Tag Archives: Phạm Duy

Kỉ niệm với người nhạc sĩ ‘ngàn lời ca’

Hôm 5/10 vừa qua là kỉ niệm 100 năm ngày sanh của Nhạc sĩ Phạm Duy, một ‘đại thụ’ âm nhạc có một không hai của Việt Nam. Thế hệ tôi (và chắc vài thế hệ trước và sau nữa) lớn lên với ngàn lời ca của ông. Cá nhân tôi có nhiều kỉ niệm với nhạc Phạm Duy, nên nhân dịp này xin chia sẻ chuyện xưa …

Nhạc sĩ Phạm Duy (1921 – 2013)

Lần đầu tiên tôi được biết đến nhạc Phạm Duy là trong một đêm picnic (cắm trại) ở gần Hà Tiên. Hôm đó, thầy cô lớp học tổ chức hai ngày đi cắm trại, và cắm trại thì lúc nào cũng có chương trình văn nghệ. Lúc đó tôi đã học đàn và biết chơi vài bài đơn giản, chủ yếu là nhạc bolero và slow. Nhưng hôm đó chương trình nhạc chủ yếu là Phạm Duy và Lam Phương. Tôi còn nhớ được ‘cấp’ một quyển nhạc bìa màu xám mà trong đó là những bài dân ca hay mang âm hưởng dân ca như Gánh lúa, Cây trúc xinh, Tiếng hò miền Nam, Lời người ra đi, Nhớ người thương binh, v.v.

Chúng tôi say sưa đàn hát những ca khúc mà sau này tôi mới biết là giai điệu ngũ cung. Hèn gì những ca khúc đó có vẻ gần với người Việt chúng ta. Thời Đệ Tứ thì cũng đã nảy nở tình yêu học trò, nên bọn chúng tôi dùng những lời nhạc đó (kiểu như ‘cây trúc xinh, tang tình là cây trúc mọc / Chị hai xinh, tang tình là chị hai đứng’) gởi khéo cho ‘đối tượng’ mình nhắm tới. Nhưng với tôi, có lẽ bài ‘Nhớ người thương binh’ gây cảm xúc nhiều nhứt, có lẽ vì lí do bài ca mô tả giống với trường hợp của Ba tôi. Nói theo ngôn ngữ dịch tễ học, tôi đã bị ‘phơi nhiễm’ nhạc Phạm Duy từ đó. Đã hơn 50 năm, những lời ca và giai điệu đó vẫn còn theo tôi đến nay và chắc đến tận cuối đời.

Thời VNCH, không có những ‘ban tuyên giáo’ dạy phải yêu nước là yêu một chủ nghĩa nào đó. Hoàn toàn không có. Ấy vậy mà chúng tôi, những thanh thiếu niên mới vào đời, ý thức rất rõ về tình thần yêu nước và lúc nào cũng xưng tụng quê hương xinh đẹp. Tôi nghiệm ra rằng mình bị ‘tuyên truyền’ từ những bài học trong môn ‘Công dân giáo dục‘ và sách giáo khoa tưng tự. Nhưng chúng tôi còn được gieo tình cảm dân tộc và quê hương qua nhạc của Phạm Duy nữa. Chỉ bằng một giai điệu du dương trong Tình ca Tình hoài hương, ông thôi miên người nghe vào thế giới mang tên Việt Nam. Ông thậm chí còn dặn dò chúng ta rằng ‘Việt Nam hai câu nói sau cùng khi lìa đời.’  

