đề thành bài toán kiểm định đa giả thuyết (multiple tests of hypothesis), nhưng để ngắn gọn, chúng ta có thể dùng cách tính xấp xỉ. Và, theo cách tính xấp xỉ, số mẫu cần gộp trong một xét nghiệm là:

n = 0.35 / p

Ở Hà Nội hiện nay, tỉ lệ nhiễm còn thấp, nên chúng ta có thể giả định rằng p = 1%. Và, với giả định này thì cần gộp 35 mẫu trong một xét nghiệm.

Nhưng vấn đề không dừng ở đó. Lí do là nếu kết quả xét nghiệm mẫu gộp là dương tính, thì phải làm xét nghiệm lại cho mỗi cá nhân trong mẫu. Đến đây thì bài toán bắt đầu phức tạp hơn. Tôi phải dùng một chút kí hiệu:

  • p = tỉ lệ nhiễm covid trong cộng đồng = 1%
  • N = số người sẽ xét nghiệm toàn thành phố = 8.4 triệu
  • n = số cá nhân trong mẫu gộp = 35
  • se là độ nhạy của phương pháp xét nghiệm = 80%
  • sp là độ đặc hiệu của phương pháp xét nghiệm = 98%

Xác suất một mẫu cho ra kết quả dương tính:

P.spec = (p * se) + (1 – sp)*(1 – p) = 0.028

Xác suất có ít nhứt một mẫu gộp cho ra kết quả dương tính:

P.pool = 1 – (1 – P.spec)^n  = 0.627

Số mẫu gộp sẽ cho ra kết quả dương tính:

N.pos = (N / n)*P.pool = 150,534

Từ đó, số ca cần xét nghiệm lại (bước 2):

N.pos * n = 5,268,691

Thành ra, trên lí thuyết xét nghiệm gộp có thể tiết kiệm, nhưng nếu tính toán cụ thể và điều chỉnh cho độ chính xác của phương pháp xét nghiệm thì vẫn rất tốn kém.  

4. Hiệu quả kinh tế – y tế

Trong thực tế, chúng ta đã thấy chi phí tốn kém như thế nào ở Hà Nội. Theo một nguồn tin [5], Hà Nội đã tiêu ra 572.1 tỉ đồng để làm xét nghiệm sàng lọc trên 3,128,380 mẫu, với 74% là PCR và 26% là xét nghiệm nhanh.

Các nhà chức trách chỉ phát hiện 19 ca dương tính. Tính trung bình, để phát hiện 1 ca dương tính, Hà Nội mất 30.1 tỉ đồng (hơn 1.3 triệu USD).  

Đó là một sự tốn kém thấy trước. Thật ra, con số đó cao hơn là những gì tôi tính toán ở trên.

Thế nhưng có bạn lí giải rằng chi phí đó (30 tỉ đồng để phát hiện 1 ca dương tính) là chấp nhận được vì nếu không phát hiện thì số ca này sẽ lây lan ra nhiều số ca khác và gây tử vong. Cách lí giải này như sau:

  • 1 ca nhiễm biến thể Delta sẽ lây cho 7 người khác và với “chu kỳ là 2 ngày” thì trong 10 ngày sẽ có 7^5 = 16807 ca.
  • Tỉ lệ tử vong 2.5% có nghĩa là sẽ có 300 ca tử vong.

Rất tiếc không thấy tác giả lí giải thêm là thế nào thì có hiệu quả kinh tế – y tế, vì tính toán dừng ở đó.

Tuy nhiên, cách lí giải này dựa trên sự hiểu lầm (?) về ý nghĩa của chỉ số lây lan và sai sót trong tính toán. Tôi giải thích ngắn gọn như sau:

Thứ nhứt, không ai biết có bao nhiêu ca nhiễm ở Hà Nội là liên quan đến biến thể Delta. Biến thể Delta có chỉ số lây lan trung bình là 7. Thật ra, không ai biết chính xác hệ số lây lan của biến thể Delta là bao nhiêu, nên nó là một con số bất định. Con số này không có nghĩa là 1 người sẽ lây cho đúng 7 người; nó có nghĩa là xác suất lây lan cho 7 người hay thấp hơn là 50% (không phải 100%). Có một số người tiếp xúc với người bị nhiễm biến thể Delta sẽ không bị lây nhiễm. Do đó, dùng chỉ số lây lan 7 cho cách tính đơn giản đó là… sai.

Thứ hai, tỉ lệ tử vong 2.5% là tính theo khái niệm ‘case fatality rate‘ và nó không thể nói lên nguy cơ tử vong của covid. Cái cần tính là ‘infection fatality rate‘, và con số này thì thấp hơn nhiều, chỉ chừng 0.5% mà thôi. Nên nhớ rằng, không ai biết tỉ lệ tử vong đối với biến thể Delta, nhưng số liệu bên Anh cho thấy nó có nguy cơ tử vong thấp hơn biến thể gốc.

Thứ ba, tôi không rõ ‘chu kỳ là 2 ngày’ là gì. Trong dịch tễ học người ta dùng khái niệm incubation period (IP, thời gian ủ bệnh), và IP đối với biến thể Delta giống như biến thể Alpha, tức trung bình 4 ngày [6]. Do đó, nếu nói IP = 2 thì sai, không có cơ sở khoa học nào cả.

Thứ tư, để tính toán số ca nhiễm trong tương lai, thì không ai tính theo kiểu lấy chỉ số lây lan rồi nhân theo hàm số mũ của số ngày IP cả. Đó là cách tính … rợ. Tính theo khoa học thì phải có mô hình, và mô hình phổ biến là SEIR mà tôi có giải thích sơ qua trước đây [6]. Nhưng đây là một đề tài khác; ở đây chỉ nói ngắn gọn để thấy cách tính rợ đó không có ý nghĩa gì cả.

Tóm lại, rất khó biện minh cái chi phí 30 tỉ đồng để phát hiện 1 ca dương tính. Những lí giải đơn giản và không dựa vào khoa học khó có thể làm sáng tỏ vấn đề.

5. Thay đổi phương án xét nghiệm

Xét nghiệm là cần thiết trong chiến lược kiểm soát dịch, nhưng xét nghiệm đại trà thì không phải là phương án tối ưu. Lí do là xét nghiệm giống như chụp hình tại 1 thời điểm, mà dịch thì diễn biến liên tục. Người ta có thể không bị nhiễm ngày 1, nhưng bị nhiễm vào ngày thứ 5, và trong trường hợp này thì nếu xét nghiệm ngày 1 sẽ không phát hiện. Do đó, con số 19 ca phát hiện ở Hà Nội là chỉ tại một thời điểm, và trong cộng đồng vẫn còn nhiều ca khác nữa.

Mục đích chánh của xét nghiệm là đi tìm bệnh, không phải tìm ca dương tính. Theo tôi, nên áp dụng xét nghiệm tôi gọi là ‘focused screening‘. Theo phương án này, chúng ta chỉ xét nghiệm những nhóm có nguy cơ cao. Theo đó, nên ưu tiên xét nghiệm cho những cá nhân sau đây:

  • Người có triệu chứng giống như covid. Những người này có nguy cơ nhiễm cao, và vì đã có triệu chứng nên phương pháp xét nghiệm sẽ nhạy hơn (cho ra kết qủa chính xác hơn).
  • Người đã từng tiếp xúc với người bị nhiễm. Những người này cũng có nguy cơ nhiễm cao, và xét nghiệm họ có thể cho ra kết quả đáng tin cậy hơn là những người không có triệu chứng và không bị phơi nhiễm.
  • Người có nguy cơ phơi nhiễm như đi lại nhiều, người chăm sóc bệnh nhân, người về từ nơi khác, nhân viên y tế, v.v.
  • Người sống ở những nơi có mật độ dân số cao. Lây nhiễm xảy ra cao ở những vùng có mật độ dân cư cao, và xét nghiệm ở những nơi này sẽ đem lại lợi ích y tế – kinh tế cao hơn là xét nghiệm đại trà.

Dĩ nhiên, phương án trình bày trên mới là phác hoạ. Chúng ta cần phải có dữ liệu để mô hình hoá chiến lược và đánh giá hiệu quả kinh tế (cost-effectiveness) trước khi triển khai xét nghiệm.

Ngay từ năm ngoái khi dịch bùng phát ở Anh, các giới chức y tế đã đi đến kết luận rằng xét nghiệm đại trà không phải là cách chính xác để truy tìm các ca covid trong dân số [8]. Trong lá thư gởi Chánh phủ, Bộ trưởng Y tế Anh viết rằng xét nghiệm trên những người không có triệu chứng bằng que là không chính xác và có thể cho ra kết quả làm cho người bị nhiễm tưởng rằng mình không bị nhiễm (do sai sót trong xét nghiệm).

Thiết nghĩ bài học ở Anh cùng với kinh nghiệm thực tế ở TPHCM và Hà Nội đã quá đủ để ngưng chương trình xét nghiệm đại trà, và suy nghĩ đến một chương trình xét nghiệm có hiệu quả kinh tế và y tế hơn.

____

[1] https://www.gov.uk/government/publications/innova-lateral-flow-sars-cov-2-antigen-test-accuracy-in-liverpool-pilot-preliminary-data-26-november-2020

[2] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7386165/pdf/40121_2020_Article_324.pdf

[3] https://www.cap.org/member-resources/articles/how-good-are-covid-19-sars-cov-2-diagnostic-pcr-tests

[4] https://www.health.gov.au/resources/publications/post-market-validation-of-the-beijing-genomics-institute-bgi-sars-cov-2-real-time-pcr-platform

[5] https://www.facebook.com/vu.k.hanh.52/posts/10159974232286122

[6] https://www.uq.edu.au/news/article/2021/06/whats-delta-covid-variant-found-melbourne-it-more-infectious-and-does-it-spread-more

[7] https://tuanvnguyen.medium.com/move-away-from-lockdowns-ad24fe2d995b

[8] https://www.bmj.com/content/371/bmj.m4916

Tại sao Việt Nam có số ca tử vong cao? Phân biệt “chết vì” và “chết với” coronavirus

Việt Nam đã vượt cái mốc 15,000 người tử vong liên quan đến covid (con số chính xác là 16186). Tôi cứ phân vân về cách diễn giải con số này, và tự hỏi cách mà giới chức y tế xác định thế nào là một ca tử vong vì covid. Câu này này đơn giản nhưng rất quan trọng. Tôi nghĩ phải phân biệt ‘chết vì covid’ và ‘chết với covid’.

Nhiều người so sánh tỉ lệ tử vong giữ Việt Nam và Thái Lan. Thái Lan có số ca nhiễm cao gấp 2 lần Việt Nam, nhưng số ca tử vong thì thấp hơn Việt Nam 8%. Thật ra, tỉ lệ tử vong ở Việt Nam (2.5%) còn cao hơn cả Cambodia (2.0%) (Xem Hình 1).

Hình 1: Số ca nhiễm và tử vong ở các nước trong vùng. Chỉ có China là … ngoại lệ. Cho đến nay, China ghi nhận 123,808 ca nhiễm và 5688 ca tử vong (tỉ lệ 4.6%).

Tại sao có sự khác biệt quá lớn giữa các nước trong vùng? Ai trong chúng ta cũng có thể nghĩ ra một lí do để giải thích, và lí do có thể là do hệ thống y tế của Việt Nam còn yếu trong điều kiện quá tải, có thể là thiếu thốn máy móc và thuốc men, có thể là tình trạng phong toả kéo dài, v.v. Tất cả những lí do đó có thể đúng, nhưng các nước khác như Lào hay Cambodia thì cũng như chúng ta thôi, tức cũng thiếu thốn tư bề (có lẽ Thái Lan thì hơn một chút). Tôi e rằng các ‘lí do cơ‘ đó khó giải thích tại sao Việt Nam có quá nhiều ca tử vong trong trận dịch này.

Tôi nghĩ đến lí do kĩ thuật: cách đếm và xác định nguyên nhân tử vong.

Để các bạn hiểu vấn đề tôi xin tóm tắt 1 trường hợp ở Úc như sau. Năm ngoái, một thanh niên tên Nathan Turner, tuổi 30s, qua đời ở nhà sau khi có triệu chứng giống như cúm. Khi bệnh viện làm xét nghiệm tử thi, họ tuyên bố anh ta dương tính cho covid. Thế là cái chết của anh được xem là ‘chết vì covid.’ Nhưng sau đó, người ta điều tra kĩ về nguyên nhân tử vong, thì mới biết anh ta có nhiều bệnh lí phức tạp, và làm xét nghiệm lại, nhưng lần này thì kết quả là âm tính! Do đó, đếm anh ta vào con số thống kê tử vong vì covid là sai. Câu chuyện nói lên tính phức tạp trong việc xác định nguyên nhân tử vong.

1. Xác định nguyên nhân tử vong và covid

Ở Úc, các giới chức thống kê có hướng dẫn cụ thể về các xác định nguyên nhân tử vong. Hướng dẫn của Úc viết đại khái rằng nếu người qua đời bị nhiễm nCov thì trên giấy chứng tử nên ghi rằng COVID-19 là nguyên nhân tử vong, bất kể Covid-19 là nguyên nhân trực tiếp, hay được giả định là nguyên nhân gây ra hay đóng góp vào sự tử vong [1]. Nói cách khác, nếu bệnh nhân bị đột quị và covid, thì nguyên nhân tử vong phải ghi là covid.

Ở Mĩ, lúc số ca tử vong tăng cao, có một cuộc tranh luận về nguyên nhân tử vong liên quan đến covid. CDC có hẳn một tài liệu hướng dẫn ghi nguyên nhân tử vong, và đọc tài liệu đó mới thấy phức tạp ra sao [2].

Nhưng nếu đọc kĩ thì thấy là bất cứ ai từng bị nhiễm nCov và qua đời sau đó thì phải ghi Covid-19 là nguyên nhân tử vong. Qui định này rất giống với Úc. Nhiều người trong y khoa không đồng ý với cách phân loại này, nhưng qui định là qui định và bác sĩ viết giấy chứng tử phải tuân theo!

Vấn đề là nguyên nhân tử vong nhiều khi tuỳ thuộc vào cá nhân bác sĩ. Trên trang cdc.gov [3] có một cuộc đối thoại thú vị về cách viết nguyên nhân tử vong, và tôi có thể tóm tắt như sau:

Hỏi: Đối với những trường hợp mà người ta chết vì các bệnh như ung thư hay Alzheimer’s ở giai đoạn cuối, và trước khi chết họ bị nhiễm covid, bác sĩ phán xét như thế nào về nguyên nhân tử vong?

Đáp (tóm tắt): Không hề đơn giản để xác định nguyên nhân tử vong của một cá nhân, nhứt là họ bị bệnh ở giai đoạn cuối. Chẳng hạn như nếu bệnh nhân bị ung thư ở giai đoạn cuối và bác sĩ nghĩ anh ta còn sống được 6 tháng, nhưng vì anh ta bị covid và chết trước 6 tháng, thì bác sĩ có thể sẽ ghi nguyên nhân tử vong là covid. Nhưng nói cho cùng thì tuỳ thuộc vào người viết giấy chứng tử.

Cái câu tuỳ thuộc vào người viết giấy chứng tử rất quan trọng. Sự thật này nói lên rằng nguyên nhân tử vong không phải được xác định một cách khách quan. Nếu 2 người bị covid và qua đời, bác sĩ A có thể xem qua tiền sử và nói nguyên nhân tử vong là suy thận, nhưng bác sĩ B có thể viết nguyên nhân là covid.

Đó chính là một lí do tại sao số ca tử vong liên quan đến Covoid-19 tăng cao.

2. ‘Chết vì virus’ hay ‘chết với virus’?

Đa số hay tuyệt đại đa số những người chết liên quan với covid là người trên 60 tuổi. Mà, người ở độ tuổi đó thì thường có những bệnh đi kèm (gọi là ‘comorbidities’). Ở Úc, theo một phân tích, 73% ca tử vong covid có những bệnh đi kèm [4]. Những bệnh phổ biến là mất trí nhớ (dementia), tim mạch mãn tính, tiểu đường, cao huyết áp, bệnh đường hô hấp, ung thư, và các bệnh xương khớp (xem Hình 2).

Những bệnh lí đi kèm ở những người chết có liên quan đến covid.

Hai tuần trước, Chánh phủ tiểu bang New South Wales đã đổi cách nói về tử vong covid. Họ tuyên bố rằng từ nay trở đi, các giới chức y tế sẽ viết/nói rằng “death with virus” (chết với con virus) thay vì “death from virus ” (chết vì con virus). Cách nói ‘chết với con virus’ là kém xác định và khiêm tốn hơn câu ‘chết vì con virus’. Thật ra, cá nhân tôi từ năm ngoái đã dùng cách nói đó: covid-associated deaths.

3. Nguyên nhân tử vong covid ở Việt Nam có chính xác?

Quay lại câu hỏi tại sao Việt Nam ghi nhận nhiều ca tử vong covid hơn các nước khác (như Thái Lan chẳng hạn) dù số ca nhiễm thì thấp hơn. Tôi nghĩ rất có thể là do lí do kĩ thuật trong việc xác định nguyên nhân tử vong.

Như đề cập trên, ở Úc và Mĩ, người ta có qui định về cách viết nguyên nhân tử vong trên giấy chứng tử. Tôi không rõ ở Việt Nam có qui định như thế hay không. Tìm trong trang web của Bộ Y tế thì không thấy có qui định nào về ghi nhận nguyên nhân tử vong. Nếu chưa có thì tôi nghĩ nên soạn một qui định về chứng tử để bác sĩ căn cứ vào đó mà xác định nguyên nhân chính xác hơn.

Mà, dù có hay chưa có qui định, thì nguyên nhân tử vong vẫn là một thông tin không khách quan, bởi vì nó tuỳ thuộc vào đánh giá của bác sĩ. Như thấy qua đoạn đối thoại trên ở CDC (Mĩ), xác định nguyên nhân tử vong covid nhiều khi chỉ là một phán xét cá nhân. Do đó, giả thuyết là số ca tử vong covid ở Việt Nam chắc chắn không phản ảnh đúng thực trạng, và những so sánh giữa các nước chỉ có ý nghĩa thông tin hơn là tham khảo.

Các bạn nào trực tiếp ghi giấy chứng tử có thể chia xẻ kinh nghiệm với các bạn khác xem sao.

______

[1] https://www.abs.gov.au/ausstats/abs@.nsf/mf/1205.0.55.001

[2] https://www.cdc.gov/nchs/data/nvss/vsrg/vsrg03-508.pdf

[3] https://www.cdc.gov/nchs/pressroom/podcasts/2021/20210319/TRANSCRIPT_STATCAST_031921.pdf

[4] https://www.abs.gov.au/articles/covid-19-mortality-0

Chi phí khám và điều trị covid: Việt Nam và thế giới

Ít ai biết rằng chi phí khám và điều trị bệnh nhân covid khá mắc. Ở Việt Nam hình như chưa có nghiên cứu về vấn đề này, nhưng nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy chi phí khá cao so với thu nhập bình quân của người dân.  

Trên trang fb của anh Võ Xuân Sơn có trình bày chi phí khám và điều trị cho một bệnh nhân covid nằm viện 41 ngày [1]. Tổng chi phí là 1.6 tỉ đồng (tức khoảng 72,000 USD). Trong đó, chi phí điều trị là 720 triệu đồng (gần 33,000 USD). Vì có bảo hiểm, nên bệnh nhân chi trả 166 triệu đồng. Nếu đây là cái giá tiêu biểu (hi vọng không phải) thì chi phí khám và điều trị bệnh covid ở Việt Nam rất mắc.

Thu nhập bình quân ở Việt Nam vẫn còn thấp, nên nếu lấy chi phí covid chia cho thu nhập thì tỉ số rất cao. Giả dụ rằng chi phí điều trị là 10,000 USD (thay vì 72000 USD như bệnh nhân trên) thì vẫn cao gấp 26 lần lương tháng tiêu biểu của một người dân.

Còn ở nước ngoài thì sao?

Có một nghiên cứu trên 1422 bệnh nhân ở Saudi Arabia cho thấy chi phí liên quan đến covid cũng rất mắc. Tính trung bình, chi phí nằm viện tính trên mỗi bệnh nhân là 38,436 USD, với 75% bệnh nhân có chi phí dưới 52,194 USD [2].

Nghiên cứu này còn tính chi tiết chí phí nằm viện mỗi ngày. Nếu chỉ nằm trong ward thì chi phí (mỗi ngày) là 5192 USD, nhưng ICU thì lên đến 7810 USD, và mắc nhứt là ICU + thở máy là 11,215 USD. Thu nhập bình quân mỗi tháng ở Saudi Arabia là khoảng 3195 USD. Chi phí điều trị và khám covid như vậy cao gấp 2.6 lần so với lương tháng của dân.

Ở Mĩ thì sao? Theo một bài báo [3] thì chi phí bệnh viện cho bệnh nhân covid dao động từ 51,389 USD cho bệnh nhân tuổi 21-40, nhưng có thể lên đến 78,569 USD cho tuổi 41-60. Tuổi càng cao, chi phí càng tăng, có lẽ là do các bệnh nền đi kèm. Thu nhập bình quân mỗi tháng ở Mĩ  là khoảng 5420 USD. Chi phí covid làm mất 12 tháng lương của một người Mĩ trung bình!

Tóm lại, như các bạn thấy, chi phí khám và điều trị bệnh nhân covid là rất mắc. Chi phí khám và điều trị viêm phổi ở Mĩ (theo y văn) là khoảng 429 USD (giá năm 2018), tức chỉ bằng số lẻ (dưới 1%) chi phí covid. Điều này cũng nói lên rằng giảm nguy cơ nhập viện là một ưu tiên trong chiến lược kiểm soát dịch.

Việt Nam rất cần một nghiên cứu về chi phí khám và điều trị covid và so sánh với lợi ích lâm sàng. Câu hỏi là xã hội phải chi bao nhiêu tiền để cứu 1 bệnh nhân covid rất cần được trả lời càng sớm càng tốt.

___

[1] https://www.facebook.com/xuanson.vo.5/posts/2126120604211721

[2] https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC7602112

Tại sao phong toả không đạt hiệu quả?

Mấy hôm nay, báo chí nước ngoài [1-3] hay hỏi tôi câu hỏi trên (tại sao phong toả ở TPHCM không có hiệu quả), và tôi cũng chỉ có thể giải thích qua 3 giả thuyết liên quan đến thời gian và bối cảnh.

Xét dưới bất cứ góc độ nào thì chánh sách phong toả TPHCM đã không đạt mục tiêu. Số ca nhiễm vẫn tăng và chưa có xu hướng giảm. Tỉ lệ tử vong tăng vượt mốc (gấp 2 lần) trung bình trên thế giới. Tất cả các dự báo đều sai thảm hại. Kinh tế bị ảnh hưởng trầm trọng, doanh nghiệp bỏ đi. Quan trọng hơn là cảnh dân đói khát đã xuất hiện. Thành ra, nói cách gì thì nói, phong toả đã không thành công.

Một người xin ăn trên đường phố TPHCM trong thời gian phong tỏa. Ảnh của Bs Phan Xuân Trung chụp trong lúc đi khám bệnh.

1.  Tại sao phong toả không đem lại hiệu quả?

Hiện nay thì chưa ai phân tích vấn đề đến nơi đến chốn vì còn quá thiếu dữ liệu. Tôi nghĩ đến 2 giả thuyết: thời gian phong toả và đặc điểm dân số của Thành phố.

Giả thuyết thứ nhứt là biện pháp phong toả áp dụng hơi trễ. Khi chánh sách phong toả được ban hành thì số ca nhiễm hàng ngày ở TPHCM đã đạt con số 464 một ngày, tăng gấp 2 so với những người trước đó. Điều này có nghĩa là dịch đã ‘bén rễ’, và lúc đó thì phong toả ít có tác dụng.

Đa số các phân tích mô hình mà tôi đọc được đều chứng minh rằng nếu áp dụng phong toả ngay sau khi dịch phát sanh thì mới có hiệu quả. Các phân tích đó còn chỉ ra rằng phong toả chỉ nên ngắn, chớ nếu kéo dài thì tác dụng cũng sẽ suy giảm theo thời gian (còn gọi là hiện tượng ‘lockdown fatigue’).

Giả thuyết thứ hai là đặc điểm dân cư ở TPHCM. Chúng ta biết rằng HCM có mật độ dân số khá cao, và một phần lớn cư dân sống trong các con hẻm chật chội. Một phần lớn cư dân có thu nhập thấp và họ sống nhờ đồng lương hàng tuần hay hàng tháng. Đây chính là những nhóm người ‘yếu ớt’ nhứt, hiểu theo nghĩa dễ bị bệnh và khi bị thì chịu hậu quả nặng nề.

Kinh nghiệm về phong toả ở các nước nghèo (như bên Phi châu) [4] cho thấy ở những nơi mà mật độ dân số cao và thiếu điều kiện vệ sinh, thì phong toả chẳng đem lại hiệu quả nào cả. Tình hình ở Nam Phi đúng như dự báo: sau vài tháng phong toả, số ca nhiễm và số ca tử vong vẫn tăng. Điều lạ lùng là sau khi phong toả thì số ca tử vong có vẻ giảm.

Giả thuyết thư ba là biến thể Delta. Chắc chắn biến thể này đã xuất hiện ở Việt Nam. Với hệ số lây lan rất cao (6-7), và khi con virus đã vào một gia đình thì xác suất cao là toàn bộ gia đình đều bị nhiễm. (Trước đây, thì chỉ khoảng 1/3 gia đình bị nhiễm). Biến thể Delta có thời gian ủ bệnh khá ngắn, và điều này làm cho việc truy vất hoặc ‘xét nghiệm thần tốc’ không có hiệu quả gì nhiều, vì trước khi phát hiện thì nó đã lây lan sang cho người khác.

Do đó, tôi nghĩ 3 yếu tố trên (thời gian phong toả và đặc điểm cư dân) có thể giải thích tại sao phong toả không đem lại hiệu quả.

2.  Phong toả = lựa chọn

Khi quyết định phong toả thì tức là chúng ta đã làm một lựa chọn. Lựa chọn là cứu người bị nhiễm covid và (gián tiếp) hi sinh những người với bệnh khác. Đó là những bệnh mãn tính như tiểu đường, tiêm mạch, ung thư, thận, xương khớp, miễn dịch, v.v.

Chúng ta hay nói đến con số hơn 10,000 người tử vong ở TPHCM trong trận dịch này, nhưng chưa ai biết bao nhiêu là chết VÌ covid và bao nhiêu là chết VỚI covid. Tôi có lí do để tin rằng đa số là chết với covid.

Tại sao tôi tin vậy? Tại vì nhìn vào con số tử vong (xem hình), tôi thấy 35% tổng số ca tử vong là ở người dưới 60 tuổi. Ba mươi lăm phần trăm. (Xin ghi thêm rằng ở Úc này số người chết dưới 60 tuổi chỉ chiếm chừng 1%). Con số 35% nhiều người chết ở tuổi dưới 60 nói lên rằng họ có lẽ chết vì các bệnh lí đi kèm hơn là vì virus. Khi phong toả, chúng ta đã ‘hi sinh’ họ.

Phân bố số ca tử vong liên quan đến covid theo độ tuổi ở TPHCM. Chú ý: trên 35% tổng số ca tử vong covid là dưới 60 tuổi.

3.  Phải làm gì?

Nếu đã xác định phong toả không đem lại hiệu quả thì phải nghĩ đến dỡ bỏ chánh sách phong toả. Nếu theo WHO thì số ca nhiễm phải được kiểm soát (hiểu theo nghĩa giảm suốt 14 ngày), hệ thống y tế sẵn sàng, v.v. Nhưng có cần theo WHO không? Tôi nghĩ không, vì những tiêu chuẩn họ đề ra là chung cho thế giới, còn áp dụng cho từng nơi thì tuỳ thuộc vào điều kiện nơi đó. Vả lại, mấy tiêu chuẩn của WHO lạc hậu trong tình huống đã có vaccine.

Vaccine mới là chìa khoá thoát phong toả. Số ca dương tính không phải và không nên là tiêu chuẩn thoát phong toả. Ở TPHCM, số người trên 18 tuổi được tiêm 1 liều đã khá cao (trên 90%?) và số được tiêm đủ 2 liều cũng đã gần 50% (?). Tôi nghĩ đó là tiêu chuẩn để thoát phong toả. Thoát theo lộ trình 4 bước mà tôi phác hoạ hôm trước [5].

Một lộ trình thoát phong toả.

____

[1] https://asiatimes.com/2021/09/counting-the-cost-of-vietnams-covid-meltdown

Counting the cost of Vietnam’s Covid meltdown

[2] https://asia.nikkei.com/Spotlight/Coronavirus/Vietnam-s-Ho-Chi-Minh-City-has-highest-COVID-death-rate-in-region

Vietnam’s Ho Chi Minh City has highest COVID death rate in region

[3] https://asia.nikkei.com/Spotlight/Coronavirus/Vietnam-vows-to-curb-COVID-in-Ho-Chi-Minh-City-as-deaths-spike

Vietnam vows to curb COVID in Ho Chi Minh City as deaths spike

[4] https://www.globalepidemiology.com/article/S2590-1133(20)30018-3/fulltext

[5] Có người quan tâm chánh đáng rằng nếu ngưng phong toả thì thành phố sẽ ‘toang’. Tôi không thích cách dùng chữ mù mờ đó (‘toang’ là gì? là sao?) Phải suy nghĩ cụ thể hơn là ‘toang’ chung chung. Có thể đoán trước rằng sau khi thoát phong tỏa số ca có thể sẽ tăng, nhưng số ca nhập viện thì giảm. Thử tưởng tượng có 10,000 ca dương tính, và trong số này có 1500 ca cần nhập viện lúc phong toả, nhưng sau vaccine thì chỉ còn 300 ca (do hiệu quả vaccine giảm nhập viện 80%). Chúng ta có thể mô hình như thế cho mỗi ngày. Tuy nhiên, để mô hình đàng hoàng thì cần dữ liệu về số ca nhập viện trong thời gian phong toả.

Thẻ xanh,  thẻ vàng, và vài bất cập

Một trong những nguyên tắc của y tế công cộng là đơn giản. Thế nhưng trong thực tế, chánh sách chống dịch ở Việt Nam rất khó hiểu đối với người dân. Câu chuyện ‘thẻ xanh’, ‘thẻ vàng’ là một ví dụ đi ngược lại khoa học.

Theo tôi tìm hiểu [1] và mô tả đơn giản cho dễ theo dõi thì thẻ xanh là cho người đã tiêm đủ liều 2 vaccine (AstraZeneca, Pfizer, Moderna, Sinopharm, Sputnik), còn thẻ vàng là cho người đã tiêu 1 liều.

Nếu vậy thì tại sao phải gọi là thẻ xanh, thẻ vàng để gây thêm một tầng phức tạp. Tại sao không gọi là đã tiêm đủ 2 liều và tiêm 1 liều cho dễ hiểu.

Ở Úc này, người ta không có thẻ xanh, thẻ vàng; chỉ có một chứng chỉ điện tử đã tiêm đủ 2 liều vaccine. Và, theo tôi biết ở Anh, Mĩ, Canada cũng không có thẻ xanh, thẻ vàng; họ chỉ có một chứng chỉ kiểu Úc nhưng tên gọi khác một chút (như ‘Covid Pass’, ‘Vaccination Card’). Do đó, thẻ xanh, thẻ vàng là một ‘sáng kiến’ chỉ ở Việt Nam, nhưng là không cần thiết.

Càng không cần thiết khi có tiêu chuẩn về xét nghiệm sau khi tiêm chủng vaccine. Thật ra, qui định về thẻ xanh còn thêm một tiêu chuẩn là ‘xét nghiệm kháng nguyên định kì‘. Nhưng câu hỏi là tại sao lại cần xét nghiệm kháng nguyên sau khi đã tiêm vaccine?

Trong quá khứ đã có trường hợp người đã tiêm vaccine rồi sau đó đi xét nghiệm PCR hoặc/và kháng nguyên và có kết quả dương tính. Diễn giải kết quả này khá tế nhị. Trên lí thuyết, tiêm chủng vaccine không thể cho ra kết quả dương tính. Rất có thể kết quả dương tính là tín hiệu cho thấy người đó bị nhiễm trước hay sau khi tiêm vaccine.

Câu hỏi đặt ra là người đã tiêm vaccine có cần làm xét nghiệm kháng thể? Nhiều người nghi ngờ là sau khi tiêm vaccine, chưa chắc nó có hiệu quả, nên đòi đi xét nghiệm kháng thể. Nhưng có lẽ đây là việc không nên làm. Lí do là các phương pháp xét nghiệm này cho chúng ta biết một người đã bị phơi nhiễm virus trong quá khứ, chúng không phải là thước đo tin cậy về sự miễn dịch chống virus.

Tại sao xét nghiệm kháng thể không phải là thước đo đáng tin cậy? Tại vì các phương pháp xét nghiệm này chỉ cho chúng ta biết kháng thể chống nCov là hiện diện hay không hiện diện, nhưng chúng ta không định lượng, không cho biết bao nhiêu kháng thể trong cơ thể. Điều này có nghĩa là một người có thể có kết quả dương tính, nhưng lượng kháng thể có thể không đủ để bảo vệ chống lại virus. Mặt khác, nếu kết quả xét nghiệm là âm tính, thì nó cũng không có nghĩa là người đó không có miễn dịch, bởi vì các thành phần khác của hệ miễn dịch (như tế bào T) có thể đóng vai trò quan trọng trong việc chống virus.

Vì những lí do trên, các giới chức y tế không khuyến cáo làm xét nghiệm cho những người đã tiêm vaccine [1].

Tóm lại, tôi thấy việc ban hành thẻ màu là không cần thiết. Càng không cần thiết đòi hỏi xét nghiệm covid cho những người đã tiêm đủ liều vaccine. Chỉ cần một giấy chứng nhận là họ đã được tiêm 1 hay 2 liều vaccine. Không nên bày chuyện để làm phức tạp thêm một vấn đề vốn rất đơn giản.

____

[1] https://www.fda.gov/medical-devices/safety-communications/antibody-testing-not-currently-recommended-assess-immunity-after-covid-19-vaccination-fda-safety

____

[1] Thật ra, điều kiện hơi phức tạp hơn những gì tôi tóm tắt. Theo tôi biết qua tìm hiểu thì như sau:

Thẻ xanh:

  • Đối với loại vắc xin tiêm 2 mũi (AstraZeneca, Pfizer, Moderna, Sinopharm, Sputnik V): 14 ngày sau mũi thứ 2 và xét nghiệm kháng nguyên định kỳ đối với một số môi trường làm việc.  
  • Người nhiễm SARS-CoV-2 khỏi bệnh, đã hoàn thành thời gian cách ly, trong vòng 180 ngày tính từ khi khỏi bệnh.
  • Người nhiễm SARS-CoV-2, tự làm xét nghiệm, tự cách ly sau đó khỏi bệnh thì phải xét nghiệm chứng minh có kháng thể.

