Kỉ niệm những ngày đầu trên đất Úc

Hôm nay (26/1) là ngày Quốc Khánh của Úc, nhưng cũng là ngày lịch sử đối với tôi. Gần 40 năm trước (ngày 26/1/1982), tôi đến Úc bắt đầu hành trình của một ‘refugee’. Bây giờ hồi tưởng lại những ngày đầu tiên trên đất nước này mà lòng nhiều bồi hồi, và viết một mạch những kỉ niệm đó, từ chuyến bay Qantas, đến Cabramatta Hostel, vấn đề tiếng Anh, và những suy tư về tương lai.

Một nhóm người tị nạn cầm cái biển ‘Cám ơn Úc’ khi mới đặt chân đến Úc.

Kỉ niệm Bangkok hoa lệ

Tôi còn nhớ ngày đầu tiên lên Bangkok, với cảm giác hào hứng rất khó tả. Theo qui định, tất cả người tị nạn (Việt, Khmer, Lào) rời trại ‘transit’ có tên là Phanatnikhom (gần Pattaya ngày nay) đi Bangkok để làm thủ tục sau cùng đi định cư. Chúng tôi đi trên một chiếc xe bus, chắc cả 100 người. Gần 4 giờ đường mới tới địa hạt Bangkok.

Lúc đó tôi đã ở qua các trại tị nạn gần 1 năm, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài, nên lên Bangkok thì thấy cái gì cũng … lạ. Ui chao, thành phố Bangkok lúc đó là quá hiện đại so với ‘Hòn ngọc Viễn Đông’ của tôi thuở nào. Xe auto quá nhiều, xa lộ trên không và xe chạy vụt vụt trông cứ như là bay, còn nhìn xuống phố xá thì tràn ngập người đi đường và hàng hoá. Cảm tưởng của tôi lúc đó là ‘ôi, Hòn ngọc Viễn Đông của tôi chả có nghĩa lí gì với Bangkok’!

Thật ra những ngày ở các trại tị nạn Budi, Songkhla, Panatnikhom, v.v. tôi đã thấy đời sống người Thái Lan ở nông thôn đã quá cao so với người Việt. Ở cái làng Budi xa xôi mà mỗi nhà đã có một chiếc xe Toyota pickup rồi, còn xe Honda thì nhiều vô số. Cuộc sống của họ nhàn hạ hơn người Việt ở nông thôn. Sau này (khoảng 2013) tôi quay lại Thái Lan và có dịp ở đó một tháng và đi đây đó mới thấy họ đã hơn Việt Nam cả 20-30 năm về kinh tế. Nhiều người trẻ mới sanh sau này và mới thấy Việt Nam kha khá tưởng là mình ‘ngon lành’ lắm, nhưng thật ra là ấu trĩ, vì Việt Nam đã thua Thái Lan từ 1975.

Xe bus chở chúng tôi vào một … nhà tù. Nhà tù này (tôi quên tên) chỉ dành cho những người nước ngoài ở quá hạn visa. Nhưng họ cho chúng tôi ở một khu biệt lập, không gần những người phương Tây. Nói là nhà tù, nhưng thật ra là khá sạch sẽ, và nhân viên ở đó đối xử với chúng tôi cũng rất tử tế. Họ cho chúng tôi biết là chỉ ở đây 2 đêm thôi, chủ yếu là làm thủ tục với Toà đại sứ Úc trước khi lên máy bay sang Úc. Thủ tục thì chẳng có gì quan trọng, vì họ chỉ kiểm tra lần cuối về căn cước, danh tánh, và danh sách đầy đủ. Có ba danh sách: người đi Úc, người đi Mĩ, người đi Pháp. Danh sách đi Mĩ là nhiều nhứt. Cái tài liệu quan trọng nhứt là cái visa màu xanh với thời gian được ở Úc là “indefinite” (vô hạn định).

Sáng hôm 25/1/1982, chúng tôi được ‘lùa’ lên xe bus để ra phi trường Bangkok. Lần đầu tiên trong đời tôi mới biết phi trường nó ra làm sao! Ngày xưa chỉ đi ngang phi trường Tân Sơn Nhứt (nay là ‘Tân Sơn Nhất‘) chớ đâu có biết trong đó có gì. Chúng tôi xếp hàng dọc đi theo hướng dẫn của một nhân viên thuộc ICM (của Liên Hiệp Quốc). Vừa đi vừa nhìn chung quanh, tôi nghĩ trong bụng: ui chao, phi trường gì mà mênh mông và hiện đại y như câu ‘phồn hoa đô thị’! Nhìn thấy ai cũng sang trọng trong những bộ quần áo mà tôi đoán là mắc tiền lắm trong các tiệm bán rượu, nước hoa, kẹo, đồ lưu niệm đèn đuốc sáng choang. Dĩ nhiên, chúng tôi không được ghé qua bất cứ tiệm nào (mà có ghé cũng chẳng có tiền mua), mà phải đi đến một cái phòng chờ.

