Tag Archives: sự nghiệp khoa học

Tình trạng bất định trong sự nghiệp khoa học: Sao trông giáo sư âu lo thế?

Trong cái nhìn của công chúng, những nhà khoa học đạt tới vị trí giáo sư là những người nhàn hạ ngồi trong tháp ngà, thỉnh thoảng đưa ra những ý kiến chẳng ăn nhập gì với thực tế. Nhưng trong thực tế ở các nước phương Tây, hầu hết những giáo sư đều rất vất vả và sự nghiệp của họ rất ư là chông chênh, bất định. Bài này của tôi trên Tuổi Trẻ chỉ để nói lên lời nói của người trong cuộc.

—-

https://cuoituan.tuoitre.vn/tin/20191217/tinh-trang-bat-dinh-trong-su-nghiep-khoa-hoc-sao-trong-giao-su-au-lo-the/1549776.html

Thông thường, công chúng khi nhìn vào giới khoa học thường hình dung đó là một nhóm người khá lạ thường. Họ có vẻ lập dị, có thể bỏ cả đời để theo đuổi một vấn đề rất nhỏ nào đó chẳng có liên quan gì đến thực tế. Họ cũng viết bài báo, nhưng chẳng mấy người hiểu họ viết gì vì những từ ngữ có vẻ bí hiểm, xa rời thực tế. Thần thái thì lúc nào cũng có vẻ đăm chiêu suy nghĩ về một vấn đề nào đó mà người đối diện không rõ. Ngay cả cách họ ăn mặc trong labo cũng khác thường, chẳng khác gì thầy cúng sắp làm phận sự. Tóm lại, trong cái nhìn của công chúng, giới khoa học là những người bất bình thường.

Chẳng những bất thường mà còn có phần … vô dụng. Vô dụng vì họ nói năng bằng những chữ mang tính không chắc chắn (như ‘có thể’, ‘có lẽ’, ‘khả năng’). Họ nghiên cứu thì lệ thuộc vào tiền thuế của người dân, nhưng người dân – qua cái nhìn kinh tế – thì chẳng hưởng lợi ích bao nhiêu từ họ

Tuy nhiên, thần thái đăm chiêu và tính cách hơi bất thường đó có thể hiểu được, nếu công chúng chịu khó đi vào thế giới của hoạt động khoa học và lắng nghe tâm tư của họ. Bài này giúp bạn đọc “xâm nhập”’ vào thế giới riêng tư đó để giúp công chúng và giới khoa học cảm thông nhau hơn.

Nỗi niềm biết tỏ cùng ai

Ít ai biết rằng đằng sau những người làm nghiên cứu khoa học là vô số “nỗi niềm biết tỏ cùng ai”. Kể ra những nỗi niềm này thì cần đến một cuốn sách, nhưng ngắn gọn và trên hết là nhà khoa học thường phải đối diện với một tương lai bất định. Hôm nay mình còn tồn tại, được mời mọc đi đây đi đó, được bay xa và bay cao; ngày mai sẽ ra sao lại rất khó đoán được, vì tất cả phụ thuộc vào nguồn tài trợ. Mà, tài trợ thì càng không thể đoán trước được. Cái tương lai bất định và nỗi ám ảnh chông chênh đó đeo đuổi nhà khoa học từ lúc mới bước chân vào sự nghiệp nghiên cứu cho đến những ngày cuối sự nghiệp, thậm chí cuối đời.

Sau khi xong chương trình tiến sĩ, đa số nghiên cứu sinh phải tìm một vị trí hậu tiến sĩ (postdoc). Theo thống kê của Royal Society (Viện hàn lâm khoa học Anh), chỉ có 30% người tốt nghiệp tiến sĩ tìm được một vị trí hậu tiến sĩ. Và, chỉ có 10% hậu tiến sĩ còn tồn tại trong hệ thống nghiên cứu khoa học. Hơn thế nữa, chỉ có 3,5% trong số tốt nghiệp tiến sĩ tìm được việc làm nghiên cứu khoa học trong các đại học.

