Tag Archives: Kĩ năng mềm

Kĩ năng khoa học: cách đặt câu hỏi tốt trong hội thảo

Hôm kia, nhân dịp nói chuyện với một nhóm nghiên cứu sinh ở UTS, tôi có cảm hứng chia sẻ cáchđặt câu hỏi. Có khi nào các bạn thắc mắc trong các hội nghị khoa học, có những người hình như lúc nào cũng có sẵn câu hỏi, nhưng mình thì không biết hỏi gì. Nhưng đặt câu hỏi trong hội nghị khoa học là một kĩ năng có ích, và kĩ năng đó có thể giúp các bạn có tên tuổi trong trường khoa học.

No photo description available.
Nêu câu hỏi trong hội nghị khoa học là để học hỏi, giao lưu (kết bạn), và thiết lập thẩm quyền.

Hội nghị thường niên (có khi gọi là annual scientific meeting) và seminar là những hoạt động không thể thiếu được trong khoa học. Hội nghị khoa học là môi trường để những người trong ‘bộ lạc’ gặp nhau và chia sẻ kinh nghiệm cũng như trao đổi những ý tưởng nghiên cứu mới. Seminar cũng là một diễn đàn rất quan trọng trong khoa học, vì đó là nơi để những người quan tâm đến một chủ đề chuyên biệt tụ tập lại với nhau và chia sẻ thông tin. Là nghiên cứu sinh, postdoc, nhà khoa học, ai cũng phải dự hội nghị chuyên ngành và seminar, cho dù chủ đề của seminar chẳng có dính dáng gì đến hướng nghiên cứu mình theo đuổi. Dự hội thảo để cho thấy mình có mặt (‘make a presence’) và giao lưu cùng các đồng nghiệp.

Một hình thức giao lưu rất quan trọng là … đặt câu hỏi. Mỗi khi bài nói chuyện kết thúc, người chủ tọa thường hỏi diễn đàn có bình luận hay câu hỏi gì cho diễn giả. Trong những dịp như thế, người ta dễ dàng thấy có 3 nhóm khán giả:

(a) nhóm 1 là những người hình như lúc nào cũng có những câu hỏi hay, thiết thực, hay có khi đi thẳng vào điểm yếu của diễn giả. Họ cũng có thể co những câu hỏi mà mình chưa hay đang nghĩ đến;

(b) nhóm 2 là những người “hỏi cho có hỏi”, vì câu hỏi chẳng có ý nghĩa gì, non nớt, hay thậm chí câu hỏi … lạc đề; những người đặt câu hỏi như thế thường không được đánh giá cao.

(c) nhóm 3 là những người không hỏi gì cả. Dĩ nhiên cũng có lí do tại sao không hỏi (như chẳng có gì để hỏi, do diễn giả trình bày đầy đủ, hay do không có thì giờ), nhưng cũng có những lí do khác (như không biết hỏi gì).

Tôi chú ý thấy các nghiên cứu sinh gốc Á châu – kể cả Việt Nam – thường ít hỏi. Họ có vẻ lắng nghe, nhưng rất ngại đặt câu hỏi cho diễn giả, vì một phần là tiếng Anh chưa thành thạo, nhưng một phần khác là chẳng biết nên hỏi gì và bắt đầu từ đâu. Có những lần nói chuyện ở VN, tôi thấy mình như … ‘độc thoại’, vì khán giả không chịu nêu câu hỏi, nhưng trớ trêu thay, sau giờ giải lao thì họ đến hỏi rất nhiều!

Bài này sẽ bàn về lợi ích của việc đặt câu hỏi và công thức hỏi có tên là CCMF (context – clarification – methods – future).

1. Lợi ích của việc đặt câu hỏi

Nêu câu hỏi trong hội nghị, nhất là hội nghị quốc gia và quốc tế, có thể đem đến vài lợi ích. Lợi ích thứ nhất là học. Thật vậy, sau khi nghe xong bài nói chuyện, có thể các bạn vẫn còn thắc mắc về một vấn đề nào đó liên quan đến phương pháp hay cách tiếp cận, và nêu câu hỏi là một cách để học từ diễn giả. Nhiều khi nghe diễn giả trả lời, các bạn sẽ học nhiều hơn và có khi ‘sáng ra’ trong đầu. Có lần tôi cứ thắc mắc về một nghiên cứu loại GWAS (genomewide association study) mà cách họ chọn ngưỡng để theo đuổi những gen thú vị, sau khi nghe diễn giả trả lời và cho thêm tài liệu tham khảo, tôi ra về với một ý tưởng mới. Do đó, lợi ích của việc nêu câu hỏi là học, đúng với tinh thần đi dự hội nghị khoa học.