Thẻ vàng:

  • Tiêm 1 mũi đối với vắc xin có yêu cầu 2 mũi (AstraZeneca, Pfizer, Moderna, Sinopharm, Sputnik V) và đã qua 14 ngày.
  • Có kết quả xét nghiệm định kỳ (3 ngày/lần) âm tính (có xác nhận theo hướng dẫn của Sở Y tế và được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử để cấp và gia hạn thẻ).

Tại sao đã tiêm vaccine đầy đủ mà vẫn bị nhiễm?

Một bạn đọc là phóng viên muốn tôi bình luận về ý kiến cho rằng tại vì có những vaccine với hiệu quả 50-60% nên một số người đã được tiêm đầy đủ vẫn có thể lây bệnh cho người khác. Tôi thì muốn có một cách giải thích khác liên quan đến 5 yếu tố liên quan đến loại vaccine, thời gian, biến thể virus và tiền sử lâm sàng.

‘Hiện tượng’ bị nhiễm virus sau khi tiêm vaccine (đầy đủ 2 liều) không phải là mới. Trong dịch tễ học, người ta gọi đó là những ca ‘breakthrough infection’ (tôi tạm dịch là ‘nhiễm đột phá’).

Nhiễm đột phá xảy ra không phổ biến. Theo một nghiên cứu bên Anh, cứ 500 người tiêm vaccine đầy đủ thì sẽ có 1 người bị nhiễm. Do đó, các bạn có thể nói rằng xác suất các bạn đã tiêm vaccine bị nhiễm nCov là khoảng 0.2%, tức là thấp. Ở Mĩ, số liệu của CDC cho thấy tỉ lệ này là 0.01%.

May be an image of text that says 'According to the CDC, there were: 10,262 breakthrough SARS-CoV-2 CoV-2 infections in the U.S. among the first 101 million fully vaccinated people. Healio'
Số liệu từ CDC (tính đến tháng 25/5/2021) trong số 101 triệu người được tiêm vaccine, chỉ có 10262 người (hay 0.01%) bị ‘nhiễm đột phá’.

Nhưng không phải ai cũng có xác suất nhiễm đột phá như nhau. Có người có nguy cơ cao, người có nguy cơ thấp. (Xin nói thêm rằng tôi dùng chữ ‘nguy cơ’ hay risk ở đây là đồng nghĩa với ‘xác suất’). Vậy câu hỏi đặt ra là yếu tố nào có thể nhận dạng những người có nguy cơ nhiễm cao hay thấp? Xin thưa là có, và tôi tóm tắt các yếu tố đó như sau:

Yếu tố 1: loại vaccine

Chúng ta đã biết rằng vaccine chống covid có nhiều loại và được bào chế khác nhau. Chẳng những thế, hiệu quả của vaccine cũng có thể khác nhau. Nếu dựa vào thử nghiệm lâm sàng thì hiệu quả vaccine của Pfizer là 95%, Moderna 94%, AstraZeneca 70-81% (tuỳ thời gian tiêm). Riêng vaccine Tàu thì họ báo cáo có hiệu quả như AstraZeneca, nhưng trong thực tế thì có vẻ thấp hơn, nên người ta vẫn phải tiêm thêm vaccine phương Tây.

Xin nói thêm rằng khi nói ‘hiệu quả 95%’ KHÔNG có nghĩa là cứ 100 người tiêm thì 95 người sẽ không bị nhiễm. Hoàn toàn không phải như vậy. Nó có nghĩa là xác suất bị nhiễm ở những người được tiêm vaccine thấp hơn 95% xác suất ở những người không tiêm vaccine.

Đơn vị tính toán của hiệu quả là xác suất, không phải cá nhân. Mà, xác suất thì áp dụng cho một nhóm người, chớ không phải cho một cá nhân. Một nhóm người sẽ có người bị nhiễm và người không bị nhiễm. Còn cá nhân thì chỉ bị hay không bị nhiễm, chớ không có xác suất nhiễm. Điều này có nghĩa là con số hiệu quả vaccine chỉ áp dụng cho 1 quần thể hay nhóm người, nó không có ý nghĩa thực tế cho 1 cá nhân.

Yếu tố 2: thời gian giữa 2 liều

Theo kết quả nghiên cứu vaccine AstraZeneca báo cáo trên Lancet [1], thì khoảng cách thời gian mà vaccine có hiệu quả cao nhứt là chừng 3 tháng. Các chuyên gia lí giải rằng 3 tháng là thời gian đủ để cơ thể chúng ta ‘làm quen’ với vaccine trước khi nhận liều mới. Các bạn có thể đọc xem biểu đồ mà tôi trích dẫn dưới đây để thấy khoảng 12 tuần là tối ưu. Khi khoảng cách giữa 2 liều là 12 tuần thì hiệu quả vaccine lên đến 81%, nhưng khi khoảng cách 6 tuần thì hiệu quả chỉ 55%.

Mối liên quan giữa thời gian giữa 2 liều vaccine và hiệu quả vaccine AstraZeneca. Thời gian 3 tháng trở lên có hiệu quả cao hơn thời gian dưới 3 tháng.

Đó cũng chính là lí do mà Úc chọn khoảng cách 3 tháng để đạt hiệu quả cao nhứt. Nhưng ở những nơi hiếm vaccine (như Việt Nam chẳng hạn) nhà chức trách có xu hướng rút ngắn thời gian tiêm chủng giữa 2 liều.

Yếu tố 3: thời gian của hiệu quả

Không có vaccine nào có hiệu quả ‘muôn năm’, mà chỉ trong một thời gian. Theo nghiên cứu (chưa qua bình duyệt) thì hiệu quả của vaccine Pfizer có vẻ suy giảm sau 6 tháng sau liều thứ 2 [2]. Nghiên cứu bên Do Thái [3] cũng cho ra kết luận như thế.

Yếu tố 4: biến thể của virus

Lí do thứ tư là do con virus có biến thể giúp nó thoát khỏi tầm kiểm soát của hệ miễn dịch. Chất liệu di truyền của con virus nCov là RNA (khác với con người là DNA). RNA có mức độ đột biến rất rất nhanh hơn DNA. Khi chúng ta có vaccine để chống, thì chúng đã biến thể sang dạng khác rồi, vì chúng thường đi trước con người rất xa.

Điều này có thể giải thích tại sao con virus bị đột biến mới gíup chúng thoát khỏi cái radar của hệ miễn dịch và tha hồ tấn công con nguời. Đó là lí do mà giới khoa học quan tâm khi Ấn Độ phát hiện một biến thể mới của con virus Vũ Hán, vì nó có thể làm cho vaccine hiện hành kém hiệu quả.

Yếu tố 5: tuổi tác và sức khoẻ

Lí do thứ năm là độ tuổi, tình trạng sức khoẻ, và nhứt là tiền sử dùng thuốc. So với những người trẻ, hệ miễn dịch ‘già nua’ (như của tôi và các bạn cùng tuổi) không đáp ứng tốt với các kháng nguyên mới. (Kháng nguyên là các yếu tố ngoại tại làm cho hệ miễn dịch chúng ta sản xuất kháng thể để chống lại virus).

Điều này tôi viết thì có vẻ vui vui, nhưng sự thật là đã có nghiên cứu giải thích về sự tương quan giữa tuổi tác và đáp ứng miễn dịch ở những người được tiêm vaccine Pfizer [4]. Do đó, tôi đoán rằng những ca bị nhiễm đột phá có thể, tính trung bình, cao tuổi hơn và khoẻ mạnh hơn những ca không bị nhiễm đột phá.

Tóm lại, điểm qua y văn, tôi nghĩ lí do bị nhiễm dù đã tiêm đủ 2 liều vaccine là do (a) loại vaccine; (b) khoảng cách thời gian giữa 2 liều chưa đủ tối ưu hoá hiệu quả của vaccine; (c) hiệu quả của vaccine suy giảm theo thời gian; (d) biến thể của virus; và (e) các yếu tố liên quan đến tuổi tác và bệnh lí đi kèm.

Dù lời giải thích gì thì chúng ta phải nhận thức rằng tiêm vaccine đầy đủ 2 liều chúng ta vẫn có nguy cơ bị nhiễm (dù nguy cơ rất thấp). Cần nhớ rằng vaccine tuy quan trọng nhưng không phải là ‘viên đạn bạc’ phòng chống dịch covid-19 mà các chuyên gia WHO đã cảnh báo. Các biện pháp y tế công cộng (như hạn chế tụ tập đông người) vẫn phải áp dụng một thời gian.

___

[1] https://www.thelancet.com/journals/lancet/article/PIIS0140-6736(21)00432-3/fulltext

[2] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.07.28.21261159v1

[3] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.08.24.21262423v1

[4] https://www.medrxiv.org/content/10.1101/2021.03.03.21251066v1.full

Phỏng vấn thầy Nguyễn Văn Tuấn

Lời nói đầu: Nhiều nghiên cứu sinh và giới nghiên cứu y khoa đều biết đến thầy Nguyễn Văn Tuấn. Hiện nay, thầy là giáo sư chuyên về di truyền loãng xương thuộc khoa Y, Đại học New South Wales; giáo sư dịch tễ học và thống kê học của Khoa Y, Đại học Notre Dame, và giáo sư y khoa tiên lượng thuộc Đại học Công nghệ Sydney (UTS). Ở Việt Nam, ngoài những đóng góp quan trọng cho chuyên ngành loãng xương, thầy Nguyễn Văn Tuấn còn có những đóng góp to lớn về phân tích dữ liệu và phương pháp nghiên cứu khoa học, đã giảng cho nhiều ngàn bác sĩ và nhà khoa học ở trong nước hơn 20 năm qua. Hôm nay, Nhi có một buổi trò chuyện thân mật với thầy Tuấn về lãnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là phân tích dữ liệu.

Khả Nhi (KN): Xin chúc mừng thầy vừa được trao một giải thưởng danh giá của nước Úc. Xin thầy cho biết chút thông tin về giải thưởng.

Thầy Nguyễn Văn Tuấn (NVT): Cám ơn em. Mấy tuần trước, tôi và một số đồng nghiệp khác được Hội đồng quốc gia về y khoa và y tế Úc (NHMRC) trao cho một phần thưởng (award) gọi là “Leadership Fellow”, trước đây gọi là “Australia Fellow”. Trong thực tế thì award đó giống như là một ‘ghế’ khoa học. Tôi được giữ ghế này trong 5 năm, và trong thời gian đó NHMRC trả lương và ngân sách nghiên cứu. Vì cái ghế này rất cạnh tranh, mỗi năm có chừng 40 người được trao, nên các đại học rất thích người của họ được trao ghế và quảng bá. Đối với cá nhân tôi thì đó là một tin mừng vì mình ‘sống’ tiếp được 5 năm.

KN: Xin thầy cho biết hiện nay thầy đang theo đuổi nghiên cứu gì?

NVT: Tôi đang theo đuổi một số dự án nghiên cứu chánh ở bên Úc và một bên Việt Nam. Nói chuyện Việt Nam trước. Cách đây chừng 5 năm, tôi và đồng nghiệp trong nước khởi động một dự án nghiên cứu qui mô mà tôi gọi là “Vietnam Osteoporosis Study” (VOS) với hơn 4000 người tham gia. Mục tiêu là tìm những yếu tố môi trường và gen có liên quan đến bệnh loãng xương và các bệnh liên quan, và qua đó đào tạo nghiên cứu sinh theo đuổi sự nghiệp nghiên cứu khoa học. VOS đang gây tiếng vang trong chuyên ngành loãng xương trên trường quốc tế. Dự án đó đến nay đã bước vào giai đoạn 3, và chúng tôi đang tìm tài trợ để thực hiện ý tưởng ban đầu là tạo ra một thư viện tham chiếu về gen cho người Việt Nam.

Ở bên Úc, tôi đang theo đổi dự án liên quan đến việc định nghĩa tình trạng mất xương ở người cao tuổi, và qua đó xây dựng một ngưỡng tham chiếu để dự báo mất xương ở người sau mãn kinh. Trong dự án này tôi muốn xây dựng một chữ kí gen để tiên lượng gãy xương. Thật ra, labo tôi đã làm dự án này mấy năm nay, nhưng nhờ vào tiến bộ của phân tích hệ gen, nên tôi muốn nâng tầm dự án một bước cao hơn. Kế đến là giải trình tự gen cho khoảng 4000 người để xây dựng một hệ bệnh lí gọi là “Diseasome“. Một trong những thành quả sau cùng tôi muốn đạt được trong 5 năm tới là xây dựng software để phục vụ cho việc tiên lượng loãng xương và gãy xương tốt hơn.

Nói chung, hướng nghiên cứu mới của tôi là ứng dụng genomics vào việc quản lí và điều trị bệnh loãng xương tốt hơn. Tôi hi vọng trong tương lai mình sẽ tạo thêm một dấu ấn về hướng này trên trường quốc tế.

KN: Như vậy hướng nghiên cứu của thầy liên quan đến dịch tễ học và genomics. Thống kê học đóng vai trò quan trọng trong các nghiên cứu loại này?

NVT: Đúng vậy, suy nghĩ thống kê đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nghiên cứu lâm sàng, dịch tễ học, và đặc biệt là genomics. Tôi mở ngoặc rằng tôi dùng chữ’suy nghĩ thống kê’ – statistical thinking – thay vì phương pháp thống kê. Ai cũng biết mô hình nghiên cứu lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (randomized controlled trial) là một cuộc cách mạng trong y khoa, nhưng ít ai biết rằng triết lí và mô hình nghiên cứu này xuất phát từ suy nghĩ thống kê, với mục tiêu loại trừ bias trong suy luận nhân quả.

Ý tưởng về GWAS (genomewide association study) là xuất phát từ suy nghĩ thống kê. Trước đây, chúng tôi làm nghiên cứu từng gen một, nhưng thường là thất bại vì tính tái lập không cao. Sau này, một nhà thống kê học và di truyền học (Eric Lander) phát kiến giả thuyết “Common Variant – Common Disease” (tức những bệnh phổ biến thường do nhiều gen gây ra), và thế là phương pháp GWAS ra đời. Mới đây, giải trình tự hệ gen (whole genome sequencing hay WGS) cũng là một phát kiến xuất phát từ suy nghĩ thống kê.

Chính nghiên cứu di truyền và hệ gen đặt ra những vấn đề mới và từ đó phương pháp mới ra đời. Nghiên cứu gen và hệ gen sản xuất ra một lượng dữ liệu rất lớn, có thể 5-10 TB dữ liệu cho mỗi bệnh nhân, và nếu không có phân tích thống kê thì đó chỉ là những số liệu vô hồn và vô dụng. Vai trò của thống kê học vô cùng – tôi nhấn mạnh “vô cùng” – quan trọng trong các nghiên cứu với dữ liệu lớn.

KN: Thầy có thể chia sẻ những khó khăn và thách thức liên quan đến thống kê học trong nghiên cứu dịch tễ học và genomics?

NVT: Rất nhiều vấn đề thực tế đặt ra những thách thức cho thống kê học. Tôi nói về dịch tễ học và nghiên cứu lâm sàng trước. Theo tôi, ứng dụng thống kê học trong trào lưu “Precision Medicine” là một thách thức mang tính phương pháp luận và phương pháp:

• Làm sao triển khai kết quả nghiên cứu từ một quần thể (như RCT chẳng hạn) đến một cá nhân bệnh nhân để chăm sóc bệnh nhân tốt hơn.

• Làm sao thiết kế nghiên cứu RCT với những yếu tố mới như polygenic risk score để cá nhân hoá? Mô hình RCT kinh điển có lẽ sẽ không còn thích hợp nữa, chúng ta cần một mô hình mới.

• Làm sao ứng dụng suy nghĩa Bayes vào nghiên cứu lâm sàng tốt hơn. Trong thực tế, chúng ta đã có các nghiên cứu RCT theo mô hình Bayes cho các bệnh cấp tính, nhưng đối với các bệnh lí mãn tính thì đây vẫn là câu hỏi khó.

• Làm sao giảm thiểu bias trong nghiên cứu lâm sàng dịch tễ học vẫn là một thách thức lớn cho thống kê học. Lí thuyết về bias thì đơn giản, nhưng sử dụng lí thuyết trong thực tế nhằm đảm bảo kết luận đáng tin cậy đòi hỏi sự sáng tạo và ‘duyên dáng’.

• Vấn đề lớn nhứt hiện nay của khoa học là mức độ tái lập (reproducibility) quá thấp, nhiều kết quả nghiên cứu hoặc là sai hoặc là không lặp lại được, và một lí do chánh là do ứng dụng sai phương pháp thống kê. Thách thức đặt ra cho giới thống kê học là phải giúp cho nhà nghiên cứu phân tích tốt hơn, còn hiện nay thì nhiều người trong khoa học xem giới thống kê học như là những kẻ “khủng bố khoa học” hơn là người giúp đỡ.

Về genomics, tôi nghĩ đến những thách thức liên quan đến thống kê như sau:

• Tích hợp dữ liệu từ nhiều nguồn, như RNA sequencing, DNA sequencing, transcriptomic, proteomics, v.v. để phát hiện những ‘pathway’ của bệnh lí;

• Mô hình các hiện tượng cấp quần thể và diễn giải cho cá nhân. Chẳng hạn như làm sao tìm phương pháp giúp chúng ta hiểu các quần thể tế bào và đột biến đóng góp vào sự phát triển các mô và ‘sepcies’ định hình bởi DNA.

• Mô hình tiên lượng. Trong tương lai, nhứt là sau thời GWAS và WGS, vấn đề triển khai dữ liệu thành mô hình tiên lượng nhiều biến số là một thách thức của khoa học thống kê.

• Vấn đề kiểm định nhiều giả thuyết. Nghiên cứu hiện đại kiểm định hàng triệu giả thuyết, và đa số phát hiện là dương tính giả. Phát triển phương pháp mới để giảm tỉ lệ dương tính giả là một thách thức toàn cầu.

Ngoài ra, còn có khó khăn mang tính logistic là quản lí dữ liệu. Như tôi nói trên, nghiên cứu WGS thì dung lượng dữ liệu của mỗi cá nhân có thể lên đến 5-10 TB, và nếu nghiên cứu có vài ngàn bệnh nhân thì nhu cầu lưu trữ và truy cập dữ liệu là một thách thức lớn. Đây là lãnh vực mà giới làm về khoa học dữ liệu có nhiều đóng góp quan trọng.

KN: Thầy đánh giá thế nào về chương trình đào tạo thống kê học và khoa học dữ liệu hiện nay?

NVT: Tôi thấy hiện nay, các chương trình đào tạo chuyên gia thống kê học của các đại học chưa đáp ứng nhu cầu trên. Không biết nơi khác thì sao, nhưng ở Úc này có nhiều nghiên cứu sinh tốt nghiệp tiến sĩ về thống kê học, nhưng họ hầu như không am hiểu hay biết gì về những phương pháp hiện đại và cũng không nhận thức hết vấn đề trong khoa học thực nghiệm. Có người thậm chí không biết mô hình Cox là gì! Họ phải rất vất vả học thêm và được huấn luyện lại để có thể tham gia nghiên cứu nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, tình hình này đang thay đổi, vì cộng đồng thống kê học đang nhận ra vấn đề và hi vọng trong tương lai sẽ tốt hơn.

KN: Thầy có trực tiếp phân tích dữ liệu hay cần đến sự trợ lí của một nhà nghiên cứu khác?

NVT: Trước đây, tôi làm tất cả: từ thiết kế nghiên cứu, thu thập dữ liệu, phân tích dữ liệu, đến công bố khoa học. Nhưng sau này tôi chủ yếu làm quản lí khoa học và đề ra định hướng nghiên cứu, chớ không trực tiếp phân tích dữ liệu. Một việc khác là tôi rất bận viết bài báo và viết grant xin tài trợ. Tôi may mắn có các em nghiên cứu sinh và postdoc làm phân tích dưới sự hướng dẫn của tôi. Tuy nhiên, tôi đề ra kế hoạc phân tích dữ liệu cho mỗi dự án nghiên cứu.

KN: Thầy có thể chia sẻ cách lên kế hoạch phân tích dữ liệu?

NVT: Trong lab tôi, bất cứ sinh viên và nghiên cứu sinh nào trước khi bắt tay vào làm nghiên cứu phải có kế hoạc phân tích (plan of data analysis) và tôi phải phê chuẩn. Mỗi kế hoạch, có khoảng 2-3 trang, bao gồm những nội dung như sau:

• Phát biểu giả thuyết khoa học trong 2-5 câu văn;

• Đề ra mục tiêu cụ thể;

• Xác định dữ liệu nào cần phải có (chi tiết đến 1 trang);

• Kế hoạch phân tích cho mỗi mục tiêu; và

• Một số bảng số liệu và biểu đồ cần phải có.

Có kế hoạch phân tích giúp cho nhà nghiên cứu tập trung vào mục tiêu đạt được, không bị phân tán bởi những tiểu tiết. Có 4 bài học hay kinh nghiệm là:

(a) Trước hết phải am hiểu vấn đề nghiên cứu, am hiểu câu hỏi nghiên cứu, rồi mới vạch ra những phương pháp để giải quyết vấn đề;

(b) Bắt đầu bằng những phân tích khai thác dữ liệu như hiển thị dữ liệu, phân tích mô tả, và qua đó giúp chúng ta hiểu dữ liệu hơn. Không nên bắt đầu bằng những phân tích phức tạp (mà một số bạn trẻ hay làm);

(c) Sử dụng phương pháp đơn giản và dễ hiểu. Nếu nghiên cứu được thiết kế tốt, chúng ta không cần đến những phương pháp phức tạp, chỉ cần những phương pháp đơn giản là đủ. Nhiều bạn có xu hướng dùng những phương pháp thời thượng như ‘Machine Learning’, nhưng kết quả thì rất khó giải thích và đa phần là không sử dụng được trong thực tế.

(d) Lưu trữ tất cả những ghi chú (và R codes) trong một RMarkdown để đảm bảo kết quả nghiên cứu mang tính tái lập.

Tôi tóm tắt những bài học này bằng tiếng Anh là DQSMR: (a) know your DATA; (b) know our research QUESTION; (c) start with SIMPLE descriptive analyses; (d) determine an appropriate statistical MODEL; and RECORD all steps of analysis.

KN: Thầy có giảng dạy về dịch tễ học và thống kê học cho sinh viên?

NVT: Một trong những chức danh của tôi là giáo sư về dịch tễ học và thống kê học của Đại học Notre Dame, nhưng tôi không đứng lớp giảng dạy cho sinh viên. Tôi chỉ nói chuyện trong các buổi seminar chuyên đề, và hướng dẫn nghiên cứu sinh. Tuy nhiên, khi về Việt Nam thì tôi có đứng lớp giảng dạy về chủ đề phương pháp nghiên cứu.

KN: Thầy là người đầu tiên giới thiệu ngôn ngữ R ở Việt Nam. Xin thầy cho biết cơ duyên nào dẫn thầy đến R?

NVT: Tôi nghĩ lần đầu tiên tôi giới thiệu R là năm 1998, tính đến nay đã hơn 20 năm. Đó là một chương trình workshop ở ĐH Bách Khoa cho các em nghiên cứu sinh và giảng viên ngành hoá học. Từ đó, tôi viết cuốn sách đầu tiên về R và xuất bản năm 2005. Sau này, tôi viết thêm 2 cuốn khác về R: “Phân tích dữ liệu với R” và “Hỏi và Đáp Phân tích Dữ liệu với R”. Hai cuốn sách này được bạn đọc khắp nơi chào đón nồng nhiệt, và đã tái bản khá nhiều lần.

Tôi đến với R qua học trò tôi. Dạo đó, tôi có một dự án làm về ‘genetic linkage’ đòi phải những phân tích rất phức tạp. Dữ liệu tôi đã có (tốn tôi hơn 200,000 USD), nhưng tôi không biết làm gì với dữ liệu! Tôi hỏi công ti SAS (sản xuất chương trình SAS nổi tiếng), họ ra giá 50,000 USD cho chương trình SAS/Genetics. Tôi không có ngân sách cho chương trình đó. Nhân một buổi than thở với một em nghiên cứu sinh trong lab, em ấy giới thiệu tôi đến với R, hoàn toàn miễn phí. Tôi ghi danh theo học một lớp về R, chỉ 5 ngày nhưng với cái giá 3000 USD! Tôi bỏ ra hơn 3 tháng trời để tự học R, và thấy rất thích. Sau cùng tôi hoàn tất dự án, và tiết kiệm rất nhiều tiền! Tôi sử dụng R từ đó (1997).

KN: Như vậy, thầy tự học về R? Thầy có thể chia sẻ kinh nghiệm tự học R?

NVT: Cũng có thể nói như vậy: tôi tự học về R là chánh. Trước đây, tôi làm nghiên cứu qua software SAS là chủ yếu, nên chuyển sang R cũng hơi khó khăn lúc ban đầu, nhưng dần dần thì quen, và từ quen rồi đến thích. Kinh nghiệm học R của tôi là như sau:

• Trước hết phải có một dữ liệu thực tế, và mình phải biết qua câu chuyện của dữ liệu;

• Kế đến là một cuốn sách, và cuốn đầu tiên tôi bắt đầu học R là cuốn “Introductory Statistics with R” của Peter Dalgaard, rất dễ đọc và dễ hiểu. (Nếu các bạn không am hiểu tiếng Anh thì cuốn sách của tôi, “Phân tích dữ liệu với R“, có thể giúp);

• Học là phải thực hành, và mỗi ngày tôi dành ra chừng 2 tiếng đồng hồ để thực hiện các thao tác phân tích dùng R;

• Lưu giữ các mã R trong RMarkdown để sau này có thể truy cập và sử dụng. Tôi không cố gắng nhớ hết các lệnh; chỉ cần nhớ chừng 50 lệnh căn bản là đủ;

• Về chủ đề, tôi bắt đầu học cách đọc dữ liệu vào R, sau đó là biên tập dữ liệu, kế đến là biểu đồ (data visualization), phân tích mô tả, rồi mới đến phân tích theo mô hình.

Chỉ chừng 2 tuần sau là tôi đã có thể nắm lấy những nguyên lí căn bản của R, và 3 tuần sau là có thể soạn những biểu đồ có chất lượng cao.

KN: Thầy đã giảng cho bao nhiêu workshops về phương pháp nghiên cứu ở Việt Nam?

NVT: Rất nhiều. Nếu chỉ tính những workshop 4 ngày trở lên thì tôi đã giảng cho hơn 20 workshop trên khắp cả nước. Số người tham dự các workshop đó phải hơn 2000. Tuy nhiên, không phải workshop nào cũng tập trung vào R, gần phân nửa workshop là tập trung vào chủ đề phương pháp nghiên cứu, công bố khoa học, và y học thực chứng.

KN: Thầy đánh giá thế nào về khả năng của các đồng nghiệp Việt Nam tiếp nhận phương pháp mới?

NVT: Nói ra thì có vẻ ‘mèo khen mèo dài đuôi’, nhưng tôi thấy người Việt chúng ta rất ham học và tiếp thu phương pháp mới khá nhanh. Đa số các em tham gia các chương trình tập huấn do tôi và đồng nghiệp giảng có thể ứng dụng ngay trong thực tế và công bố bài báo khoa học.

Nhưng có một nghịch lí ở Việt Nam là trong khi giới trẻ thì hăng hái tiếp thu cái mới, nhiều thầy cô của họ lại rất bảo thủ. Có người cho rằng phương pháp nào mà nước ngoài chưa ứng dụng nhiều thì không nên làm ở Việt Nam! Lại có người xem những bạn trẻ ứng dụng phương pháp mới (mà thật ra thì chẳng có gì là mới ở nước ngoài) là một cách khoe khoang!

Một vấn đề nhỏ khác tôi thấy là có một số bạn khi học về phương pháp phân tích dữ liệu, họ muốn và đòi hỏi phải có ví dụ trong chuyên ngành và về một vấn đề cụ thể mà họ đang làm. Nói cách khác, có những bạn có lẽ quen với ‘cầm tay chỉ việc’, nên họ không chịu khó đào sâu suy nghĩ, và sáng tạo trong việc ứng dụng phương pháp.

KN: Thầy có một kênh Youtube giảng về phân tích dữ liệu, và được nhiều người theo dõi. Thầy có thể chia sẻ kinh nghiệm về cách giảng trực tuyến?

NVT: Đó là một chương trình rất tình cờ. Dạo đó (chừng 6 năm trước) tôi bị bệnh và phải ở nhà dưỡng bệnh một thời gian. Đến tuần thứ 2 tôi bắt đầu … chán, và phải tìm việc để làm. Tôi viết 2 cuốn sách và hàng chục bài báo khoa học trong thời gian 3 tháng dưỡng bệnh. Ngoài viết sách, tôi nghĩ đến thử nghiệm giảng trực tuyến để giết thì giờ. Vậy là tôi bắt đầu bằng những bài giảng về R, vì rất dễ thực hiện. Tôi không ngờ rằng loạt bài giảng đó được hàng vạn người xem và học. Tôi nhận rất rất nhiều email khích lệ từ khắp nơi trên thế giới, và tôi chợt nhận ra mình có thể giúp nhiều người qua cái việc ‘giết thì giờ’ này. Vậy là kênh youtube đó ra đời. Mấy năm qua tôi bận quá, nên không cập nhựt hoá. Nhưng vài tháng trước khi tình trạng dịch Vũ Hán và ‘lockdown’ xảy ra, tôi lại kích hoạt kênh này, và hi vọng sẽ duy trì trong tương lai.

Kinh nghiệm của tôi về giảng trực tuyến rất đơn giản: tôi giảng cứ như là đang đứng trước các học viên rong lớp học ở Việt Nam. Điều này có nghĩa là tôi rất nghiêm chỉnh, và ngay trang phục tôi cũng phải chỉnh tề cứ như là đi làm! Các bài giảng phải rất tập trung vào một chủ đề, bài giảng phải kèm theo ví dụ thực tế, slide phải gọn gàng và có chất lượng cao, bài giảng phải có chút thông tin mang tính lịch sử (có khi vui vui), và phải có phiên thực hành trên máy tính. Mỗi bài giảng tôi xem là một câu chuyện khoa học, chớ không đơn thuần là giảng.

Mỗi bài giảng, tôi đầu tư khá nhiều thì giờ và công sức. Việc chọn ví dụ minh hoạ không hề đơn giản, mà phải có đầu tư suy nghĩ nhiều. Rồi phải quyết định mình giới thiệu cái gì là cần thiết và cái gì là không cần thiết. Phải kết hợp với kinh nghiệm nghiên cứu thực tế của tôi. Có bài giảng tôi mất cả tuần chỉ để suy nghĩ, dù soạn slide thì chỉ chừng 30 phút là xong. Tôi rất quan tâm đến người xem, và không muốn họ xem xong và nói “thật là uổng thì giờ”. Do đó, tôi xem sự đầu tư về tâm trí và thời gian của mình cho mỗi bài giảng là một sự tôn trọng người xem.

KN: Thầy nổi tiếng là người có thể giải thích những vấn đề phức tạp bằng một ngôn ngữ đơn giản. Xin thầy chia sẻ bí quyết nào để giải thích những khái niệm và phương pháp thống kê để các bác sĩ có thể hiểu dễ dàng?

NVT:Có lẽ chẳng có bí quyết nào cả, mà chỉ là cá tánh thôi. Tánh tôi thích cái gì đơn giản, cái gì mình có thể cảm nhận được hơn là những gì trừu tượng. Tôi dùng nghệ thuật ví von và câu chuyện y khoa để chuyển tải các khái niệm thống kê đến các bác sĩ.

Do đó, tôi có thói quen ví von các khái niệm trừu tượng bằng những hình ảnh dễ hiểu. Chẳng hạn như nói về phương pháp bootstrap, tôi dùng hình tượng của Tôn Ngộ Không có thể biến hoá thành một hay nhiều Tôn Ngộ Không khác. Cái hình tượng ví von đó dĩ nhiên là không hoàn toàn chính xác (và sẽ không bao giờ có ví von chính xác) nhưng nó nói lên được bản chất và ý tưởng của câu chuyện, và vừa đem lại câu chuyện vui trong khi học hành. Nhưng tôi không bao giờ ví von quá mức.

Hay như giải thích về trị số P hay phương pháp Bayes, tôi phải dùng ngôn ngữ chẩn đoán bệnh thì các bác sĩ mới dễ cảm nhận. Nếu tôi dùng ngôn ngữ xác suất và những công thức rối rắm thì chắc chắn các bác sĩ sẽ bỏ cuộc, không thèm theo dõi, vì họ nghĩ chẳng liên quan gì đến họ! Tôi cũng không bao giờ dùng cách ví dụ trong sách giáo khoa như quăng đồng xu hay đánh bài để giải thích về xác suất cho bác sĩ (vì tôi thấy nó không thực tế); tôi lấy ví dụ thực tế là bác sĩ đang khám bệnh nhân cụ thể, họ cần thu thập thông tin gì, làm xét nghiệm gì, và diễn giải kết quả xét nghiệm ra sao. Đó là cách giải thích xác suất đi vào đời sống mà rất thực tế nhưng nghiêm chỉnh (vì dính dáng đến 1 bệnh nhân).

Do đó, đừng xem xác suất là một trò chơi, cũng đừng xem nó là một giáo điều. Tôi nói rõ rằng rất nhiều khái niệm xác suất và toán học rất đẹp, nhưng nếu theo ‘giáo điều’ thì 99% các phương pháp đó và khái niệm đó không thể ứng dụng trong y khoa. Khi giảng về một phương pháp, tôi hay lấy một bài báo khoa học đã công bố trên một tập san lừng danh, rồi đặt ra những câu hỏi cho bác sĩ thảo luận. Cuối cùng thì câu trả lời vẫn quay về xác suất và bất định (nhưng tôi không dùng chữ “xác suất”) mà đặt trong bối cảnh ứng dụng kết quả đó cho một bệnh nhân. Tôi muốn bác sĩ dùng xác suất và phương pháp suy luận thống kê một cách có trách nhiệm, chớ không chỉ đơn thuần là một trò chơi đồng xu.

Khả Nhi: Em và các bạn đồng nghiệp xin cảm ơn Thầy vì thời gian dành cho nhóm và những thông điệp có ý nghĩa để làm hành trang cho các bạn trong sự nghiệp của mình.