Tìm được vị trí hậu tiến sĩ không dễ chút nào, vì số vị trí thì ít mà số ứng viên thì nhiều. Các labo có tiếng chỉ tuyển nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ dựa vào công trình khoa học đã công bố. Không phải dựa vào là số lượng bài báo, mà là phẩm chất khoa học của bài báo và tập san. Một hay 2 bài trên các tập san lừng danh như Science và Nature vẫn chưa đủ. Đối với đa số đại học, có bài được xếp vào nhóm được trích dẫn cao (highly cited) cũng chưa đủ để đảm bảo một vị trí hậu tiến sĩ. Còn các labo khác thì ít ai chịu đọc lí lịch khoa học của ứng viên nếu không có ít nhất 5 bài trên tập san top trong chuyên ngành. Ngay cả tìm được một vị trí thì thời gian cũng chỉ 5 năm là tối đa, chớ không có cố định.

Từ hậu tiến sĩ đến chức vụ giáo sư đại học cũng là một con đường dài và gian nan. Chỉ có 0,45% (tức khoảng 5 người trên 1000) sau này trở thành giáo sư thực thụ. Số người thành giáo sư thực thụ và có labo độc lập lại còn hiếm hơn nữa. Thời gian từ khi tốt nghiệp tiến sĩ đến khi được bổ nhiệm giáo sư trung bình là 20 năm. Nhưng dù đã đạt được chức vụ giáo sư, ở rất nhiều đại học và viện nghiên cứu họ cũng không “an toàn”.

Chức vụ giáo sư thường có nhiệm kì chỉ 5 năm. Còn các nhà khoa học trong các viện nghiên cứu thì thời gian hợp đồng chỉ 1 năm. Sau 5 năm (hay 1 năm), họ phải chứng minh đã làm “được việc” để được tái bổ nhiệm. Không ít giáo sư không được tái bổ nhiệm, và tương lai thất nghiệp (hay nghỉ hưu sớm) là một viễn cảnh rất thật. Đó chính là lí do tại sao rất nhiều giáo sư thường có vẻ lo âu và … bất bình thường.

Cho rất nhiều song nhận chẳng bao nhiêu

Tình trạng bất định trong khoa học ngày nay bắt nguồn từ vấn đề tài trợ cho nghiên cứu khoa học (thuật ngữ khoa học gọi là ‘grant’) mà tôi cần giải thích thêm. Nghiên cứu khoa học bắt đầu từ grant. Có grant thì mới có tiền. Có tiền thì mới mướn nhân viên cộng sự. Có nhân viên cộng sự thì mới thực hiện được nghiên cứu. Có nghiên cứu thì mới có bài báo khoa học. Có bài báo khoa học thì mới được hội nghị mời diễn thuyết. Có bài báo khoa học và có diễn giảng thì người ta mới tài trợ grant cho nghiên cứu. Do đó, vòng tròn nghiên cứu khoa học bắt đầu bằng cái grant, nhưng kết thúc cũng là … grant!

Có nhiều loại grant: tài trợ cho một công trình/ý tưởng nghiên cứu; tài trợ cho một chương trình nghiên cứu; tài trợ cho cơ sở vật chất; tài trợ cho cá nhân nhà khoa học (fellowship), v.v.

Fellowship là quan trọng nhất, vì qua đó mà nhà khoa học có lương bổng để tồn tại [thường là] 5 năm. Khi nhà khoa học tồn tại thì mới xin các grant khác, hay theo cách nói của người Việt là an cư rồi mới lạc nghiệp.

Nhưng thành công trong grant thì chẳng những rất cạnh tranh (trong số 2000 người đệ đơn chỉ có chừng 100 người được) mà nhiều khi kết quả gần như là một trò chơi xổ số. Ngay cả những khôi nguyên Nobel cũng không thể đoán được mình sẽ có grant trong năm tới hay không.

Nhiều nhà khoa học cấp cao mỗi năm phải bỏ ra rất nhiều thì giờ chỉ để viết grant. Có người nói rằng gần 70% thời gian của họ là chỉ để nghĩ ra ý tưởng mới và viết grant xin tài trợ. Nhưng tính trung bình, tôi nghĩ con số là khoảng 40-50%.