Những năm sau đó, giữa lúc chiến tranh ác liệt, tôi lại nghe nhạc ông, nhưng lúc đó thì những ca khúc của ông trở nên ray rứt và đau đớn. Nổi tiếng nhứt có lẽ là bài ‘Kỷ vật cho em’, phổ từ thơ có tựa đề là ‘Để trả lời một câu hỏi‘ của một người lính, viết về nỗi lòng của những người lính và cả và số phận của thanh niên Việt Nam có thể đoán trước trong thời chiến tranh khốc liệt. Dù không phải là lính, mà nghe bài đó tôi cũng cảm thấy xúc động với những câu rất thật như ‘Anh trở về hòm gỗ cài hoa / Anh trở về bằng chiếc băng ca / Trên trực thăng sơn màu tang trắng.Nghe nói ông suýt đi tù vì ca khúc đó. Nhưng trớ trêu thay, đó lại là một trong những ca khúc hay nhứt trong cuộc chiến.

Phạm Duy có một sáng tác trong thời chiến mà rất ít người biết đến: Kể chuyện đi xa. Đó là một ca khúc tương đối dài, được viết khi ông đi thăm ở New York (có lẽ vào năm 1970) kể lại những trải nghiệm của ông ở thành phố mà người ta có ‘Kiếp sống thanh bình / người người mưu sinh‘ và nhìn lại quê hương mình ‘còn nhiều điêu linh / Ai đã cố tình đẩy cuộc đua tranh / Đem cháu con mình làm vật hi sinh / Đất nước hai miền chật chội oan khiên.’  Ai là kẻ đã gây nên thảm nạn? Ông nhận ra rằng đó là những ‘bọn yêu tinh‘, là những kẻ ‘buôn súng buôn tiền, làm giầu lên trên / Thân xác dân hiền.’ Ca khúc được viết theo điệu slow và do chính ông trình bày cùng dàn đồng ca trẻ em [1]. Có thể nói đây là một ca khúc hiếm hoi nói lên quan điểm và cái nhìn của ông về cuộc chiến.

Ông là nhạc sĩ của ngàn lời ca. Có thể ví von ông như là người thơ kí thời cuộc. Ông dùng âm nhạc để ghi lại những biến động lịch sử, những niềm hân hoan bên cạnh những nỗi buồn, những tình tự dân tộc cùng những trăn trở của thanh niên và trí thức trong thời chiến. Mỗi giai đoạn lịch sử đều được ông ghi lại bằng những ca khúc khó quên. Gần như bất cứ ai, ở bất cứ thời điểm nào cũng có thể tìm sự đồng cảm trong những lời ca câu hát của Phạm Duy. Chẳng hạn như thời ‘cải tạo’ ông có tổ khúc Ngục ca phổ từ thơ của thi sĩ Nguyễn Chí Thiện. Trong đó có bài gây ấn tượng sâu sắc đối với tôi là những câu do chính ông trình bày:

Từ vượn lên người mất mấy triệu năm

Thế mà ai ơi, thế mà ai ơi,

Ở nước Nam tôi

Chính sách siêu quần, chính sách siêu quần

Từ người xuống vượn mất có 3 năm

Từ người xuống vượn mất có 3 hôm

Ông có lẽ là nhạc sĩ đa dạng nhứt về đề tài sáng tác mà khó có nhạc sĩ nào sánh kịp. Ông viết hàng ngàn ca khúc thuộc các ‘tổ khúc’ như Dân ca, Rong ca, Bé ca, Xuân ca, Hương ca, Tâm ca, Thiền ca, Đạo ca, Tục ca, Hoàng Cầm ca, Tị nạn ca, Ngục ca, v.v. Nhưng những nhạc tình của ông vẫn là những bài hay nhứt và được thanh niên yêu thích nhứt. Tủ nhạc của tôi vẫn còn những ca khúc ông sáng tác vào thập niên 1970s qua phổ thơ của Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, và Cung Trầm Tưởng. Trịnh Công Sơn là một người hay chữ, mà còn phải thốt lên rằng ‘Không ai phổ thơ hay bằng Phạm Duy. Bài thơ nào qua tay ông là nổi tiếng. Một nhà ảo thuật về phổ thơ.Có người, như thi sĩ Trần Dạ Từ, thì xem ông là ‘một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của nền văn học nghệ thuật Việt Nam thời hiện đại.’ Thoạt đầu nghe qua thì có vẻ là một nhận xét cường điệu, nhưng nghe qua những sáng tác do ông viết lời chúng ta dễ dàng thấy ông có cách sắp xếp chữ như một bài thơ.