Các bạn có thể theo dõi kênh Youtube về Thống kê sử dụng R của giáo sư Tuấn tại: https://www.youtube.com/channel/UC21dOPe-YHO3Gw6BRbyeotQ

Trò chuyện với Tạp chí Sức Khỏe

Xin giới thiệu đến các bạn một bài phỏng vấn dàiii. Bài này do tạp chí Sức khoẻ phỏng vấn hôm sau Hội nghị Thần kinh ở Mỹ Tho vào tháng 11. Tôi nhớ hôm đó, chúng tôi (chị phóng viên và tôi) phải dời bàn 2 lần vì trời mưa và vì câu chuyện hơi dài. Câu chuyện xoay quanh hành trình cá nhân của tôi, từ những việc tôi làm ở Úc đến những việc ở Việt Nam. Có những việc đã vài chục năm rồi, mà bây giờ hồi tưởng lại thì thấy cũng hay hay.:-). Thú thật với các bạn, mỗi lần trả lời phỏng vấn kiểu profile như thế này tôi rất ngại và ngượng. Ngượng vì phải nói về chính mình — cái mà người ta hay nói là “cái tôi đáng ghét”, nhưng thôi thì cũng phải nói những thăng trầm trong cuộc đời. Hi vọng bài phỏng vấn tạo ra vài cảm hứng cho các bạn trong hành trình theo đuổi sự nghiệp khoa học. (Hình ảnh có thể xem trong bài trên tạp chí:

http://www.tcsuckhoe.com/tro-chuyen-cung-gs-nguyen-van-tuan-khac-ten-viet-trong-gioi-loang-xuong

Trò chuyện cùng Giáo Sư Nguyễn Văn Tuấn: Khắc tên Việt trong thế giới loãng xương

Mới đây, tại Hội nghị khoa học thường niên của Viện hàn lâm y khoa (AAHMS) diễn ra ở Viện nghiên cứu y khoa Harry Perkins, Đại học Western Australia (UWA), Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn là người gốc Á châu duy nhất được bầu vào Viện hàn lâm y học Australia và cũng là người gốc Việt đầu tiên trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm Y học Australia bởi những đóng góp xuất sắc của ông cho y học, đặc biệt là lĩnh vực loãng xương. Trước đó, vào năm 2018, Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn đã được trường Đại học Công nghệ Sydney (UTS) trao huy chương về thành tích nghiên cứu ngoại hạng có tác động lớn đến chuyên ngành (Chancellor’s Medal for Exceptional Research). Giải thưởng là hạng cao nhất trong 7 hạng mục về học thuật của UTS dành cho những nhà khoa học có đóng góp quan trọng cho đại học này và Australia với những thành tựu mang tính tiên phong, ảnh hưởng lớn trong chuyên ngành. Ông cũng là giáo sư gốc Việt đầu tiên ở Australia được trao học vị Doctor of Science, học vị cao nhất trong hệ thống giáo dục đại học Australia.

Chúng tôi gặp ông nhân dịp sau Hội nghị Thần kinh toàn quốc lần 21 và Hội nghị thần kinh quốc tế tại Việt Nam, mà ông là diễn giả chính. Buổi gặp mặt diễn ra tại một quán cà phê ông chọn ở Quận 3 trong không gian đậm nét Việt Nam và sâu lắng. Trước đó, ông đề nghị không dùng chữ “cảm tính mèo khen mèo dài đuôi” và không dùng danh xưng “giáo sư” hay “tiến sĩ”; tuy nhiên bài phỏng vấn vẫn dùng danh xưng đó. Dưới đây là cuộc trò chuyện cởi mở chung quanh sự kiện quan trọng trên và những công việc ông đã, đang và sắp làm, cũng như những suy tư về quê hương.

“Làm người có ích hơn là làm người thành công”

1/ Trước hết, xin chia vui và chúc mừng Giáo sư đã được bầu vào Viện hàn lâm y học Australia. Xin Giáo sư cho biết quá trình bình bầu diễn ra như thế nào?

NVT: Quá trình tiến cử, bình duyệt và bầu là khoảng 1 năm. Đầu tiên, một viện sĩ trong Viện hàn lâm y học Australia (AAHMS) tiến cử và ứng viên được xét sơ tuyển qua một bài tổng quan 1 trang viết về những đóng góp chính của ứng viên cho y học và khoa học. Bước thứ hai là nếu được hội đồng AAHMS phê chuẩn, ứng viên sẽ được mời đệ trình hồ sơ dài, bao gồm lí lịch khoa học, một bài tổng quan không quá 30 trang về quá trình nghiên cứu, đóng góp cho y học thế giới và Australia, kèm theo bản copy của 10 công trình mà ứng viên xem là có ý nghĩa nhất. Hồ sơ này sẽ được gởi cho 7 chuyên gia được chọn từ những người trong chuyên ngành khắp nơi trên thế giới bình duyệt. Sau khi hội đồng AAHMS nhận được báo cáo bình duyệt, họ sẽ họp lại trong phiên khoáng đại và bầu cử. Danh sách ứng viên được bầu được giữ rất kín nhưng ứng viên đã biết trước khi công bố 2 tháng. Tóm lại, quá trình và qui trình tiến cử – bình bầu dựa vào ý kiến của giới chuyên ngành là chính.

Giáo sư Ian Frazer, Chủ tịch Viện hàn lâm y học Australia trao chứng chỉ cho Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn trong buổi lễ kết nạp tân viện sĩ Viện hàn lâm.

2/ Là người gốc Việt duy nhất cho đến nay được bầu vào Viện hàn lâm y học Australia và theo chúng tôi biết, Ông cũng là người gốc Việt đầu tiên được trao bằng Doctor of Science của Australia, Giáo sư có thể nói qua về học vị đó? Giáo sư tự xem mình là người Việt hay người Australia?

NVT: Trong hệ thống giáo dục đại học Australia, bằng Doctor of Science (DSc) được xem là học vị cao nhất, cao hơn PhD một bậc. Chỉ có một số đại học có quyền cấp học vị DSc và Đại học New South Wales mỗi năm cấp cho khoảng 5 người, nhưng có những năm không có ai. Tiêu chuẩn chính để được cấp học vị này là phải tốt nghiệp tiến sĩ sau 15 năm, là giáo sư thực thụ và có những đóng góp quan trọng cho chuyên ngành cấp quốc tế. Quá trình “học” khoảng 2 năm, bắt đầu với một luận văn nhỏ và dựa vào đó Hội đồng khoa học quyết định có cho ghi danh học DSc. Nếu được phê chuẩn cho ghi danh, ứng viên sẽ được mời viết một luận án tương đối dài và một bài diễn thuyết về đóng góp của mình; luận án sẽ được gởi ra ngoài bình duyệt và Hội đồng khoa học dựa vào kết quả bình duyệt sẽ quyết định cấp hay không cấp học vị DSc. Tất cả các bước diễn ra khoảng 2 năm. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp mà những cá nhân có đóng góp lớn cho cộng đồng cũng được trao học vị DSc danh dự, mà không phải đệ trình luận án nào.

Về câu hỏi tôi tự xem mình là người Việt hay Australia, đây là câu hỏi nhiều người vẫn hay hỏi tôi trong các hội nghị quốc tế, vì họ thấy tôi mang họ “Nguyen”, một chỉ dấu rõ ràng nhất tôi là người Việt. Tôi vẫn nghĩ dù mang hộ chiếu Australia nhưng từ trong tâm tưởng và sâu trong lòng, tôi vẫn là người Việt và tôi đã nhiều lần thổ lộ như vậy trên báo chí. Mà, hình như đồng nghiệp nước ngoài, nhất là đồng nghiệp Á châu, cũng nghĩ như vậy. Chẳng hạn như năm 2018, sau khi kết thúc hội nghị Pan Asian Biomedical Sciences Consortium, các bạn ấy bầu tôi làm chủ tịch và xem tôi là đại diện Việt Nam (Đại học Đà Nẵng). Một số hội nghị quan trọng về nội tiết học và loãng xương ở Á châu, họ mời tôi nói chuyện, nhưng khi giới thiệu họ giới thiệu tôi là từ Việt Nam; thoạt đầu tôi nghĩ họ lầm, nhưng hình như không phải vậy. Thật ra, trong những lúc như vậy, tôi thấy mình có chút tự hào và tự thấy có trọng trách làm điều gì đó xuất sắc để lại ấn tượng đẹp về Việt Nam trong lòng khán giả.

3/ Trong một chia sẻ trên trang web cá nhân, Ông gọi con đường đến Viện hàn lâm là một hành trình dài. Tại sao là hành trình dài và nó có ý nghĩa gì cho công chúng?

NVT: Tôi là người sanh ra và lớn lên ở miền Tây sông nước, nhưng nguyên quán thì ngoài Bình Định (vì quê ngoại và nội đều ở Phù Mỹ và Tuy Phước). Thuở nhỏ, gia đình tôi ngoài làm ruộng còn có một doanh nghiệp máy cày, nên trong những dịp nghỉ hè, tôi được theo các anh em họ đi qua rất nhiều cánh đồng lúa bát ngát thuộc tỉnh Kiên Giang như Châu Thành, Giồng Riềng, Gò Quao, Tân Hiệp… Rồi, bây giờ nhìn lại, tôi thấy từ những cánh đồng đó đến Viện nghiên cứu y khoa Garvan, và từ Garvan vào Viện hàn lâm thì quả thật là một hành trình dài.

Chẳng những đó là một hành trình dài mà còn có rất nhiều gian nan. Lúc mới tới Sydney (Australia), tôi làm “kitchen hand” (tức phụ bếp) trong nhà bếp của Bệnh viện St Vincent’s một thời gian, rồi sau đó là phụ tá trong một labo của Bệnh viện Royal North Shore và phụ tá trong một trung tâm nghiên cứu dịch tễ học của Bộ Y tế bang New South Wales. Nhưng cơ duyên lại đưa tôi về Viện Garvan thuộc Bệnh viện St Vincent’s, tức là sau 10 năm tôi đi đúng một vòng tròn. Còn có một vòng tròn lớn hơn: tôi rời Việt Nam, và sau 20 năm lại có dịp quay về Việt Nam làm vài việc có ích. Đời người có khi là “một cõi đi về” là vậy. Và, ý nghĩa chung là nếu chúng ta không phải là người của “danh gia vọng tộc”, việc chọn cho mình con đường đi khó, thì trước hay sau gì, phần thưởng cũng sẽ đến với chúng ta.

4/ Ông có thể chia sẻ những khó khăn mà một nhà khoa học gốc Việt gặp phải trong sự nghiệp nơi xứ người?

NVT: Đây là một câu hỏi mà nhiều người hay hỏi tôi. Mỗi chúng ta có một lịch sử cá nhân, và khó mà nói con đường cá nhân là con đường cho mọi người. Riêng tôi, có lần tôi chia sẻ 10 yếu tố để có một sự nghiệp độc lập trong khoa học: đó là chọn một hướng đi, kiên trì theo đuổi ý tưởng, chọn môi trường làm việc tốt, chọn người hướng dẫn tốt, tương tác và tôn trọng đồng nghiệp, nhìn về bức tranh lớn trong chuyên ngành, nắm vững phương pháp, kĩ năng truyền đạt thông tin và công bố quốc tế.

Những khó khăn mà một nhà khoa học gốc Việt phải đối phó trong môi trường khoa học phương Tây (mà cụ thể là Australia) thì nhiều lắm, nhưng tựu trung lại là vấn đề “bộ lạc”, kĩ năng truyền đạt và kĩ năng giao tiếp. Khi nói “bộ lạc”, tôi muốn nói đến sự tiếp xúc với giới thượng tầng trong khoa học, trong chuyên ngành của mình. Đa số giới khoa học gốc Việt không có cơ duyên này, nên họ chỉ đứng bên ngoài cái “câu lạc bộ thượng tầng” đó và không có cơ hội để nói lên tiếng nói của mình.

Kĩ năng truyền đạt bằng tiếng Anh vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta làm tốt mà truyền đạt không tốt thì ít ai dám mời chúng ta đi nói chuyện, và khi ít ai mời thì khó có thể chia sẻ những nghiên cứu của mình đến cộng đồng quốc tế. Nhiều người nghĩ rằng công bố nhiều bài báo khoa học là đủ, nhưng đó là một suy nghĩ rất sai lầm, vì công bố là một chuyện, nhưng được mời nói chuyện trong các hội nghị lớn là một chuyện còn quan trọng hơn cả công bố khoa học.

Chứng chỉ Viện sĩ Hiệp hội nghiên cứu xương và chất khoáng Hoa Kì (American Society for Bone and Mineral Research), 2018

5/ Ông có lời khuyên nào cho lớp trẻ để thành công trong khoa học?

NVT: Tôi muốn trích câu nói của Albert Eistein như là câu trả lời: “Điều quan trọng nhất là không bao giờ ngừng đặt câu hỏi. Sự tò mò có lí do để hiện hữu. Chúng ta không thể không suy ngẫm về sự kì vĩ và huyền bí của cõi vĩnh hằng, của sự sống, của cấu trúc hiện thực huyền diệu. Nếu mỗi ngày chúng ta cố gắng tìm hiểu một chút về sự huyền diệu này thì cũng đủ.”. Tò mò và hoài nghi lành mạnh trong khoa học là rất cần thiết.

Tôi đôi khi nghĩ rằng “thành công” chỉ là ảo tưởng về chính mình; nhiều người làm mọi thứ và tận dụng mọi cơ hội để được mệnh danh là “thành công” và biến họ thành những người đánh giá mình quá quan trọng so với thực tế. Albert Einstein từng cho rằng những người nói về thành công là những kẻ ích kỉ, họ nhận từ đời hơn và đóng góp cho đời. Do đó, tôi thích chữ “hữu ích” hơn. Cố gắng làm người hữu ích để cống hiến cho đời hơn là nhận từ đời. Có thể nói người “thành công” là người có cuộc sống tốt và thoải mái, nhưng làm người hữu ích có một cuộc sống có ý nghĩa.

“Khắc tên Việt trong thế giới loãng xương”

Huân chương của Đại học Công nghệ Sydney cho nhà nghiên cứu ngoại hạng

6/ Một tờ báo về sức khỏe ở trong nước ví von rằng Ông là người khắc tên Việt trong thế giới loãng xương. Cơ duyên nào dẫn Giáo sư đến chuyên ngành loãng xương?

NVT: Cơ duyên đó xảy ra vào năm 1990 (tức khoảng 30 năm trước). Lúc đó, tôi theo học và làm việc ở Đại học Sydney, một hôm tôi thấy một quảng cáo của Viện nghiên cứu y khoa Garvan tìm 2 người bổ nhiệm vào vị trí “Research Scientists” về dịch tễ học và phân tích dữ liệu, nhưng họ ưu tiên cho người làm trong lĩnh vực xương khớp. Tôi không có kinh nghiệm trong lĩnh vực xương khớp, nhưng vẫn nộp đơn, vì tôi muốn có thu nhập cao hơn hiện tại. Qua phỏng vấn, Giáo sư John Eisman thuyết phục tôi tham gia nhóm nghiên cứu loãng xương lúc đó mới được thành lập. Tôi về Viện Garvan và phát hiện ra là họ chỉ mướn một mình tôi vì họ nghĩ tôi có khả năng làm 2 việc, và như vậy là tôi đã tiết kiệm cho Viện khá nhiều tiền! Giáo sư Eisman là người rất nổi tiếng trên thế giới và giữ nhiều vị trí quan trọng trong các hiệp hội y khoa, do đó, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người nổi tiếng thuộc các trung tâm lừng danh như Mayo Clinic, UCSF, UCSD… Vậy là tôi hòa mình vào thế giới loãng xương từ đó đến nay đã gần 30 năm.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn trong labo Viện nghiên cứu y khoa Garvani.

7/ Vậy trong gần 30 năm qua, những đóng góp tâm đắc nhất của Giáo sư trong chuyên ngành loãng xương là gì?

NVT: Ba mươi năm trước, chuyên ngành loãng xương chưa có nhiều nghiên cứu nên tôi có may mắn đóng góp một số kết quả quan trọng. Trong những đóng góp đó, tôi phải kể đến việc xác định mối liên quan giữa mật độ xương và gãy xương, phát hiện này đã được Tổ chức Y tế Thế giới đề ra tiêu chuẩn để chẩn đoán loãng xương cho toàn thế giới.

Kết quả thứ hai mà tôi cũng thấy có ý nghĩa là phát hiện sự mất xương ở người cao tuổi tăng theo thời gian chứ không ngừng lại như sách giáo khoa viết, phát hiện này đã viết lại một phần sách giáo khoa về loãng xương và nội tiết học. Kết quả thứ ba là sau này tôi và Bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên còn phát hiện rằng mất xương có liên quan đến tăng nguy cơ tử vong, phát hiện này cũng làm thay đổi nhận thức của giới chuyên ngành về bệnh lí loãng xương.

Cùng Bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên nhân ngày lễ tốt nghiệp tiến sĩ của Đại học New South Wales.

Đóng góp thứ tư mà tôi và labo rất tự hào là đã mở ra một chuyên ngành hẹp về di truyền học trong nghiên cứu loãng xương. Thời đó, labo chúng tôi là nhóm đầu tiên trên thế giới phát hiện ra gen liên quan đến chuyển hóa vitamin D có dính dáng đến mật độ xương và gãy xương, phát hiện này được xem là “cách mạng” trong chuyên ngành và dẫn đến hàng loạt nghiên cứu để tìm những gen có liên quan đến loãng xương trên thế giới.

Đóng góp thứ năm mà tôi và nhóm nghiên cứu xem là thiết thực cho bác sĩ là phát triển mô hình tiên lượng gãy xương. Thật ra, tôi phải ghi nhận đóng góp quan trọng của Bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên ở đây, vì hai chúng tôi nghĩ ra mô hình này trước và công bố đầu tiên trên thế giới, trước cả Tổ chức Y tế Thế giới. Mô hình tiên lượng đơn giản nhưng phải cần đến 20 năm để có đủ dữ liệu cho việc xây dựng mô hình tiên lượng. Sự ra đời của mô hình này làm nguồn cảm hứng cho rất nhiều nhóm nghiên cứu trên thế giới làm theo, và có khi họ gọi là “Nguyen’s Model.”

8/ Bất kỳ bác sĩ nào ở Việt Nam và trên thế giới điều trị bệnh loãng xương hay nghiên cứu về nó đều làm quen hoặc sử dụng mô hình đánh giá nguy cơ gãy xương tên “Garvan Fracture Risk Calculator”. Giá trị từ tính thực tiễn của mô hình này, thưa Giáo sư?

NVT: Câu chuyện đằng sau mô hình tiên lượng đó là như sau: Đa số bệnh nhân gãy xương không phải do loãng xương. Ngoài loãng xương ra, còn có nhiều yếu tố khác cũng làm tăng nguy cơ gãy xương. Do đó, nhóm nghiên cứu của chúng tôi phân tích và xây dựng một mô hình không chỉ dùng mật độ xương, mà còn các yếu tố đơn giản như té ngã và tiền sử gãy xương để tiên lượng nguy cơ gãy xương trong vòng 5 năm hoặc 10 năm. Mô hình này đã được khắp thế giới sử dụng để chọn bệnh nhân thích hợp cho điều trị và quản lí bệnh. Tổ chức Royal College of Physicians của Australia đề nghị sử dụng trong lâm sàng và đánh giá nguy cơ gãy xương cho bệnh nhân. Hiện nay, tôi và đồng nghiệp Việt Nam đang xây dựng một mô hình cho người Việt.

9/ Được biết, cho đến nay, Giáo sư đã công bố hơn 300 công trình khoa học trên các tạp chí ISI uy tín và là một trong những Giáo sư y khoa được trích dẫn nhiều nhất thế giới. Giáo sư có thể cho biết công trình nào có nhiều trích dẫn? 

NVT: Tôi nghĩ một cách công bằng để nói là như sau: Tôi là tác giả và đồng tác giả của hơn 300 bài báo khoa học. Ý tôi muốn nói là nhiều bài báo đó có sự đóng góp của nghiên cứu sinh và postdoc (hậu tiến sĩ) của tôi, của đồng nghiệp qua hợp tác khoa học, chứ không phải một mình tôi viết cả 300 bài.

Các trường đại học và viện nghiên cứu thì họ hay đánh giá qua các chỉ số trích dẫn, vì các con số đó giúp cho trường được xếp hạng cao trên trường quốc tế. Nhưng ở cấp độ cá nhân, tôi lại nghĩ hơi khác. Các công trình được nhiều trích dẫn của tôi không phải là những công trình tâm đắc nhất; ngược lại, những công trình có ít trích dẫn (tức chừng 200-300) tôi lại thấy nó quan trọng. Chẳng hạn như những công trình về xây dựng mô hình tiên lượng gãy xương, chúng tôi công bố trên tập san hàng đầu trong chuyên ngành (nhưng không phải hàng đầu trong y khoa) với số trích dẫn chỉ 250, nhưng tác động của nó thì lớn gấp mấy lần so với những công trình được trích dẫn trên 500 lần.

Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn chủ trì Hội nghị khoa học của Hiệp hội Y sinh học Châu Á – Thái Bình Dương tại Đà Nẵng, 2018.

10/ Giáo sư là nhà khoa học hàng đầu trên thế giới nghiên cứu về dịch tễ học và di truyền loãng xương. Giáo sư có thể chia sẻ cùng độc giả rằng trong lĩnh vực này có những điều gì mới và đáng theo đuổi?

NVT: Tôi nghĩ hiện nay di truyền học và hệ gen là lĩnh vực nghiên cứu có nhiều triển vọng ứng dụng. Chúng ta đang ở vào một thời kì vàng son của cơ hội nghiên cứu hệ gen. Chỉ chừng 20 năm trước, phân tích hay giải mã toàn bộ 6 tỉ mẫu tự DNA tốn khoảng 50,000 USD trong cả tháng trời, nhưng ngày nay chỉ tốn chừng 1,500 USD và trong vòng 1 tuần. Trong tương lai gần, chi phí giải trình tự toàn bộ hệ gen sẽ chỉ còn 500 USD. Ý tưởng là sẽ tiến đến một lí tưởng về y học cá nhân hóa (personalized medicine).

Vấn đề đặt ra là chúng ta làm gì với khối lượng dữ liệu khổng lồ đó để giúp cho việc chẩn đoán, quản lí và điều trị bệnh tốt hơn là câu hỏi làm tốn rất nhiều thì giờ của nhiều người trên thế giới. Chuyên ngành này mở cánh cửa cơ hội cho các chuyên gia về sinh tin học (bioinformatics) và thống kê sinh học (biostatistics). Nhưng hiện nay, các chuyên gia có kinh nghiệm trong hai lĩnh vực này rất hiếm. Do đó, tôi nghĩ các đại học Việt Nam nên nắm lấy cơ hội để đào tạo các chuyên viên về sinh tin học và thống kê sinh học, vì hai chuyên ngành này sẽ giúp cho phát triển khoa học trong tương lai.

11/ Không chỉ đóng góp cho y văn thế giới, nhiều đồng nghiệp nói rằng Ông còn giúp đem chuyên ngành về Việt Nam, và đem nghiên cứu Việt Nam ra trường quốc tế. Xin Ông nói thêm về hoạt động này.

NVT: Tôi quen biết khá nhiều đồng nghiệp ở nước ngoài và cũng mong muốn làm cái gì đó để đồng nghiệp thế giới biết đến Việt Nam. Do đó, qua bàn thảo với Cố GS Dương Quang Trung (lúc đó là Chủ tịch Hội y học TPHCM) tôi đề nghị tổ chức hội nghị loãng xương quốc tế ở Việt Nam. Một số đồng nghiệp nước ngoài thoạt đầu nghi ngờ khả năng của chúng tôi trong việc tổ chức hội nghị, nhưng kết cục thì hội nghị thành công mĩ mãn, thu hút hơn 400 khách trong và ngoài nước. Đó là hội nghị quốc tế về chuyên ngành loãng xương ở Việt Nam, sau này chúng tôi còn tổ chức thêm một hội nghị quốc tế khác tại Đà Nẵng và cũng đem lại tiếng vang trong các đồng nghiệp quốc tế.

Tôi và các đồng nghiệp trong nước thực hiện một công trình nghiên cứu về loãng xương lớn nhất nhì châu Á. Chúng tôi đặt tên là “Vietnam Osteoporosis Study” (VOS). Nhân đây, tôi xin cảm ơn công chúng TPHCM đã tham gia tích cực vào dự án VOS, không chỉ cung cấp thông tin quí báu về loãng xương, mà còn về các bệnh lí khác như tiểu đường, béo phì, thoái hóa khớp, tim mạch và ung thư. Công trình VOS đã gây tiếng vang trong thế giới loãng xương qua hàng chục bài báo trên các tập san hàng đầu trên thế giới và hàng chục báo cáo trong các hội nghị quốc tế, đem về nhiều giải thưởng cao quí cho Việt Nam. Rất nhiều thông tin hoàn toàn mới được “sản sinh” từ dự án VOS. Chúng tôi rất tự hào xem đó như là một “Chữ kí Việt Nam” trong chuyên ngành loãng xương.

12/ Những vấn đề nào giáo sư quan tâm nhiều nhất ở lĩnh vực loãng xương ở Việt Nam?

NVT: Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của chúng tôi (tức là tôi và đồng nghiệp trong nước), có khoảng 30% nữ và 10% nam giới trên 50 tuổi bị loãng xương và tỷ lệ người bị gãy xương không khác gì so với phụ nữ ở các nước như Úc và Mỹ. Nhưng vấn đề tôi quan tâm nhất ở Việt Nam là tình trạng thiếu điều trị. Rất nhiều (có thể lên đến 80%) bệnh nhân gãy xương không được điều trị hay không được điều trị đúng. Điều này rất đáng ngại, vì nếu họ không được điều trị thì họ sẽ bị gãy xương lần nữa và tăng nguy cơ tử vong.

Vấn đề thứ hai mà tôi quan tâm là chẩn đoán thái quá. Hiện nay, nhiều máy đo mật độ xương ở Việt Nam dùng giá trị tham chiếu ở nước ngoài (cụ thể là Mỹ), mà mật độ xương của người Việt thấp hơn người Mỹ khoảng 10-15%, nên dùng giá trị tham chiếu nước ngoài thì tỷ lệ loãng xương ở người Việt lên đến 50%! Do đó, chúng tôi cố gắng đưa vào giá trị tham chiếu của người Việt để giúp cho việc chẩn đoán chính xác hơn.

Vấn đề thứ ba tôi rất quan ngại là chi phí điều trị. Thu nhập của người Việt vẫn còn tương đối thấp, trong khi đó chi phí điều trị bằng những thuốc mới khá đắt tiền. Tôi nghĩ Bộ Y tế và các công ti bảo hiểm nên có chinh sách hợp lí để bệnh nhân loãng xương được điều trị với các giá có thể chấp nhận được.

Hội nghị khoa học thường niên của Hội Loãng Xương TPHCM, 2018.

13/ Với những quan tâm như vậy, Giáo sư đã làm gì để giải quyết vấn đề?

NVT: Tôi hợp tác với các đồng nghiệp trong Hội loãng xương TPHCM để tổ chức các lớp CME cho các bác sĩ cập nhật hóa liệu pháp chẩn đoán, điều trị, và quản lí bệnh loãng xương. Lớp đầu tiên đã được tổ chức vào năm ngoái, thu hút hơn 200 bác sĩ khắp nước tham dự. Năm nay (2019) tôi sẽ cùng Hội tổ chức thêm 2 lớp CME ở Đà Nẵng và Kiên Giang cho các bác sĩ miền Trung và miền Tây. Ngoài ra, tôi cùng nhóm nghiên cứu VOS lập trang web suckhoexuong.vn để cung cấp thông tin cho bác sĩ và bệnh nhân về bệnh loãng xương, với hi vọng nâng cao nhận thức của cộng đồng về căn bệnh nguy hiểm này.

Ngoài ra, tôi còn dùng tư cách hướng dẫn luận án tiến sĩ để thu hút nghiên cứu sinh Việt Nam làm nghiên cứu về kinh tế y tế cho chuyên ngành loãng xương. Tôi có quen biết với một số nhân vật quan trọng trong kĩ nghệ dược thế giới, và thỉnh thoảng cũng khuyên họ nên cho chính sách đặc biệt cho bệnh nhân Việt Nam.

14/ Ở Việt Nam, Giáo sư là một trong những thành viên sáng lập Hội loãng xương TP.HCM từ năm 2005 và giữ vai trò cố vấn khoa học cho đến nay. Hoạt động của các tổ chức Hội ở VN nói chung, TPHCM nói riêng có giống như hoạt động của các tổ chức Hội nghề nghiệp trên thế giới hay như ở Úc?

NVT: Hội loãng xương TPHCM, có lẽ cũng như các hiệp hội chuyên ngành khác ở Việt Nam, có những hoạt động chủ yếu là nơi quy tụ các đồng nghiệp để chia sẻ kiến thức và kĩ năng (qua các hội nghị khoa học thường niên) và hoạt động cộng đồng. Các hiệp hội loãng xương ở nước ngoài cũng có những hoạt động tương tự. Nhưng nếu có khác thì tôi nghĩ các hiệp hội chuyên ngành y khoa ở nước ngoài như Úc và Mĩ thì họ còn có vai trò cố vấn cho Chính phủ, vai trò vận động tài trợ khoa học và có khi là đào tạo, còn ở Việt Nam đa số các hiệp hội chuyên ngành y khoa không có những hoạt động đó.

Đóng góp cho khoa học

15/ Được mời giảng dạy ở nhiều hội nghị y khoa liên quan tới xương ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Hàn Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philippines… những thông tin nào được cập nhật nhiều nhất, chờ đợi nhiều nhất, thưa Giáo sư?

NVT: Mỗi lần ban tổ chức hội nghị mời tôi nói chuyện, họ đưa ra chủ đề, chứ ít khi nào họ cho mình tự do chọn chủ đề. Điều này cũng dễ hiểu, vì ban tổ chức muốn sắp xếp bài giảng của tôi nằm trong một loạt bài giảng về một đề tài nào đó mà họ quan tâm. Dĩ nhiên, chủ đề họ chọn phải liên quan đến những gì tôi làm. Kinh nghiệm tôi cho thấy đối với các nước tương đối “nghèo” như Thái Lan, Malaysia, Philippines thì họ muốn tôi nói những đề tài đơn giản, thực tế; còn ở những nước giàu hơn và tiên tiến hơn, họ đưa ra những chủ đề lớn hơn, cao hơn, những đề tài mang tính định hướng. Họ chọn diễn giả rất kĩ và chọn đề tài sao cho diễn đàn cảm thấy họ bỏ ra đồng tiền cho diễn giả một cách xứng đáng.

16/ Được biết Giáo sư vừa dự một hội nghị về thần kinh học, xin Giáo sư cho biết cơ duyên nào mà Giáo sư “lấn” sang lĩnh vực thần kinh học?

NVT (cười lớn): Tôi được mời nói chuyện trong các hội nghị có khi chẳng liên quan gì đến xương, thậm chí chẳng liên quan gì đến y khoa! Chẳng hạn như vừa qua, tôi được mời nói chuyện trong Hội nghị thần kinh quốc tế lần 1 ở Mỹ Tho, vì ban tổ chức muốn tôi chia sẻ về phương pháp nghiên cứu hệ gen và về cách công bố khoa học. Do đó, tôi nói với hội nghị rằng tôi đến đây để học và để chia sẻ hơn là để giảng. Sắp tới, tôi còn được mời nói chuyện trong một hội nghị về kinh tế và tôi sẽ nói phương pháp nghiên cứu y khoa có thể giúp gì cho các bạn làm nghiên cứu kinh tế. Nói cách khác, với các hội nghị ngoài chuyên ngành xương, tôi nói về nghiên cứu khoa học và công bố khoa học.

Tôi muốn nghĩ rằng khi nhận lời nói chuyện ở đâu, dù trong hay ngoài “bộ lạc”, tôi lúc nào cũng đem đến ý tưởng mới hay thông tin mới hay có một đóng góp nào đó mà diễn đàn cảm thấy không phí thì giờ để nghe. Tôi rất vui là được các bạn từ các chuyên ngành khác chào đón rất nhiệt tình.

17/ Những đóng góp của Giáo sư không chỉ trong chuyên ngành loãng xương và nội tiết mà còn về chất độc da cam. Ông là người Việt đầu tiên công bố nghiên cứu về mối liên quan giữa chất độc da cam và dị tật bẩm sinh trên tập san y khoa quốc tế. Vì sao Giáo sư quan tâm đến lĩnh vực này? Giáo sư có thể cung cấp thêm thông tin cho độc giả Tạp chí Sức khỏe về những nghiên cứu và kết quả nghiên cứu ở lĩnh vực này?

NVT: Thời đó (tức chừng 25 năm trước), tôi quan tâm đến vấn đề chất da cam vì thời còn ở dưới quê trong thời chiến tranh, tôi hay chứng kiến và đọc báo về những tin tức liên quan đến dioxin. Tôi phát hiện rằng Việt Nam thiếu những nghiên cứu có hệ thống về tác động của chất màu da cam (AO), nên tôi bỏ công ra thu thập dữ liệu và viết khá nhiều bài báo trên các báo chí Việt Nam. Tôi tổng kết các bài đó thành một cuốn sách, cuốn đó được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Anh. Trong cuốn sách đó, tôi chỉ ra rằng các nghiên cứu trên thế giới cho thấy phơi nhiễm AO có liên quan đến một số bệnh lí như ung thư máu, ung thư tiền liệt tuyến, dị tật bẩm sinh, tiểu đường… Tôi cũng chỉ ra rằng tổng số đồng bào Việt Nam, kể cả cựu quân nhân cả hai miền Nam Bắc, bị phơi nhiễm độc chất là 4,8 triệu người.  Hơn 25.000 làng xã với 2,6 triệu ha đồng ruộng chịu ảnh hưởng của độc chất.  Gần 90% các làng xã bị phun hai lần và khoảng 11% làng xã bị phun đến 10 lần!

Khi một em nghiên cứu sinh từ Việt Nam sang đây tỏ ý theo đuổi đề tài này, tôi có dịp làm việc và công bố hai bài báo khoa học về tác động của AO đến dị tật bẩm sinh. Trong nghiên cứu đó, chúng tôi chỉ ra rằng những người bị phơi nhiễm AO có nguy cơ sanh con dị tật bẩm sinh tăng gấp 2 lần so với người không bị phơi nhiễm. Bài báo đó có nhiều gian nan, vì một số tập san ở Mĩ không chịu công bố; cuối cùng tôi gởi cho một tập san bên Anh và người tổng biên tập đồng ý cho công bố.  

Một chương trình huấn luyện được thực hiện tại Đại học Y Dược TPHCM năm 2006

18/ Mang quốc tịch Australia, nhưng năm nào Ông cũng về Việt Nam và có những giúp đỡ cho đồng nghiệp trong nước. Xin Ông cho biết những hoạt động này?

NVT: Tôi rất quan tâm đến sự hiện diện của khoa học Việt Nam trên trường quốc tế và đã nhiều lần lên tiếng trên báo chí. Khoảng 15 năm trước, tôi có sáng kiến tổ chức các khoá học ngắn hạn (chừng 1 đến 2 tuần, gọi là “workshop”) cho các đồng nghiệp Việt Nam, mỗi workshop thu hút chừng 100-200 học viên trên mọi miền đất nước. Chủ đề các workshop thường là phương pháp nghiên cứu khoa học, phương pháp soạn bài báo khoa học và y học thực chứng. Tôi đã làm như vậy suốt 15 năm qua với hàng trăm workshop và seminar lớn nhỏ, từ các tỉnh xa xôi ở miền Bắc đến miền Nam, tôi không nề hà để đến và chia sẻ kinh nghiệm.

Ngoài ra, tôi còn hợp tác nghiên cứu với nhiều đồng nghiệp từ các chuyên ngành khác. Cho đến nay, tôi đã hợp tác công bố hơn 50 bài báo khoa học cùng các bạn trong nước. Nếu không hợp tác, tôi giúp họ một cách gián tiếp và phía sau hậu trường để họ có thể công bố các công trình trên các tập san quốc tế.

19/ Trong nghiên cứu khoa học, vấn đề Ông lo lắng nhất hiện nay là gì?