Lợi ích thứ hai là giao lưu. Như tôi nói ở trên, một trong những mục đích của đi dự hội nghị khoa học là có dịp giao lưu với đồng nghiệp khắp nơi trên thế giới. Với tôi, mỗi hội nghị là y như … chạy sô. Sáng sớm thì phải đi họp ban biên tập. Họp xong, đi nhanh về khách sạn ăn sáng để kịp dự phiên họp đầu tiên. Tối về thì phải đi dự các buổi họp của các nhóm ‘tập đoàn khoa học’ (consortium). Nhưng hội nghị đối với nghiên cứu sinh là một dịp để giao lưu, để làm quen rất tuyệt vời. Làm quen bằng cách đặt câu hỏi. Khi các bạn đặt câu hỏi, và nếu câu hỏi tốt (hay khó), diễn giả có thể sẽ chú ý đến bạn. Có khi diễn giả không trả lời được, và bạn sẵn sàng nói “We can discuss more during the next break” (chúng ta có thể thảo luận thêm trong giờ giải lao). Không chỉ diễn giả chú ý, mà những người dự hội nghị cũng chú ý đến các bạn. Đó cũng là cách mà tôi làm quen với rất nhiều người, trong đó có người sau này trở thành bạn thân.

Lợi ích thứ ba là thiết lập thẩm quyền. Khi bạn đặt một câu hỏi tốt (sẽ đề cập dưới đây), một câu hỏi có suy nghĩ, thì tự câu hỏi đã phản ảnh về nhân tính của bạn. Người có suy nghĩ kĩ lúc nào cũng có câu hỏi tinh vi và ‘insightful’; người suy nghĩ hời hợt thì câu hỏi chỉ trên bề mặt của vấn đề. Do đó, khi bạn đặt những câu hỏi loại insightful tức là bạn đã hiểu vấn đề và tự chứng tỏ mình có thẩm quyền (có thể chỉ là thẩm quyền thấp) về vấn đề bạn nêu.

2. Cách đặt câu hỏi tốt CCMF

Tựu trung lại, tôi thấy các câu hỏi trong hội nghị có thể tóm tắt thành 4 nhóm, viết tắt là CCMF. C đầu tiên là context; C thứ hai là clarification; M là methods hay methodology; và F là future.

Câu hỏi loại 1: context — đặt phát hiện trong bối cảnh nghiên cứu trước

Thỉnh thoảng có những nghiên cứu cho ra những kết quả bất ngờ, những mối liên quan không nằm trong giả thuyết. Trong tình huống đó, câu hỏi loại này thường là đặt kết quả này trong bối cảnh chung của tình hình, và so sánh các kết quả trong y văn. Người đặt câu hỏi loại này thường có kiến thức chuyên sâu trong chuyên ngành. Vài ví dụ về cách đặt câu hỏi so sánh:

• So sánh với nghiên cứu trước: The data shown in slide 5 are very different from previous data reported by Smith in Nature 2011. I am wondering whether you can entertain us about the difference? (Dữ liệu trong slide số 5 rất khác với nghiên cứu của Smith trên Nature năm 2011. Tôi lấy làm lạ về sự khác biệt, anh có thể giải thích thêm?)

• So sánh với y văn: To my knowledge, the rate of loss in the normal physiology is about 1% per year, but your data showed that the rate was twice as high. Any idea why there was such a remarkable change? (Theo tôi biết, tỉ lệ mất mát trong điều kiện sinh lí bình thường chỉ 1%, nhưng dữ liệu của anh cho thấy tỉ lệ cao gấp 2 lần. Anh có ý tưởng nào để giải thích sự biến đổi đáng kể này?)

• Liên kết kết quả nghiên cứu: About 20 years ago, Nordin showed that patients on A has an improvement of 5%; now you showed that those on A and B had even better improvement. Can you elaborate on the possible incremental effect? (Chừng 20 năm trước, Nordin chi ra rằng ở bệnh nhân được điều trị bằng A thì tỉ lệ cải thiện là 5%, nay kết quả của anh cho thấy bệnh nhân được điều trị bằng A và B thì sự cải thiện còn tốt hơn nữa. Anh có thể nói thêm về sự gia tăng?)

• Hỏi về ý nghĩa thực tế: Could I ask you a question on slide 7, where you showed the data concerning the distribution of E2 hormone which seemed non-normal. Could you elaborate more on the clinical implication of this non-normality?