Không biết các bạn thì sao, chớ riêng tôi thì xem những tình khúc của ông là một kho tàng ngôn ngữ quí báu, vì trong đó có những chữ Việt rất đẹp. Nếu cần lấy một ca khúc ra để minh hoạ cho cái ý trên, tôi sẽ chọn bài Tìm nhau (sáng tác năm 1956). Đó là một bài tình ca có những chữ đan xén vào nhau theo cách đồng âm và hiệp vận: 

Tìm sâu trong muôn thuở
Tìm sau lưng bốn mùa
Tìm nhau như thiên cổ tìm ngàn thu

Tìm trong câu thơ cổ
Tìm qua tranh Tố nữ

Tôi mê bài này từ lâu lắm, không phải mê vì câu chuyện trong ca khúc, mà mê vì lời ca quá đẹp. (Ấy thế mà chẳng hiểu sao có một nhạc sĩ ngoài Bắc xem bài đó là … ‘dâm ô’!)

Cuộc đời và sự nghiệp của Phạm Duy cũng ‘đa dạng’ như nhạc của ông. Ông từng theo kháng chiến chống Pháp, nhưng chỉ vì một bài ca bị cấm mà ông bỏ đồng đội và chọn tự do. Lựa chọn đó cùng những sáng tác sau này ở miền Nam, ông thường bị những người theo cực đoan chủ nghĩa có những cái nhìn thiếu thiện cảm, thậm chí gắn những nhãn hiệu mang tính ám sát cá nhân (vốn rất tiêu biểu trong thể chế Mao-ít). Nhưng dù không ưa ông, những người hung hãn nhứt trong những đấu tố cũng phải công nhận ông là một nhân tài, thậm chí thiên tài. Nhân tài thật sự. Người bảo thủ và giáo điều như Tố Hữu, khi được hỏi về sự nghiệp của Phạm Duy, từng nói: ‘Bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi‘. Khó hiểu ông ấy nói gì, nhưng người ta hiểu rằng chế độ mới chỉ nên dùng những ca khúc sáng tác trước 1954 và bỏ những ca khúc sau 1954 ở trong Nam. Có lẽ vì nhận xét này mà rất nhiều ca khúc của ông vẫn còn bị cấm cho đến nay. Chỉ có chừng hơn 100 ca khúc (chiếm 10% tổng số sáng tác) được phép lưu hành chánh thức. Nhưng cho dù bị cấm đoán, nhạc của Phạm Duy vẫn tồn tại trong công chúng. Người ta vẫn hát nhạc của ông. Nói như Trịnh Công Sơn là ‘Phạm Duy bàng bạc trong tất cả đời sống âm nhạc.’

Nhớ có lần (1999) tôi ghé thăm ông ở Quận Cam (ông hay gọi là ‘Thị trấn Giữa đàng’ vì khu ông ở có tên là Midway City), ông say sưa nói về công trình phổ Truyện Kiều thành nhạc. Ông nhận xét rằng sau chiến tranh, chỉ có hai thứ có thể hàn gắn vết thương tinh thần, và đó là âm nhạc và tôn giáo. Ông trích câu nói của thi sĩ Lamartine mà tôi nhớ mãi rằng âm nhạc là văn chương của trái tim, và do đó, ông sẽ dùng âm nhạc để góp phần làm cho người Việt gần với nhau hơn.