NVT: Có thể nói nền khoa học Việt Nam vẫn còn trong quá trình phát triển và xây dựng. Những nền khoa học trong giai đoạn này thường gặp phải những khó khăn về nhân sự, tài trợ và văn hoá xuất bản. Dù có một số nhà khoa học xuất sắc, nhưng nhìn chung nền khoa học VN vẫn thiếu những người thuộc hàng “leadership” tầm cỡ quốc tế. Một vấn đề lớn khác là vấn đề tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Nên nghĩ đến một cơ chế tài trợ sao cho công bằng và thu hút tất cả những nhà khoa học không phân biệt vùng miền và bằng cấp; miễn ai có ý tưởng hay và khả thi thì đáng được tài trợ. Vấn đề thứ ba là văn hoá xuất bản, vì hiện nay có khá nhiều nhà khoa học đang là nạn nhân của kĩ nghệ xuất bản dỏm, chẳng những tốn tiền mà còn ảnh hưởng đến uy tín của trường đại học.

20/ Ở Việt Nam, Ông hiện gắn bó với Trường ĐH Tôn Đức Thắng với vai trò Cố vấn cao cấp về nghiên cứu khoa học, Giám đốc Labo nghiên cứu xương và cơ. Ông có đánh giá gì về công tác đào tạo Đại học, việc nghiên cứu khoa học ở trường ĐH Tôn Đức Thắng nói riêng và các trường ĐH ở Việt Nam nói chung?

NVT: Tôi không có đủ dữ liệu và kinh nghiệm để nói các trường đại học khác, nhưng tôi có thể nói về ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU), nơi tôi xem là một trường hợp khá đặc biệt. Trường ĐH Tôn Đức Thắng biết mình “còn trẻ”, nên đã xác định rằng để vươn lên thì phải tập trung vào nghiên cứu khoa học và duy trì chất lượng đào tạo cao. Tôi trong vai trò cố vấn đã tổ chức một buổi retreat để suy nghĩ về chiến lược phát triển, tập trung vào nghiên cứu khoa học và tôi hài lòng để nói rằng chiến lược đó vẫn đúng cho đến ngày nay. Một trong những chiến lược đó là nâng cao nghiên cứu khoa học, tuyển dụng các chuyên gia nước ngoài và thường xuyên đánh giá năng suất khoa học. Tôi chủ trì hội đồng tuyển dụng các giáo sư, chuyên gia nước ngoài cho TDTU và đã tuyển được khá nhiều chuyên gia có tiếng về Trường để tham gia nghiên cứu.

Tôi đã gắn bó với TDTU hơn 6 năm trong nhiều vai trò. Trong thời gian đó tôi rất hài lòng về mối liên hệ giữa tôi và trường. Tôi được trao nhiệm vụ làm retreat và hiệu trưởng không hề can thiệp hay gợi ý gì cả; tôi có toàn quyền viết báo cáo theo cái nhìn của tôi. Hiệu trưởng chưa một lần can thiệp vào hội đồng bổ nhiệm giáo sư do tôi chủ trì. Hiệu trưởng chưa bao giờ can thiệp vào hội đồng chấm và trao giải thưởng do tôi chủ trì. Labo của tôi mua máy móc, thiết bị, tất cả đều 100% minh bạch. Có một đại diện công ti nói riêng với tôi là trong thương trường của anh ấy 20 năm qua, chưa bao giờ có trường hợp minh bạch như TDTU. Tôi thích cách làm việc như vậy.

21/ Ông là chủ trì Hội đồng giải thưởng Alexandre Yersin cho các nghiên cứu xuất sắc ở Việt Nam. Đã có những nghiên cứu nào của VN được trao tặng giải thưởng này? Những giá trị ứng dụng từ các đề tài nghiên cứu này?

NVT: Giải thưởng Alexandre Yersin là một sáng kiến của Hiệp hội Y khoa Thuỵ Sĩ – Việt Nam (Swiss-Vietnamese Medical Association, hay HELVIETMED) nhằm ghi nhận những thành tựu khoa học xuất sắc của các nhà nghiên cứu Việt Nam. Tôi được mời làm chủ trì Hội đồng giải thưởng Alexandre Yersin. Hai năm trước, Giải thưởng đã được cấp cho 4 nhà khoa học sáng giá ở Sài Gòn, Hà Nội và Cần Thơ. Năm nay, chúng tôi đang nhận đơn và xét duyệt Giải thưởng lần thứ hai. Nghiên cứu của BS Vương Thị Ngọc Lan có thể làm thay đổi cách người ta xử lí phôi, nghiên cứu của BS Hà Tấn Đức giúp bác sĩ dự báo nguy cơ cho bệnh nhân cấp cứu nhanh hơn và tốt hơn. Nghiên cứu của BS Hồ Phạm Thục Lan giải quyết câu hỏi về yếu tố cơ hay mỡ có ảnh hưởng đến xương. Năm nay, chúng ta đang xem xét để trao giải cho các nhà khoa học với thành tích xuất sắc trong năm qua.

Giải thưởng ĐH Tôn Đức Thắng cũng là một hình thức vinh danh các nhà nghiên cứu có thành tựu trọn đời, nhà nghiên cứu đang lên và nhà khoa học nữ. Tuy nhiên, Giải thưởng ĐH Tôn Đức Thắng mở rộng cho tất cả nhà khoa học thế giới. Tôi cũng được mời chủ trì Hội đồng giải này với các đồng nghiệp nước ngoài. Hai năm trước, chúng tôi chọn được 3 nhà khoa học từ Việt Nam, Hồng Kong và Canada để trao giải thưởng. Năm nay giải thưởng sẽ được trao cho 3 nhà khoa học từ Hong Kong, Đức và Thổ Nhĩ Kỳ, buổi lễ sẽ diễn ra vào ngày 27/12/2019.

22/ Đồng thời, Ông cũng là người phụ trách biên tập cho một số tập san uy tín trên thế giới. Các vấn đề được đánh giá cao trong các tạp chí này là gì, thưa Ông? 

NVT: Tôi phụ trách biên tập (editor) cho vài tập san y khoa quốc tế và mỗi tập san tôi có nhiệm kì 3 hay 5 năm. Hiện nay, tôi là Associate Editor (Phó tổng biên tập) cho Journal of Bone and Mineral Research (JBMR), được xem là số 1 trong chuyên ngành xương. Tôi xem việc được bổ nhiệm vào hội đồng biên tập của JBMR là một vinh dự và một cơ hội để đóng góp cho chuyên ngành. Tôi được giao nhiệm vụ phụ trách các nghiên cứu liên quan đến lâm sàng, dịch tễ học và di truyền học. Cũng như các tập san khoa học khác, JBMR đặt nặng tiêu chuẩn nguyên thuỷ (originality) và phương pháp nghiên cứu để chọn các bài báo để chuyển tải đến cộng đồng khoa học. Từ ngày được bổ nhiệm, tôi tích cực thuyết phục hội đồng biên tập thay đổi đường lối và định hướng của tập san sao cho nó tốt hơn trong tương lai.

Cùng Hồ Lê Phương Thảo nhân ngày lễ tốt nghiệp tiến sĩ của Đại học Công nghệ Sydney

23/ Ở phần trên, Giáo sư nhắc đến Bác sĩ Nguyễn Đình Nguyên, xin Giáo sư nói một chút về vị bác sĩ này và các học trò?

NVT: Tôi rất may mắn có những người học trò tuyệt vời. Kể ra thì nhiều lắm, nhưng tôi phải kể đến ba người đặc biệt trong sự nghiệp của tôi và labo tôi. Người thứ nhất là BS Nguyễn Đình Nguyên (đã tốt nghiệp tiến sĩ hơn 10 năm trước), người đã miệt mài làm với tôi và cho ra đời công trình về đánh giá gãy xương mà cả thế giới sử dụng. Nguyên là một người Việt tiêu biểu: ham học và quyết chí. Sau Nguyên là Trần Hoàng Ngọc Bích (tốt nghiệp tiến sĩ cũng đã 10 năm). Nếu Nguyên đem đến cái lâm sàng tính, thì Bích đem đến lab cái kĩ năng về di truyền học và cũng có thể xem là một sinh viên Việt tiêu biểu: chịu khó học hành và có ý chí độc lập. Trước đó, chúng tôi cũng đã có nhiều công trình về gen, với ý tưởng “genetic profiling” là đến từ lúc Bích còn làm nghiên cứu sinh. Rồi sau này, mỗi nghiên cứu sinh đem đến một cái mới và sau cùng là Hồ Lê Phương Thảo (tốt nghiệp năm 2018) mở ra một khía cạnh mới về genetic profiling trong tiên lượng gãy xương. Tôi kể đến 3 nghiên cứu sinh này vì mỗi người đại diện cho một “thời đại” của labo, và ba người này đem về cho labo tổng cộng hơn 15 giải thưởng cấp quốc gia và quốc tế. Nhiều giải thưởng đến nỗi có người hỏi tôi “bí quyết nào?”!

24/ Được biết Ông từng đào tạo 5 tiến sĩ cho Việt Nam và 10 tiến sĩ ở nước ngoài. Ông đánh giá như thế nào về trình độ, khả năng nghiên cứu khoa học của các nghiên cứu sinh trong nước so với nước ngoài?

NVT: Một số trường đại học Việt Nam không cho tôi hướng dẫn nghiên cứu sinh, nhưng ở những nơi tôi có quyền hướng dẫn thì qua kinh nghiệm với các em trong nước, tôi thấy các nghiên cứu sinh trong nước cũng chẳng kém gì, nếu không muốn nói là trội hơn, so với nghiên cứu người nước ngoài. Dĩ nhiên, tôi không dám nói người Việt chúng ta thông minh hay tài giỏi hơn ai, nhưng có nhiều chứng cứ cho thấy các nghiên cứu sinh gốc Việt chẳng kém ai.

Tôi hướng dẫn cho nghiên cứu sinh ở trong nước và họ có công bố quốc tế y như nghiên cứu sinh ở nước ngoài. Không còn nghi ngờ gì nữa: nghiên cứu sinh Việt Nam có khả năng khoa học tương đối tốt, nhưng cần phải đặt trong môi trường thuận tiện thì mới phát huy được.

25/ Được xem là một nhà khoa học thuộc nhóm “top tier” trong y học thế giới, Ông đã dành thời gian cho công việc và cuộc sống như thế nào, thưa Giáo Sư?

NVT: Tôi có lẽ dành quá nhiều thì giờ cho khoa học hơn là cho gia đình hay cá nhân. Ngoài những công việc ở trường, viện, tôi còn bỏ ra khá nhiều thì giờ cho công việc biên tập và bình duyệt các tập san khoa học. Đó là chưa kể những việc làm ở Việt Nam và vài nơi khác ở Á châu. Những việc đó toàn làm ngoài giờ làm việc. Đó là cái giá mình phải trả cho việc dấn thân vào khoa học.

Xin cám ơn Giáo Sư đã dành cho độc giả Tạp chí Sức khỏe cuộc Trò chuyện này!

Ý nghĩa của Phật Giáo

Mấy tuần nay, công chúng trong và ngoài nước bàn tán về bức tranh có hình Đức Phật một bên và hình của Hồ Chí Minh một bên. Tôi không bàn về bức tranh đó và ý nghĩa của nó, mà chỉ lấy đó cảm hứng để … học tiếng Anh. Bản dịch này có rất nhiều thuật ngữ Phật Giáo mà tôi nghĩ các bạn sẽ thích vì thấy Giáo huấn của Phật quả thật là thực tế và dễ hiểu. Sau khi đọc xong, các bạn sẽ thấy bức tranh kia có ý nghĩa gì. Đây cũng là một bài cho ngày Phật Đản 2019.

Có khi nào các bạn thấy ‘nhức đầu’ với những thuật ngữ Phật giáo? Tôi thì có thời từng bị nhức đầu với những từ ngữ có vẻ xa lạ khi đọc sách về Phật giáo. Nào là Tứ diệu đế, Niết bàn, Bát nhã, đến những thuật ngữ đơn từ như Tuệ, Ngã, Pháp, Tri, Nghiệp, v.v. làm cho việc đọc và hiểu rất chậm chạp. Cứ đọc mỗi chữ mới thì phải tra cứu từ điển để biết ý nghĩa của nó. Nhưng không phải từ điển nào cũng giải thích dễ hiểu, nhất là cách viết của người xưa vừa dài dòng vừa bí hiểm. Nhưng khi có dịp đọc sách viết về Phật giáo bằng tiếng Anh thì tôi như thấy mình ‘sáng’ ra. Hóa ra, những thuật ngữ thoạt đầu có vẻ phức tạp kia khi dịch sang tiếng Anh lại rõ ràng và dễ hiểu. (Cũng có thể trong quá trình dịch thì nghĩa cũng bị ‘đột biến’, nhưng về căn bản tôi thấy là đủ để mình hiểu). Do đó, tôi thấy học về Phật hay nhất là đọc sách và những bài luận tiếng Anh, chứ đọc sách tiếng Việt viết về Phật giáo thì có khi rất khó hiểu.

Bài luận dưới đây có tựa đề là “The Meaning of Buddhism” (Ý nghĩa của Phật Giáo) và tác giả là Hòa thượng (hay Thượng tọa?) người Miến Điện Bhikkhu U Thittila, đăng trên tạp chí The Atlantic vào năm 1958 (1). Bài này giải thích ý nghĩa Phật giáo một cách cô đọng (chỉ 8 trang). Bài luận văn được viết bằng một văn phong vô cùng trong sáng, đúng là của bậc thầy. Khi đọc xong, các bạn sẽ hiểu một số khái niệm cơ bản của Phật giáo. Do đó, tôi dịch sang tiếng Việt, trước là để tôi học, sau là chia sẻ cùng các bạn. Tôi có chú giải một số thuật ngữ quan trọng (2) để các bạn dễ hiểu hơn. Ngoài ra, tôi thấy Thư viện Hoa Sen có hẳn một bộ từ điển Phật giáo rất hay nhưng … khó tìm (3) và tôi trích dẫn từ đó để các bạn tham khảo. Có khi đọc qua những thuật ngữ này tôi mới thấy nhiều thuật ngữ khoa học người ta dịch sai. Ví dụ như “Trí tuệ Nhân tạo” dịch từ “Artificial Intelligence” là hoàn toàn sai theo nghĩa của Phật giáo. Do đó, nói là dịch, nhưng thật ra là học.

Thật ra, tôi dịch bài này lâu lắm rồi, nhưng cứ mỗi năm học thêm một chút, tôi lại chỉnh sửa theo cách hiểu của mình. Bản này cũng chỉ là bản ‘quá độ’ để bạn đọc nào am hiểu hơn góp ý và chỉ giáo.

NVT

====

Ý nghĩa của Phật Giáo: Những nguyên lí cơ bản của học thuyết Theravada (4)

Bhikkhu U Thittila

Phật Giáo là những giáo huấn của Đức Phật. Vậy thì câu hỏi đặt ra là “Phật là ai?” Thật ra, chữ “Phật” (tiếng Anh Buddha) là người đạt đến giác ngộ. Giác ngộ có nghĩa là sáng suốt, một trạng thái lí tưởng của tri thức và hoàn thiện về đạo đức. Bất cứ ai cũng có thể đạt tới giác ngộ qua những phương tiện hoàn toàn nhân bản. Do đó, chữ “Phật” hay Buddha chỉ đơn giản có nghĩa là kẻ đã được giải thoát, một trí nhân (knower). Các Phật tử tin rằng Phật được sinh ra trong mỗi khoảnh khắc của vạn cố, và Đức Phật của chúng ta — ngài Tất Đạt Ma hay Gotama — đạt tới giác ngộ dưới cây Bồ Đề ở Ấn Độ là người kế vị thứ bảy.

Tất Đạt Ma

Tất Đạt Ma sinh ra trong một gia đình hoàng tộc thuộc một vương quốc nay là một phần đất của Nepal 623 năm trước Chúa Jesus. Những người trong cung đình và vương quốc nhìn thấy trước rằng Ngài sẽ trở thành một hoàng đế hay một Phật, và thân phụ ngài muốn ngài nối nghiệp ông làm hoàng đế. Do đó, thân phụ Ngài tìm cách cách li Ngài khỏi cuộc sống đói khổ bên ngoài cung điện. Nhưng các thần thánh biết rằng Tất Đạt Ma sẽ là một Phật, và bằng nhiều cách, họ viếng thăm trái đất để cho Ngài thấy họ. Trong suốt 3 ngày liên tiếp, trong khi dạo chơi trong vườn thượng uyển, Tất Đạt Ma thấy một người già, một người bệnh, và một tử thi, và thế là Ngài biết rằng nhân loại — tất cả nhân loại — đều đau khổ và chết. Đến ngày thứ tư, Tất Đạt Ma thấy một thầy tu; từ đó Ngài hiểu rằng để học cách khắc phục nỗi khổ của nhân loại, Ngài phải rời cuộc sống hoàng cung đầy tiện nghi và xa hoa. Năm 29 tuổi, Ngài rời hoàng cung và trở thành một người tu khổ hạnh.

Image result for Tất Đạt Ma

Tất Đạt Ma lang thang qua các miền quê như là một người tìm chân lí và hòa bình. Ngài gặp nhiều vị thầy lớn thời đó, nhưng chẳng ai có thể cung cấp những gì Ngài đi tìm. Ngài cố gắng thực hành tất cả những qui định khắt nghiệt của người tu khổ hạnh, với hi vọng đạt được niết bàn. Cuối cùng thì thân thể Ngài ốm o như một bộ xương. Nhưng càng tra tấn thân thể chừng nào thì Ngài càng thấy mình đi xa hơn khỏi mục tiêu chừng nấy. Nhận thức được sự vô ích của việc tự hủy thân, Ngài quyết định theo đuổi một hướng đi khác, tránh những thái cực của khổ đau và lạc thú. 

Con đường mới mà Ngài phát hiện là Chánh Đạo (Middle Way), tức Bát Chánh Đạo (Eightfold Path), mà sau này trở thành một phần của giáo lí Phật Giáo. Bằng Chánh Đạo, tuệ (wisdom) của Ngài gia tăng đến mức đầy đủ nhất và Ngài trở thành Phật – Buddha.

Thái tử Tất Đạt Ma đạt tới Phật nhờ vào ý chí, tình thương và tuệ giác của chính Ngài. Ngài không nhờ một ai giúp mình đạt được Phật. Do đó, Ngài dạy các đệ tử rằng họ cũng có thể đạt tới Phật. Bất cứ ai đều sở hữu năng lực để trở thành thiện, sáng suốt, và hạnh phúc.

Pháp: giáo huấn của Phật

Tất cả những giáo huấn của Đức Phật có thể tóm lược chỉ bằng 1 chữ: Pháp. (Pháp là dịch từ chữ Dhamma hay Dharma trong tiếng Anh).  Pháp có nghĩa là chân lí. Pháp cũng có nghĩa là qui luật. Qui luật hiện hữu trong tim và trí của chúng ta. Pháp là nguyên lí của Chánh Đạo. Do đó, Đức Phật kêu gọi con người nên sống cao quí, tinh khiết, và nhân ái. Sống cao quí, tinh khiết và nhân ái không phải để làm hài lòng một Đấng Tối Cao nào cả, mà để đạt được chân lí cao nhất cho mình.

Pháp như nói trên là qui luật của Chánh Đạo không chỉ hiện hữu trong tim và tâm trí của chúng ta, mà còn hiện hữu trong vũ trụ. Vũ trụ là một hiện thân và thể hiện của Pháp. Khi trăng sáng lên và tàn, khi mưa xuống, khi hạt lúa nảy mầm, mùa màn cũng thay đổi theo, bởi vì đó là qui luật của Pháp. Luật của Pháp chính là luật của vũ trụ làm nên hiện tượng được biểu hiện qua những nghiên cứu khoa học tự nhiên.

Nếu một người sống theo Pháp, người đó sẽ thoát khỏi sự đau khổ và đến niết bàn. Niết bàn là điểm đến sau cùng của mọi khổ đau. Niết bàn không phải tới được qua cầu nguyện, hay qua các nghi lễ, càng không qua những thỉnh nguyện đến Thượng đế.  Con người tự khám phá Pháp và Pháp sẽ dẫn con người đến mục tiêu của họ. Con người sẽ phát hiện Pháp bằng cách riêng của người đó (nói theo ngôn ngữ y khoa hiện đại là ‘cá nhân hóa‘). Mỗi người có một cách đến Pháp, và cách đó là kiểm soát tâm trí và làm sạch những cảm tính. Một khi con người còn trong tâm bão của trái tim và không mở rộng lòng tốt đến chúng sanh, con người sẽ không có khả năng đạt được Pháp.

Do đó, “Phật Giáo” không phải là một tôn giáo. Phật Giáo cũng không phải là một hệ thống nghi lễ thờ phượng. Trong Giáo huấn của Phật, không có niềm tin vào một giáo điều nào, cũng chẳng có một Đấng Tối Cao nào. Giáo huấn của Phật bắt đầu bằng hành trình đi tìm chân lí. Đức Phật dạy rằng chúng ta nên tin những gì mà chúng ta có thể trải nghiệm được, những gì hợp lí, và những gì dẫn đến cái thiện và nhân ái cho chúng sanh. Con người có thể phải “lánh nạn” vào Phật, nhưng con người phải kiểm soát chính mình. Con người phải hứa với chính mình sống một cuộc sống Chánh Đạo, và đừng để mình trở thành một nạn nhân của của niềm tin rằng Phật có thể cứu rỗi anh ta. Đức Phật có thể chỉ ra con đường, nhưng người đi trên con đường đó là chúng ta — những người đi tìm chân lí — chứ Phật không thể đi dùm cho chúng ta.

Chân lí mà Phật tử nhìn thấy chung quanh mình là chân lí về nhân quả (cause and effect). Mỗi hành động, bất kể nhỏ lớn ra sao, đều có tác động; mỗi tác động trở thành một nguyên nhân và sản sinh ra tác động khác. Do đó, đi tìm cái nguyên nhân đầu tiên là vô nghĩa. Thay vì đi tìm cái Nguyên nhân Đầu tiên (là điều không thể), chúng ta cần nhận thức rằng nguyên nhân và hệ quả mang tính chu kì và vũ trụ. Khi vũ trụ này tiêu tan đi thì một vũ trụ khác sẽ được hình thành. Nguồn gốc của vũ trụ, cũng giống như một cá nhân hay một sự vật, tùy thuộc vào một chuỗi nguyên nhân, và chuỗi nguyên nhân này sẽ tiến hóa theo chu kì sanh, tử và tái sanh. Đây chính là Nguyên lí của Duyên Khởi (Dependent Origination).

Còn linh hồn thì sao? Phật dạy rằng không có linh hồn hay bản ngã (self). Phật ví von rằng nếu chúng ta lấy cái bánh xe và trục xe, cái nền xe, hai bên xe, và càng xe, cái gì còn lại? Không có gì cả, tức cũng giống như lúc cái xe mới được lắp đặt. Thành ra, cái qui trình tâm sinh lí diễn ra lên tục, và biến chuyển từ sự sống này sang sự sống khác. Mỗi sự sống qua đi trong khoảnh khắc và tạo ra một sự sống mới, và sự sống mới là hệ quả của sự sống trước đó. Cũng giống như ngọn nến tại thời điểm này khác với ngọn nến của thời điểm trước đó, nhưng ngọn nến diễn ra một cách liên tục.

Do đó, trong cái hệ thống các chuỗi nguyên nhân lệ thuộc lẫn nhau, sự hiện hữu của các hiện tượng biến chuyển liên tục. Các nguyên tố hợp và tái hợp mà không có một chất nào hay một linh hồn nào giúp cho các nguyên tố này cố định. Đây chính là Vòng Luân Hồi (Wheel of Life, hay Bánh Xe Cuộc Đời). Nguyên nhân chính của sự luân chuyển liên tục này là khổ đau. Khổ đau khởi đầu từ khi chúng sanh khát khao tìm một sự hiện hữu ích kỉ, và chính sự ham muốn này là cái lực làm cho Vòng Luân Hồi luân chuyển. Khát khao được thể hiện qua hành động. Hành động là tự ý và chịu trách nhiệm cho việc tạo ra chúng sanh. Hiện tượng đó được gọi là karma (tiếng Phạn) hay nghiệp hay Nhân Quả (tiếng Việt).

Trong vũ trụ này, không có cái gì là cố định; tất cả đều biến chuyển. Tất cả biến chuyển chịu sự chi phối của luật Nhân Quả. Do đó, karma cũng có thể hiểu là hành động. Nói chung, karma hay Nhân Quả hay Nghiệp có thể là hành động tốt nhưng cũng có thể là hành động xấu. Nhân quả đề cập đến tất cả các hành động cố ý, bao gồm suy nghĩ, lời nói, thể lực, chữ, hay hành động thực tế. Nhìn từ góc độ này, nhân quả có nghĩa là tất cả những hành động tự ý có đạo đức hay phi đạo đức. 

Mặc dù Nghiệp (nhân quả) kích hoạt một chuỗi nguyên nhân và hệ quả, nhưng nhân quả mang tính bất định. Quá khứ ảnh hưởng đến hiện tại, nhưng quá khứ không thống trị hiện tại. Quá khứ là nền tảng mà cuộc sống đi từ thời điểm này đến thời điểm khác; quá khứ và hiện tại ảnh hưởng đến tương lai. Chỉ có hiện tại hiện hữu ngay trong khoảnh khắc, và việc sử dụng cái khoảnh khắc cho việc thiện hay ác là lựa chọn của mỗi cá nhân.

Mỗi hành động dẫn đến một hệ quả.  Khởi đầu bằng nguyên nhân, và hệ quả theo sau. Do đó, chúng ta nói đến Nhân Quả hay karma như là một qui luật của nguyên nhân và hệ quả. Nếu chúng ta biết rằng khi một hòn đá  được ném vào một cái ao, thì một làn sóng lăn tăn sẽ hiện ra, nhưng đó không phải là tất cả, bởi vì các sóng lăn tăn sẽ quay lại cho đến khi chúng chạm vào hòn đá một lần nữa. Khi chúng ta hành động thì sẽ gây ảnh hưởng, và sự ảnh hưởng sẽ quay về với chúng ta. Nếu chúng ta hành động với ý đồ xấu, thì ảnh hưởng xấu sẽ xảy đến chúng ta. Nếu chúng ta làm việc thiện và giữ cho lòng mìng thanh thản, thì chúng ta sẽ hưởng phước lành.

Trong thế giới chung quanh chúng ta, có nhiều bất bình đẳng. Có những người giàu, có những người nghèo, những người sống trọn vẹn, những người chết sớm, v.v. Theo giáo huấn của Phật, bất bình đẳng hiện hữu là do môi trường. Môi trường được nhào nặn bởi nguyên nhân và hệ quả — hay nói đúng hơn là Nhân Quả, là Nghiệp. Nhân Quả từ những hành động hiện tại, quá khứ gần, và quá khứ xa. Con người chịu trách nhiệm cho sự hạnh phúc và khổ đau của chính họ. Nhân quả không phải là một định mệnh hay là một yếu tố xác định, bất biến. Con người có một số ý nguyện mà họ có thể sửa đổi hành động để ảnh hưởng đến tương lai. Mỗi hành động, dù là tinh thần hay thể chất, đều có xu hướng sản sinh ra một tác động. Nếu con người làm việc thiện hay nghĩ điều lành, thì con người sẽ hưởng phước lành. 

Nhân quả và Duyên khởi

Hiểu về Nhân Quả sẽ cho chúng ta sức mạnh. Càng xem nhân quả là một phần của cuộc sống chúng ta, chúng ta càng hưởng phúc lành nhiều hơn, và có sức mạnh không chỉ hướng về tương lai, nhưng còn giúp những người chung quanh một cách có hiệu quả hơn. Thực hành nhân quả đầy đủ sẽ giúp chúng ta chiến thắng cái xấu, thậm chí chiến thắng Nhân Quả, và đưa chúng ta đến Niết bàn.

Image result for Duyên Khởi

Nguyên lí Duyên Khởi (dependent origination) và luật Nhân Quả cung cấp cho chúng ta cái nền tảng để hiểu về bản chất của tái sanh. Theo giáo huấn của Phật, cái chết là một điểm dừng nhất thời của một hiện tượng nhất thời (“the temporary end of a temporary phenomenon.”) Cái chết không phải là một sự hủy diệt hoàn toàn (hư vô), bởi vì dù cuộc sống hữu cơ đã chấm dứt, nhưng cái Nghiệp lực hay lực của Nhân Quả vẫn còn tồn tại. Hình thể chỉ là biểu hiện của lực vô hình của Nhân Quả. Khi hình thể hiện tại mất đi, một hình thể khác sẽ thay thế theo những gì tốt hay xấu trong quá khứ. Nhân Quả là hiện tượng mạnh nhất trước thời khắc của cái chết.

Khi chết, lực Nhân Quả vẫn còn tồn tại và không hề bị hủy diệt, và sự qua đời của ý thức (còn gọi là Danh) hiện tại sẽ tạo ra những điều kiện cho một cơ thể mới được tái sanh. Dòng ý thức hay Danh trôi chảy nhưng một dòng sông được tạo nên bởi những nhánh sông và phân phối nước đến những vùng đất mà dòng sông đi qua. Tính liên tục của dòng chảy ý thức lúc chết không bị gián đoạn bởi thời gian; không có một sự ngừng nghỉ của ý thức, và do đó không có chỗ cho một giai đoạn trung gian giữa sự sống hiện tại và sự sống tương lai. Tái sanh diễn ra lập tức và liên tục.

Sự hiện hữu hiện tại tùy thuộc vào hoàn cảnh của quá khứ. Đặc tính và hoàn cảnh của hiện tại là kết quả của tất cả những gì người ta đã làm trong qúa khứ cho đến thời điểm hiện tại, nhưng sự hình thành của tương lai sẽ tùy thuộc vào việc làm của ngày hôm nay. Người Phật tử chân chánh xem cái chết là một biến cố mang tính khoảnh khắc giữa sự sống của người đó và sự sống kế tiếp. Do đó, người Phật tử đón nhận cái chết một cách bình thản. Người Phật tử chỉ quan tâm đến tương lai như là một cơ hội để tự hoàn thiện mình.

Thiền

Giáo huấn của Phật dạy rằng kí ức hay tâm trí có thể được rèn luyện bằng thiền (trầm tư) và tập trung. Qua thiền và nuôi cấy tâm trí, con người sẽ có sức mạnh để nhình thấy sự tái sanh của chính mình như là một nối kết của sanh tử, và có khả năng nhìn về những sự sống của mình trong quá khứ. Giáo huấn của Phật cũng dạy rằng một khi đã đạt được Niết Bàn trong cuộc sống hiện tại, qua khai sáng và tuệ giác, chúng ta có thể đi đến tận cùng của chuỗi sanh và tái sanh. 

Niết Bàn là một trạng thái mà tất cả Phật tử muốn đạt được. Niết Bàn là sự chấm dứt các ham muốn và do đó là điểm cuối cùng của đau khổ. Trong tiếng Phạn, Niết Bàn có nghĩa là “the blowing out” (thổi bay đi). Niết Bàn đuợc hiểu là dập tắt các ngọn lửa ham muốn cá nhân. Đối với người phương Tây, Niết Bàn được xem là một trạng thái tiêu cực, một kiểu “hư không”. Nhưng trong các sách Phật giáo, Niết Bàn được mô tả là một trạng thái tích cực, là nơi lánh nạn cao nhất, an toàn nhất, hòa bình nhất. Niết Bàn là tự do, nhưng không phải tự do từ hoàn cảnh, mà là tự do từ những mối ràng buộc mà chúng ta tự trói mình vào hoàn cảnh. Người tự do là người mạnh mẽ để nói “bất cứ cái gì đến với tôi, tôi sẽ chấp nhận là cái tốt nhất.”

Niết Bàn là sự kết thúc của lực Nhân Quả (chúng ta sẽ gọi là “Nghiệp lực”). Phật tử đi lên Niết Bàn qua nhiều giai đoạn của Trung Đạo. Trung Đạo là đường đến tuệ, đạo đức, và kiểm soát. Ở đây, chúng ta không có đủ thì giờ để đề cập đến những mệnh đề đó hay những khía cạnh của Trung Đạo được nói đến trong các sách của Phật. Nhưng có thể nói rằng cuộc sống ý thức của một Phật tử là đầy đủ và phong phú. Qua chu kì tái sanh mà người Phật tử đi lên, họ sẽ tự hoàn thiện và chinh phục những ham muốn. Chinh phục bằng tình yêu thương và tuệ giác. Một khi sự ham muốn đã được chinh phục, thì Nghiệp lực sẽ giảm xuống và ngọn lửa khát khao sẽ tắt dần.

Trọng tâm của sự đau khổ của con người là tình trạng Si.  Si ở đây là dịch từ chữ ‘ignorance’ trong tiếng Anh, có nghĩa là dốt, không biết. Chính Si dẫn đến khát khao, và khởi động Nhân Quả. Do đó, con đường đến Niết Bàn nằm ở kiến thức, và chúng ta lại phải nói đến Pháp (Dharma). Pháp như đề cập trên là giáo huấn của Phật. Pháp, cũng giống như chân lí, nằm trong Si và ham muốn và sự thay đổi liên tục. Trong Pháp, Phật chỉ chúng ta con đường đến chân lí.

Ý nghĩa của Phật giáo là gì?

Vậy thì ý nghĩa của Phật giáo (hiểu theo nghĩa giáo huấn của Phật) là gì? Về cơ bản, Phật giáo không phải là một tôn giáo mà là một hệ thống tập luyện tinh thần. Phật giáo là một hệ thống luyện tập tâm trí vĩ đại nhất. Phật giáo cung cấp một phương tiện mà con người có thể tự mình hoàn thiện qua hiểu biết, đạt đến Cảnh Giới (plane) mà trong đó Ngã (self, cái tôi) và Tự Ngã Tri (self-knowledge) không còn có ích nữa. Nhà tiên tri Công giáo Meister Eckhart từng nói rằng “vương quốc của Thượng Đế không dành cho ai, nhưng là một sự vô tri hoàn hảo” (“The kingdom of God is for none but the thoroughly dead.”) Người Phật tử đồng ý với nhận định này, nhưng có một cách nói kém kiên quyết hơn. Niết Bàn trong cuộc sống chính là một trạng thái khám phá những dòng chảy hiện tượng tâm sinh lí. Người Phật tử tin rằng qua thiền và thiện ý, họ có thể theo Đức Phật qua những giai đoạn khai sáng (hay giác ngộ) và đạt được tuệ giác sau cùng.

Nhưng không phải Phật tử nào cũng là thầy tu hay giỏi về giáo lí. Vậy thì đối với người thường, ý nghĩa của Phật giáo là gì? Phật giáo giúp cho người thường tự mình đứng vững trên đôi chân. Phật giáo đánh thức sự tự tin và năng lượng trong mỗi con người. Phật giáo nhắc nhở những người theo Phật là không có ai trên thiên đường hay trên trái đất có thể giúp con người giải phóng họ khỏi những hành vi xấu xa. Người Phật tử biết rằng sức mạnh tâm trí của họ đủ để dẫn họ đi trong cuộc sống hiện tại và uốn nắn cuộc sống trong tương lai, và đem đến cho họ chân lí. Người Phật tử biết rằng họ sở hữu sức mạnh vô song. 