Câu hỏi loại 2: clarification – giải thích giả thuyết và ý nghĩa nghiên cứu

Đó là những câu hỏi giúp vấn đề thêm sáng tỏ. Những câu hỏi mà người hỏi muốn diễn giả giải thích thêm ý tưởng đằng sau công trình nghiên cứu, và đặt trong bối cảnh chung. Cũng có thể hỏi về diễn giải dữ liệu: những câu hỏi này cũng thường được đặt ra, vì đứng trước một kết quả, có thể có người có ý này, người có ý kia, cách diễn giải khác nhau.

• Hỏi về diễn giải: “Your data in slide 10 tend to show that A is actually not different from B? Do you think such an interpretation is reasonable?” (Dữ liệu trong slide 10 của bạn cho thấy A thật ra chẳng khác gì so với B; bạn có nghĩa rằng cách diễn giải như thế là hợp lí?)

• Hỏi về giả thuyết: I just have a question which may be a little bit off the topic: how did you come up with the study’s hypothesis which seems unconventional? (Tôi có một câu hỏi có lẽ hơi lạc đề: xuất phát từ đâu mà anh đi đến giả thuyết bất thường này?)

• Hỏi về nghiên cứu hiện hành và bối cảnh: What makes you think that the present study will fit into the ongoing discussion on the role of genetics in risk assessment?(Tại sao nghiên cứu này phù hợp với những bàn luận chung quanh vai trò của yếu tố di truyền trong việc đánh giá nguy cơ?)

• Hỏi về … chi phí: Your study took an expensive approach, I am wondering whether a better and more cost effective approach is available? (Cách tiếp cận của anh đắt tiền, tôi muốn hỏi anh là có một cách tiếp cận nào rẻ hơn và hiệu quả hơn?)

Câu hỏi loại 3: methods và methodology — phương pháp và phương pháp luận

Đây là những câu hỏi thường hay gặp nhất, có thể là vấn đề chọn nhóm chứng, có thể tiêu chuẩn loại trừ và tiêu chuẩn chọn vào làm ảnh hưởng đến kết quả, và phương pháp đo lường. Nếu kết quả là trái tim, thì phương pháp là cái sườn của một nghiên cứu. Khung sườn phải vững thì kết quả mới được bảo vệ tốt. Có những nghiên cứu với những phương pháp rất tuyệt vời, và trở thành đề tài cho diễn đàn học hỏi. Do đó, rất nhiều câu hỏi thường xoay quanh các vấn đề liên quan đến phương pháp và phương pháp luận. Những câu hỏi loại này rất nhiều, nhưng tự trung lại có thể kể đến:

• Hỏi về nhóm chứng: Sorry, I was not clear about your control group. How did you select the controls in your study? (Xin lỗi, tôi chưa rõ về nhóm chứng trong nghiên cứu. Anh đã chọn nhóm chứng như thế nào?)

• Hỏi về giả định và qui trình: My understanding is that your method requires a prior distribution to be specified. May I ask what prior distribution did you use in the study, and why? (Tôi hiểu rằng phương pháp của anh cần có một phân bố tiền định. Vậy anh cho tôi hỏi phân bố tiền định của anh là gì, và tại sao anh chọn phân bố đó?)

• Hỏi về phương pháp: I may have misunderstood you, but from what you showed, the outcome was a discrete variable, and yet you used linear regression in the analysis. I am wondering (and I would like to have your opinion on) whether such a method is appropriate for the data? (Tôi có thể hiểu lầm chị, nhưng qua những gì chị trình bày, biến chính là biến phân loại, nhưng chị lại dùng phương pháp hồi qui tuyến tính. Tôi ngạc nhiên (và tôi muốn nghe ý kiến của anh) là phương pháp đó có thích hợp với dữ liệu?)

• Hỏi về chi tiết: Sorry for being dummy, but could you explain your out-of-pocket method in more detail, if possible? (Xin thứ lỗi cho câu hỏi ngu ngu, nhưng nếu có thể anh cho biết thêm vài chi tiết về phương pháp out-of-pocket).

Câu hỏi loại 4: future – tương lai

Câu hỏi loại này có khi còn được gọi là ‘chém gió’, vì không có gì cụ thể, nhưng lại là câu hỏi quan trọng vì mang tính chiến lược. Câu hỏi loại tầm nhìn còn giúp cho diễn giả suy nghĩ về nghiên cứu của mình và khả năng ứng dụng trong thực tế:

• Bất đồng ý kiến: If you don’t mind, I would like to come back to your interpretation of the data in Table 2. You postulated that there was an effect of the drug on the time to remission, but I am wondering whether an alternative interpretation is possible. One such interpretation is that the effect of the drug had no effect, and what you saw is actually confounded by patient’s severity. Do you think such an interpretation is reasonable. (Nếu anh không phiền, tôi muốn quay lại diễn giải của anh về dữ liệu trong bảng số 2. Anh nói rằng thuốc có ảnh hưởng đến thời gian giảm bệnh, nhưng tôi nghĩ có một cách giải thích khác: đó là những gì anh quan sát là thật ra bị nhiễu bởi độ nghiêm trọng của bệnh. Anh thấy cách hiểu đó có lí không?)