Căn nhà của Phạm Duy ở ‘Thị trấn Giữa đàng’ (California, 1999)

Hôm đó, ông còn nói rằng ông sẽ về Việt Nam và chết ở bên đó. Tưởng ông chỉ nói cho có nói, ai ngờ ông về thiệt và chết ở bên nhà. Lần sau cùng tôi gặp ông là … trên giường bệnh. Lúc đó tôi đang đi công tác ở Sài Gòn, và nghe anh Giám đốc Bệnh viện 115 (cũng là một ‘fan’ hâm mộ ông) tiết lộ rằng nhạc sĩ Phạm Duy mới nhập viện. Tôi và anh ấy bèn hẹn giờ để ghé thăm ông. Ngồi bên giường bệnh, chúng tôi nói chuyện về nhạc nhiều hơn là bệnh tình. Ông vẫn say sưa nhưng với giọng hơi yếu nói về những dự án âm nhạc tương lai. Nhưng chỉ vài tuần sau thì ông qua đời ở tuổi 93, đúng với tâm nguyện của ông là muốn chết ở quê hương của mình.

Dù người ta muốn hay không, thì tên và nhạc của ông đã gắn liền với Việt Nam và Sài Gòn. Ông đã để lại cho văn hoá Việt Nam một gia tài đồ sộ, một gia tài chữ nghĩa và âm điệu sẽ được phân tích và chiêm nghiệm trong tương lai khi thế hệ hận thù và phân hoá không còn nữa. Với Sài Gòn, ông vẫn là một tượng đài trong lòng hàng triệu người. Không phải ngẫu nhiên mà Nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn, trong ca khúc bất hủ ‘Sài Gòn niềm nhớ không tên‘, viết rằng:

Sài Gòn ơi! Thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau

Nhớ Phạm Duy với tình ca sầu

Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu

Còn gì đâu

Với cá nhân tôi, Phạm Duy là một thần tượng sẽ không bao giờ phôi pha, vì ông đã gieo vào tôi tình yêu quê hương, sự trân quí người Việt, và giúp tôi cảm nhận được cái đẹp của tiếng Việt — một cách vĩnh viễn. Tôi tin rằng các bạn cũng sẽ cảm nhận như vậy khi nghe qua những ca khúc của Phạm Duy.

Phạm Duy giữa chúng ta

Hôm nay (5/10/2021) là kỉ niệm 100 năm ngày sanh của Nhạc sĩ Phạm Duy, một ‘đại thụ’ nền âm nhạc Việt Nam. Tôi là người ngưỡng mộ tài năng của ông, và định viết một bài để tưởng nhớ ông. Nhưng thấy bài dưới đây của Nhạc sĩ Tuấn Khanh (tác giả ca khúc ‘Trả Nợ Tình Xa’) viết hay quá, nên rinh về đây để chia sẻ cùng các bạn.

Phạm Duy trọn đời gieo tình vào nhạc - VnExpress Giải trí
Nhạc sĩ Phạm Duy (1921 – 2013)

Phạm Duy giữa chúng ta

Nhạc sĩ Tuấn Khanh

Phạm Duy vẫn ở đâu đó trong cuộc đời này, không chỉ 100 năm này, mà có lẽ còn nhiều trăm năm nữa trong những trái tim thuần khiết yêu nước Việt, đi cùng những giai điệu gần gũi và khoan nhặt của ông.

Nghe nhạc Phạm Duy, đôi lúc tôi nhận ra như nhu cầu của một người Việt. Nó thôi thúc và cồn cào. Thậm chí khi im lặng nghe mà cứ tưởng như mình đang cất tiếng, bởi lời ca đã âm vọng không biết bao điều. Và tôi cũng đã chứng kiến điều như vậy.

Có lần linh mục Đặng San ở Sài Gòn trở bệnh nặng. Ông nằm lặng lẽ trong phòng mình nhiều giờ rồi lặng lẽ nhắn cho một cô bạn của tôi “có thể đến hát cho Cha nghe một bài Phạm Duy không?”. Bác sĩ không cho ông hút thuốc nữa, cũng không cho xem điện thoại nữa. Sự tĩnh lặng và chăm sóc chu đáo thể xác, vẫn không đủ cho phần hồn. Ông nằm nhìn lên trần nhà. Im lặng. Thở mệt nhọc.