Phật giáo chỉ ra những khía cạnh đạo đức cho cuộc sống hàng ngày. Mặc dù Niết Bàn là phi đạo đức (hiểu theo nghĩa cái hòa bình cuối cùng vượt qua những xung đột giữa cái thiện và cái ác), nhưng đó là con đường đến tuệ và là con đường đạo đức. Điều này hoàn toàn phù hợp với triết lí Nhân Quả. Mỗi hành động nhất định tạo ra một ảnh hưởng, và hành động của một người nào đó sẽ tạo ra tác động cho người đó trong cuộc sống. Do đó, nghiệp lực dẫn chúng ta tiến lên chỉ có thể là lực của thiện và sau cùng đến tuệ. 

Từ tâm

Cái biểu hiện cao nhất của học thuyết Phật là metta mà chúng ta dịch là Từ Tâm (tâm từ bi). Từ Tâm là mục tiêu phổ quát của người Phật tử. Từ Tâm kêu gọi yêu thương và tha thứ. Từ Tâm có nghĩa cao hơn tình yêu thương anh em và lòng tốt. Từ Tâm là lòng nhân đức tích cực, là tình yêu thương thể hiện và hoàn thiện qua tác động thiện đến đồng loại, chúng sanh.  Từ Tâm đi song song với giúp đỡ và ý chí loại bỏ sự íck kỉ để xiển dương phúc lợi và hạnh phúc cho nhân loại. Từ Tâm trong Phật giáo là một động lực cho sự tiến bộ của xã hội. Cần nói thêm rằng Từ Tâm là sự cảm thông rộng lớn nhất dành cho những người đau khổ. Người Phật tử chân chánh làm tất cả để thực hành Từ Tâm đến mỗi chúng sanh và không phân biệt chúng sanh dựa vào đẳng cấp, màu sắc, hay giới tính.

Ngoài ra, giáo huấn của Phật còn là một yếu tố văn hóa trong đời sống Phương Đông, cũng giống như Kinh Thánh là nguồn gốc của tư tưởng và văn hóa Phương Tây.  Nhưng những sách của Phật rộng hơn và chi tiết hơn là Kinh Thánh. Trong tiếng Pali, các giáo huấn của Phật được gọi là Tripitaka, có nghĩa là “The Three Baskets” (“Ba Rổ” hay nói cho văn hoa là “Tam Tạng Kinh”). Tam Tạng Kinh bao gồm 3 bộ kinh: Vinaya Pitaka, Sutta Pitaka, Abhidhamma Pitaka. Vinaya Pitaka là Luật Tạng, bao gồm 5 cuốn sách viết về các qui định về cuộc sống của tu sĩ. Sutta Pitaka là Kinh Tạng là một tập hợp những nghị luận, thảo luận, câu chuyện, thơ, và cách ngôn được viết bằng một ngôn ngữ đơn giản nhằm chuyển tải những ý tưởng cơ bản của Phật Giáo. Quyển kinh thứ ba là Abhidhamma Pitaka là Thắng Pháp Tạng hay Vi Diệu Pháp là tập hợp những bài giảng của Đức Phật về nhận thức luận, siêu hình học, tâm lí học, rất có ích cho các triết gia và giới học thuật. Do đó, bộ Tam Tạng kinh cung cấp một phác đồ khúc chiết hướng dẫn hoạt động cho mỗi cá nhân thuộc mỗi trình độ tri thức, đạo đức và tinh thần.

Chữ của Đức Phật là ánh sáng, là cái đèn cho Miến Điện — và cho mọi người.

====

(1) https://www.theatlantic.com/magazine/archive/1958/02/the-meaning-of-buddhism/306832/

(2) Chú giải một số thuật ngữ trong bài

  • Bản ngã: Atta
  • Bát Chánh Đạo: Eight fold path
  • Bát nhã: Prajma (có nghĩa là trí tuệ, sự sáng suốt)
  • Chánh Đạo: Righteousness (?)
  • Cảnh giới: Plane
  • Duyên Khởi: Dependent Origination
  • Giác ngộ: Bodhi
  • Hư vô: Annihilation
  • Kinh Tạng: Sutta Pitaka
  • Luật Tạng kinh: Vinaya Pitaka
  • Ngã, cái tôi: Self
  • Niết bàn: Nirvana
  • Nghiệp, Nhân quả: Karma, Kamma
  • Nghiệp lực: Karmic force hay Kammic force
  • Pháp: Dharma, Dhamma
  • Tâm từ bi, từ tâm: Metta
  • Thắng Pháp Tạng: Abhidhamma Pitaka
  • Thiện: Good
  • Trung Đạo: Middle Way
  • Trí nhân: Knower
  • Tuệ: Wisdom
  • Tự ngã tri: Self-knowledge
  • Tứ Điệu Đế: Four Noble Truths
  • Vòng Luân Hồi: Wheel of Life
  • Vô ngã: Non-self
  • Vô thường: impermanence

(3) Trích từ Thư viện Hoa Sen

Atta được mô tả là sự hợp thành của năm uẩn — năm món tích tụ, hòa hợp làm thành thân tâm con người. Năm uẩn đó là Sắc uẩn (chỉ chung mọi thứ vật chất hữu hình, gồm các giác quan, bốn tay chân và ngũ tạng); Thụ uẩn (tức cảm giác, cảm thụ sự vật của tâm đối với cảnh); Tưởng uẩn (tưởng tượng về sự vật của tâm đối với cảnh); Hành uẩn (tác dụng về mọi thứ thiện ác như tham sân si, v.v. của tâm đối với cảnh); và Thức uẩn (nhận thức, ý thức, phân biệt sự vật của tâm đối với cảnh). Web: https://thuvienhoasen.org/a7611/ban-nga

Tứ Diệu Đế: Khổ đế (Dukkha) là thực trạng đau khổ của con người; Tập đế (Samudaya) là nguồn gốc hay nguyên nhân dẫn đến thực trạng đau khổ; Diệt đế (Nirodha): là sự kết thúc hay sự chấm dứt khổ đau; và Đạo đế (Magga) là con đường hay phương pháp thực hành dẫn đến chấm dứt khổ đau. Web: https://thuvienhoasen.org/a11636/bai-1-bon-chan-ly-tu-dieu-de

Trung Đạo là con đường giữa mà Phật đã tìm ra, khuyên người nên từ bỏ nhị biên, tránh làm các điều ác, làm các điều lành và giữ tâm thanh tịnh. Trung Đạo có nghĩa là “bất nhị (không hai)”. Trung Đạo vượt trên hữu vô, nhưng chứa đựng tất cả. Đức Phật dạy: “Khi phân biệt bị loại bỏ thì trung đạođược đạt đến, vì chân lý không nằm trong sự cực đoan mà là trong trung đạo.” https://thuvienhoasen.org/a10859/chuong-8-dao-va-trung-dao-path-and-middle-path


(4) Theravada có thể xem là “Phật giáo nguyên thủy”.

Danh từ:

  • Vinaya Pitaka: Luật Tạng
  • Sutta Pitaka: Kinh Tạng
  • Abhidhamma Pitaka: Thắng Pháp Tạng
  • Nirvana: niết bàn
  • Middle Way: Trung Đạo
  • Four Noble Truths: Tứ Điệu Đế
  • Eight fold path: Bát Chánh Đạo
  • Righteousness: Chánh Đạo?
  • Dharma, Dhamma: Pháp
  • Karma: Nghiệp, Nhân quả
  • Karmic force hay Kammic force: Nghiệp lực
  • Wheel of Life: Vòng Luân Hồi
  • Dependent Origination: Duyên Khởi
  • Bodhi: Giác ngộ
  • Knower: Trí nhân 
  • Wisdom: Tuệ
  • Good: Thiện
  • Annihilation: Hư vô
  • Plane: Cõi giới
  • Self: Ngã, cái tôi
  • Non-self: Vô ngã
  • Self-knowledge: Tự ngã tri
  • Metta : Tâm từ bi, từ tâm  
  • Atta: Bản ngã

Hồi tưởng thời tị nạn

Nếu hỏi một người phương Tây ngày quan trọng trong đời họ là ngày gì, thì câu trả lời rất có thể là ngày họ sinh ra, hay đối với vài người là ngày … họ qua đời. Nhưng đối với đa số người Việt Nam lớn lên trước 1975 thì ngày đáng nhớ nhất là 30/4/1975. Đó là cái mốc thời gian mà theo đó tất cả những cơ cấu xã hội đều bị thay đổi vĩnh viễn. Những con người mới xuất hiện, và họ mang theo những thói quen rất lạ lùng. Chánh trị xâm nhập vào từng ngôi nhà ngõ hẻm. Chủ nghĩa thần tượng lãnh tụ lên ngôi. Cùng lúc, rất nhiều người bị đày đoạ trong các trại ‘Cải tạo’ (mà sau này tôi mới biết là vay mượn từ chế độ Mao bên Tàu). Rất nhiều người tìm đường ra đi để có tự do. Tôi cũng nằm trong cơn lốc lịch sử đó và đã lên một con tàu cá nhỏ rời Việt Nam trong một hành trình có thể nói là vô định.

Hôm nay, ngày 30/4 lại về, và như là một lập trình tự động, tôi lại nhớ về chuyến đi 40 năm trước.  Chuyện đã 40 năm, và chắc chắn có nhiều phôi pha, nhưng cứ mỗi lần vào dịp này thì tôi nhớ lại một cách lõm bõm và rời rạc những ngày đầu tiên trên đất tạm dung. Viết ra trước là ghi lại hành trình của mình, sau là hi vọng tìm lại những người bạn tôi đề cập ở đây (nếu họ đọc được) từng ở các trại mà tôi đã tạm cư trên đất Thái Lan.

Phần I. Những ngày ở Thái Lan

Đổ bộ làng chài Budi

Một ngày giữa tháng 4 năm 1981, một chếc ghe đi sông chở 23 người từ Việt Nam ghé bờ biển Budi ở miền Nam Thái Lan. Budi là một làng chài, giáp ranh giới với Mã Lai. Như vậy, sau 3 ngày và 3 đêm, chiếc ghe từ Rạch Giá, không có la bàn, đã rong rủi sang tận miền Nam Thái Lan. Phải nói sự sóng sót là một phép lạ. Đó cũng là thời điểm khởi đầu của một hành trình tị nạn của tôi, một cái “mốc” lịch sử không bao giờ phai nhòa trong kí ức.

Khi chúng tôi lên bờ, dân làng ở đây chạy ra xem, nhưng họ không biết làm gì với chúng tôi. Ghe chúng tôi là tốp người Việt đầu tiên đến cái làng chài này. Bất đồng ngôn ngữ, nên chỉ nói bằng ngôn ngữ cơ thể, ánh mắt và nụ cười. Khi ghe chúng tôi cập bờ thì trong ghe vẫn còn nhiều lương thực, nào là cơm khô, đường, muối, mấy thùng nước uống. Chúng tôi không biết làm gì với mấy thứ này, nên cho hết những người dân làng đến nơi. Có người hỏi xin 3 cái máy dầu vẫn còn rất tốt, chúng tôi cũng cho luôn. Đã lên bờ tự do thì cần gì mấy thứ này nữa, chúng tôi nghĩ vậy nên hễ ai xin cái gì là cho hết. Nghĩ lại dân tị nạn mà hào phóng ghê! Nhưng chính nhờ nghĩa cử hào phóng đó mà chúng tôi tạo được cảm tình ở người địa phương.

Người địa phương thì đa số vận sarong, rất tiêu biểu ở người miền nam Thái Lan (giáp ranh Mã Lai). Nhìn qua ánh mắt và lối sống, họ là những người rất hiền lành và chất phác. Không thấy ai lợi dụng chúng tôi. Sau này tôi mới biết đây là vùng biên giới Thái Lan – Mã Lai, rất nhiều người Hồi Giáo ở đây. Dạo đó, tôi không rõ những người mình gặp là Phật Giáo hay Hồi Giáo, nhưng thời đó chúng tôi chẳng quan tâm; điều quan trọng nhất là đến bến bờ tự do, và đó là điều may mắn nhất trên đời. Tôi đoán là họ là tín đồ Hồi Giáo, vì họ không ăn thịt heo. Họ cũng không ăn thịt gà chết, dù con gà mới chết có vài phút! Do đó, mỗi khi có gà chết là họ đem đến cho chúng tôi. Thành ra, tuy là dân tị nạn, nhưng thỉnh thoảng cũng có những bữa ăn thịnh soạn!

An cư trong … nhà để xe

Sau khi cho đồ trên ghe, có người chạy đi báo cho cảnh sát. Khoảng vài phút sau thì một viên cảnh sát lái xe “pick-up” đến nơi. Anh cảnh sát này biết chút tiếng Anh, tuy không tốt mấy, nhưng đủ để biết chúng tôi là người Việt Nam. Anh ta gọi điện thoại một hồi thì thấy thêm vài chiếc xe pick-up khác đến cùng khoảng 5 viên cảnh sát. Họ bàn với nhau một lúc, rồi bảo chúng tôi tạm ở đây. Họ chỉ chúng tôi đến một cái nền xi măng trống và cũ kĩ, nguyên là nơi để xe hơi, và cứ ở đó trong khi họ tìm cách … xử lí chúng tôi. Chúng tôi hè nhau gánh nước biển lên và lau sạch cái sân xi măng. Sau một giờ thì chúng tôi có cái sân rất oách để ngã lưng trong thời gian tới.

Khi đã tạm “an cư” sau chuyến hải hành, chúng tôi lăn ra ngủ, chẳng cần ý tứ gì cả, trước những cái nhìn ngạc nhiên của dân địa phương. Buổi chiều, dân địa phương thấy thương tình, nên họ đem cơm và thức ăn cho ăn. Một số thì đem gạo và nước mắm cùng mấy cái nồi cũ để nấu ăn. Sau 3-4 ngày đêm trên biển, đây là lần đầu chúng tôi có một bữa ăn đúng nghĩa. Ăn tập thể. Vừa vui, vừa ngon. Còn dân làng thì ngồi chung quanh nhìn chúng tôi ăn và mỉm cười hiền lành. Tôi đoán chắc họ cũng vui khi giúp được chút ít cho chúng tôi.

Và những dân làng hiền hậu

Đêm đầu tiên ở cái làng chài thì quả là một kinh nghiệm buồn cười. Đám thanh niên trong làng và [chắc cả các làng lân cận] kéo đến khá đông để … nhìn. Họ chẳng làm gì cả, chỉ ngồi chồm hỗm, hút thuốc lá, cười cười nhìn chúng tôi đang co cụm trong cái sân xi măng. Chúng tôi, người thì nằm, kẻ ngồi, người hút thuốc lá tán dóc. Đêm đến, chỉ còn một số ở lại, vẫn hút thuốc lá và nhìn. Đám đàn ông thanh niên chúng tôi cảm thấy hơi bất an, nên bàn với nhau cách tự tự vệ. Trong chuyến đi, có vài người từng là sĩ quan quân lực VNCH, một số là dân chài, một số là thư sinh như tôi. Dưới sự chỉ huy của các sĩ quan, chúng tôi chia nhau ngồi quanh như là canh gác “lãnh địa” tị nạn và bí mật có sẵn “đồ chơi” để khi có biến động là đối phó ngay. Đêm xuống, dân làng cho mùng để ngủ, đám thanh niên đàn ông chúng tôi ngủ ở bìa ngoài, còn các bà và phụ nữ ngủ phía trong. Chúng tôi có một đêm ngủ đầu tiên trên đất tự do, sóng biển rì rào, trời thoáng, gió mát, chẳng mấy chút ai cũng chìm vào giấc ngủ.

Đến gần nửa đêm, tôi cảm nhận hình như có bàn tay sờ nhằm chân tôi. Tôi vẫn còn tĩnh thức, nên giả bộ ngủ xem bàn tay này làm gì. Đang chuẩn bị đối phó thì bên kia các anh thanh niên la lớn lên là “Có cướp”, và thế là tôi nắm lấy tay của kẻ đang sờ soạn. Thế là chúng tôi tóm cổ họ một cách dễ dàng. Nhìn kĩ thì toàn là những thanh niên hồi chiều hút thuốc ngồi chồm hỗm nhìn chúng tôi. Hình như họ muốn sờ mó mấy cô mấy bà, nhưng họ không ngờ rằng chúng tôi đã có chiến lược bảo vệ. Bắt được họ, chúng tôi chẳng biết làm gì, còn họ thì vẫn cười hề hề. Anh sĩ quan trưởng nhóm đánh giá rằng nhìn đám thanh niên này cũng hiền lành, nên thôi cho chúng đi. Hình như dân làng ở đây lần đầu tiên thấy người nước ngoài nên họ rất tò mò.

Những người đồng hương mới tới …

Chúng tôi ở đó được chừng một tuần thì một chiếc tàu (lần này là “tàu” đánh cá) cũng từ Việt Nam ghé Budi. Tàu này chỉ có khoảng 10 thanh niên (tôi không nhớ con số chính xác), nghe nói họ làm cho một hợp tác xã đánh cá và sẵn dịp lấy tàu trốn khỏi Việt Nam. Nhóm này cũng đi từ Rạch Giá, nhưng xuất phát từ U Minh. Họ nghèo rớt mồng tơi, gần như không có một tài sản nào cả. Nhóm thanh niên này rất giỏi đi biển, nên có thêm họ trong nhóm chúng tôi thấy như có thêm “lực lượng võ trang” để có gì thì ứng phó tốt hơn.

Vài ngày sau, lại thêm một chiếc tàu khác ghé Budi. Tàu này lớn hơn, chở hơn 40 người đi từ Cà Mau. Tàu này “giàu” hơn hẳn hai tàu trước, dù đã bị cướp biển hai lần. Hành trình của họ khá gian nan, phải gần một tuần lễ mới tới Budi. Trong chiếc tàu mới này có cả con nít và nhiều “thành phần kinh tế” hơn. Trong đó, có một chú mà tôi quen gọi là “Chú Ba Trung Tá” đầu bạc trắng, sau này quen thân với tôi. Gọi “Chú Ba Trung Tá” là vì chú là một cựu phi công cấp bậc trung tá, sau 1975 đi tù cải tạo vài năm, được thả ra và chú tìm đường vượt biên. Chú là người gốc Bình Định, cũng nghèo xơ xác như tôi (chỉ có cái quần đùi và áo sơ mi), và chú hay nói chuyện tiếu lâm rất vui. Chú từng học ở Mĩ nên rất giỏi tiếng Anh, và chú trở thành thông dịch viên cho tất cả 3 nhóm thuyền nhân.

Ngoài Chú Ba Trung Tá, trong nhóm còn có một nhân vật đặc biệt gọi là “Anh Ba Hà Nội”. Anh Ba là một kí giả [hình như là đài Tiếng Nói Việt Nam] từ Hà Nội vào Nam công tác. Anh có quen với một chị từng là chiêu đãi viên của Hãng Hàng Không Việt Nam trước 1975, và sau này hai người thành hôn (mãi đến sau này chị mới biết anh đã có vợ ngoài Bắc). Tuy làm việc cho chế độ nhưng anh chẳng ưa chế độ, nên nhân dịp vào Nam anh cùng với chị bỏ đi vượt biên theo nhóm 23 người chúng tôi. Phải lên bờ Thái Lan người ta mới biết anh là “cộng sản”, và những thuyền nhân thông cảm cho anh, ai cũng cố gắng bảo vệ anh, vì cái lí lịch cộng sản đó có thể làm anh bỏ mạng như chơi.

Kể ra thì cũng hay, một người VNCH cùng với một anh kí giả “cộng sản” tôi đều kết bạn thân. Chuyện anh Ba Hà Nội có một kết cục buồn. Sau khi anh và chị được đi định cư ở Úc khoảng hơn 20 năm thì anh mất tích, gia đình nghĩ và xem như anh đã qua đời ở đâu đó, và chúng tôi mất một người bạn mà đến giờ nhắc đến anh ai cũng tiếc.

Hòa mình vào dân làng

Budi là một làng chài rất tiêu biểu ở Đông Nam Á, rất thơ mộng và an bình. Những hàng dừa cao vút làm bóng mát cho cả làng. Những cây dừa rất cao và thẳng. Nhìn mấy hàng dừa này tôi tự hỏi làm sao có thể leo lên để hái dừa được. Nhưng vài ngày sau thì tôi biết, vì họ dùng khỉ để hái dừa. Những con khỉ nhỏ xíu, được mặc áo đàng hoàng, thừa lệnh của chủ, chúng thoăn thoắt leo lên cây dừa và hái dừa quăng xuống cát. Nhìn mấy con khỉ hái dừa tôi thán phục cái tài thuần hóa của người dân địa phương.

Cái làng này dù ở rất xa thành phố nhưng đã giàu có hơn Việt Nam rất nhiều. Nhà dân ở chủ yếu là nhà sàn. Nhà nào cũng có xe hơi, thường là xe pick-up Toyota. Trên bờ thì đường lộ thẳng băng và xe hơi nhiều hơn xe gắn máy. Dân làng dĩ nhiên làm nghề biển. Những chiếc ghe nho nhỏ, giống như ghe ở Kiên Giang, tối đi câu mực hay đánh cá, sáng cặp bến và đàn bà con gái ra gỡ lưới. Cuộc sống của họ phụ thuộc vào biển, và chỉ xoay quanh cái làng chài thơ mộng đó.

Chúng tôi cũng hòa mình vào cuộc sống rất êm đềm của dân làng dù không biết mình sẽ còn ở đây bao lâu. Đàn bà, con gái thì ở nhà, còn đám đàn ông thanh niên chúng tôi thì sáng nào cũng đi tìm việc làm để đem thực phẩm. Cách phân chia công việc có vẻ giống như thời … Trung Cổ. Thật ra, nhóm phụ nữ cũng không ở không đâu, vì các cô cũng có người tìm được việc làm. Mỗi sáng ra bờ biển giúp bốc dỡ cá tôm cho các ghe đánh cá cập biến. Họ thường được cho cá tôm và nước nắm như là trả công.

Riêng tôi tìm được một việc làm khá ổn định, đó là đi câu mực với một ông chủ. Gia đình ông chủ có cái nhà sàn cách chỗ chúng tôi ở chỉ vài phút đi bộ. Chiều chiều tôi lên cái ghe nhỏ của ông ra biển đánh cá, và chủ yếu là câu mực. Nhớ ngày đầu, tôi được đàn anh cảnh cáo là coi chừng nó kêu mày ra biển và giết mày đó, mày phải chuẩn bị. Tôi hỏi chuẩn bị sao đây. Các đàn anh bày ra rằng, lúc nào cũng ngồi xa ông chủ, và gần nơi có “vũ khí” (cây, thanh gỗ, dao, v.v.) để khi có chuyện là “chiến đấu” và nhảy xuống biển lội thoát.

Tôi làm y chang như lời khuyên, nhưng sau vài đêm chẳng có chuyện gì xảy ra, và ông chủ thì quá tốt với tôi, nên tôi nghĩ những cảnh giác đó là quá đáng. Ông chủ thấy tôi không có quần áo tốt, nên một hôm ông cho tôi cái áo thun rất oách và cái quần short để thay đổi hàng ngày. Những kỉ vật đó tôi vẫn còn giữa mãi đến 20 năm sau, nhưng một lần chuyển nhà, nó bị mấy đứa con cho vào thùng rác. Tiếc ơi là tiếc, vì mất đi một kỉ vật.

Một hôm, nhân dịp không đi làm biển tôi theo đám đàn ông đi làm thuê cho một ông chủ ở cách đó vài chục cây số. Công việc của chúng tôi nghe nói là chỉ đi chặt lá dừa. Người đến thuê nói sẽ trả giá rất tốt, tính ra mua được cả giạ gạo và cả thùng nước mắm! Thế là 10 người chúng tôi lên xe 3 xe pick-up chở đến một cái vườn um tùm và rất rộng. Chúng tôi hăm hở cầm dao mác đi chặt lá dừa. Vài phút đầu thì chẳng có gì xảy ra, nhưng đi sâu vào trong thì ôi thôi đụng phải ổ kiến vàng, bị cắn quá chừng. Không thể bỏ việc, vì đã nhận hợp đồng rồi, nên anh em an ủi nhau cố gắng làm cho xong việc. Đến gần chiều thì chúng tôi cũng phát quang xong cho ông bà chủ. Tiền bạc thì rất sòng phẳng, ông bà chủ cám ơn rối rít, và mời ở lại ăn cơm chiều, làm vài li “Mai Kỏn”, loại rượi đế của Thái Lan, và sau này tôi mới viết Mai Kỏn có nghĩa là Mê Kong. Lần đầu tiên lên bờ Thái Lan và được uống rượu đế. Nhưng rượu nặng quá, nên chỉ làm được một chút là … chạy làng. Chiều về thấy da ai nấy cũng bị sưng vù lên. Mọi người nói mẹ kiếp, mắc mưu thằng Thái trung gian, lần sau sẽ không chơi với bọn này nữa.

Những ngày ở Budi, chúng tôi sống cuộc sống có thể nói là nhàn hạ, và với những kỉ niệm như thế. Có những người đi làm phụ hồ ở xa, và cũng được trả lương đàng hoàng. Phải có dịp đi ra ngoài làng mới thấy lúc đó Thái Lan đã giàu có và phát triển hơn Việt Nam rất xa. Làng xa tít mà cũng có đường trán nhựa chạy bon bon. Nhà nào cũng có xe hơi, còn xe Honda chỉ để đi chơi là chính. Mấy bà thì nhận xét rằng ngay cả chai nước mắm hay cái bao ni lông của họ cũng đẹp và sạch sẽ hơn Việt Nam mình. Xin nói thêm rằng thời đó Việt Nam thậm chí còn chưa làm nổi bao ni lông! Nhìn cảnh đó, anh em chúng tôi ai cũng lắc đầu cho Việt Nam, không biết bao giờ mới đuổi kịp Thái Lan.

Nhưng quan trọng hơn hết là cuộc sống tự do. Ít thấy bóng dáng cảnh sát. Chẳng ai làm phiền hà mình. Trưa nào, chúng tôi cũng tụ tập bên nhau nói chuyện, và bàn về tương lai. Chú Ba Trung Tá và anh Ba Hà Nội hai người có nhiều chuyện để kể, kèm theo những bình luận sâu sắc. Chú Ba TT kể chuyện chú đi tù ra sao, chuyện các quản giáo miền Bắc dốt như thế nào, chuyện cười ra nước mắt trong trại cải tạo. Chú còn kể chuyện vào tù cải tạo gặp toàn những “who is who” của miền Nam trước đó như Nhà văn Duyên Anh, Nguyễn Mạnh Côn, Hồ Hữu Tường, v.v. Chú kể rằng trong chuyến xe lửa chở tù miền Nam ra Bắc, khi xe ra đến Bắc (không nhớ vùng nào) cả đoàn tàu bị dân ném đá. Mấy người lính canh tù nói “Các anh thấy chưa, tội ác của các anh là trời không tha, đất không dung, dân chúng ghét. Nếu không có chúng tôi bảo vệ thì các anh đã chết rồi.” Dĩ nhiên, đoàn tù thì thừa hiểu màn ném đá là một màn kịch có bài bản. Đến khi xuống xe để vào trại thì người ta phát hiện có người tù chết trong xe vì ngộp thở. Những chuyện chú kể là cả một trời kinh nghiệm và chứng từ của một thời đau khổ. Chú kể chuyện như chơi, không thấy bất cứ một thù hằn nào trong lời nói, chỉ toàn là tếu tếu.

Còn anh Ba Hà Nội thì ngược lại, anh kể chuyện ngoài Bắc. Anh Ba HN không biết tiếng Anh, nhưng biết chút tiếng Pháp. Anh là người rất vui tính, ăn nói lưu loát (dân kí giả mà), biết rất nhiều câu chuyện về các vị cầm quyền chóp bu ngoài Bắc. Ngay từ thời đó, anh đã cho biết ông Hồ có vợ mà chẳng ai tin anh! Anh cũng có đề cập đến cái chết của Nông Thị Xuân, nhưng lúc đó ai cũng nghĩ anh ta xạo, chẳng ai tin. Nhưng sau này tôi đọc qua hồi kí của Bùi Tín, Vũ Thư Hiên mới thấy những câu chuyện của anh kể rất ăn khớp. Hóa ra, những gì ông Bùi Tín và Vũ Thư Hiên viết không phải là mới đối với giới trí thức Hà Nội. Thỉnh thoảng chú Ba TT quay sang anh Ba HN nói như nửa đùa nửa thật “Thằng này nó là Việt cộng Bắc Việt, nhưng nó nói tao nghe rất được.”

Một hôm, nhân dịp làm thủ tục tị nạn, nhân viên của Liên Hiệp Quốc về phỏng vấn và mỗi chúng tôi phải điền form màu xanh. Form đòi những thông tin cá nhân, thông tin về cha mẹ, và lí do rời Việt Nam. Đa số những người tị nạn không biết tiếng Anh, chỉ có chú Ba TT là người duy nhất thành thạo tiếng Anh và có thể giải thích những ô chữ trong cái form phức tạp đó. Thế là chú nghiễm nhiên trở thành trưởng nhóm, và ngồi bên cạnh các nhân viên LHQ để thông dịch. Chú mặc quần short, lúc thì ở trần, lúc thì chỉ khoác cái áo thun đã phai màu, tay cầm thuốc lá phì phèo, nghe người khai thông tin và dịch lại cho nhân viên LHQ. Chú ít khi nào nhìn xem họ viết có đúng không, mà chỉ nói như … sếp ra lệnh.

Lúc đó, nhìn phong cách của chú Ba Trung Tá tôi phục chú sát đất. Chú nói tiếng Anh rất tự nhiên, và với thái độ tự tin đến … trịch thượng. Tôi nhớ hoài một hôm chú làm phiên dịch cho một quan chức Thái Lan, và ông quan chức này khen chú nói tiếng Anh giỏi; chú quay sang chúng tôi rồi tươi cười nói lại: “Tao nói tiếng Anh giọng nước mắm, vậy mà thằng mọi này nó nói tao nói tiếng Anh giỏi!”

Nhớ hoài chữ “mọi” mà ngày xưa thầy cô bên VN đã gieo vào tôi. Thời đó, VN xem các nước bên cạnh như Thái Lan, Mã Lai, Lào, Cambodge, v.v. là … “mọi”. Ý xem thường người ta là kém văn minh. Nay lại nghe chú Ba TT dùng chữ đó. Tôi nghĩ thầm trong bụng, nói người ta là “mọi” nhưng sao người ta sang hơn mình quá, giàu hơn mình cả mấy chục năm, và lịch sự với mình nữa. Ấy vậy mà người Việt lại tự cao tự đại. Là người tạm dung trên đất nước người ta, nhưng chú Ba xem quan chức địa phương … chẳng ra gì, dù không thể hiện ra thái độ, chỉ thể hiện qua cách nói tiếng Anh.

Một hôm khác, chú Ba nhận được thư của đứa con trai ở bên Mĩ gửi, kèm theo ít tiền. Chú mở thư ra và thấy có hình anh chàng kia đang cầm điện thoại nghe. Chúng tôi thì thấy bức hình sang trọng quá, và cái điện thoại rất oách. Nhưng chú Ba đọc thư xong, cầm tấm hình lên và nói “Thằng này nó khoe! Ở bên đó cầu tiêu còn có điện thoại, có gì mà khoe. Chắc nó tưởng tao ngu lắm.” Tụi tôi há hốc ra nghe và ngạc nhiên. Trời ơi! điện thoại mà có trong cầu tiêu, chú Ba này nói quá! Nhưng nhìn qua phong cách, chú đúng là có phong cách của người lãnh đạo, tự tin, nhưng lại bình dị đến lạ thường.

Hôm nay, viết những dòng này, tôi đoán chú Ba Trung Tá cũng đã trên 80 tuổi (nếu chú còn sống). Sau này chú đi định cư ở Mĩ, và tôi mất liên lạc với chú. Nhưng hình ảnh của chú trong tôi là cái type của một sĩ quan VNCH có học thức, vui tính, và rất nam kì tính. Còn anh Ba Hà Nội của tôi cũng có thể đã ra người thiên cổ. Trong nhóm 23 người trên chiếc ghe năm 1981, nay đã có vài người qua đời, số còn lại bên Mĩ và Úc đều có cuộc sống ổn định. Những người bạn trong 2 chiếc tàu kia thì gần như mất liên lạc, dù biết đa số họ định cư bên Mĩ.

Trại tị nạn Songkhla

Ở Budi độ hai tuần thì chúng tôi được lệnh chuyển trại. Budi chỉ là nới tạm trú để làm thủ tục, phải đến một trại có đủ ban bệ để các nhà chức trách đánh giá và xác định tư cách tị nạn. Thế là những ngày êm đềm nhất trong đời tị nạn rồi cũng qua đi, và đến ngày chia tay. Cuộc chia tay nào cũng buồn, và chia tay Budi cũng không phải là ngoại lệ. Sau hai tuần ở cái làng chài êm đềm này, đã quen biết khá nhiều người tử tế, ai cũng cảm thấy lòng mình chùng xuống khi bước lên xe bus để rời làng. Ngày ra đi có vài người trong làng đến vẩy tay tiễn đưa. Nhìn những cánh tay vẩy vẩy và những nụ cười hiền lành mà mình cảm động vô biên. Hoá ra, ở đây tình người có khi còn nặng hơn cả bên quê hương mình.

Tất cả đều lên hai chiếc xe bus lớn rời Budi. Phải mất một ngày đường, mới đến trại mới rất nổi tiếng trong người tị nạn. Trại tên là Songkhla. Songkhla là một tỉnh thuộc miền Nam Thái Lan (Songkhla là tên của một hoàng tử Thái Lan). Trại tị nạn Songkhla là một trại khá lớn, lúc tôi đến đó thì đã có hơn 5,000 người trong trại. Nghe nói trong lúc cao điểm trại này có đến 10,000 người tị nạn. Trại nằm dọc theo bờ biển, rất đẹp mắt. Phía trước là biển, phía sau là một dãy núi, và dĩ nhiên là xung quanh được rào bằng kẻm gai. Nếu tôi nhớ không lầm, chiều ngang của trại chỉ khoảng 50- 80 mét, chiều dài thì đi bộ chỉ 15 phút là hết. Người tị nạn không được ra ngoài trại nếu không được phép.

Người tị nạn ở trong những cái chòi tạm thời (do những người trước đây dựng lên) ngay bên bờ biển. Tôi cũng có một cái chòi, và phải “share” với những người độc thân khác. Từ Budi lên đây thì nhóm đã bắt đầu chia ra thành từng nhóm nhỏ và hoà mình vào trại lớn hơn. Có người tìm gặp thân nhân đã qua trước nên họ về ở chung, còn những người “con bà phước” thì tụ tập với nhau thành từng nhóm nhỏ và xoay xở qua ngày.