• Hỏi về tương lai: Well, that is a very nice result. Could you tell us about your future plan? What sort of experiments will you do to connect all the dots? (Chà, đó là một kết quả rất đẹp. Chị có thể cho chúng tôi biết kế hoạch tương lai của chị là gì? Chị sẽ làm thí nghiệm nào để liên kết các kết quả với nhau?)

• Hỏi về ứng dụng: The results are very significant and highly relevant to patient care. Are you planning to implement these results in clincal setting, and if so, how will you do it? (Kết quả rất đáng chú ý và có ý nghĩa trong việc chăm sóc bệnh nhân. Chị có ý định triển khai kết quả này trong lâm sàng, và nếu có ý định, thì chị sẽ làm như thế nào?)

• Hỏi về khả năng ứng dụng: I can see that you have made an important discovery, but I am still not clear on the impact of your study. I would appreciate if you could tell us a little bit about the translational aspect of your results? (Tôi thấy anh đã có một khám phá quan trọng, nhưng tôi vẫn chưa rõ ràng về tác động của nghiên cứu. Tôi rất biết ơn nếu anh giải thích một chút về khả năng ứng dụng của nghiên cứu).

• Tranh luận về khả năng ứng dụng: You concluded that the gene can be used for disease screening, but the graph in slide 10 shows that the magnitude of the relationship was very modest. Do you think the gene, with such a modest effect, is qualified as a screening tool? (Chị kết luận rằng gen đó có thể dùng cho việc tầm soát bệnh, nhưng biểu đồ trong slide số 10 cho thấy tầm ảnh hưởng rất thấp. Chị có nghĩ rằng gen đó với mức độ ảnh hưởng thấp như thế có thể đủ tiêu chuẩn là một công cụ cho tầm soát?)

3. Qui ước

Hội nghị là diễn đàn của người có học, và khi đặt câu hỏi mình cũng phải tỏ ra là người có học. Người có học khác với kẻ lưu manh. Người có học tập trung vào vấn đề khoa học, chứ không phải cá nhân diễn giả. Do đó, có vài nguyên tắc văn minh (thực ra qui ước thì đúng hơn) về cách đặt câu hỏi trong hội nghị. Những qui ước này liên quan đến tính lịch sự, ngắn gọn, và thân thiện.

Lịch sự

Lúc nào cũng tỏ ra lịch sự với diễn giả. Nên nhớ rằng diễn giả cũng chịu áp lực lớn để đứng trên bục, và họ có thể quên, có thể nhớ không hết, có thể có thiếu sót nào đó. Vì thế, người đặt câu hỏi nên tỏ ra cảm thông cho diễn giả, và có thể bắt đầu bằng câu đại khái như “Có lẽ tôi nhớ không kĩ những gì anh nói, nhưng tôi muốn hỏi lại cho chắc ăn là …” (Perhaps I could not catch what you said earlier, but could I please clarify with you …).

Ngắn gọn

Thông thường phần thảo luận chỉ có 5 phút sau bài nói chuyện, mà có thể có nhiều người muốn hỏi, nên người hỏi phải hỏi ngắn, và đi thẳng vào vấn đề. Để hỏi một câu hỏi ngắn mà có ý nghĩa là không dễ chút nào. Do đó, người hỏi phải suy nghĩ trong đầu cẩn thận câu hỏi nào cần thiết nhất và “burning” nhất để hỏi, chứ không nên phí thì giờ những câu hỏi phi thực tế hay ngoài chủ đề bài nói chuyện. Càng không hỏi theo kiểu giảng bài cho diễn giả, cho dù diễn giả chỉ đáng tuổi học trò mình (vì đó là thái độ thiếu tính chuyện nghiệp, thậm chí thất lễ). Tự hỏi: câu hỏi mình giới hạn trong vòng 140-150 mẫu tự? Nếu yes, thì hỏi; nếu không thì chờ dịp giải lao sẽ hỏi.

Thân thiện

Lúc nào cũng tỏ ra thân thiện với diễn giả, vì thứ nhất là tạo ấn tượng tốt và thứ hai là diễn giả có thể đang … hồi hộp. Không chỉ cách dùng chữ nhẹ nhàng, mà còn phải dùng cử chỉ và ánh mắt để cho diễn giả thấy là mình không tấn công họ. Những câu khen mang tính “cliché” như great talk, beautiful data, comprehensive, hard act to follow, v.v. có thể sử dụng:

• “Thank you for your lecture/talk/presentation. Those were beautiful data” (cám ơn bài nói chuyện của chị. Những phát hiện/dữ liệu thật là đẹp đẽ).