Do đó, trái với suy nghĩ của công chúng là giới khoa học chỉ ngồi trên tháp ngà suy nghĩ chuyện đâu đâu, trong thực tế họ bỏ ra rất nhiều thì giờ để viết. Không phải chỉ viết bài báo khoa học, mà phần lớn là viết grant xin tài trợ! Viết rất nhiều, nhưng tài trợ thì chẳng bao nhiêu. Như một bài hát là “Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu”.

Tiền khủng phải chi cho xuất bản và hội nghị

Ngay cả khi có may mắn nhận tài trợ thì lại phải chi cho rất nhiều khoản chi khác trong công bố khoa học và hội nghị mà người ngoài không thấy. Giáo sư Kathryn Rudy (nhà sử học Canada) liệt kê 7 khoản chi cho công tác phí, chi phí mua bản quyền bài báo hay hình, chi phí công bố sách, chi phí công bố bài báo khoa học, v.v.

Trong các khoản chi đó, tôi chú ý đến chi cho xuất bản sách. Bà viết rằng khi nộp bản thảo cuốn sách cho nhà xuất bản, họ đòi ấn phí 36.000 USD trước khi gửi ra ngoài để bình duyệt. Trong khoa học xã hội, xuất bản sách là một trong những tiêu chuẩn để được đề bạt chức vụ giáo sư, mà xuất bản sách với cái giá này thì quả thật là khó khăn cho họ.

Đối với khoa học thực nghiệm như chúng tôi thì xuất bản sách không quan trọng, nhưng chúng tôi phải chi nhiều khoản khác như hội nghị, xuất bản bài báo, lưu trữ dữ liệu. Dự hội nghị rất quan trọng, vì đó là hình thức duy trì sự hiện diện và cái mà giới đại học thường nói là ‘visibility’. Duy trì visibility cho labo nghiên cứu và cho cả viện/trường trên trường quốc tế giúp nâng cao hạng của đại học; do đó, các giáo sư thường phải có mặt trong các hội nghị quan trọng trong chuyên ngành.

Mỗi năm, tôi phải đi dự một số hội nghị quan trọng, thường là 3 hội nghị ở Âu châu, Mĩ, và Úc. Chi phí hội nghị ngày càng đắt đỏ: hơn 20 năm trước, chi phí ghi danh hội nghị ASBMR (khoảng 5000 người) chỉ chừng 150 USD, nhưng ngày nay là 600 USD.

Đi dự hội nghị là phải mua vé máy bay, và một chuyến đi Mĩ giá trung bình là 5000 USD. Ngoài vé máy bay, còn phải đặt phòng khách sạn, và mỗi hội nghị 5 ngày thì tiền phòng cũng xấp xỉ 1000 USD. Như vậy, chỉ 1 hội nghị thì chi phí cũng cỡ 7000 USD. Hội nghị Âu châu cũng có chi phí cỡ đó, nhưng hội nghị ở Úc thì chỉ chừng 2000 USD.

Nhưng đó là chi phí cho 1 cá nhân, chúng tôi còn phải lo chi trả cho thành viên của nhóm. Nếu nhóm có 3 người đi thì chi phí xấp xỉ 15,000 USD cho nước ngoài cộng với 5000 USD cho hội nghị địa phương. Tính trung bình, mỗi năm labo chúng tôi chi gần 20,000 USD chỉ cho hội nghị!

Ngoài chi phí hội nghị, giới khoa học còn phải trả ấn phí xuất bản. Làm nghiên cứu khoa học là phải công bố kết quả nghiên cứu. Ngày nay, công bố khoa học cũng phải trả ấn phí. Nếu tập san chuyên ngành do hiệp hội chuyên môn quản lí thì cái giá là khoảng 1000 USD mỗi bài. Nếu công bố trên các tập san Mở (Open Access) thì có thể dao động từ 1500-5000 USD. Tập san danh tiếng (như Nature, Cell) thì ấn phí (trên 5000 USD một bài) càng cao. Mỗi năm, tính trung bình labo tôi chi ra khoảng 10.000 USD cho xuất bản phí. Tất cả những chi phí đó đều lấy từ các grant tài trợ cho nghiên cứu. Do đó, một lần nữa, vai trò của grant rất ư quan trọng.