Tôi đến cùng cô bạn của mình, mang theo cây guitar. Cha ngồi dậy, vui như trẻ nhỏ. Ông đòi nghe hát ngay. Đàn so dây và bài hát Tôi đang mơ giấc mộng dài vang lên. Những bài hát của Phạm Duy có ma lựci lạ lùng, như nhấn sâu người nghe vào một hồ chứa tâm trạng mênh mông, vẫy vùng tâm hoặc. Hình ảnh của bài hát như bao bọc không gian của mọi người chung quanh. Lần đầu tiên tôi thấy một cụ già tóc bạc, yếu ớt trên xe lăn khi nghe được đôi câu, đã ôm mặt khóc nức nở. Ông khóc như gặp lại người thân, và cố ôm mặt vì sợ tiếng khóc sẽ ngăn mọi người ngừng trình bày bài hát đó.

Chắc cũng nên nói một chút về linh mục Đặng San, để biết ông không phải là một người dễ bị chinh phục bởi mọi loại văn nghệ. Khởi đầu ông là chọn tự mình trở thành tu sĩ Phật Giáo khổ hạnh, bỏ lên núi sống một mình với kinh kệ. Rồi một ngày mưa gió, ông ngã lăn bất tỉnh và được người ta đưa về một nhà dòng Công Giáo gần đó cứu giúp. Sau một thời gian ông được ơn gọi và trở thành linh mục. Những kiến thức uyên bác của cả hai hệ tín ngưỡng đầy ắp trong người, nên khi ông giảng hay viết đều song hành các dẫn chứng của cả hai tôn giáo.

Ấy vậy mà, con người chứa trong mình sâu thẳm những triết giáo khôn ngoan hàng ngàn năm đó, lại bật khóc, và nói “cần gì tìm cao xa nữa, bài hát này cất tiếng, nó đã đẹp như một thánh lễ rồi”. Trong phút giây ấy, tôi chợt nhận ra rằng nếu chúng ta yêu dân tộc này, yêu những khổ đau và nghịch cảnh của quê hương này đã và đang chịu, thì nghe nhạc Phạm Duy mà bật khóc cũng không phải là điều quá lạ lùng.

Có một thời gian dài, tôi cứ ám ảnh về bài Bên cầu biên giới của nhạc sĩ Phạm Duy. Những gì day dứt tự hỏi lòng, ông đều trải ra đủ trên từng nốt nhạc, từng nhịp chất vấn dồn dập của đời người và thời thế. Đời hỏi ông muốn được vinh danh như một kẻ làm chính trị không? Ông đã trả lời bằng cách bước xuống tàu, đi theo con đường của một nghệ sĩ, bất chấp phận mình có thể nổi trôi theo vận nước. Nhiều thập niên sau, ông nhắc lại điều này với tôi trong một lần được hỏi “Tôi thấy mình hạnh phúc là một người hát rong, một người hát rong hạnh phúc”.

Hành trình của những người hát rong trong lịch sử nhân loại, có kẻ mua vui cho bạo chúa, có kẻ sống và chấp nhận rơi đầu để giữ vẹn lời ca về sự thật. Phạm Duy đã làm trọn phần hát rong cao quý của mình, ông hát cho con người và không đem tài năng của mình để phục vụ bạo quyền hay dối trá.

Dòng chảy đau đớn của dân tộc Việt Nam đi đến đâu, vẫn thấy có ông nơi đó kể lại, hát lại. Từ cuộc chia ly 1954 cho đến những ngày dựng đời cùng Bình Ca. Rồi cả khi một lần nữa rời khỏi quê nhà 1975, ông vẫn không dừng ghi lại ký ức với Tỵ nạn ca, Ngục Ca… Và đến cả những tiên đề của đất nước trong Rong Ca về thế kỷ mới.