• “That was a great talk! Thank you. Now, I would like to bring your attention to the point you raised earlier that …” (Đó thật là một bài nói chuyện quá hay! Xin có lời cám ơn. Bây giờ tôi muốn quay lại điểm chị nêu lên lúc ban đầu rằng …)

• “Thank you for the elegant presentation. You are a hard act to follow. Let me start off by asking you this question …” (Cám ơn anh về bài nói chuyện lịch lãm. Khó mà theo đuổi anh nỗi. Tôi muốn bắt đầu bằng câu hỏi sau đây …)

• “Wow, such a nice and comprehensive lecture! Thank you. Could I bring up one issue that I am hoping that you will comment on …” (Wow, thật là một bài giảng hay và đầy đủ. Tôi muốn nêu một vấn đề mà tôi hi vọng là anh sẽ cho ý kiến …)

Điều đại kị là không được lên lớp diễn giả, vì điều đó gây ấn tượng xấu đến diễn đàn. Trong diễn đàn có những người bậc thầy cô, không nên thể hiện theo kiểu phô trương “ta đây thông minh”, “ta có kiến thức”, “ta biết hơn người”. Những cách thể hiện như thế chẳng giúp gì cho người hỏi, mà còn tạo ấn tượng không tốt ở khán giả và chủ toạ.

Tuyệt đối tránh những câu hỏi mang tính tiêu cực hay “kiếm chuyện”. Đó là những câu hỏi mang tính mỉa mai, tức tối, ganh tị, thậm chí tấn công cá nhân. Có những người thích bắt bẽ diễn giả bằng những chi tiết nhỏ như con số không ăn khớp, như tranh cãi về chi tiết nhỏ trong phương pháp phân tích, và muốn xoáy vào đó để làm lu mờ thông điệp chính. Nói chung, những người này không nhiều trong các hội nghị lớn, và ý kiến của họ cũng chẳng ai quan tâm.

Không ai là hoàn hảo cả. Đừng bao giờ nghĩ đến việc đặt câu hỏi để làm khó diễn giả (nhiều người nghĩ vậy). Đó là ý nghĩa tiêu cực, theo kiểu lấy điểm. Nên nghĩ đến mục tiêu của việc đặt câu hỏi là để giúp diễn giả giải thích tốt hơn.

***

Trên đây là những qui ước và cách đặt câu hỏi trong các hội nghị khoa học. Hi vọng rằng qua cái note này các bạn sẽ có thêm vài mẹo để đặt câu hỏi sao tốt trong hội nghị. Để đặt câu hỏi tốt, các bạn cần phải có kiến thức tốt về vấn đề mình quan tâm. Kiến thức giúp các bạn đặt kết quả của nghiên cứu trong bối cảnh chung. Nếu tiếng Anh còn hạn chế, các bạn nên viết xuống câu hỏi và học thuộc lòng, trước khi đứng trước microphone để hỏi. (Mẹo này rất hiệu quả, vì viết xuống giúp mình suy nghĩ logic hơn). Ngoài ra, các bạn cũng cần phải nắm vững phương pháp nghiên cứu, để khi đặt câu hỏi không bị diễn giả xem thường mình. Với nhiều lần đặt câu hỏi hay, các bạn sẽ có dịp làm quen với nhiều đồng nghiệp mới và tìm cho mình một vị trí trong ‘bộ lạc’.

________

PS: Có nhiều website và bài viết hướng dẫn bằng tiếng Anh về cách nêu câu hỏi. Một số có thể tìm thấy ở đây:

https://www.timeshighereducation.com/features/six-conference-questions-every-academic-hears/2006738.article

http://www.nextscientist.com/ask-good-questions-scientific-meetings

10 kĩ năng trong báo cáo khoa học

Trong hoạt động khoa học, cách thức trình bày trước đồng nghiệp (hay trước công chúng) là một kĩ năng rất quan trọng. Cái note này muốn chia sẻ 10 kĩ năng về trình bày báo cáo khoa học trong các hội nghị cấp quốc gia và quốc tế.