Nhà khoa học = nhà ngoại giao + quản lí

Mỗi labo nghiên cứu khoa học ngày nay có thể xem như là một doanh nghiệp nhỏ. Trong cái doanh nghiệp đó, giám đốc là giáo sư hay người đứng đầu labo; vận hành khoa học và thí nghiệm là các hậu tiến sĩ; “công nhân” là các nghiên cứu sinh. Tất cả tiền điện, nước, in ấn, vệ sinh…labo đều phải trả tiền cho viện nghiên cứu hay trường đại học. Một labo nho nhỏ (5 người) thì chi phí này có thể lên đến 20.000 USD. Tất cả các tiền này cũng phải trích từ grant được tài trợ.

Do đó, nhà khoa học ngày nay không chỉ đơn thuần làm nghiên cứu khoa học, mà còn phải … hơn thế nữa. Cái ‘hơn thế nữa’ ở đây bao gồm khả năng quản lí và khả năng ngoại giao. Quản lí cơ sở vật chất, quản lí nhân sự, quản lí ngân sách, quản lí các mối liên hệ là những kĩ năng không thể thiếu được của một nhà khoa học. Quản lí tài chánh càng ngày càng trở thành một kĩ năng vô cùng quan trọng vì nếu làm không tốt thì rất dễ bị … sạt nghiệp. Kĩ năng ngoại giao vô cùng quan trọng, vì nói cho cùng nhà khoa học phải sống trong ‘bộ lạc’, và làm quen với các nhân vật quan trọng trong bộ lạc là kĩ năng sống còn.

Cạnh tranh dữ dội

Hầu hết các nhà khoa học chọn nghiệp nghiên cứu đều đối diện với một tương lai bất định suốt đời. Tình trạng bất định xuất phát từ nguồn tài trợ cho khoa học càng hiếm và cạnh tranh rất cao. Dĩ nhiên, những người có lương từ các đại học thì tình trạng bất định không nghiêm trọng (vì họ có lương ổn định) như các nhà khoa học từ các viện nghiên cứu độc lập. Nhưng ngay cả các giáo sư đại học cũng thích có fellowship vì có tài trợ đó họ không lệ thuộc vào trường đại học mà còn có ‘prestige’ trong chuyên ngành. Fellowship là một dạng của grant.

Để biết tính cạnh tranh như thế nào, có thể xem qua vài con số về công bố khoa học trong đợt tài trợ fellowship vừa qua của Hội đồng Quốc gia về Y tế và Y khoa Úc (NHMRC). Có 2 loại fellowships chính: loại dành cho các nhà khoa học sau tiến sĩ 10 năm (gọi là EL) và loại dành cho các nhà khoa học cấp phó giáo sư trở lên (tức đã ‘thành danh’).

Để có một fellowship loại EL ứng viên phải có ít nhất 30 bài báo khoa học trong lí lịch và những bài báo này phải có tác động ít nhất là 2 lần so với trung bình. Ứng viên loại ‘thành danh’ phải có ít nhất là 100 bài báo khoa học, và tác động nghiên cứu phải cao ít nhất là 3 lần trên trung bình.

Ba phần tư ứng viên rớt trong giai đoạn đầu tuyển chọn; chỉ có 25% vào vòng ‘chung kết’, và chỉ có 11% trong số vào vòng chung kết đạt được fellowship. Do đó, cường độ cạnh tranh để có grant dạng fellowship rất cao, và giới khoa học gốc Á châu hay nữ thường bị thiệt thòi.

Đấy là những lý do khiến giới khoa học cấp giáo sư nom có vẻ ‘bất thường’, mà lí do đơn giản và gần nhất là họ phải lo đến tương lai mất việc do không có grant – tài trợ. Nhưng bài viết cũng muốn nhắn đến các bạn đang theo học tiến sĩ hay đang làm nghiên cứu hậu tiến sĩ nên lưu tâm đến tình trạng bất định trong sự nghiệp khoa học.

Đã chọn sự nghiệp nghiên cứu thì phải biết trước tình trạng này và chuẩn bị cho sự chông chênh trước mặt. Nói như vậy không có nghĩa là không chọn sự nghiệp nghiên cứu, vì chọn lựa là quyết định cá nhân. Ai cũng muốn thành công trong sự nghiệp, nhưng thành công chỉ đến với những người chọn con đường khó khăn và chông gai, chớ không bao giờ đến với những người lựa chọn con đường trơn tru.