Năm 2002, ông gửi về tặng tôi quyển Chân Dung Nghệ Sĩ của Trường Kỳ, trong đó có bài về ông. Viết trong thư tay, ông dặn “Không phải cái gì viết trong đây về tôi cũng đúng. Nhưng không đúng cũng là một kỷ niệm. Đời người rồi cái gì cũng thành kỷ niệm”. Đọc đến đó, tôi mỉm cười. Ông lại chơi chữ với tôi rồi, như để nói về chính cuộc đời của ông. Tôi hình dung cái cách rất “Phạm Duy” của ông, cười nhếch mép, nheo mắt, gật gù. Cái cách y như lúc ông về Việt Nam và nói với tôi “Anh có cái kiểu hỏi han khó chơi lắm. Nhưng được đấy!”.

Trước lúc ông mất, tôi có ghé nhà ở quận 11, Sài Gòn, thăm ông. Lúc đó, ông gần như đã cạo trọc, yếu ớt và ngồi trên xe lăn. Thấy tôi cất lời chào, ông khoát tay như bảo “chờ đấy, đừng hỏi” và cho đẩy xe đến trước một cái tivi lớn, phát một cái DVD tự làm slideshow, trình bày chi tiết từ lúc bệnh, đi cấp cứu cho đến về nhà. “Đấy, nhiều người đến hỏi lắm, cho xem thì biết, khỏi mất công trả lời”, ông cười, có vẻ khoái trá vì thấy tôi hơi ngỡ ngàng với sự chuẩn bị của ông. Có người khuyên là ông nên về Mỹ, vì có thể việc chăm sóc y tế sẽ tốt hơn. Ông lại hỏi ngược “rồi được thêm bao lâu nữa?”

Hơn một năm sau, ông mất. Dường như về cuối đời, chọn về Việt Nam, ở lại, và ở lại mãi mãi là ước muốn lớn nhất của đời ông. Một lần trả lời phỏng vấn của đài BBC, ông nói “Tôi về đây không phải là tôi đi tìm danh vọng, hay tôi tìm đồng tiền kinh tế. Không phải. Tôi về đây là vì tôi yêu nước thôi. Mà tôi phải về vì người già nào cũng muốn chết ở quê hương của mình, thế thôi”.

Ngay cả đến cái chết, Phạm Duy cũng như câu chuyện kể sống động ở giữa chúng ta, nhắc về những người Việt Nam khốn đốn trước cơ đồ cha ông để lại bị cưa xẻ, bất lực trước những dòng người vơ vét đất mẹ bằng quyền lực chính trị, giàu có và chọn thành công dân và chết ở một quốc gia xa lạ nào đó. Nhưng quê hương, đó là thứ không thể lìa xa với mỗi chúng ta, những người yêu nước Việt.

Phạm Duy không hô hào yêu nước. Nhưng âm nhạc của ông dạy người ta yêu nước. Dạy và thấm sâu ở từng câu chữ, giai điệu. Bất kể tôi, hay một linh mục, hoặc một người bạn trẻ nào đó lắng nghe rồi cũng sẽ tự thấy mình có một duyên lành với đất nước mình. Đó là điều được chia sẻ từ quyền năng của một người hát rong sống trọn vẹn với nghiệp đời. Người hát rong đó vẫn ở giữa chúng ta, trong muôn ngàn lời tha thiết Việt Nam, khắc sâu, thấm sâu hơn cả những bài giáo khoa buộc phải học.

———

Tuấn Khanh, Sài Gòn

5/10/2021 – 100 năm ngày sinh người hát rong vĩ đại của âm nhạc Việt Nam, PHẠM DUY https://www.facebook.com/NhacsiNguyenTuanKhanh/posts/395055318880423