Tôi thấy nhà khoa học thành công thường phải hội đủ 3 đặc điểm: viễn kiến, phương pháp, và kĩ năng truyền thông. Kĩ năng truyền thông, hay communication skills, bao gồm viết và nói. Do đó, trong thời gian làm nghiên cứu sinh, các đại học phương Tây rất quan tâm đến đào tạo kĩ năng viết và nói, như là một phần quan trọng trong chương trình đào tạo tiến sĩ. Ở những lab nghiên cứu, tất cả nghiên cứu sinh đều phải dự vài seminar mỗi tuần, và đó là điều kiện gần như bắt buộc. Có nơi ra qui định nếu không dự seminar đầy đủ thì sẽ bị cắt tiền trợ giúp cho đi dự hội nghị nước ngoài.

Kĩ năng nói rất quan trọng, và đúng là một phần trong hoạt động khoa học. Chúng ta có thể có kết quả rất hay, có thể có phương pháp làm rất tuyệt, nhưng nếu chúng ta không nói được những cái hay đó thì … cũng như không. Dĩ nhiên, tôi không có ý nói rằng chúng ta “nổ”, hay nói quá những gì chúng ta làm; tôi chỉ đơn giản nói rằng chúng ta cần phải có kĩ năng thuyết phục. Thuyết phục người nghe rằng công trình của chúng ta làm là có ích, hoặc nếu hay hơn nữa là tầm quan trọng. Thuyết phục không phải chỉ bằng lời nói, mà phải bằng chứng cứ, và chứng cứ phải qua bình duyệt hay đã công bố.

Nhưng kĩ năng truyền thông là khía cạnh mà người Việt mình kém nhất. Các em nghiên cứu sinh gốc Việt có thể rất giỏi về chuyên môn nhưng lại rất kém về kĩ năng truyền đạt thông tin, ngay cả truyền đạt những gì các em ấy đang làm. Hạn chế tiếng Anh là một điểm âm lớn, nhưng kém kĩ thuật trình bày và thiếu phong cách lại chính là rào cản lớn nhất. Chưa nói đến nội dung, nhưng ngay cả những cách soạn slide không đúng bài bản đến cách nói không thông cũng gây ấn tượng không tốt cho người theo dõi. Nhưng rất tiếc đó lại là những đặc điểm dễ thấy ở giới khoa học gốc Việt.

Tôi có một thói quen học từ thời còn làm sinh viên: Đó là tập dượt và … tập dượt. Cứ mỗi lần đi dự hội nghị cùng nhóm, tôi yêu cầu các nghiên cứu sinh phải trình bày trước để tôi xem và góp ý. Lâu ngày thói quen này trở thành một qui ước trong lab. Bất cứ ai trong lab trước khi trình bày ở đâu cũng tranh thủ thời gian trình bày trước lab để đồng nghiệp góp ý. Góp ý đủ thứ, từ nội dung, cách chọn “money slide”, cách dùng thuật ngữ, cách chọn màu sắc và font chữ sao cho người ngồi xa có thể thấy, đến cách nói và điệu bộ. Tất cả những góp ý như thế làm cho bài nói chuyện khi ra trình làng gần như là hoàn hảo (theo một qui ước chung trong khoa học).

Thế thì làm sao để có một bài nói chuyện seminar tốt? Tôi nghe các bạn hỏi. Ở đây, tôi muốn chia sẻ vài kinh nghiệm và cảm nhận cá nhân như sau:

1. Chọn chủ đề thích hợp

Khi người ta mời mình đến chia sẻ nghiên cứu, mình phải tìm hiểu xem “chủ nhà” đang theo đuổi chủ đề gì, và sở trường của họ là gì. Khi đã biết hai thông tin đó, chúng ta có thể thiết kế một bài nói chuyện dù là về việc làm của mình, nhưng việc làm đó có liên quan đến sở trường và chủ đề mà họ đang theo đuổi. Phải làm như thế để chúng ta tỏ ra là người đem lại lợi ích cho họ. Lợi ích ở đây là ý tưởng, cách tiếp cận, hay cơ hội hợp tác trong tương lai.

Quan trọng nhất là phải chọn đề tài hợp với trình độ khoa học ở nơi mình nói. Người ta đang ở trình độ 901 mà mình nói chuyện 101 là không hay; ngược lại, người ta đang khởi đầu mà mình nói chuyện “blue sky” cũng không hợp. Nói nôm na cho vui là nếu họ muốn nghe nhạc slow thì mình hát nhạc slow cho họ nghe.

2. Chú ý đến thời gian

Phải tìm hiểu xem chủ nhà cho chúng ta bao nhiêu phút. Thông thường seminar thì chủ nhà cho chúng ta 1 giờ, nhưng trong thực tế chỉ nên nói khoảng 45 phút, còn lại 15 phút để trao đổi và trả lời câu hỏi. Biết được thời gian cũng rất có ích để chúng ta quyết định số slide cần thiết.