Kẻ đưa đò

Hôm nọ, tôi chủ trì buổi [cứ tạm gọi là] bảo vệ luận án tiến sĩ (1) của một em nghiên cứu sinh. Quan sát và nghe cách trình bày tôi thấy em ấy đã trưởng thành khá nhiều trong thời gian 4 năm qua. Nhìn lại mình, tôi chợt nhận ra cái hình tượng và vai trò của kẻ đưa đò của mình trong thời gian qua.

Người hướng dẫn tiến sĩ như kẻ đưa đò. Tôi thấy cách ví von bằng hình tượng này rất hay. Quan niệm của tôi về vai trò của người mentor là giúp nghiên cứu sinh trở thành ‘leader’ bằng cách giúp họ tiếp xúc những ‘leader’ trong chuyên ngành trên thế giới.

Bất cứ nghiên cứu sinh nào mới bước vào con đường nghiên cứu khoa học cũng đều có những … ngây ngô. Những ngây ngô rất dễ thương. Dù họ chẳng biết gì về vấn đề, nhưng họ người thì tham vọng đầy mình, người thì rụt rè thiếu tự tin. Có người vào con đường nghiên cứu với tham vọng chinh phục bệnh tật, muốn tìm ra tất cả những gì mình muốn tìm cho được. Trái lại, cũng có người e dè, rụt rè, sợ hãi, không biết tương lai sẽ ra sao, mình sẽ nghiên cứu cái gì, và kết quả như thế nào, có đủ chất liệu cho một luận án tiến sĩ. Dù tham vọng hay thiếu tự tin, tuyệt đại đa số các nghiên cứu sinh mới vào học cứ như là học trò tiểu học: ngơ ngáo.

Rồi họ phải qua một thời gian 4 năm (có khi 6 năm) rèn luyện trong cái lò gọi là “laboratory”. Trong cái lò đó, họ phải đọc rất nhiều bài báo khoa học, và chính vì thế mà người ta gọi học tiến sĩ là “reading”; họ phải thực hiện nhiều nghiên cứu; học cách thiết kế thí nghiệm và trân trọng dữ liệu; họ phải học cách phân tích dữ liệu; họ phải học cách diễn giải kết quả phân tích; họ phải học cách viết bài báo khoa học; họ phải học cách nói trong các hội nghị nhỏ và lớn; họ phải học đối nhân xử thế với đồng môn và biết đối xử với cấp trên trong chuyên ngành. Nói chung, họ phải trải qua một giai đoạn rèn luyện về “kĩ năng cứng” lẫn “kĩ năng mềm.”

Trong quá trình đào tạo đó, họ phải chịu rất nhiều “bầm dập” tinh thần. Xuất thân là những sinh viên xuất sắc (trong ngành y hay ngoài ngành y), nhưng khi vào học tiến sĩ thì cái quá trình đào tạo trong cái lò đó làm cho họ thấy mình như những kẻ ngu dốt. Có thể nói bất cứ cái gì họ làm cũng đều bị đánh giá là sai hay chưa ok! Làm cái gì cũng bị chê là sai, là chưa đúng, là chưa đạt. Trong seminar, phát biểu ra một ý nào đó thì bị thầy hay đồng nghiệp chê là học chưa đến và thiếu kiến thức. Diễn giải dữ liệu thì bị chê là kém hiểu biết! Viết văn thì bị chê là dở và bị chỉnh sửa như học trò tiểu học. Nói trước hội nghị thì bị chê là thiếu tính chuyên nghiệp. Nói chung, cái quá trình đào tạo tiến sĩ biến một nghiên cứu sinh sáng dạ và hăng hái khi mới vào học trở thành nhũn nhặn sau khi ra trường. Một lò đào tạo tốt phải làm cho người tốt nghiệp tự tin hơn về kĩ năng nhưng khiêm tốn hơn về kiến thức. Tự tin vì mình biết được vấn đề và có đóng góp vào giải quyết vấn đề. Nhưng khiêm tốn hơn vì biết mình còn có quá nhiều điều để học hỏi.