Ngày đầu tiên nhập trại Songkhla, tôi tưởng mình lạc vào một thành phố ở Việt Nam. Người ở đâu mà đông đúc ghê, mật độ dân số ở đây chắc phải cao nhất nhì thế giới! Nhìn qua cách ăn mặc, thấy người nghèo nhiều hơn người giàu, và điều này cũng dễ hiểu. Đại đa số người nhập trại là đã bị cướp bóc trên biển, nên họ chẳng còn gì. Tuy nhiên, cũng có nhiều chuyến may mắn, nên bà con còn giữ vàng và tiền đến đây. Lại có một nhóm khác ở đây khá lâu (trên 6 tháng) và được thân nhân nước ngoài tài trợ, nên họ cũng có cuộc sống khá đầy đủ. Có người còn tiền hay mới có tiền mở hàng quán ngay trong trại. Đủ loại quán, nhưng quán ăn và quán nhạc là phổ biến nhất. Nhìn từ xa có thể thấy một khu rất trù phú và tấp nập, và quả thật là như thế.

Hai bên đường chật hẹp là hàng quán bán cơm, phở, hủ tiếu, cà phê, mọc lên đầy rẫy. Những hàng quán này làm ăn rất khá, vì ở trong trại đâu có việc gì làm, nên người ta thả hồn theo khói thuốc và cà phê. Có nhiều khách hàng là những chàng trai mặt mũi rất “ngầu”, tóc dài chấm vai (nom y như những người đóng vai du côn trong các phim xã hội đen) phì phèo những điếu thuốc lá “Samit” hay “555” bên li cà phê đen. Phía trong quán thì ồn ào đài loa với những bản nhạc vàng ảo não, nhạc rock xập xình, nhạc nhà binh hùng tráng, nhạc chống cộng, v.v. được phát thanh với một âm lượng tối đa, làm đinh tai nhức óc những ai không may mắn phải đứng trước những cặp loa này. Trên đường lộ dập dìu tài tử giai nhân son phấn lòe loẹt, vàng đeo lóng lánh, trong những bộ quần áo thời trang Âu Mĩ đắc tiền đi “dạo phố” như trẩy hội! Thành ra, nói là trại tị nạn, nhưng lại là một xã hội Việt Nam thu nhỏ.

Vốn được chuyển lên đây từ một vùng quê, tôi cảm thấy mình vừa quê mùa vừa bơ vơ lạc lõng như một thành phần “outcast” trong xã hội tị nạn này. Quả thế, vì từ lúc lên bờ cho đến khi đi chuyển trại, tài sản duy nhất mà tôi có là hai cái quần short và hai cái áo ngắn tay do một ông chủ ở Budi tặng cho. Nhiều khi đi qua các hàng quán, thỉnh thoảng nghe một đoạn nhạc của Nguyệt Ánh và Việt Dũng mà buồn mà buồn vời vợi … Lúc đó, ai cũng nghĩ một lần đi là vĩnh biệt, không bao giờ về Việt Nam nữa. Do đó, những sáng tác nhạc thời đó rất ray rức.

Nắng nơi đây vẫn là nắng ấm
Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương

hay

Đến bao giờ trở về Việt Nam
Thăm đồng lúa vàng, thăm con đò ven sông

Những lời ca đậm chất thơ và miên viễn đó theo tôi tận đến ngày hôm nay.

Nhưng những cảnh phồn vinh náo nhiệt kia chẳng khác gì những lớp phấn son được sơn trét lên mặt những cô gái một cách vội vã để cố tình xóa lấp đi những nỗi ám ảnh của một quá khứ quá khủng khiếp. Thực vậy, lên đến Songkhla và có dịp nghe những câu chuyện thương tâm khác của đồng hương, tôi mới thấy chuyến đi của mình còn may mắn chán. Tôi nghe nhiều câu chuyện về cướp biển vô cùng khủng khiếp, mà chữ nghĩa có khi không tả hết được những tang thương người Việt Nam mình đã gánh chịu. Có nhiều trường hợp cả tàu bị thảm sát trên biển cả. Có trường hợp bọn cướp biển làm nhục phụ nữ ngay trước mặt người thân. Có người bị bệnh tâm thần khi lên đến trại này. Tôi đã từng thấy những người rách rưới đi lang thang trại, miệng lằm bằm nói gì chẳng ai hiểu, rồi thỉnh thoảng cười rú lên hay khóc thảm thiết. Nhìn những người đó tôi dù chưa biết sự việc đằng sau nhưng đã thấy đau quặn lòng. Thành ra, không phải ngẫu nhiên mà Du Tử Lê muốn mang xác mình ra biển khi qua đời:

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Nước ngược dòng sẽ đẩy xác tôi đi
Bên kia biển là quê hương tôi đó
Rặng tre xưa muôn tuổi vẫn xanh rì

Khi tôi chết hãy mang tôi ra biển
Đừng ngập ngừng vì ái ngại cho tôi
Những năm trước bao người ngon miệng cá
Thì sá gì thêm một xác cong queo.

Khi tôi chết hãy đem tôi ra biển
Và trên đường hãy nhớ hát quốc ca
Ôi lâu quá không còn ai hát nữa
(bài hát giờ cũng như một hồn ma)
Khi tôi chết nỗi buồn kia cũng hết
Đời lưu vong tận tuyệt với linh hồn.

Một VNCH thu nhỏ và oán thù

Trại Songkhla là một nước VNCH thu nhỏ. Trại có ban quản lí, do người Thái đảm trách, với sự hỗ trợ và cố vấn của người Việt tị nạn. Những người cố vấn thường là sĩ quan hay quan chức cấp cao trong chế độ VNCH trước đây. Nếu ngày xưa VNCH có tổng thống thì trại Songkhla có trưởng trại; ngày xưa có Bộ Nội vụ thì ngày nay có “Ban Trật tự”; Bộ Thông tin Văn hóa nay được được “đổi tên” thành “Ban Thông tin Văn hóa”; các anh quân nhân, sĩ quan VNCH ngày xưa nay trở thành “cựu quân nhân”, có người còn tự cho mình lên chức (xưa là trung úy nay thành đại úy!) Ngày xưa VNCH có hối lộ và tham nhũng, thì ngày nay ngay trong trại tị nạn, cũng có tham ô và hối lộ. Có khi cường độ tham nhũng còn trắng trợn hơn.

Bất cứ ai, kể cả tôi (dĩ nhiên), đều có thể thấy những hành vi tham nhũng trong trại tị nạn. Theo qui chế của Cao Ủy Tị Nạn, chúng tôi, những người mới nhập trại được cấp cho một cái áo thun, một cái quần, và vài lít gạo để sống. Nhưng nhóm Budi của chúng tôi chẳng được một món nào. Biết được thằng em họ nhập trại trước tôi đang làm trong ban phân phát hàng hóa, tôi hỏi nó tại sao tôi không được phát gì cả. Thằng em họ của tôi ôm bụng cười ha hả như chưa bao giờ vui hơn, và nói đại ý là “Ở đây, bọn nó bán hết rồi, anh làm gì có được mấy thứ đó! Anh có tiền thì mới mua được.” Tôi càng ngao ngán hơn và nghĩ chả lẽ mình phải chết đói ở đây. Nhưng thằng em tôi chạy đi đâu một lúc và mang về ba lít gạo cho anh em tôi đủ sống ít ngày.

Ban Bưu Tín cũng là một trung tâm khét tiếng ăn chận và ăn cắp tiền bạc của người tị nạn. Có nhiều thư từ và tiền bạc từ nước ngoài chẳng bao giờ tới tay thân nhân trong trại. Tôi cũng là một nạn nhân của ban Bưu Tín này. Và, nếu có tới người thân thì cũng bị cắt xén, ăn chận. Trong khi các Ban có cơ hội ăn hối lộ, ăn chận đồng hương thì cũng có ban chuyên hành hạ đồng hương.

Ban Trật Tự ở trại đáng lí ra gìn giữ trật tự thì họ lại kiêm luôn việc lạm dụng quyền và có khi khủng bố đồng hương. Họ đánh người một cách chuyên nghiệp, không nương tay, và vô cùng tàn nhẫn. Không biết bao nhiêu người tị nạn vô tội đã là nạn nhân của nhóm người ác độc này. Tuy cùng cảnh ngộ tị nạn, nhưng những người có quyền chức trong trại tị nạn không hẳn là thân thiện với những người kém may mắn hơn. Bị người ngoại bang sát hại đã là một sự nhục nhã, nhưng bị chính người tị nạn hành hạ lại còn đau lòng hơn. Songkhla là nơi mà tôi đã chứng kiến những hành động xấu xa và dã man của những người Việt đối với người Việt. Tôi nhủ thầm một ngày nào đó, tôi sẽ viết một cuốn sách và sẽ lấy tên là “Người Việt Nam Xấu Xa” cho cân xứng với cuốn “Người Việt Cao Quí”.

Ngày đầu vào trại, ngoài nhóm của chúng tôi đến từ Budi, còn có nhiều nhóm tị nạn từ các nơi xa xôi khác được chuyển về bằng xe bus. Từ ngoài cổng, chúng tôi đi vào vào trại chầm chậm theo hàng hai. Hai bên đường có đầy đồng hương đứng xem và ồn ào như một cái chợ. Người thì dán mắt tìm xem có thân nhân, bà con của mình mới sang không; người thì dò xét, nhận diện xem có kẻ thù năm xửa năm xưa nào đến trại hay không. Người có thân nhân thì nước mắt dàn dụa tay bắt mặt mừng. Người tìm được kẻ thù thì trở thành một kẻ hung bạo, tàn ác. Hôm tôi nhập trại, có một anh thanh niên nọ bị tố cáo là “cộng sản”, anh ta bị lôi kéo ra khỏi hàng, và bị đánh ngay trên đường vào trại, trước sự mục kích của người đứng hai bên đường. Thấy không ai can ngăn và vì không chịu được cảnh tượng như thế, tôi bước ra hàng định cản, nhưng một trong ba người đang hành hung dí ngón tay vào trán tôi gằn từng tiếng (mà tôi nhớ y như ngày hôm qua): “Đ M, muốn gì? Mày cũng là cộng sản hả?”. Tôi cũng sẵn sàng “chơi”, nhưng anh tôi lôi ra ngoài. Nếu không thì chắc chắc tôi cũng bị đánh tơi bời ngày hôm đó. Anh thanh niên đó bị đánh đến nổi không còn đi được, chở vào nhà thương điều trị, và nghe nói sau này anh bị tật. Đó là lần đầu tiên tôi mục kích cảnh người đánh người tàn bạo, không thương tiếc như thế.

Sau cú sốc đó, tôi lại bị một cú sốc khác lớn hơn. Sau khi nhập trại, chúng tôi bị dẫn độ vào một hội trường có nhân viên của Ban Trật Tự người Việt canh giữ chung quanh. Họ đóng cửa chính lại, nhưng phía ngoài cửa sổ thì có đầy người đứng xem. Mục đích của buổi họp này là nhằm phổ biến về nội qui sinh hoạt trong trại, nhưng thực tế thì lại là một cuộc thăm dò tìm kẻ thù, một trò khủng bố tinh thần. Người trên bục giảng là một ông chức sắc trong ban quản trị của trại và cũng là cựu quân nhân; bằng một giọng nói Bắc kì nghiêm trọng và vẻ mặt đằng đằng sát khí, ông ta yêu cầu chúng tôi phải khai báo thành khẩn là đã làm việc gì với chế độ cộng sản. Bắt chước một kĩ thuật đe dọa của công an, ông ta nói thêm rằng nếu không khai thì tình báo của ông ta cũng biết thôi, nhưng khai thì sẽ được khoan hồng. Tôi rất ngạc nhiên về thủ tục này, vì nghĩ là tất cả lời khai của mình đều đã được nhân viên Cao Ủy Tị Nạn LHQ ghi chép ở Budi; thế thì cuộc khai báo này là khai với ai? Tuy nhiên, tôi nghĩ vì từng làm việc dưới chế độ mới một thời gian, nên cũng định khai báo cho rõ ràng …

Nhưng hôm đó, may mắn cho tôi: một người em họ nhập trại trước tôi vài tháng đang đứng bên cạnh cửa sổ và đưa tay làm dấu hiệu cho tôi biết là đừng khai. Anh Ba Hà Nội ngồi cạnh tôi và có lẽ có kinh nghiệm hơn tôi về những trò này, cũng khuyên tôi là cứ lờ đi cái “lí lịch dính líu cộng sản” đó. Tôi và anh Ba Hà Nội thoát nạn. Nhưng không may mắn cho những người khác, trong đó có hai anh bạn của tôi, T và S trong tàu “Thủy Sản” từ Budi lên, những người đã thành thật khai báo là có làm việc sau 1975 như là tài công và thủy thủ. Hai anh này liền được “mời” lên Ban Trật Tự “làm việc”. Cả hai bị đánh nhừ tử. Mặt hai anh này bị sưng húp lên, mắt thì bầm, nhưng ánh mắt đầy vẻ hận thù. Tối hôm đó, tôi nằm ngủ bên cạnh hai anh phía ngoài căn chòi bên cái giếng nước, nghe anh T thề rằng sẽ có ngày trả thù bọn người mà anh ta cho là “lũ chó đẻ”.

Sự đời có vay thì có trả. T và S sau này được định cư ở Mĩ. Hai người vẫn giữ liên lạc với tôi một thời gian. Một hôm tôi nhận được thư của họ hân hoan báo cho tôi biết là họ đã trả thù những kẻ đánh họ trong trại tị nạn ngay tại phi trường. Số là họ nắm được thông tin về ngày giờ và nơi đáp máy bay mà những người đánh họ trong trại tị nạn, và thế là họ bao vây và trả thù. Họ không nói trả thù ra sao, nhưng chắc những kẻ hành hạ họ cũng bị một trận nhừ tử.

Tôi tin rằng có nhân quả. Những kẻ ám hại người khác thì không sớm hay muộn cũng bị trả giá. Trả giá không bằng cách này thì cũng bằng cách khác, có khi là cả sinh mạng. Tôi đã chứng kiến những người hành xử xấu với đồng hương bên trại tị nạn, sau khi định cư đều trở thành ‘thân tàn ma dại’ cả. Có một anh chàng Thái làm cảnh sát hay đánh người tị nạn, chẳng hiểu sao sang được Úc, và anh ta cũng bị nạn nhân của anh ta trả thù ghê gớm. Thời đó, người ta mua súng rất dễ, nên những trận bắn giết trong cộng đồng xảy ra. Những ngày nóng bỏng đó, những ai mang cái nhãn ‘cộng sản’ thì khó có thể tồn tại ở Úc. Nhân quả là có thật.

“Tại sao anh muốn đi Úc?”

Ở trong một môi trường khủng khiếp như thế, ai cũng mong mình được đi định cư ở một nước thứ ba càng sớm càng tốt. Cứ mỗi lần nghe Khánh Ly hát “Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về …” (bài Biển nhớ, một ca khúc rất nổi tiếng của ông Trịnh Công Sơn thường được dùng để tiễn người may mắn được nằm trong danh sách lên đường) là mỗi lần tôi buồn cho thân phận mình, chẳng biết bao giờ mới được đi và đi đâu.

Nhưng rồi ngày may mắn cũng tới. Theo định kì, nhân viên từ các tòa đại sứ ở Bangkok (mà người trong trại quen gọi là “phái đoàn”) xuống tận trại để chọn người định cư ở nước họ. Trong số các nước quan tâm tới người tị nạn, Mĩ, Úc, Gia Nã Đại, và Pháp thường hay phái nhân viên xuống trại phỏng vấn và làm thủ tục định cư. Tôi được tiếp xúc với phái đoàn Úc đầu tiên.

Sau khoảng ba tháng ở trại Songkhla, tôi nghe tin qua loa phóng thanh, có phái đoàn tòa đại sứ Úc xuống làm việc ở trại. Lúc bấy giờ, Úc là một nước khó nhất đối với người tỵ nạn; ngoài các tiêu chuẩn về nghề nghiệp, học vấn, v.v. họ yêu cầu người xin định cư phải viết một lá đơn bằng tiếng Anh, nói rõ tại sao muốn đi Úc. Lúc đó tôi không có lựa chọn hay ý niệm gì cụ thể là mình sẽ đi nước nào định cư. Nhưng vì Úc là phái đoàn đầu tiên xuống đây [sau ngày tôi nhập trại], và tôi đã quá chán ngán với cảnh đời trong trại, nên tôi quyết định xin gặp phái đoàn để hi vọng được đi Úc [hay bất cứ nước nào, miễn là rời khỏi cái trại khốn khổ này].

Nhưng cái khó là phải thảo một lá đơn. Lúc đó, trình độ tiếng Anh của tôi lúc đó quá tồi, do tôi học Pháp văn và khá tốt với tiếng Pháp, nhưng tiếng Anh thì ôi thôi … tồi lắm. Lúc bấy giờ, chú Ba Trung Tá đã được chuyển sang trại khác cùng người yêu của chú chờ ngày đi Mĩ. Tôi đành nhờ hết người này đến người khác viết đơn dùm tôi, nhưng chẳng ai thèm giúp tôi. Người thì nói bận, người thì đòi tiền, có người còn mắng tôi như tát nước vào mặt: “Sao không chịu học tiếng Anh hồi ở bển, học lớp mấy rồi mà kém quá vậy?” Lúc đó, tôi thấy sự độc lập thật là quí báu, và tôi tự nhủ thầm sẽ không nhờ vả người Việt trong tương lai và không kết thân với người Việt có học thức. Tôi vẫn giữ cái tâm nguyện này.

Thế là tôi lầm lũi lên thư viện trại, ngồi cả ngày lật quyển từ điển cũ kĩ chuyển từ tiếng Việt sang tiếng Anh lá đơn của tôi. Thỉnh thoảng có chêm vào chữ Pháp nữa, vì bí quá không biết tiếng Anh là gì. Tôi dịch từng chữ một, chia động từ loạn cả. Cuối cùng tôi cũng có một lá đơn.

Vài hôm sau, loa phóng thanh kêu tên tôi lên gặp phái đoàn Úc để phỏng vấn. Trong thời gian ngắn ở trại, tôi đã từng nghe qua nhiều câu chuyện về những người đi trước bị các phái đoàn từ chối cho đi định cư chỉ vì trả lời phỏng vấn không thông. Nhiều người bị phái đoàn Mĩ từ chối vì những lí chẳng đâu vào đâu. Không có logic hay tiêu chuẩn gì cụ thể cả. Nổi tiếng nhất là anh chàng nhân viên Toà đại sứ Mĩ mà dân tị nạn gọi là “Gà Đá” (vì anh ta xâm trên tay con gà đá). Anh này từng phục vụ ở Việt Nam trước 1975, nghe nói biết tiếng Việt kha khá, nhưng tánh tình thì thất thường. Tiêu biểu là một anh kia lên phỏng vấn, tay Gà Đá đòi anh tị nạn kéo tay với anh ta; kéo thắng, Gà Đá sẽ nhận. Kết cục, anh tị nạn hạ Gà Đá, và thế là Gà Đá nhận anh tị nạn đi Mĩ. Nhiều chuyện như vậy trong trại tị nạn lắm, mà nếu viết lại thì cả một pho truyện tiếu lâm.

Vì thế, tôi hồi hộp bước vào phòng phỏng vấn trong ánh mắt theo dõi của nhiều đồng hương khác. Anh chàng nhân viên sứ quán Úc cao, to, râu ria xồm xoàm, nhìn lá đơn của tôi và hỏi qua anh thông dịch viên:

Ai viết lá đơn này?

Tôi trả lời, cũng qua anh thông dịch viên: “Tôi viết.” Anh ta mỉm cười:

Anh có học tiếng Anh bao giờ chưa?

Dạ chưa,” tôi rụt rè trả lời.

Anh muốn đi Úc làm gì?

Dạ, đi học hay làm ruộng.

Tiếng Anh như vầy sao học được? Anh cũng không đủ tiền làm ruộng đâu!

Tôi ngỡ ngàng trước câu bình phẩm của anh ta (làm ruộng mà cũng cần tiền ư!). Trời ơi! Ở quê tôi, làm ruộng là nghề chẳng cần đồng nào cả; chỉ cần sức lực thôi. Đi học mà cũng không cơ hội à? Tôi thất vọng, và nghĩ rằng cái mộng đi Úc tiêu tan rồi. Nhưng anh ta hỏi tiếp:

Ngoài những lí do anh nêu trong đơn, anh còn có lí do nào khác để đi Úc không?

Tôi nhớ hồi còn đi học có thấy con Kangaroo và ước mơ có ngày được nhìn nó tận mắt. Tôi bèn thực tình nói:

Tại tôi muốn … nhìn thấy con Kangaroo!

Anh ta trợn mắt nhìn tôi một lúc, rồi đột nhiên bật cười ha hả, chìa một tay ra bắt tay tôi, tay kia anh đóng cái “rầm” cái mộc xuống tờ giấy và nói qua anh thông dịch viên: “OK, tôi nhận anh. Qua bên kia làm thủ tục mau đi!”

Trời ạ! Tôi sững sờ và chưa kịp nói lời cám ơn, thì anh ta đã khoát tay cho tôi đi qua phía bàn bên kia làm thủ tục khác. Đa tạ anh Úc! Đa tạ! Tôi không thể nào quên anh Úc này mà tôi coi như một ân nhân.

Câu chuyện tôi đi Úc bắt đầu bằng mẫu đối thoại đó. Tôi vẫn nhớ y như ngày hôm qua. Nhớ từng câu nói được thông dịch; nhớ ánh mắt anh ta; nhớ cái khoát tay; nhớ cái cảm giác lâng lâng, khó tả. Câu chuyện còn có cái kết khác, vì sau này tôi gặp anh nhân viên sứ quán này trong Đại học Sydney (lúc đó anh theo học MBA, và tôi làm trợ giảng). Nhưng chuyện này tương đối li kì, nên sẽ kể sau.

Có thể nói Songkhla là một trong những nơi ghi lại nhiều dấu tích đau buồn nhất của thuyền nhân Việt Nam. Đó là nơi tạm dung cho hàng trăm ngàn người tị nạn, và trong thời gian tạm dung, đã có không biết bao nhiêu sự kiện xảy ra. Những sự kiện đau buồn lẫn hạnh phúc đều có, buồn nhiều hơn. Một trong những sự kiện bi thảm nhất và buồn nhất là xác của 11 phụ nữ tuổi 20s bị trói cổ vào nhau, trôi dạt vào bãi biển Tha Sala. Những cô gái đó đã bị làm nhục trên biển và vứt xác xuống biển. Họ là đồng hương mình đó. Nỗi đâu dân tộc. Chúng ta không bao giờ quên và không bao giờ tha thứ những kẻ đã gây nên đau khổ cho họ.

Thật ra, sự kiện bi thảm đó chỉ là một trong hàng ngàn câu chuyện về thảm cảnh thuyền nhân ở Biển Đông vào thập niên 1970s và 1980s. Hàng trăm nấm mồ tập thể được người dân địa phương tốt bụng chôn cất; mỗi mồ có mấy chục người được chôn chung. Đảo Koh Kra khét tiếng là địa ngục trần gian, là nơi chôn vùi hơn 3000 đồng hương tị nạn. Thế giới đã nghe nhiều về “holocaust” bên Đức, “killing field” bên Campuchia nhưng thế giới chưa nghe hay biết nhiều về những cuộc thảm sát trên biển Đông. Do đó, sau này khi qua Sydney, tôi có tham dự một cuộc viết văn do tạp chí “The Good Weekend” tổ chức, và tôi được giải $500 với bài tôi đặt tựa đề là “Killing Sea” để ghi lại những biến cố biển bi thảm của thuyền nhân Việt Nam.

Panatnikom và những mảnh đời tị nạn

Theo thủ tục chung thì sau khi được một phái đoàn chấp nhận cho đi định cư, người tị nạn được chuyển đến một trại chuyển tiếp (gọi là “transit camp”). Sau khi được phái đoàn Úc nhận khoảng ba tháng, tôi được chuyển đi trại chuyển tiếp Phanat Nikhom ở miền đông Thái Lan. Sau này tôi mới biết Phanat Nikhom là một quận thuộc tỉnh Chonburi, nơi có bãi biển Pattaya rất nổi tiếng. Tiu nhiên, chúng tôi không có cơ may ở Pattaya, mà là một nơi có thể nói là …. ‘khỉ ho cò gáy’.

Thật ra, lúc tôi vào trại Songkhla thì cũng là lúc trại chuẩn bị đóng cửa. Nói là “chuẩn bị đóng cửa”, nhưng cũng phải 5-6 năm sau thì mới thực hiện được ý định đó, một phần là do làn sóng người tị nạn đang lên cao, nên các chính phủ nước phương Tây gây áp lực lên Thái Lan không nên đóng cửa trại. Nhưng Thái Lan có lẽ cũng quá mệt mỏi với người tị nạn, không chỉ từ Việt Nam mà còn từ Lào và Campuchea, nên họ phải làm cái việc mà họ làm, tức đóng cửa trại.

Hôm chuyển trại từ Songkhla đi Phanat Nikhom xảy ra một tai nạn thương tâm. Nếu tôi nhớ không lầm, từ Songkhla đến Phanat Nikhom khoảng một ngày đường (bằng xe bus). Xe tôi đi qua những đồng ruộng, đồi núi chập chùng của Thái Lan mà tôi cho là rất đẹp, không thua gì cảnh đồi núi Việt Nam. Đang chiêm ngưỡng vẻ đẹp của rừng núi chưa tới đâu, tôi giật mình nhận ra một tai nạn kinh hoàng trong đoàn xe bus. Chiếc xe bus phía sau xe tôi, không rõ do anh tài xế bất cẩn hay ngủ gục, bị lật xuống đường ruộng. Một anh tị nạn trẻ tuổi ngồi ở cửa sổ bị đứt lìa một cánh tay khi chiếc xe chạm vào đường nhựa và kéo lê cả mười thước. Tôi xuống xe nhìn thấy anh ta đang nằm bất tỉnh bên lề đường, cánh tay bị đứt lìa đã biến thành màu nâu đen nằm lăn lóc bên đường lộ. Bị ám ảnh cái cảnh tượng khủng khiếp đó, nên mấy ngày sau, tôi không ăn uống gì cả. Sau này, tôi nghe nói anh bạn trẻ đó được đền 50 ngàn bhat!

Thời đó (1981), Phanat Nikhom là một trại thuộc vùng giữa nơi “đồng không hiu quạnh”. Khi tôi đến thì thấy đất cát vàng như sa mạc, rất ít cây lá màu xanh. Nước uống và nước sinh hoạt cũng không có, mà phải khoan giếng hoặc được tiếp tế từ bên ngoài bằng các xe tải. Mỗi ngày, mỗi người tạm trú được cung cấp khoảng 20 lít nước dùng cho vệ sinh cá nhân, giặt giũ và nấu nướng. Có thể nói người tị nạn đến đây đã giúp mở mang một vùng kinh tế cho tỉnh. Tôi hay nói đùa với bạn bè rằng đây là vùng kinh tế mới của thuyền nhân. Sau này (2007) trong một chuyến công tác bên Thái Lan, tôi quay lại đây thì thấy nhà dân mọc lên san sát nhau, cây cối um tùm, xanh tươi. Hoàn toàn không có dấu vết tị nạn gì cả. Phanat Nikhom ngày nay là một đô thị khá sầm uất.

Nhìn toàn cảnh và chung quanh thì rất ít nhà dân. Có lẽ đó cũng là ý đồ của chính quyền Thái Lan không muốn người tị nạn tiếp xúc với cư dân địa phương. Tuy nhiên, người tị nạn vẫn có cách tiếp xúc với người dân địa phương và mua hàng hóa từ họ trước sự làm lơ của cảnh sát Thái Lan. Có tiếp xúc với người địa phương mới thấy họ rất ư là dễ mến. Chỉ nhìn ánh mắt cũng thấy họ thật thà và thương cảm. Họ cho chúng tôi khá nhiều đồ. Họ cũng bán những món hàng như gạo, nước mắm, quần áo cũ, v.v. cho người tị nạn. Tuy nhiên, người tị nạn Việt Nam thì rất coi thường dân địa phương, có lẽ vì tiêm nhiễm cái thói huênh hoang xem người ta là ‘mọi’ chăng?

Việt – Miên – Lào

Trại Phanat Nikhom lớn hơn trại Songkhla nhiều, có thể chứa tới cả hàng 50 ngàn người. Không giống như Songkhla, trại này có nhà hẳn hoi cho người tạm trú. Hàng ngàn dãy nhà được xây cất bằng các vật liệu như fibro, tole, và xi măng. Mỗi nhà chứa khoảng 10 đến 15 người, và cũng không có ngăn chia phòng ốc gì cả. Lúc chúng tôi mới nhập trại, thì các khu nhà này mới vừa mới xây xong. Do đó, trong nhà hoàn toàn trống tuếch, chúng tôi phải ngủ dưới sàn xi-măng, nhưng như vậy đã là quá sang trọng rồi!

Khác với trại Songhla chỉ có người Việt tị nạn, còn tại đây trại Phanat Nikhom có đủ ba nhóm người tị nạn từ Việt Nam, Lào, và Kampuchea. Trại do đó được chia thành 3 khu riêng biệt dành cho người Việt, Lào và Miên. Khu người Việt lớn nhất, nhưng cũng là khu xảy ra nhiều vấn đề nhất làm đau đầu người Thái. Trong khi hai nhóm tị nạn kia có vẻ an phận, nhóm người Việt có lẽ do tổ chức chặt chẽ hơn, có trình độ văn hóa hơn, (và có lẽ cũng tự hào hơn), nên người Việt không tỏ ra phục tùng ban quản trị Thái. (Trại này hoàn toàn do các viên chức ngành cảnh sát hay quân đội người Thái điều hành, người Việt chỉ làm phụ tá, hay trong một vài trường hợp, làm tay sai cho họ. Người Việt đi đâu cũng có người trở thành tay sai.) Thỉnh thoảng người Việt kéo nhau biểu tình, gây áp lực đến Liên hiệp quốc về những chính sách công cộng ở đây. Có lẽ một phần vì thế mà các viên chức người Thái không ưa người Việt ở đây.

Trại Phanat Nikhom là nơi qui tụ rất nhiều nhân vật nổi tiếng của miền Nam thời trước 1975. Hầu như ai đi tị nạn ở Thái Lan đều qua trại này, nên đều có dịp gặp hay quen biết nhau. Lúc tôi lên thì đã có những nhóm văn nghệ hình thành. Thời đó, ca sĩ Tuấn Anh (người có trang phục khác thường) đã nổi tiếng là một người hát hay. Nhưng những show ca nhạc thường được tổ chức bên kia trại, nên chúng tôi thỉnh thoảng phải hối lộ cho cảnh sát Thái để họ cho qua xem văn nghệ!

Cuộc sống ở đây có phần chật vật hơn so với Songkhla. Về sinh hoạt và ăn uống ở đây (trại Phanat Nikhom) thì theo nguyên tắc là do nhà thầu Thái Lan cung cấp. Như nói trên, nước được vận chuyển từ ngoài vào, và họ chia bình quân từng đầu người. Thức ăn thì do nhà thầu nấu trong trại. Vì nấu cho hàng ngàn, hàng vạn người ăn (theo kiểu XHCN), nên phẩm chất rất tồi tệ. Nếu chỉ nhìn thoáng qua những mảng cơm nhão như cháo hay thiu thì đủ biết tình hình tồi tệ như thế nào.

Có một món mà chúng tôi đặt tên là “gà lựu đạn”. Gà lựu đạn là con gà chỉ có xương, vì người ta lấy thịt đem bán chỗ khác. Dân tị nạn chỉ được ăn xương thôi. Thật ra, nhìn vào xuất ăn, người ta có thể được tha thứ nếu nghĩ đó là một một loại thức ăn cho thú vật, chứ không phải cho con người! Nhưng dưới bàn tay chế biến tài tình của các bà nội trợ Việt, những con “gà lưu đạn” đó được biến hóa thành những món ăn rất ngon miệng. Mỗi ngày, chúng tôi (đám thanh niên, đàn ông) đi nhận thức ăn về, các bà các cô trong nhà thì chuẩn bị nấu nướng lại, và cả nhà (vài chục người) cùng ăn chung. Bữa ăn nào cũng ngon và vui. Kể ra thì thời gian ở đây cũng là một quãng thời gian có nhiều kỉ niệm.

Những mảnh đời …

Đời sống người Việt ở trại Phanat Nikhom có nhiều chuyện cười ra nước mắt. Gia đình đổ vỡ, chuyện tình éo le, sư sãi hoàn tục, linh mục dỏm, v.v. đều có đủ. Một nhà sư nọ, có lẽ vì chân tu chưa tới, nên đã dan díu với một ni cô khác cũng tu chưa tới. Sự việc hai người bị bắt quả tang trong lúc hành lạc được đưa ra công chúng và ngươi Thái, vốn mộ đạo Phật, được một dịp khinh khi người Việt. Xấu hổ.

Những mối tình phi biên giới và tuổi tác cũng nảy nở ở đây. Bên cạnh nhà tôi, một ông cựu thiếu tá nọ tằng tịu với một cô sinh viên mà tuổi đời chỉ bằng tuổi con ông cũng gây ra nhiều bàn tán xôn xao. (Nếu bây giờ thì chắc chẳng ai quan tâm đến sự khác biệt về tuổi tác, nhưng thời đó thì người mình còn “bảo thủ”). Cái nắng cháy da của vùng sa mạc Thái Lan không làm chùng bước yêu đương, mà còn tăng nhiệt độ cho hai con tim nóng bỏng đang yêu, họ âu yếm quyện vào nhau mỗi trưa hè trên chiếc võng một cách cực kì tự nhiên và hết sức “Tây”! Ban đầu bà con còn thấy lạ lùng và khó hợp nhãn quang, nhưng dần dà rồi cũng quen đi. Không ai biết kết cục của chuyện tình này ra sao.

Ở trong trại có rất nhiều nhóm thiện nguyện từ các nước như Mĩ, Úc, Canada đến giúp người tị nạn. Đa số là các nhóm tôn giáo, nhưng cũng có những nhóm phi chính phủ và không liên quan gì đến tôn giáo. Họ hoạt động rất nhịp nhàng với nhau, mỗi nhóm phụ trách một mảng, và không trùng hợp nhau. Chẳng hạn như nhóm phụ trách tiếng Anh, nhóm lo thư viện, nhóm dạy về đời sống mới bên Tây, thậm chí có cả các nhóm truyền đạo. Những nhóm này thường sử dụng người tị nạn để làm việc, vì họ biết trong cộng đồng người tị nạn có nhiều người giỏi tiếng Anh và có kinh nghiệm điều hành tổ chức. Phải qua đến đây mới thấy người Việt chúng ta nổi trội hẳn so với người Lào và Miên. Nhìn qua các nhân viên làm việc cho các nhóm thiện nguyện, có thể nói gần 100% là người Việt, số người Miên và nhất là Lào thì rất hiếm.

Học tiếng Anh

Riêng tôi, khi lên trại này, tôi cũng thay đổi. Thay đổi lớn nhất là tôi có cơ hội đi học tiếng Anh. Lúc đầu tôi ghi danh vào một lớp dạy tiếng Anh do nhân viên thuộc các tổ chức từ thiện giảng dạy. Không biết vì chính sách hay vì không rành phương pháp sư phạm, họ dạy rất thực tế những câu nói thông thường, không cần để ý tới văn phạm, cú pháp, lúc nào cũng “How are you”, “I am fine, thank you”, “My name is …”, v.v. Chỉ chừng một tuần theo học, tôi đã chán ngấy và bỏ học. Tôi không muốn học kiểu đó, mà phải học từ căn bản. Nhưng sau này tôi hiểu tại sao họ dạy như thế, vì mục tiêu là làm sao học viên có được những câu chữ thông thường để đi xin việc và giao tiếp, chứ mục tiêu không phải là khoa bảng.