3. Không nên dùng quá nhiều slide

Một điều tôi thấy cần nên tránh là dùng quá nhiều slide. Dùng nhiều slide có cái hay là mình có nhiều nội dung để nói, nhưng cái nguy hiểm là người nghe sẽ quên những gì mình nói. Do đó, quyết định số slide cần thiết là hết sức quan trọng. Đối với những người nói tiếng Anh giỏi, họ có thể chỉ cần 10 slide mà nói chuyện suốt 1 giờ. Đối với một câu chuyện khoa học phức tạp và tiếng Anh chưa tốt mấy, tôi nghĩ cứ trung bình ~2 phút cho 1 slide là lí tưởng. Do đó, một bài nói chuyện 1 giờ chỉ nên có khoảng 30 slide.

4. Xác định thông điệp chính là gì

Trước khi soạn slide, chúng ta phải xác định một thông điệp chính mà chúng ta muốn gửi đến khán giả. Phải làm sao sau khi xong bài nói chuyện, khán giả biết mình muốn nói gì. Để xác định thông điệp chính, cần phải soạn một cái mà giới khoa học gọi là “money slide” (slide ăn tiền), tức là cái slide mà chúng ta muốn mọi người phải nhớ đến và nhắc đến. Có khi người ta đưa cái money slide ngay trong lúc bắt đầu bài giảng. Cái money slide phải đơn giản, cô đọng, không có nhiều thông tin, không được dùng nhiều chữ, chỉ dùng hình ảnh càng tốt.

5. Câu chuyện phải khúc chiết

Không có gì buồn chán hơn khi nghe một diễn giả ê a hết chuyện này sang chuyện khác mà không có một ý chính hay một thông tin chính. Đối với một bài nói chuyện về những công trình của lab thì chúng ta phải dẫn dắt người xem từ công trình A, đến công trình B, C, và kết thúc công trình D.

Phải khúc chiết, công trình B là nối tiếp công trình A, và C là hệ quả của B, v.v. Với cách sắp xếp như thế, khán giả sẽ được thưởng lãm một câu chuyện có đầu có đuôi. Nếu bài nói chuyện chỉ tập trung vào một công trình, thì cách sắp xếp là từ ý tưởng hay cảm hứng, đến cách tiếp cận, kết quả, và ý nghĩa, và sau cùng là hướng đi kế tiếp.

Nên nhớ rằng “câu chuyện”, chứ không phải là bài giảng – lecture. Câu chuyện mang tính chuyên môn ở bậc cao nhưng thân mật, còn lecture là mang tính sơ đẳng dành cho sinh viên hay người không biết gì. Lẫn lộn câu chuyện thành lecture là rất nguy hiểm!

Mỗi công trình nên có hình một thành viên trong lab để vừa là cám ơn vừa lăng xê người của mình. Hình càng “bụi” càng hay.

6. Cách nói thong thả

Nói chuyện trong seminar chúng ta có khá nhiều thì giờ, nên không cần phải “nói như chạy”. Nên tập cách nói thong thả, phát âm rõ ràng, nhưng nhịp điệu phải lên xuống, nhấn nhá. (Thử tưởng tượng chúng ta nghe một người nói suốt 45-50 phút với cái giọng đều đều thì sẽ dễ buồn ngủ như thế nào). Tôi rất ấn tượng với cách vào đề của anh chàng tôi mời: Anh ta bắt đầu bằng cách cám ơn chủ nhà, sau đó anh ta nói về ngoài trời đang có gió mưa tơi tả (để bắt chuyện), rồi mới giới thiệu nội dung bài nói chuyện. Anh ta biết nhấn chỗ nào để người xem chú ý, và biết dùng kĩ thuật animation để mô tả câu chuyện rất tuyệt vời.

Nói thong thả còn áp dụng cho mỗi slide. Một trong những thói quen tôi thấy ở nhiều diễn giả là họ trình chiếu 1 slide rồi dành ra chỉ 1-2 giây hay cao lắm là 30 giây để nói về slide đó. Tôi cho rằng cách làm như thế là rất dở, vì nó làm cho khán giả nghĩ rằng diễn giả không có ý gì để nói, và nếu thiếu ý thì trình bày slide đó làm gì cho mất thì giờ?! Một điểm khác là trình bày slide quá phức tạp hay chữ quá nhỏ, không ai đọc được, cũng là một khiếm khuyết cần phải khắc phục.