Nhưng cái hay của quá trình đào tạo đó là nó rèn luyện những sinh viên trưởng thành. Trưởng thành để tự nhận ra là mình còn ‘nhỏ’. Trưởng thành trong suy nghĩ một cách ‘critical’, và rèn luyện tính hoài nghi lành mạnh (healthy skepticism) trước những phát biểu khoa học. Trưởng thành trong cách phát hiện và giải quyết vấn đề. Trưởng thành trong tầm nhìn về chuyên ngành và có một bức tranh lớn trong đầu. Trưởng thành trong kĩ năng khoa học và văn hóa khoa học. Tuy nhiên, có không ít nghiên cứu sinh người Việt mới xong, thậm chí chưa xong chương trình đào tạo, mà đã tự cho mình là “expert” (chuyên gia) và phát biểu kiểu coi trời bằng vung, nhìn thấy ai cũng sai. Những người kém văn hoá này sẽ không bao giờ thành công trong khoa học.

Một ‘outcome’ quan trọng khác là quá trình đào tạo giúp cho sinh viên biết viết và biết nói tốt hơn. Viết và nói là hai kĩ năng rất cơ bản và gần như tự nhiên của con người, nhưng viết và nói trong môi trường khoa học là hai kĩ năng phải học chứ không thể có được một cách tự nhiên. Chỉ cần nhìn cách nghiên cứu sinh tốt nghiệp trình bày trong hội nghị, người ta có thể đoán được người đó được đào tạo hoàn chỉnh hay không.

Tốt nghiệp tiến sĩ cũng chỉ mới là bước đầu trong sự nghiệp khoa học. Tôi hay ví von rằng tốt nghiệp tiến sĩ như là mới xong huấn luyện ở một võ đường, người tốt nghiệp còn phải “xuống núi” đề đầu quân vào một võ đường khác — hay nói cụ thể hơn là làm nghiên cứu hậu tiến sĩ (postdoc) ở một labo khác. Các đại học Úc và Mĩ rất kị hiện tượng inbreeding tri thức, nên họ “đuổi” nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp sang một labo khác (trước khi quay về trường cũ). Phải sau khi xong chương trình postdoc thì mới bắt đầu trưởng thành trong khoa học được. Một điều đáng tiếc là rất nhiều nghiên cứu sinh Việt Nam không có cơ hội làm nghiên cứu postdoc (hay có nhưng thời gian quá ngắn) nên họ chưa thật sự trưởng thành trong khoa học.

Điều làm cho nhiều nghiên cứu sinh lo lắng và mối tương tác với người thầy. Họ rất ngại lọai thầy “độc tài” và lọai thầy cô “vua chúa”. Hai loại thầy này không cần biết nghiên cứu sinh làm gì, họ chỉ cần có kết quả; họ xem nghiên cứu sinh như đám nô lệ rẻ tiền. Thân phận nghiên cứu sinh trong các labo nước ngoài giống như câu ca dao “thân em như tấm lụa đào / phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”. May mắn gặp được thầy tốt thì êm xuôi, còn nếu xui xẻo gặp thầy “cà chớn” thì đành ôm mối hận dài lâu.

Đây là nghiên cứu sinh số 13 thuộc lab tôi, chưa kể 2 người ở Việt Nam và 1 ở Thuỵ Điển. Tôi đã có nghiên cứu sinh người Úc, Trung Đông, Tàu lục địa, Tàu Hồng Kông, người Việt từ Việt Nam và người Việt sanh ra và trưởng thành ở Úc. Phải nói rằng trong nhóm nghiên cứu sinh đó, nếu lấy thước đo về giải thưởng và công bố khoa học thì nghiên cứu sinh người Việt Nam là thành công nhất. Sự thật đó làm cho tôi tự hào. Điều đó cũng nói lên rằng nếu người Việt mình được đặt vào môi trường tốt thì họ sẽ có cơ duyên thi thố tài năng, và có lẽ [nếu không hơn người] thì cũng sẽ chẳng kém ai.