Sau vài tuần nhập trại, tôi xin được một việc làm thủ thư trong thư viện của một tổ chức tôn giáo Tin Lành “Assembly of God” ngay trong trại. Thư viện này do một anh tị nạn người Miên làm sếp. Anh này rất giỏi tiếng Pháp và tiếng Anh, và nhìn qua phong cách thì chắc ngày xưa cũng là quan chức trong chính quyền hay hệ thống giáo dục bên đó. Sáng nào anh ta cũng vào thư viện, chào hỏi mọi người một cách thân mật, nhưng phong thái vẫn toát ra là một ‘leader’ đúng nghĩa, vừa có học thức, vừa có tư cách lãnh đạo.

Công việc thủ thư của tôi là một cơ hội trời cho để học và đọc tiếng Anh. Mỗi ngày, tôi có nhiệm vụ việc sắp xếp sách báo cho có thứ tự. Mà, thư viện thì nhỏ, chỉ cao lắm là 1000 cuốn sách và tạp chí, chủ yếu là từ nước ngoài. Có khá nhiều sách báo tiếng Việt là từ cộng đồng người Việt ở Mĩ gửi tặng. Tôi đọc rất nhiều sách báo, tiếng Việt có, tiếng Anh có, tiếng Pháp cũng có, và học được rất nhiều điều. Nhưng cái công việc nhàn hạ quá, sau khi làm xong việc tôi chưa biết làm gì ngoài đọc sách. Phải vài ngày sau, tôi mới biết dùng thì giờ nhàn hạ này để học tiếng Anh. Tôi chọn cho mình một cái góc nhỏ của thư viện, và ngày ngày ‘dùi mài kinh sử’ ở đây.

Cách học của tôi rất chậm. Mỗi sáng, tôi gom góp những tờ báo gói rau cải, xếp lại cho phẳng rồi đọc tin tức. Đó là những tờ nhật báo tiếng Anh của Thái Lan như “The Nation” và “The Bangkok Post“. Những bản tin liên quan đến Á châu có những danh từ tôi thấy quen quen, nhưng không chắc. Thế là sáng nào tôi cũng tìm những chữ mình muốn học, sau đó vào thư viện tra từ điển xem cách phát âm ra sao, nguồn gốc của chữ, cách dùng như thế nào, v.v. Có khi suốt ngày tôi để tâm học chỉ một chữ! Cái thú vị của cách học từng chữ này là nó giúp cho tôi có căn bản và tự tin trong cách phân biệt và dùng tiếng Anh cho chính xác. Hồi đó, tôi học bằng cuốn Từ điển Longman, tôi thích cuốn này lắm nên có xin về làm kỉ niệm cho đến ngày nay.

Học từ căn bản dĩ nhiên là chậm và khó, nhưng lúc nào cũng hay hơn học theo kiểu tài tử trên ngọn. Tôi ghi chép rất cẩn thận những qui luật về văn phạm tiếng Anh. Có khi tôi viết ra cách phát âm và tự lầm bầm đọc (chắc như người điên). Sau vài tháng tự học, tôi thấy cuốn sổ tay của mình đã trở thành một cuốn sách văn phạm tiếng Anh, và tôi cũng thấy mình tự tin hẳn lên, mặc dù nói chưa được nhiều, vì không có cơ hội thực hành đối thoại.

Trò con nít (Trạng Quỳnh)

Học tiếng Anh hay nhất là phải có một người bạn. Thời đó, tôi may mắn quen với một anh bạn gốc Huế tên A (sau này định cư ở Melbourne và tôi mất liên lạc). Chính anh A nói với tôi là mình phải học tiếng Anh từng chữ một. Anh lí giải, chỉ cần có vốn ngữ vựng khoảng 2500 từ là mình “nắm” được tiếng Anh. Nói là 2500 từ, nhưng ‘phăng’ ra thì cũng thành 10,000 từ. Trưa nào tôi và anh ấy cũng đố nhau về tiếng Anh. Có những chữ tôi biết, anh ấy không biết, hay ngược lại, và thế là vốn ngữ vựng tăng lên nhanh chóng. Học nhau từ đố chữ này cũng hay, vì nó giúp mình nhớ lâu.

Có một chuyện buồn cười và trẻ con mà tôi nghĩ cần phải kể ra ở đây. Khi thấy mình có đủ “võ chữ” anh A và tôi bàn cách “phục hận” cái anh chàng sếp người Miên. Anh A nói vì anh ta xem thường bọn mình quá. Anh A và tôi bày cách ‘phục kích’ rất hết sức … Trạng Quỳnh. Chúng tôi tìm cách la cà với anh ta, rồi đưa ra những chữ thật khó để xem anh ta có bí không; khi anh ta bí, chúng tôi nói “trình độ của mày như vậy mà làm sếp tao à?” Anh người Miên lớn tuổi hơn và kinh nghiệm đời hơn nhìn chúng tôi mỉm cười và nói “Cố gắng đi học thêm đi mấy ông tướng!”

Đúng là cái trò nhỏ nhặt và ranh mãnh. Cái trò đó chúng tôi mang từ Việt Nam sang đây và khi va chạm với thế giới lớn hơn mới thấy mấy trò đó trẻ con biết là dường nào. Tưởng rằng hơn người ta một chữ hay bắt bẽ người ta một điều gì đó là mình “ngon lành” lắm, nhưng trong thực tế nó chỉ chứng tỏ cái hèn mọn và nhỏ mọn của mình. Và, dốt nữa. Anh A và tôi học được bài học này từ anh sếp người Miên. Tôi rất phục anh sếp này, giờ không nhớ anh tên gì, chỉ nhớ anh đi định cư ở bên Pháp.

Bangkok hoa lệ và tử tế

Ở trại Phanat Nikhom được khoảng 6 tháng, tổ chức ICM (Inter-governmental Committee for Migration) của Liên hiệp quốc sắp xếp cho tôi lên đường đi định cư. Nhóm chúng tôi chỉ đi Úc, và trong chuyến đi Úc có tất cả 54 người. Chúng tôi khởi hành bằng xe bus từ Phanat Nikhom lên Bangkok.

Sau khoảng 5 giờ đi đường, chúng tôi đến thành phố Bangkok. Sau cả năm trời bị giam cầm trong các trại tị nạn ở rừng sâu núi thẳm, tôi đến Bangkok bằng một tâm trạng của một người nhà quê ra tỉnh. Lần đầu tiên trong đời thấy xa lộ chồng chéo lên nhau và xe hơi chạy như mắc cửi, tôi trố mắt nhìn những building cao vút, những khu phố tấp nập, tôi thấy Bangkok đã bỏ Sài Gòn quá xa. Lúc đó tôi mới thấy “Hòn ngọc Viễn Đông” Sài Gòn của Việt Nam quá ư là lạc hậu và thậm chí bé nhỏ!

Nhưng lên Bangkok, chúng tôi lại được chuyển vào một … trại giam khác. Đó là trại Immigration Detention Center (IDC). Đó là trại giam nằm trong trung tâm thành phố, có rất nhiều người ngoại quốc. Trại giam hơi âm u, có lẽ chúng tôi đến đó trong một ngày mưa, nhưng có ánh sáng mặt trời từ ngoài. Tất cả chúng tôi được dồn vào một cái phòng khá lớn, nhưng đủ cho khoảng 40 người, tất cả đều chờ để lên máy bay đi Úc. Chúng tôi ở đây được hai ngày. Ngày nào cũng được cho ăn uống đàng hoàng, và món ăn rất sạch sẽ.

Hai ngày sau, một buổi sáng, xe bus đến nơi chở chúng tôi ra phi trường. Ui chao, lần đầu tiên tôi thấy phi trường Bangkok quá rộng lớn và quá sang trọng. Đi đến đâu cũng toàn thấy những hàng quán đèn điện sáng trưng, ai cũng tỏ ra sang trọng và lịch sự. Ngay cả mấy người cảnh sát cũng rất thân thiện. Nhưng chúng tôi không được rời hàng, mà phải đi theo người hướng dẫn cứ như là đàn cừu theo người chăn cừu vậy.

Hôm đó tôi diện một bộ đồ, quần tây đen, áo sơ mi trắng, và mang đôi dép. Lúc ra phi trường mới thấy mình quá “quê mùa” vì ai cũng mang giầy! Nhưng tôi và nhiều người cùng cảnh ngộ lúc đó lấy tiền đâu mà mua giầy. Bây giờ nếu có được tấm hình hôm tôi và đoàn tị nạn ra phi trường chắc là thú vị lắm.

Ngồi trong phòng chờ đợi ở phi trường, trong lòng tôi lúc đó buồn vui lẫn lộn. Lúc đó, tôi không bao giờ có cảm tình (nếu không muốn nói là ghét) chính phủ Thái Lan, vì thái độ làm ngơ và bất nhẫn của họ trước thảm nạn trên Biển Đông, nhưng dù sao đi nữa, đất Thái cũng đã cưu mang tôi trong thời gian khó khăn nhất, và vì đã có một sự gắn bó như vậy, tôi cảm thấy buồn buồn khi phải chia tay Thái Lan. Cuộc chia tay nào mà chẳng buồn! Vui là vì tôi biết sắp tới đây mình sẽ được tự do, được sang một xứ sở mà tôi nghĩ chắc văn minh lắm, hiện đại lắm, và nhất là không còn bị giam cầm trong các trại tị nạn nữa.

Nghĩ lại cuộc đời là ‘một cõi đi về’. Phải hơn chục năm sau tôi mới có dịp quay lại Thái Lan. Lần đầu chỉ là chuyển chuyến bay đi Âu châu; lúc đó đêm về ngồi trong phòng lầu 25 khách sạn Montien nhìn về Việt Nam mà buồn vô hạn, vì chỉ 1 giờ là về đến nhà, nhưng không thể. Rồi đến giữa thập niên 2000s, tôi có dịp đi lại Thái Lan nhiều hơn, có lần được diện kiến cả hoàng gia Thái Lan (cô công chúa [?] và một bà công nương). Lúc đó, tôi mướn một chiếc taxi đi về trại Phanat Nikhom để tìm lại kỉ niệm cũ, nhưng tất cả đã thay đổi, không còn gì để tìm. Rồi vài năm sau, lại có dịp ở Thái Lan cả tháng trời nhân dịp “sabbatical leave”, có dịp đi nhiều nơi trên đất Thái mới thấy Việt Nam mình tụt hậu ra sao.

Nhưng thôi, hãy cứ hưởng trọng niềm vui trong giây phút hiện tại. Nghĩ ngợi một hồi thì có người của ICM lùa chúng tôi lên máy bay. Trời ơi! Lần đầu tiên trong đời thấy máy bay sao mà lớn quá chừng (hồi xưa cũng thấy máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhứt, nhưng không lớn như cái máy bay này). Sau này tôi mới biết là Boeing 747, của hãng hàng không QANTAS của Úc. Chúng tôi được sắp xếp ngồi ở những hàng ghế sau cùng trong máy bay. Lúc đi ngang qua các hàng ghế, thấy hành khách nhìn chúng tôi với ánh mắt vừa ái ngại vừa thương cảm.

Tôi được sắp xếp ngồi một cái ghế bên cửa sổ. Đây là lần đầu tiên tôi được đi máy bay, nên thấy cái gì cũng mới với mình. Cứ nhìn ra cửa sổ thấy máy bay tập nập, xe cộ đi lại liên tục, một quang cảnh rất nhộn nhịp. Nhìn trên mấy hàng ghế thì thấy ai cũng sang trọng, có người phì phèo thuốc lá xem ra rất thoải mái. Còn tôi thì cứ miên man suy nghĩ về nước Úc. Tôi lo thầm, chẳng biết mình sẽ làm gì ở xứ sở mới. Nói như anh chàng phái đoàn Úc, tiếng Anh thì không đủ để đi học lại, còn làm ruộng thì cũng chẳng có tiền. Phía trước là một tương lai mờ mịt.

Đang suy nghĩ miên man thì chiêu đãi viên mang đến cho chúng tôi khăn lau mặt thơm phức và li nước cam vàng tươi vô cùng mát mắt. Sau nhiều tháng bị đối xử như tù nhân, đây là lần tôi được phục vụ và đối xử tốt. Tôi đã thật sự xúc động, và ngạc nhiên không hiểu sao họ lại tử tế với mình như thế. Tôi nhận ra rằng mình đã đến thế giới văn minh.

Phần II. Những ngày đầu trên đất Úc

Sau 3 lần chuyển trại, lần này thì tôi được đi Úc thật sự. Thật ra, lúc lên máy bay tôi chưa biết mình đi đâu hay sắp định cư ở thành phố nào! Chỉ biết đi khỏi nơi khổ cực này để làm lại cuộc đời là ok rồi. Hóa ra là tôi được đi Sydney. (Hồi đó, có người được ‘phân công’ đi Darwin, Melbourne, Brisbane, v.v.) Lúc đó, không ai hình dung ra nơi mình sắp tới như thế nào, dù đã qua vài lớp học về văn hóa nước Úc và phong tục tập quán người Úc.

Sau hơn 8 giờ bay, máy bay đang hạ dần cao độ, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, thành phố Sydney đã hiện ra trong tầm mắt. Tôi sắp tới Úc. Cái ý tưởng đó làm cho tôi bồi hồi, xúc động một cách khó tả. Trên máy bay, cô tiếp viên nói trên loa câu “Welcome to Sydney, Australia!” (Chào mừng các bạn đến Sydney, Úc Đại Lợi) và thông báo cho chúng tôi biết hôm nay là ngày 26 tháng 1 năm 1982, ngày Quốc khánh của Úc. Tôi đến Úc đúng ngày Quốc Khánh!

Sydney không ‘hoa lệ’

Mới ra khỏi phi trường và qua hải quan, tôi đã thấy choáng với cái nóng. Phải nói là nóng hừng hực. Người bạn đón tôi nói rằng nhiệt độ hôm đó lên đến 42 độ C. (Nhưng sau này có người kiểm tra thì không phải nóng như vậy, chỉ chừng 38-40 gì đó, nhưng vẫn là rất … nóng). Úc đang vào mùa hè. Hèn gì những người đứng đón thân nhân ở phi trường ai cũng mặc đồ mát mẻ, nam thì quần short áo thun, nữ cũng vậy. Trông phi trường và quang cảnh chung quanh chẳng có gì là ‘hoa lệ’ cả, thậm chí có phần kém sang trọng hơn phi trường Bangkok. Thôi thì: Chào mừng bạn đến Sydney!

Đứng xếp hàng một hồi thì được nhân viên di trú “lùa” lên một cái xe bus (lúc đó là rất lớn với tôi). Nhóm chúng tôi chắc cũng độ hơn 30 người, chẳng ai biết mình đi đâu, nhưng chỉ biết là từ này mình hưởng tự do sau những ngày tháng cực khổ và đắng cay ở Thái Lan. Xe chạy bon bon trên đường, chẳng thấy thành phố hay nhà cao tầng đâu cả, mà chỉ toàn là nhà cửa bằng gạch đỏ. Nhà nào cũng có vẻ rộng rãi, tươm tất, và hầu như tất cả đều có sân cỏ phía trước. Tôi còn nhớ xe chạy dọc theo một con lộ rất đẹp, hai bên là cây cối um tùm, xanh tươi, sạch sẽ. Sau này tôi mới biết đó là con lộ Henry Lawson Drive (tên của một nhà thơ nổi tiếng người Úc). Một lần nữa, không hề thầy Sydney tráng lệ gì cả. Thật ra, nhìn có vẻ đồng quê hơn, nhưng là đồng quê quá đẹp.

Sau độ 30 phút thì đến một khu nhà rất rộng tên là Cabramatta Hostel. Lúc đó, tôi còn chưa biết hostel là gì, vì hồi nào đến đó tôi chỉ nghe đến hotel, chứ có biết hostel là gì đâu. Cabramatta Hostel nằm trên một cái đồi thuộc vùng Cabramatta, nơi mà sau này trở thành “thủ đô” của người Việt ở Sydney. Từ Hostel đi bộ ra khu phố Cabramatta chừng 15 phút. Cabramatta nằm ở vùng Tây Nam Sydney, là nơi mà dân địa phương gọi là ngoại ô lao động, ý nói người nghèo. Thời đó (tức ~40 năm trước) Cabramatta là một nơi bán nông thôn. Đường xá rất ít xe qua lại, các dãy phố tương đối cũ kĩ nằm im lìm, người đi phố chẳng bao nhiêu. Năm 1982, Cabramatta chỉ có 1 nhà hàng Việt Nam và 1 tiệm thực phẩm Á châu duy nhất nằm trên đường John. Chúng tôi là khách hàng trung thành của tiệm thực phẩm này, còn quán phở kia thì … chưa đủ tiền để phung phí.

Hostel này có chừng 10 dãy nhà hai tầng. Mỗi dãy nhà có ~20 căn hộ, mỗi căn có 2 phòng ngủ và 1 phòng khách & bếp. Người tị nạn và di dân khắp nơi trên thế giới được qui tụ ở đây một thời gian để học tiếng Anh và văn hoá Úc trước khi ra ngoài ổn định cuộc sống. Ngoài người Việt, Khmer, Lào ra, còn có người Nga, Ba Lan, Tiệp, Hungary, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. Nhưng có lẽ đông nhất vẫn là người Việt. Tôi ở hostel này được 3 tháng trước khi tìm được việc làm, mướn nhà và dọn về vùng Campsie (gần Sydney hơn).

Bất đồng văn hóa xảy ra ngay từ những ngày đầu tiên ở hostel này. Nói chính xác hơn là văn hóa ẩm thực. Ở đây, người ta có nhà bếp rất lớn và đầu bếp hẳn hoi. Nhìn cái nhà bếp rộng y như một căn nhà 3 phòng! Nhà bếp phục vụ 3 bữa ăn: điểm tâm, trưa, chiều. Sáng nào cũng có những món thuần Tây, như bánh mì nướng, trứng chiên, bacon, khoai tây, cà nướng, v.v. Những món mà tôi hay thấy trên phim thời còn ở Việt Nam, và nghĩ rằng chắc sang và ngon lắm. Nhưng thử rồi mới thấy hỡi ơi! Hồi nào đến giờ chỉ quen mì, hủ tíu, phở, chứ đâu quen mấy món này. Tuy nhiên, phải cả năm sau tôi mới làm quen với các món ăn sáng như thế này, và khi đã quen thì lại thấy … ghiền.

Buổi trưa và chiều còn ‘thê thảm’ hơn nữa. Thoạt đầu, nhà bếp phục vụ những món như bò, trừu, gà, rất ít thịt heo. Lâu lắm mới có cơm. Mà, cách họ nấu dĩ nhiên là rất khác chúng ta. Chẳng hạn như cơm họ nấu rất nhão, rất khó ăn; còn các món thịt thì họ dùng sữa rất nhiều, và cách xử lí chưa tốt hay sao ấy nên vẫn còn mùi hôi. Tuy nhiên, nhìn từ ngoài thì thấy rất hấp dẫn, nhưng ít ai dám ăn. Lúc đó, người Việt chúng ta chưa quen ăn thịt trừu. Thành ra, hôm nào có thịt gà thì các dòng xếp hàng toàn là ‘đầu đen’ (dân Á châu); hôm nào có thịt trừu và bò thì các dòng xếp hàng toàn là dân da trắng. Những hôm nào nhà bếp phục vụ thịt trừu, chúng tôi đi mua mì gói về nấu ăn. Nhưng nhà bếp nắm lấy tình hình rất nhanh, nên sau này họ tuyển đầu bếp Á châu. Thế là từ đó chúng tôi được ăn cơm, ăn thịt gà nấu theo kiểu Á châu, có khi có cả nước mắm nữa.

Nhớ nhất là món gà chiên của Kentucky Fried Chicken (sau này đổi tên là KFC). Nhớ ngày đầu tiên, anh Trung hỏi thèm món gì ở Úc, tôi nói ngay thèm gà nướng hay thấy trên phim và trái táo. Anh cười nói: tưởng gì, mấy món này dễ mà. Anh đi ra KFC mua 2 con gà nướng về và một bịt táo, nhiều ơi là nhiều, và thêm bao nhiêu thức ăn khác. Ôi, nhìn con gà được chiên/nướng vàng ơm, nó hấp dẫn làm sao, y như trong phim Tây tôi xem trước 1975. Tôi thử ngay cái đùi gà, thì thấy hơi lạ, sao nó không giống gà bên Việt Nam. Đùi gà gì mà mềm quá. Còn nướng thì chẳng có ngũ vị hương gì cả, chẳng có mùi thơm. Nói chung là … dở. Nhưng phải ‘thanh toán’ cho hết. Ăn một lần là không muốn quay lại. Phải mấy năm sau tôi mới dám ăn món gà nướng này. Hóa ra, sau này mới biết gà bên này toàn là gà công nghiệp, nó như bột thôi, chứ chẳng ngon lành gì cả.

St Vincent de Paul

Ngày đầu tiên, sau khi làm thủ tục, tôi được cho 30 đôla Úc. Đó không phải là tiền của Chính phủ, mà tiền của Hội từ thiện St Vincent de Paul. Ngoài ra, tôi còn cho một cái phiếu để lãnh quần áo. Tôi đến Úc với 0 cent trong túi và đúng 2 bộ đồ. Cầm cái phiếu đi lãnh đồ, tôi tưởng là đồ mới, nhưng không phải. Đó là cái tiệm bán quần áo cũ cho người nghèo do Hội St Vincent de Paul điều hành. Nói là đồ cũ nhưng còn mới và đẹp với tôi lắm. Theo qui định, tôi được chọn 3 bộ đồ (quần và áo) và một đôi giày (vì tôi đến Úc bằng đôi dép, dân vô sản chính hiệu!) Cho đến nay, tôi vẫn giữ 3 bộ đồ này làm kỉ niệm, còn đôi giày thì đành phải “chia tay” với nó vài năm sau. Với vài bộ đồ như vậy là cũng đủ trong bước đường đầu tiên trên đất Úc.

Kể ra cũng hay, cuộc đời tôi ở Úc gắn liền với cái tên “St Vincent.” Ngay từ đầu được hưởng lợi từ St Vincent de Paul, đến khi sau này thì làm cho Bệnh viện St Vincent’s gần 30 năm! Có thể nói sự nghiệp tôi gắn liền với nơi này. Đó cũng chính là lí do tại sao sau này tôi tích cực cho quần áo và cho tiền Hội St Vincent de Paul.

Lớp học và cô giáo đầu tiên

Có quần áo rồi, đến lúc đi học tiếng Anh. Những ngày đầu tôi cũng ghi danh học tiếng Anh. Lớp học có rất nhiều di dân từ khắp nơi, nhưng đông nhất vẫn là Việt Nam. Các học viên Đông Âu nói tiếng Anh lơ lớ rất khó nghe, mà di dân Á châu còn … tệ hơn. Khi có dịp tiếp xúc với các di dân tị nạn từ các nước như Ba Lan, Hungary, Tiệp, v.v. tôi phát hiện ra là họ có những nỗi lo y chang như người Việt Nam. Họ sợ công an theo dõi, họ sinh hoạt có vẻ khép kín vì không tin ai cả, và khi nói về hoàn cảnh cá nhân thì họ rất ngập ngừng. Hóa ra, dân tị nạn Tây cũng như Ta đều rất giống nhau, vì tất cả đều xuất phát từ thể chế XHCN. Bà giáo thì khuyên rằng ở đây có luật pháp đàng hoàng, chẳng sợ ai cả, và ở đây không có ‘công an’, chỉ có police (cảnh sát) thôi. Bà ấy lấy vài tờ báo ra và chỉ những cái tít chỉ trích chính phủ hàng ngày, rồi tươi cười chỉ vào hình ông thủ tướng và nói: “Mai mốt tôi không bầu cho thằng cha này.” Tôi kinh ngạc. Trời ơi, sao bà dám nói oang oang như vậy!?

Cách dạy tiếng Anh ở đây chủ yếu là để học viên có đủ kiến thức và chữ nghĩa để đi xin việc, chứ không để học lên cao. Cô giáo là một người rất tuyệt vời về kĩ năng sư phạm và hết sức vui tính. Cách dạy chủ yếu là đàm thọai, hơn là viết. Mục tiêu là giúp học viên sớm hội nhập và có thể đi xin việc. Bà giáo có vẻ thích tôi, một phần có lẽ là học nghiêm túc, một phần là hỏi hoài. Nhớ có lần bà ra đề là viết một lá thư cám ơn cô giáo mà mình nghĩ trong tâm tưởng; tôi viết lá thư và chữ cuối là “As always, with affection” vì tôi học từ một cách viết trên tạp chí Reader’s Digest trong trại tị nạn. Bà giáo đọc lá thư, rồi đến giờ giải lao kêu tôi ra ngoài nói riêng rằng không nên viết như vậy, vì cái chữ đó chỉ dành cho … tình nhân! Thế là học bài học về cách viết thư.

Nhưng tôi chỉ học được một tuần thì bỏ lớp học. Ngày nào cũng “How are you”, “I am fine, thank you”, “How long have you been here”, “I am looking for a job”, v.v. Lớp học có những học viên với trình độ rất khác nhau, nên cách dạy cũng rất chậm. Tôi nghĩ trong bụng với cách học này thì mình tự học còn hay hơn. Nên, chỉ vài tuần sau thì bỏ học … Ngày tôi quyết định nghỉ học, tôi báo cho cô giáo biết. Cô giáo, lúc đó đã gần 50 tuổi, nói rằng vài năm nữa sẽ có lễ kỉ niệm 200 năm ngày thành lập nước Úc, và bà nói sẽ hẹn tôi ở cầu Harbour Bridge. Nhưng hẹn cho vui thôi, chứ đến ngày lễ thì làm sao tìm lại cô giáo đầu tiên. Nhưng hình ảnh về một cô giáo người Úc nhanh nhẹn, hoạt bát, vui tính, và nhất là rất thương người tị nạn không hề phai nhòa trong kí ức tôi.

Thủ tướng … khóc

Tôi đến Úc trong lúc nền kinh tế đang suy thoái (depression). Suy thoái kinh tế dẫn đến biến động chính trị. Lúc đó, ông thủ tướng Malcolm Fraser thuộc đảng Liberal đang cầm quyền, và vì kinh tế suy thoái nên ông không được tín nhiệm mấy. Nhưng đối với người tị nạn thì ông Fraser là một ĐẠI ÂN NHÂN. Chính ông là người ra quyết định nhận người tị nạn Việt Nam, trong lúc công chúng đang bàn cãi chẳng biết đối phó với ‘làn sóng da vàng’ này. Quyết định của Thủ tướng Fraser gây ra rất nhiều tranh cãi, nhất là trong lúc Úc mới bước ra khỏi chủ trương “White Australia Policy” (tức không muốn nhận di dân từ các nước ngoài Âu châu). Nhưng ông đã làm được cái việc can đảm đó, và lịch sử rất công bằng với ông như là một cứu tinh của hàng vạn người tị nạn.

Sau này (1983), 1 năm sau tôi đến Sydney, nước Úc tổ chức tổng tuyển cử. Ông Fraser và đảng Liberal bị thất cử, và ông không còn làm thủ tướng nữa. Thủ tướng mới là Bob Hawke thuộc đảng Labor, cũng là một người ủng hộ người tị nạn rất nhiệt tình. Tôi nhớ hoài hình ảnh ông Fraser khi thất cử, vì ông … khóc. Trong đêm tuyên bố ai thắng cử, phe Labor ăn mừng lớn, thì phe Liberal rất thảm sầu. Ông Fraser nói chuyện trước ống kính, không cần giấy note gì cả, ông cám ơn cử tri đã bầu và tin tưởng ông, ông nói về tình hình kinh tế bị suy thoái nhưng tin rằng [nói theo tiếng Việt là] ‘sau cơn mưa trời lại sáng’. Nói xong, ông mếu máo khóc. Trời! Lần đầu tiên trong đời tôi thấy một vị thủ tướng khóc rất thật trước ống kính. (Sau này tôi cũng chứng kiến ông thủ tướng Bob Hawke khóc vì xe tăng Tàu cán chết người biểu tình ở Thiên An Môn). Những giọt nước mắt đó cho thấy chính trị gia ở đây tình cảm quá.

Họ (chính khách ở đây) rất khác với những người làm chính trị bên nhà. Họ có thể chẳng có trường lớp chính trị gì cả, mà xuất thân như chúng ta thôi. Người thì luật sư (rất nhiều), kẻ từng là bác sĩ, kĩ sư, doanh nhân. Lại có những người xuất thân là dân lao động như buôn bán cá tôm. Họ trở thành dân biểu vì họ có quan điểm hay chính sách đại diện cho cử tri, họ nói lên tiếng nói, tâm tư và nguyện vọng của cử tri. Họ không có bằng cấp chính trị, bởi vì ở đây không có trường đào tạo làm chính trị. Do đó, có thể nói họ là những ‘chính khách tài tử’. Cái tính tài tử đó thể hiện qua những lời nói và hành động rất gần dân.

Điều này rất khác với Việt Nam, nơi mà người làm chính trị được đào tạo khá kĩ theo cách của chủ nghĩa Mao. Từ lúc trẻ đã có đoàn đội uốn nắn tư tưởng, lớn lên có đảng tạo hình suy nghĩ, rồi có trường chính trị dạy làm lãnh đạo, nói chung là rất có hệ thống. Có thể nói những người làm chính trị ở VN là rất chuyên nghiệp — họ thật sự “làm chính trị”.  Do đó, cách nói và suy nghĩ của họ rất rập khuôn, thiếu tính phong phú, thiếu sự ngạc nhiên, và quan trọng hơn hết là thiếu tri thức — wisdom. Họ làm chính trị, chứ không phải là ‘chính khách’. Ngược lại, các ‘chính khách tài tử’ ở đây họ rất gần người dân, vì họ xuất phát từ dân và nói ngôn ngữ của người dân, họ có những câu nói và hành động rất ‘trần ai’, có khi … nông nổi. Do đó, ngay từ những ngày đầu ở đây, tôi thấy mấy người làm chính trị ở Úc vui hơn nhiều so với những người làm chính trị bên VN.

Bài học tiếng Anh đầu tiên: “Dymock” và “Oxford”

Quay lại chuyện lớp học tiếng Anh. Sau một thời gian ngắn, tôi quyết tâm tự học. Để tự học, tôi phải có cuốn từ điển Anh – Anh, vì tôi quan niệm học tiếng Anh từ tiếng Anh thì dễ hơn. Sau khi có tiền từ St Vincent de Paul, việc đầu tiên tôi nghĩ đến là mua một cuốn từ điển tiếng Anh. Hồi thời còn ở trại tị nạn, tôi học tiếng Anh từ cuốn từ điển Longman rất hiệu quả, do đó khi qua đây tôi phải tìm mua cho được cuốn từ điển Longman. Bà giáo thì dặn là nên mua Từ điển Oxford. Nhưng ở Sydney, chỉ có mấy nhà sách lớn ngoài Sydney mới có bán, chứ vùng bán thành thị như Cabramatta thì không có tiệm sách. Tôi đón chuyến xe lửa (thật ra là xe điện) từ Cabramatta đi Sydney (tức trung tâm thành phố). Sau khoảng 1 giờ, tôi cũng đến ga Town Hall.

Bước lên đường George, tôi như người nhà quê ra tỉnh (mà đúng như vậy). Nhìn chung quanh building nào cũng cao vút, cứ nhìn sự hoành tráng của các tòa nhà này chắc chẳng khác gì mấy người bộ đội mới vào Sài Gòn nhìn building mà rớt nón cối (chuyện tiếu lâm). “Ấn tượng” nhất là cái tòa nhà Victoria được xây theo kiểu sandstone, trông rất có duyên và đúng với nghĩa hoành tráng. Người ta thì đi lại tấp nập, hình như ai cũng bận rộn. Điểm đến của tôi là nhà sách Dymock mà bà giáo nói có bán sách. Bà còn dặn là lên khỏi ga Town Hall là sẽ thấy. Nhưng giữa cái nơi ‘phồn hoa đô thị’ này, nhà sách Dymock nó nằm ở đâu.

Tôi hỏi hết người này đến người kia để biết nhà sách Dymock ở đâu. Ai cũng tử tế dừng lại nghe tôi hỏi, nhưng khổ nỗi tôi đọc chữ Dymock sai nên họ không giúp được gì. Khi một ông tương đối già dừng lại, tôi nói rằng tôi tìm nhà sách Dymock. Tôi đọc là “Đai-Mốc”. Ông già chăm chú lắng nghe và cố tìm trong kí ức nhà sách này ở đâu, nhưng ông chịu thua. Ông hỏi tôi đánh vần tên nhà sách, và tôi sẵn sàng làm ngay. Khi tôi đánh vần xong thì ông vỗ trán kêu lên: “Ah, Đi-Mịk”! Tôi ngỡ ngàng và tự hỏi sao tiếng Anh gì mà phức tạp thế. Rồi, ông ấy chỉ đường cho tôi đến nhà sách, cách đó chẳng bao xa.

Đến nhà sách lại học thêm một bài học phát âm tiếng Anh. Nhà sách Dymock rất lớn, có đến ba tầng, sách nhiều ơi là nhiều. Trong cái thế giới đó thì khó tìm cuốn từ điển, nên tôi phải hỏi người bán sách. Tôi tự tin nói “tôi muốn mua cuốn từ điển Oxford”. Tôi đinh ninh rằng chiếc xe Ford mình đọc là “Fo.d”, vậy thì Oxford đọc là “Ox-Fo.d”. Ở Việt Nam ai cũng đọc như vậy mà. Anh chàng bán sách gãi đầu không biết tôi tìm từ điển gì. Anh ta lại kêu tôi viết xuống tờ giấy trắng, và khi tôi viết xong thì anh ta kêu lên “Ah, Ox-fớd”! Cuốn từ điển đó theo tôi cũng năm tháng, và đến nay đã 37 năm tôi vẫn còn giữ nó trên kệ sách như là một kỉ niệm về học tiếng Anh, dù ngày nay tôi ít khi nào đụng đến nó.

Đến đây thì tôi nghĩ không thể chủ quan trong cách phát âm tiếng Anh được. Không phải như tiếng Pháp, viết sao thì đọc giống vậy, còn tiếng Anh thì nhìn thấy như vậy mà đọc thì không phải vậy. Sau này tôi còn phát hiện rất nhiều chữ mà nếu không có cọ sát với xã hội ở đây thì rất khó phát âm đúng. Những chữ tiêu biểu đó là allowance, kibosh, celtic, candidate, niche, và những cái tên như Beauchamp, Worcester, Chloe, Bohun, Murray, McMahon, v.v. Những chữ/tên này, đa số (có thể 99%) người Việt dù đã có học thạo tiếng Anh vẫn phát âm sai.