Khi diễn giả tiêu ra nhiều thì giờ cho một slide đơn giản, điều đó gửi một tín hiệu tốt cho người xem rằng diễn giả là người am hiểu câu chuyện từ A đến Z. Sự hiện diện của slide chỉ là một yếu tố phụ mà thôi. Tiêu ra nhiều thì giờ cho một slide còn cho khán giả thấy diễn giả là một “master” câu chuyện của mình, và chính điều đó làm cho khán giả có thể tin vào diễn giả.

Dĩ nhiên, đại kị nhất là đọc slide. Đọc slide là một tín hiệu cho thấy diễn giả không biết câu chuyện mình nói. Người ta sẽ hỏi: Chúng tôi cũng có thể đọc slide, hà cớ gì phải mời vị này đến đây? Không bao giờ đọc slide!

7. Nói với khán giả, không phải nói với slide

Một trong những khiếm khuyết hay thấy là diễn giả chỉ nhìn vào slide và nói. Phong cách này làm cho người ta có cảm tưởng diễn giả đang nói chuyện với slide, nhưng họ kì vọng diễn giả nói chuyện với họ. Do đó, khi đã trình chiếu slide, thì diễn giả nên nhìn vào khán giả mà nói, và thỉnh thoảng chỉ đề cập đến slide bằng cách dùng laser pointer. Đây chính là lí do tại sao tôi hay yêu cầu nghiên cứu sinh phải học thuộc lòng nội dung bài nói chuyện của mình để không phải lúng túng và … không quên.

Một điều quan trọng cần phải chú ý là cách dùng laser pointer. Một số em nghiên cứu sinh có lẽ do hồi hộp nên vung laser pointer … tùm lum, và do đó tạo ấn tượng không tốt. Một khiếm khuyết khác là dùng laser pointer quá ngắn, nên người ta không theo dõi được. Cũng không nên xoáy xoáy laser pointer quá nhiều làm cho khán giả khó chú ý. Cách dùng laser pointer hợp lí là chỉ vào điểm mình cần nhấn mạnh, và cần phải dành ra khoảng 5-10 giây để khán giả có đủ thì giờ theo dõi.

8. Cách nói “chuyển tông”

Một trong những khó khăn khi trình bày bài nói chuyện bằng slide là chuyển tiếp từ slide này sang slide khác. Một số người có thói quen dừng lại sau khi nói xong một slide, rồi mới bấm nút chuyển tiếp sang slide kế tiếp. Cái khoảnh khắc dừng lại đó nó tạo ra một khoảng trống thời gian rất bất lợi cho diễn giả.

Do đó, người có kinh nghiệm thường dùng cách chuyển tông như sau: Nói đến hết slide, thì diễn giả bắt đầu giới thiệu slide kế tiếp, và trong khi nói chuyện thì tay bấm ngay nút chuyển tiếp. Cách nói chuyển tiếp có thể là “Now, I am going to show you a very important data …”, hay “In the next slide, I am going to show you that …”, hay “Shown in the next slide is some very interesting information …”, hay “Now, I would like you to pay attention to the next slide …” Với cách chuyển tông như thế, người nghe sẽ cảm thấy được lĩnh hội một câu chuyện đầy đủ và liên tục.

9. Tỏ ra thân thiện

Khi được mời đến nói chuyện, chúng ta là khách của chủ nhà. Mà, đã là khách thì cần phải tỏ ra thân thiện với chủ nhà và đồng nghiệp của chủ nhà. Có nhiều cách tỏ thái độ thân thiện, từ cách nhìn, đến nụ cười, và nhất là cách trả lời câu hỏi. Nhưng một điều cần phải tránh, tuyệt đối tránh, là không bỏ tay vào túi quần. Bỏ tay vào túi quần là một cử chỉ được xem là ngạo mạn, phách lối, và sẽ gây thiếu thiện cảm ở diễn đàn.

10. Cách trả lời câu hỏi thuyết phục

Một seminar lúc nào cũng có câu hỏi, và câu hỏi góp phần làm hào hứng “câu chuyện”. Nhưng cách mà diễn giả xử lí và quản lí câu hỏi là một yếu tố khá quan trọng để cho bài nói chuyện thành công. Tôi sẽ nói về cách xử lí câu hỏi trong một cái note sau.

Trên đây là 10 điểm trong việc trình bày báo cáo khoa học trong hội nghị mà tôi muốn chia sẻ cùng các bạn. Chắc còn nhiều điểm khác nữa nhưng tôi chưa nghĩ ra. Điểm nào cũng quan trọng, không thể xem điểm nào kém hơn điểm nào. Nên nhớ rằng báo cáo là thuyết phục khán giả, chứ không phải giảng bài cho khán giả, và các kĩ năng trên có thể tăng thêm tính thuyết phục. Hi vọng các kinh nghiệm trên sẽ giúp các bạn trong lần báo cáo lần sau.