Tương lai sau khi tốt nghiệp tiến sĩ giống như bức hoạ cartoon này.

https://www.the-scientist.com/opinion/opinion-the-postdoc-crisis-34259

Nhưng con đường khoa học phía trước của các nghiên cứu sinh sau khi tốt nghiệp còn gian nan lắm. Không phải như ở Việt Nam (nơi nghiên cứu sinh mới ra trường thì có khi thành quan chức, nhà quản lí, hay đảm nhiệm các chức vụ quan trọng), ở ngoài này thì các nghiên cứu sinh còn phải qua một giai đoạn nghiên cứu hậu tiến sĩ (postdoc), và để có một vị trí postdoc là cả một cuộc cạnh tranh gian nan, chỉ có một số ít mới được vị trí này. Sau postdoc, còn phải phấn đấu để đạt các vị trí khoa bảng quan trọng trong đại học, và nhất là … xin tài trợ. Nhiều người có thể thành công trong học tiến sĩ, nhưng cứ “bồng bềnh” sau khi tốt nghiệp tiến sĩ.

Khó khăn đặc biệt là lớn đối với người Á châu chúng ta. Tôi mới thử làm một phân tích các dữ liệu của NHMRC (giống như NIH bên Mĩ) thì thấy đúng là người Á châu chúng ta gặp nhiều khó khăn trong nấc thang khoa bảng. Trong số hơn 2000 học bổng tiến sĩ do NHMRC cấp, có khoảng 20% là sinh viên gốc Á châu. Nhưng con số này rơi rụng dần dần khi leo những nấc thang cao hơn: ở cấp đầu sự nghiệp, trong số hơn 1000 nhà khoa học được cấp Early Career Fellowship, chỉ có 10% là gốc Á châu; nhưng ở cấp Research Fellowship (cấp giáo sư), thì trong số gần 600 người được trao ‘ghế’ , chỉ có 3.5% là nhà khoa học gốc Á châu! Trong số nhà khoa học được tài trợ dự án nghiên cứu cấp “Project Grants”, chỉ có 3% là nhà khoa học gốc Á châu, và ở cấp “Program Grants” thì không có người Á châu nào (zero). Khi nói “gốc Á châu” ở đây, chủ yếu là Tàu, kế đến là Ấn Độ. Riêng số người Việt trong các nấc thang trên thì còn ít lắm, chỉ đếm đầu ngón tay thôi. Những dữ liệu trên cho thấy ở cấp thấp, các nhà khoa học gốc Á châu khá thành công, nhưng ở cấp cao thì “rơi rụng” rất nhiều.

Nói như vậy để thấy con đường từ tốt nghiệp tiến sĩ đến một nhà khoa học độc lập và ‘thành công’ là rất gian nan. Nhưng “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi / mà khó vì lòng người ngại núi e sông,” không vì khó khăn mà “đầu hàng”. Ở nước ngoài — chứ đâu phải ở Việt Nam nơi mà yếu tố ngoài khoa bảng quyết định — mọi người đều có cơ hội để đạt được giấc mơ của mình. Quan niệm của tôi về hướng dẫn nghiên cứu sinh (tiếng Anh gọi là mentorship) là giúp nghiên cứu sinh tin vào tương lai, và đạt được hoài bão trở thành ‘leader’ bằng cách giúp họ tiếp xúc những ‘leader’ trong chuyên ngành trên thế giới. Tôi nghĩ quan niệm đó đúng với vai trò của kẻ đưa đò vậy. Đến đây, thì tôi đã làm tròn vai trò của kẻ đưa đò và sẽ lui vào hậu trường để quan sát thế hệ mới vươn lên.

===

(1) Ở Úc, không có buổi “bảo vệ luận án” như bên các nước Bắc Âu, vì nghiên cứu sinh thường xuyên báo cáo tiến độ nghiên cứu hàng 6 tháng (cấp khoa/trường) và hàng tuần/tháng (cấp labo). Ngoài ra, kết quả nghiên cứu đều đa phần công bố trên các tập san khoa học, nên không cần buổi bảo vệ luận án. Tuy nhiên, nghiên cứu vẫn phải qua một buổi gọi là “Final Presentation” trước hội đồng trường và bất cứ ai muốn tham dự nghe.