Làm phụ bếp

Sau vài tuần ở trong hostel, tôi bắt đầu tìm việc làm. Mỗi ngày tôi dò đọc mục “Employment” trong báo để tìm việc. Có lúc đi theo nhóm, có lúc đi một mình. Dạo đó, hễ có việc gì là lao vào làm, chứ không có lựa chọn. Người khá tiếng Anh thì xin đi làm lựa thư trong bưu điện, người kém tiếng Anh thì xin việc làm ở mấy hãng xưởng (thời đó Úc còn nhiều hãng lắm). Nhưng không may cho tôi, mỗi lần đi phỏng vấn là mỗi lần bị thất bại, vì tôi nói là chưa có kinh nghiệm làm hãng xưởng bao giờ. Ở xứ này, không có kinh nghiệm thì người ta không muốn nhận mình vào làm, có lẽ vì ngại mất thì giờ và tiền bạc để huấn luyện.

Một hôm, trên đường về nhà sau một lần nữa thất bại trong một cuộc phỏng vấn ở một hãng điện, tôi ngẫu nhiên để ý đến một khách sạn có tên “Belmore Hotel” với kiến trúc hơi lạ làm mình dễ nhớ. Tôi lại quay sang tờ báo và lần này, tôi để ý thấy Bệnh viện St Vincent’s đang cần một phụ bếp (kitchen hand). Tôi nghĩ tại sao mình không xin làm phụ bếp mà lại phải loay hoay tìm việc trong các hãng xưởng? Nghĩ thế, tôi vội xuống ga và đón xe điện khác đi ngược về hướng Đông thành phố Sydney, nơi bệnh viện St Vincent’s toạ lạc, để xin việc.

Sau khi điền xong đơn, tôi được bà giám đốc nhà bếp tên là Georgina Ramsey phỏng vấn. Bà hỏi tôi về lí lịch cá nhân, về kinh nghiệm làm trong nhà bếp. Vì đã thất bại quá nhiều lần trong các kì phỏng vấn trước đây, kì này tôi làm gan nói là có kinh nghiệm làm trong nhà bếp. “Làm ở đâu?” Tôi nhớ ngay đến cái tên Belmore Hotel và trả lời Belmore Hotel! “Làm ở đó bao lâu?” “Dạ, ba năm.” Bà ta nhìn tôi mỉm cười một cách khó hiểu, nhưng quyết định nhận tôi ngay ngày đó, và hẹn tôi ngày mai sẽ bắt đầu đi làm. Tôi mừng quá và trên đường về nhà, tự đãi cho mình một tô phở!

Ngày đầu khóc vì … củ hành

Ngày đầu tiên nhận việc là một ngày đầy ấp kỉ niệm vui buồn. Công việc tôi được giao phó là rửa nồi niêu, chén bát, và đặc biệt là xắt củ hành Tây. Chao ôi, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cái gì cũng lớn và cũng nhiều. Số lượng nồi và chén bát nhiều đến nổi không đếm hết. Nói là “rửa chén”, nhưng thật ra là tất cả đều làm bằng máy. Cái máy rửa chén dài khoảng 6 mét, máy có ba đường băng để chén và nồi niêu xoong chảo trên đó, và có một bộ phận tự động chuyển những chén và nồi niêu xoong chảo sang một khu nước nóng để rửa. Đến đầu bên kia, có người chất đồ sạch xuống. Do đó, trên thực tế, suốt ngày tôi chỉ sắp xếp nồi chén chứ chẳng đụng tay rửa gì cả.

Ngoài việc đó, tôi phải làm hành tây và xắt rau cải cho phụ bếp. Khi hết việc thì phải tìm việc khác làm, như lau chùi nhà bếp cho sạch, nhìn cái gì thấy không vừa mắt là phải sửa. Nói chung là không có nghỉ. Không đợi người ta bảo phải làm gì, mà phải chủ động đi tìm việc để làm. Không có chuyện đứng xớ rớ. Mỗi ngày có 3 lần nghỉ giải lao: lần thứ nhất là khoảng 10 giờ sáng, được nghỉ 15 phút để uống cà phê; lần thứ hai là 1 giờ trưa, được 30 phút để ăn trưa; và lần sau cùng là 3 giờ chiều, 15 phút uống cà phê. Mỗi lần nghỉ là phải bấm card để quản lí xem mình có nghỉ quá giờ hay không; nếu nghỉ quá giờ, cho dù 5 phút quá giờ, thì sẽ bị trừ lương. Con người ở đây như là cái máy. Tuy nhiên, tôi thấy rất vui, vì trong thời kì khủng hoảng kinh tế mà có việc làm là may mắn lắm rồi. Vả lại còn có tiền gửi về Việt Nam để giúp nhà.

Kỉ niệm đáng nhớ nhất là ngày đầu tiên khi tôi thấy quá nhiều hành tây (trong hai bao bố rất lớn, loại bao mà thời dưới quê tôi thấy họ dùng làm bao gạo trong mấy nhà máy xay lúa), tôi hơi nao núng và hỏi anh chàng giám thị (tức sếp tôi):

– Tôi phải lột hết hai bao này à?

Anh chàng giám thị người Tân Tây Lan tên là Gerry nhún vai nói:

– Dĩ nhiên, đó là công việc của mày mà!

Tôi cảm thấy mình ngây ngô làm sao! Dĩ nhiên, người ta mướn mình vào làm việc đó, chứ còn việc nào khác! Chỉ lột được hai ba củ hành, là nước mắt tôi dàn dụa vì cay mắt. Gerry lại thấy tôi “khóc” bèn đến hỏi: “Mày có sao không?” Tôi trả lời “Không” và dần dần làm xong công việc một cách tốt đẹp. Nhưng chỉ hai ngày sau, sau vài lần thử nghiệm, tôi đã tìm được qui luật lột củ hành mà không rơi nước mắt. Mặc dù đó là một công việc khá nặng nhọc, nhưng tôi vẫn làm việc một cách vui vẻ, và qua đó tôi học được tính tập trung trong khi làm việc cho dù là việc lớn hay nhỏ.

Thỉnh thoảng tôi còn được giao công việc lo kho thực phẩm. Mỗi ngày, tôi kí nhận rất nhiều thực phẩm, thịt thà, rau cải, đồ hộp, đủ cả. Nhận xong là phải sắp xếp vào kho cho thứ tự và có ghi nhãn đàng hoàng. Làm việc ở kho thực phẩm là có dịp học tiếng Anh. Thoạt đầu, tôi rất sợ cái … điện thoại. Số là khi giao hàng hay đặt hàng, người ta gọi điện báo trước và thủ kho phải ghi chép để báo cho người có trách nhiệm lo. Nhưng tiếng Anh của tôi tệ quá và mình cũng nhát, nên không dám bắt điện thoại. Anh chàng thủ kho lớn hơn biết và muốn giúp tôi, nên mỗi lần điện thoại reo là anh ta nói “Điện thoại của mày đó”. Mấy lần đầu tôi chẳng hiểu gì cả, và trả lời thì chắc đằng kia cũng chẳng hiểu mình nói gì. Nhưng chỉ vài ngày là tôi nắm bắt được những danh từ thông dụng và với sự hướng dẫn phát âm của anh thủ kho, tôi bắt đầu thích và yêu cái điện thoại này quá. Khi đã tự tin về ngôn ngữ thì mọi việc đều dễ dàng.

Tuy nhiên, lúc nào tôi cũng bị ám ảnh vì tôi đã khai từng làm trong nhà bếp ở Belmore Hotel 3 năm. Một hôm, tôi gõ cửa văn phòng bà giám đốc Georgina Ramsey và chủ động thú nhận là tôi chưa bao giờ có kinh nghiệm nhà bếp. Tôi cứ tưởng bà ta sẽ cho tôi nghỉ việc, nhưng bà ta mỉm cười và nói với tôi rằng bà ta đã biết ngay từ ngày đầu là tôi không có kinh nghiệm gì trong nhà bếp (vì tôi khai trên giấy chỉ mới đến Úc có 2 tháng), nhưng thấy hoàn cảnh khó khăn của tôi nên cho tôi cái công việc đó và nghĩ tôi có thể sẽ học hỏi từ từ cho quen việc.

Bà Ramsey còn nói cho tôi biết rằng trong nhà bếp này có rất nhiều người có bằng cấp cao từ các nước Đông Âu khác chứ chẳng riêng gì tôi. Bà khuyên tôi nên yên tâm làm việc và cuộc sống sẽ ổn định thôi. Trong thời gian này, tôi lân la tìm hiểu, và đúng như bà Ramsey nói, có rất nhiều người tị nạn và di dân từ các nước như Nga, Ba Lan, Hi Lạp, Nam Tư, Hồng Kông, Trung Quốc, v.v. cũng có cùng số phận như tôi. Tôi càng nao núng hơn khi được biết là phần đông họ đã làm việc cả 10 năm trở lên! Tôi lúc nào cũng xem bà Ramsey là một ân nhân, vì người giúp mình trong lúc khó khăn mới là ân nhân thứ thiệt.

Làm phụ bếp

Sau khoảng ba tháng làm nghề này, tôi được thăng chức làm phụ bếp. Bệnh viện St Vincent’s có khoảng 300 giường. Nhà bếp có 5 đầu bếp chính (chief), và mỗi bếp chính có một phụ bếp (cook assistant) như tôi. Nhiệm vụ của tôi lúc này “nhàn” và oai hơn nhiều so với chức vụ trước. Tôi được cấp đồng phục gồm áo trắng, quần tây carô, cái khăn chef quấn ngang cổ, còn đầu đội nón cao vút như nón của bếp trưởng. Trông rất oai! Mấy người bạn làm chung chúc mừng tôi lên chức.

Nhiệm vụ của tôi là chuẩn bị thịt thà, rau cải cho bếp chính. “Chuẩn bị” ở đây có nghĩa là tôi phải xào nấu sơ qua và giao cho bếp trưởng chế biến tiếp. Có khi bếp trưởng bận (hay làm biếng), anh ta giao cho tôi nấu luôn. Thật ra, trước đó tôi đã được được bếp trưởng giao cho làm luôn khâu thứ hai, tức là khâu chế biến. Tôi học rất nhiều cách chế biến của đầu bếp ở đây: họ dùng bơ sữa rất nhiều trong nấu ăn, họ còn dùng rượu để chế biến thức ăn. Làm việc này có cái “lợi” là tha hồ ăn uống. Thịt bò steak muốn ăn thì tự làm và tự thưởng thức thoải mái. Thậm chí có đứa còn năn nỉ nhờ tôi làm cho chúng nó ăn!

Nhưng công việc cũng chịu áp lực. Đây là nhà bếp bệnh viện, nên tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm cực kì nghiêm ngặt. Mỗi tuần có hai lần thanh tra, và họ đến không báo trước. Dân nhà bếp chúng tôi rất ngán anh chàng thanh tra này. Thanh tra đi vòng vòng nhà bếp, thấy cái gì không an toàn (như nước nóng chảy mà không có khóa, hay dao để bừa bãi), thiếu vệ sinh (thịt thà không ngăn nắp, rau cải không được xử lí đúng qui trình) là bị phạt ngay. Tôi học ngăn nắp nhà bếp từ cách làm việc và tổ chức trong nhà bếp này từ đó. Cho đến nay, mỗi khi đi đâu mà thấy nhà bếp lượm thượm tôi rất bực mình.

Ngán thanh tra đã là một áp lực, ngán cô kiểm nghiệm thực phẩm còn hơn nữa. Trước khi đem thức ăn cho bệnh nhân ăn thì có một người kiểm tra nhiệt độ và chất lượng. Người kiểm nghiệm là một phụ nữ, mặc áo choàng trắng và có đeo vài đồ nghề đo nhiệt độ, kích thước, v.v. Tôi còn nhớ cô ta có cái nhiệt kế cứ cắm vào soup hay thức ăn để xem nhiệt độ; nếu không đủ nhiệt độ thì tất cả suất ăn phải làm lại. Nếu phạm ba lần thì sẽ bị đuổi. Không có ngoại lệ. Kỉ luật và vệ sinh nhà bếp ở đây phải nói là nghiêm ngặt, và nó cũng giúp mình làm việc gì, dù nhỏ hay lớn, là phải làm cho kĩ và giữ an toàn cho mọi người.

Thử nghề ở “The Regent”

Làm ở nhà bếp Bệnh viện St Vincent mà tôi vẫn thấy mình còn dư thì giờ. Tôi nghĩ tôi có thể làm nhiều tiền hơn nữa, và thế là tìm chỗ làm ban đêm. Cơ hội đến với tôi khi Khách sạn Regent mới được mở ở Circular Quay (ngay [cầu] Harbour Bridge). Đây là khách sạn 5 sao, thời đó được xem là sang trọng nhất Sydney.

Khách sạn Regent cần tuyển rất nhiều nhân viên nhà bếp. Lương mà khách sạn trả thì … khỏi chê. Gần gấp 2 lần lương của bệnh viện. Thế là tôi đệ đơn xin đi làm ở khách sạn. Tôi được phỏng vấn, và cách họ phỏng vấn cũng rất độc đáo. Họ hỏi đôi ba câu về cá nhân, rồi dẫn xuống nhà bếp, và xem mình làm ra sao. Họ muốn xem tôi có kinh nghiệm như thế nào trong nhà bếp, cách tôi cầm dụng cụ nhà bếp ra sao, cách tôi giữ an toàn vệ sinh thực phẩm, v.v. Đương nhiên, vì tôi có “kinh nghiệm đầy mình” ở bệnh viện St Vincent’s, nên tôi “đánh bại” nhiều ứng viên khác.

Khi vào nhà bếp tôi gặp vài người quen từ trại tị nạn bên Thái Lan. Trong đó có thằng em tên Trạng, nó được nhận làm trong khâu rửa chén. Hai anh em gặp lại ở đây, nó kinh ngạc nhìn tôi trong đồng phục phụ bếp và hỏi: Anh học nghề này hồi nào vậy? Tôi mỉm cười bí hiểm nói: từ 3 tháng trước chớ từ hồi nào, mày làm gì ở đây? Nó nói: em làm bên kia kìa, và chỉ tay về cái máy rửa chén thiệt lớn. Hai anh em “chiến đấu” ở đây một thời gian, thì tôi quay về St Vincent’s vì chịu không nổi hai công việc, và lại làm việc ca đêm mà còn đi học.

Mua xe hơi

Lương của tôi lúc đó là khoảng 200 đô-la một tuần. Sau khi trả tiền phòng, ăn uống, cũng còn khoảng 150 đô-la. Làm một thời gian, tôi có đủ tiền để mua cho mình một chiếc xe ôtô. Tôi và anh bạn tên Sáu Lợi (người “Mr Đu” cũng từ Thái Lan sang đây trước tôi vài tháng) cầm tiền đi mua xế hộp. Sáu Lợi lái xe đưa tôi đi hết dealer (nhà bán xe) này đến dealer khác, mà tôi vẫn không hài lòng.

Đến một dealer ở tận Parramatta, thì tôi thấy một chiếc xe cũ hiệu Toyota Corona đời 1977 (tức mới 5 năm tuổi), giá gần 7000 đô. Tôi ưng ý chiếc xe này lắm lên xe lái thử vài vòng là thấy “êm” rồi, muốn lấy nó về ngay. Nhưng khổ nỗi trong túi tôi chỉ có 5000 đô thôi. Tôi và Sáu Lợi kì kèo trả giá, và họ chỉ đồng ý giảm 1000 đô mà thôi, tức tôi vẫn còn thiếu 1000 đô. Sáu Lợi nói “Ông thiếu thì tôi về nhà lấy đưa cho ông mượn”. Sáu Lợi nói thêm: Mua xe là mua loại ngon lành, đừng chơi đồ dỏm mà sau này sửa hoài thì còn tốn tiền hơn. Tôi đồng ý. Trên đường lái xe về nhà, Sáu Lợi đi trước, tôi đi sau. Lần đầu tiên trong đời mình có xe riêng, lại còn tự lái, thong dong trên đường Sydney. Ôi, thú vị làm sao!

Chiếc xe Toyota Corona đó rất ư là “reliable”. Hết tuần này sang tuần khác, tôi chỉ việc đổ xăng và xem nước, và chạy đi khắp nơi. Có chiếc xe hơi trong xã hội này cũng giống như mình có cái xe gắn máy ở Việt Nam. Nó là phương tiện đi lại vô cùng quan trọng. Tôi đã dùng cái xe này gần 15 năm trời, đến khi anh bạn kiểm tra xe khuyên nên cho nó vào ‘nghĩa địa’ vì sườn xe cũ quá. Tuy sườn xe cũ, nhưng máy vẫn chạy ngon ơ. Tôi còn nhớ máy 17-RC làm ở Nhật. Đó là đời xe sau cùng làm ở Nhật, vì sau này những loại xe này được ráp ở Úc.

Thời đó, chi phí sống tương đối tốt. Nếu tôi nhớ không lầm, mỗi lít xăng chỉ tốn 20 – 30 cent mà thôi (nay là khoảng 1.3-1.4$). Cần nói thêm là một thùng bia Toohey và Swan lúc đó cũng chỉ tốn chừng 5$ (nay là 50$). Dân Việt chúng ta thích chơi xe. Những người trẻ chưa có gia đình, họ làm được bao nhiêu là dành cho chiếc xe xịn. Người Úc bản xứ rất ngạc nhiên khi thấy người tị nạn Việt Nam lái toàn xe mới, trong khi đó họ đi xe cũ. Người địa phương bắt đầu nghi ngờ và ganh tị. Họ phao tin rằng chính phủ Úc cho tiền bọn tị nạn này để chúng mua xe hơi. Tin nhảm như thế mà cũng có người tin! Họ không hiểu rằng người Việt rất thích bề ngoài, nên họ dành nhiều tiền cho những chiếc xe hơi đắt tiền.

Thời đó cũng dễ mua nhà. Một căn nhà 3 phòng ngủ thời đó tốn khoảng 50,000$ (nay là 1 triệu đôla). Với mức lương công nhân chừng 300$ một tuần, và nếu hai vợ chồng chỉ cần làm chừng 3 năm là có đủ tiền để tậu một căn nhà. Có người chịu khó làm lụng và mua đến 2 căn nhà một lúc! Phải nói là người Việt chúng ta chịu khó làm việc và tích lũy tiền khá nhanh so với người địa phương.

Ra toà

Có xe đi lại rất tiện vì không còn lệ thuộc vào xe lửa công cộng nữa. Lúc đó tôi đã đi học, nên lái xe đi làm, xong việc làm thì lái xe đến trường cách St Vincent’s chừng 30 km. Thời đó, đường phố Sydney ít xe, chứ không phải nhiều và kẹt xe thường xuyên như bây giờ, nên lái xe rất thoải mái.

Vậy mà tai nạn vẫn xảy ra. Sáng sớm hôm đó, như thường lệ, tôi lái xe đi làm ở bệnh viện St Vincent’s, đến khu Newtown, khu phố cổ với nhiều đường nhỏ tí tẹo vốn thiết kế cho ngựa đi, nên cũng như bao nhiêu người khác tôi lái xe chậm lại. Gần đến một ngã tư có đèn đỏ, khi tôi chạy rất chậm thì một bà đi ngất ngưỡng đâm vào đầu xe tôi. Tôi hoảng quá nên thắng lại ngay, và bà nằm vạ trên đầu xe tôi. Tôi bước xuống xe thì thấy bà là một người thổ dân, hơi rượu nồng nặc. Bà chẳng có thương tích gì, vì không thể có thương tích với một tốc độ 5 km/h như thế. Tôi gọi cảnh sát để làm biên bản, và cảnh sát gọi xe cứu thương đến chở bà đi bệnh viện gần đó là Prince Alfred Hospital. Cảnh sát kết tội “negligence” (lơ đễnh) và chờ ngày ra tòa.

Lần đầu ra tòa là cả một kinh nghiệm. Tôi đến tòa án địa phương sáng sớm và lấy số để được xử sớm. Khi vào tòa, tôi đưa mắt nhìn quanh thì thấy rất nhiều người cũng đang chờ được xét xử. Người ta ăn mặc đủ thứ quần áo … chẳng giống ai. Họ cười nói như chẳng có chuyện gì, còn tôi thì bồn chồn lo cho tương lai của mình sẽ mất bằng lái xe.

Quan tòa đọc tên tôi và xác nhận có phải là chính tôi. Xác nhận danh tánh xong, ông hỏi tôi có luật sư không, tôi nói không. Ông hỏi: “Anh có đủ tiếng Anh để trả lời không?” Tôi nói: “Sẽ cố gắng”. Người ta đưa cho tôi một cuốn kinh thánh và bảo phải đọc: “Tôi tuyên bố tôi sẽ nói sự thật, chỉ sự thật, không khác gì hơn là sự thật”. Đọc xong, phía bên cảnh sát họ luận tội tôi và kết luận là lơ đễnh, đề nghị tịch thu bằng lái xe. Thời đó, bằng lái xe cũng chỉ là tạm thôi (loại màu đỏ).

Đến phiên tôi trả lời. Tòa quay sang hỏi tôi có đồng ý với bản luận tôi không. Trước khi ra tòa, tôi đã tìm hiểu tình trạng của bà nạn nhân. Bà ta không nhập viện, vì chẳng có thương tích gì, và được cho về nhà sau 30 phút khám. Cảnh sát cho tôi biết như thế. Do đó, tôi chuẩn bị những câu nói sẵn như “Sir, I was not negligent, because if that was the case, the woman would have been injured. She was not injured and discharged from the hospital within 30 minutes.” (Thưa ngài, tôi không lơ đễnh, vì nếu tôi lơ đễnh thì bà đó đã bị thương rồi. Bà không bị thương và xuất viện trong vòng 30 phút.”

Quan tòa và cảnh sát lại nói gì đó mà tôi không hiểu. Ông tòa quay sang lại hỏi tôi. Tôi cứ một câu mà nói hoài, vì đâu còn câu nào khác. Chỉ có 1 câu tủ thôi. Đến lần thứ ba, ông quan tòa bật cười ha hả và nói đại khái “Tay này không rành tiếng Anh, phải có luật sư mới công bằng”, rồi gõ cái cốp và phán “Hoãn lại! Ra tòa lần sau”!

Lần sau, người ta tìm cho tôi một luật sư công (vì tôi làm gì có tiền thuê luật sư tư). Ngày ra tòa gần kề thì tôi lại có việc ở Khách sạn Regent nên không dám lấy giờ đi dự tòa vì sợ mất việc. Thế là tòa xử vắng mặt. Tòa phán quyết rằng tôi lơ đễnh, và tịch thu bằng lái xe trong vòng 1 năm. Thời đó, bằng màu đỏ mà vi phạm giao thông là mất luôn, sau này phải thi lại. Thật ra, sau đó, tôi vẫn lái xe đi làm và đi học, vì nếu không lái xe thì lấy gì để đi học cách nhà cả 30 cây số mà không có xe lửa. Cũng may, trong vòng 12 tháng đó chẳng có cảnh sát nào xét bằng lái vì sau một lần tai nạn thì tôi rất cẩn thận trong lái xe.

Nhớ nhà

Thời đó, bất cứ người tị nạn nào cũng nghĩ rằng sẽ không có ngày quay về Việt Nam. “Một lần đi là một lần vĩnh biệt / một lần đi là mãi mãi chia phôi.” Do đó, ai cũng mang trong lòng tâm trạng nhớ nhà kinh khủng. Mấy năm sau có vài lần đi công tác bên Singapore và Âu châu và tạt ngang qua Thái Lan, tôi cứ nhìn về quê nhà đau đáu. Nhìn về Việt Nam và biết chỉ có 1 giờ bay thôi, nhưng chưa thể về được. Có đêm nghỉ ở “The Montien” (một khách sạn ở Bangkok tôi hay ở) mà … khóc một mình.

Trong cái bối cảnh đó, có người sáng tác nhạc với những ca từ rất ray rức như: “Sài Gòn ơi, ta có ngờ đâu rằng / Một ngày qua là một ngày li biệt / Một ngày qua là ta mất nhau rồi / Một ngày qua là muôn kiếp chia phôi.” Nhạc sĩ Việt Dzũng thì có bài “Một chút quà cho quê hương“, còn Đức Huy với bài “Khóc một dòng sông” (Tôi hay nhớ về quê nhà vào buổi chiều / nhất là những buổi chiều mưa rơi / Cũng may Cali trời mưa ít không như Sài Gòn / Nếu không tôi đã khóc một dòng sông …) mà mỗi lần Ngọc Lan trình bày là nhiều người khóc một cách tự nhiên. Có một ca khúc tôi còn nhớ đến nay trong đó có đoạn: “Ôi me yêu ơi, con lang thang giữa phố đông người / Tuy phố đông người, nhưng con lạc loài một bóng đơn côi.” Ngay cả cái nóng bên này cũng làm mình nhớ nhà, nên tôi thuộc nằm lòng một bài ca thịnh hành thời đó:

Nắng bên này buồn lắm em ơi!
Một mình anh lê bước trên đời
Nắng nơi đây cũng là nắng ấm
Nhưng ấm sao bằng nắng ấm quê hương

Phải nói, thời đó có những sáng tác về nỗi nhớ Sài Gòn và Việt Nam rất hay vì tác giả viết ra từ cảm xúc rất thật của họ. Phải chi bây giờ có ai đó [dám] làm một luận án về văn học và âm nhạc thời tị nạn đó thì hay biết mấy, vì đó là một giai đoạn rất đáng ghi vào sử sách Việt Nam.

Bây giờ thì người tị nạn đã có thể về quê tương đối bình thường, nên những lời nhạc trên hơi lỗi thời, và ít người còn ca những bài đó nữa. Tuy nhiên, với tôi những lời nhạc trên dù đã được viết ra hơn 30-40 năm về trước nhưng cho đến nay tôi thấy vẫn phản ảnh đúng tâm trạng của người xa quê, nhất là vào dịp 30/4.

Bối cảnh kinh tế Úc và Việt Nam thập niên 1980s

Năm 1982 là thời gian kinh tế Úc lâm vào tình trạng suy thoái. Rất nhiều người mất việc làm. Tỉ lệ thất nghiệp cao hơn 6%. Tiền lời nhà băng cho vay mua nhà lên đến … 15%. Có lẽ nhiều bạn ngạc nhiên là tiền lời gì mà cao như thế, nhưng sự thật là vậy: 13-15%. Do đó, có được việc làm là một ‘thành tựu’ ngon lành, chứ không phải bình thường.

Người tị nạn làm bất cứ việc gì. Bất cứ họ xuất thân là học sinh, sinh viên, nông dân, công nhân, kĩ sư, bác sĩ, luật sư, tất cả đều phải làm lại từ đầu. Lí do là Úc không công nhận bằng cấp từ Việt Nam. Đa số thuyền nhân chẳng có một tấm giấy tùy thân, chẳng có bằng cấp gì mang theo cả. Do đó, công việc đơn giản nhất là làm trong các hãng xưởng kĩ nghệ. Thời đó, Úc còn có ngành kĩ nghệ kha khá, như làm tivi, làm xe hơi, làm động cơ, v.v. nên công ăn việc làm vẫn có dù kinh tế lâm vào tình trạng khó khăn. Đó cũng là những công việc khởi đầu của tuyệt đại đa số người tị nạn. Thời đó, chẳng ai nghĩ đến việc đi học lại, bởi vì kiếm đủ tiền để trả tiền nhà và gửi về nhà là mệt rồi; thời gian đâu mà học lại. Vả lại, khi đã vào làm và có tiền rồi, thì việc quay lại học là chuyện hơi … khó khăn.

Thời đó, kinh tế Việt Nam cũng lâm vào khủng hoảng và nghèo đói. Nhà tôi ở dưới quê tuy chưa bao giờ thiếu gạo ăn, nhưng hàng xóm thì có rất nhiều gia đình không có gạo ăn. Thử tưởng tượng một miền Tây trù phú từng xuất khẩu gạo mà chỉ sau 5 năm dưới thể chế mới lại … thiếu gạo ăn! Chuyện không tưởng, nhưng có thật. Mà, chẳng riêng gì gạo, tất cả các nhu yếu phẩm cũng thiếu. Thiếu từ miếng vải đến cây kim. Không phải ngẫu nhiên mà Việt Dũng viết những câu như “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá / Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may / Gởi về cho chị dăm ba xấp vải / Gởi về cho em kẹo bánh thênh thang / Em gởi về cho anh một cây bút máy / Gởi về cho mẹ dăm gói chè xanh / Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa / Gởi về cho em chiếc nhẫn yêu thương …” Rất nhiều thùng quà mà trong đó có đủ thứ hàng hóa (quần jean, vải, kim tây, máy cassette, chocolate, thuốc lá) được đóng gói và chuyển về Việt Nam. Thành ra, một trong những ‘nghĩa vụ’ của thuyền nhân thời đó không chỉ ổn định cuộc sống ở quê hương mới mà còn phải có tiền để gửi về quê hương Việt Nam.

Một chút suy tư: ‘Một cõi đi về’

Chiến tranh và thù nghịch dai dẳng đã tạo nên một cuộc di cư vĩ đại chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Tôi cũng nằm trong cơn lốc lịch sử đó mà lang thang ra ngoài Việt Nam. Thoát một cái, tôi đã xa quê gần 40 năm. Trong 40 năm đó đã có một, thậm chí hai, thế hệ đã hình thành. Thế hệ mới gần như không biết gì về biến động mang tính lịch sử đó! Tôi nghĩ đó là một thiệt thòi lớn cho giới trẻ. Do đó, những hồi ức như cái note này hi vọng rằng sẽ giúp cho họ có cái nhìn cân bằng và đầy đủ hơn những biến động trong thời gian qua sau cuộc chiến.

Giới trẻ ngày nay may mắn hơn chúng tôi nhiều. Nhìn lại mới thấy sự phá hoại của chiến tranh về trí lực và nhân lực rất ư là ghê gớm. Biết bao bạn bè tôi đã ngã gục trong chiến tranh, đã không có cơ hội theo học cho đến nơi đến chốn, đã phải chấp nhận cuộc sống gian khổ ở Việt Nam, hay đã bỏ mình trên biển Đông. Ngay cả những kẻ sống sót như tôi thì cũng chỉ là thế hệ “trâu chậm uống nước đục”. Một người ngoại quốc trung bình, sống trong cảnh thanh bình có thể đã thành danh và đang ở đỉnh cao của sự nghiệp vào độ tuổi 30 hay 40. Nhưng những kẻ thuộc thế hệ tôi thì chậm hơn nhiều và gian nan hơn nhiều. Với người phương Tây, tuổi 30 là đỉnh, còn với chúng tôi thì “Tuổi ba mươi ta sống tháng ngày xa lạ / tuổi ba mươi ta có quá khứ mịt mù” (lời thơ của Du Tử Lê).

Nhưng tôi vẫn thấy mình quá may mắn. Thật vậy, bây giờ, nhìn lại quảng đường đời và kinh nghiệm mình đã trải qua, tôi cảm thấy bên cạnh nỗi bất hạnh xa quê hương, tôi lại thừa hưởng được một may mắn rất lớn: có cơ hội học tập và tiếp cận với những khoa học hàng đầu thế giới. Các nước phương Tây, đặc biệt là Mĩ và Úc, đã mở rộng cửa đón tôi, cho tôi cơ hội bình đẳng với công dân của họ hầu như trong mọi lĩnh vực, kể cả ở những trường hàng đầu mà tổ tiên của họ đã từng bỏ ra hàng trăm năm để gầy dựng. Họ khen ngợi khi tôi gặt hái chút thành quả. Họ chịu đựng và thông cảm khi tôi khác họ. Nói chung, tôi đã được thụ hưởng những cơ hội mà khi còn ở trong nước tôi chẳng dám mơ tới. Sống sót đã là may mắn, được sống trong lòng khoa học như hiện nay là một may mắn vô ngần.

Nhiều khi tôi nghĩ cuộc đời là những chuyến đi về. Nói văn vẻ hơn là “một cõi đi về”. Cuộc đời tôi có vẻ ứng nghiệm câu này. Việc làm đầu tiên của tôi là ở Bệnh viện St Vincent’s. Mười năm sau, tôi lại quay về Bệnh viện St Vincent’s và vẫn còn ở đó cho đến nay. Hơn 10 năm trước, khi tôi được đề bạt chức vụ professor, người ta muốn làm “PR” và họ phát hiện rằng tôi từng làm trong nhà bếp St Vincent’s. Đó là một chất liệu quan trọng cho người làm PR. Nhưng tôi nói chuyện đó chẳng có gì to tát, bởi vì tất cả người Việt đến đây vào thời đó ai cũng như tôi, tức là bắt đầu bằng những công việc cực nhọc. Cực nhọc nhưng hạnh phúc.

Thuyền nhân người Việt nói chung cũng là một cõi đi về. Ngày xưa, hàng triệu người Việt bỏ nước ra đi, tạo nên làn sóng ‘thuyền nhân’. Rồi mấy mươi năm sau thì lại quay về. Một số đầu tư, một số đóng góp việc này, việc kia. Một số rất ít về VN tái định cư cho đến ngày qua đời. Nhạc sĩ Phạm Duy từng nói rằng ông muốn qua đời ở Việt Nam, và ông đã nói cho hàng triệu người Việt khác. Nhưng vẫn còn một số ít bị tước đoạt quyền thiêng liêng về thăm quê cha đất tổ, và tôi cho rằng những người tước đoạt cái quyền thiên liêng đó là phi nhân bản.

Người tị nạn (refugee) khác với người di cư (immigrant). Người tị nạn là người tuyệt vọng, vô quốc tịch, không có tài sản, và họ bị “bứng” khỏi quê hương qua một biến động lịch sử. Người di cư có quốc tịch, họ có tài sản, và họ ra đi một cách tự nguyện. Người tị nạn do đó thường mang trong mình những chấn thương tinh thần. Người tị nạn sống giữa hai thế giới. Một bên là quê hương, nơi chôn nhao cắt rốn; một bên là quê hương tạm dung.

Người tị nạn bị giằng xé tâm tư, một bên là kí ức của quê hương đầy biến động và đau khổ, một bên là đất nước tạm dung giàu có nhưng chưa chắc là thoải mái. Do đó, người tị nạn đã xa rời quê hương, nhưng trong tâm tưởng họ chưa bao giờ rời quê hương. Họ ở đây mà không phải ở đây. Có khi họ về nơi mình sinh ra mà không thấy đó là quê mình. Họ thành đạt về kinh tế, họ có thể có địa vị trong xã hội nơi tạm dung, nhưng cái tâm của họ thì vẫn còn chông chênh. Họ cũng như là những con ma, thể xác đã chết đi nhưng họ vẫn còn lẫn quẫn đâu đây. Người tị nạn lúc nào cũng bị ám ảnh bởi căn cước tính của mình.

Nhà văn Nguyễn Thanh Việt viết rằng “tất cả các cuộc chiến đều diễn ra hai lần; lần thứ nhất là ở chiến trường, lần thứ hai là ở kí ức”. Chiến tranh Việt Nam dù đã kết thúc 44 năm về trước, nhưng đó chỉ là kết thúc trên chiến trường, chứ cuộc chiến kí ức thì vẫn còn tồn tại dai dẵng cho đến ngày nay. Sự hiện diện của những ‘thuyền nhân’ Việt Nam cùng những di sản của họ trên thế giới chính là một kí ức của cuộc chiến Việt Nam.