Chờ chừng 3 giờ đồng hồ, thì cũng đến lúc lên máy bay. Tôi lại trầm trồ ngạc nhiên, vì máy bay nhìn ở ngoài thì không rộng, nhưng vào trong thì ôi thôi có hàng trăm người. Sau này tôi mới biết đó là chiếc Boeing 747 của hãng Qantas. Hoá ra, họ cho hành khách ‘chánh thức’ lên máy bay trước, còn đoàn tị nạn thì lên sau cùng, và được sắp xếp những hàng ghế sau cùng của máy bay. Lúc đó tôi có biết hạng business hay economy gì đâu, chỉ có chỗ ngồi là mừng lắm rồi. Tôi được sắp xếp ngồi ghế cửa sổ. Ngồi chưa nóng ghế thì một chị chiêu đãi viên đem đến cái khăn lau mặt và li nước cam. Tôi ngạc nhiên nghĩ “Trời ơi! Sao họ tử tế với mình vậy cà?” Ôi, cái khăn lau mặt thơm phức, còn li nước cam sao mà ngọt ngào thế! Kỉ niệm muôn đời không quên.

Mỗi chúng tôi chẳng có hành lí kí gởi gì cả. Mỗi người chỉ có cái vỏ xách tay với vài bộ đồ trong đó. Đa số chúng tôi chỉ mang dép bata, rất ít ai có giày. Riêng tôi thì mặc cái áo trắng rộng thùng thình và quần tây, cùng đôi dép da bata mua ở trại tị nạn. Vậy là ‘ngon lành’ lắm rồi, vì còn có những người trông còn nghèo hơn tôi nữa.

Trên máy bay tôi chẳng có việc gì làm. Đầu óc thì nghĩ đến tương lai, không biết mình sẽ làm gì đây ở quê hương mới. Mình nói qua đó làm nghề nông, họ nói mình không đủ tiền thì đừng có mơ! Mình muốn đi học tiếp, họ nói tiếng Anh vầy mà học hành gì! Cuối cùng thì cũng nhờ câu trả lời muốn xem con Kangaroo mà được cho đi Úc. Nói vậy thôi, chớ làm gì qua đó mà chỉ nhìn Kangaroo. Nghĩ miên man, và nhìn chung quanh thấy người ta hút thuốc lá (thời đó còn cho hút thuốc lá trên máy bay), rồi lại tự hỏi mấy người này là ai mà trông có vẻ sang trọng ghê. Nghĩ một hồi rồi ngủ quên hồi nào không hay.

Visa đi Úc 1982

Kỉ niệm cái nóng Sydney

Sau hơn 9 (?) giờ bay, máy bay đang hạ dần cao độ, tôi đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ, thành phố Sydney đã hiện ra trong tầm mắt. Tôi sắp tới Úc. Cái ý tưởng đó lại làm cho tôi bồi hồi, xúc động một cách khó tả. Trên máy bay, cô tiếp viên nói trên loa câu “Chào mừng các bạn đến Sydney, Úc Đại Lợi” (Welcome to Sydney, Australia) và thông báo cho chúng tôi biết hôm nay là ngày 26 tháng 1 năm 1982, ngày Quốc khánh của Úc. Cô ấy còn cho biết nhiệt độ hôm nay là 42 độ C. Tôi chưa có khái niệm về nhiệt độ Úc nóng như thế nào, nhưng khi ra phi trường trong cái nóng hừng hực tôi mới bị sốc. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng nước Úc đang ở vào mùa hè!

Sau khi làm thủ tục nhập cảnh nhanh chóng, tôi ra ngoài hành lang phi trường. Một rừng người Tây đang chờ đón thân nhân. Tôi thấy mình lạc lõng làm sao. Người tị nạn nào cũng ốm tong teo và đen đúa, trong khi ở đây ai cũng có vẻ hồng hào và phương phi. Người ta thì hành lí sang trọng, còn tôi thì chỉ có một cái túi xách trên vai chứa đúng hai bộ quần áo. Tôi đoán rằng mình lúc đó chắc như Hai Lúa lên thành. Thật ra, Hai Lúa còn hơn tôi nữa, vì lúc đó tôi chẳng có một đồng xu dính túi.

Nhân viên ICM đã hối chúng tôi lên xe bus về hostel. Nghe chữ ‘hostel’ tôi đã ngạc nhiên, vì hồi nào đến giờ chỉ nghe ‘hotel’ chứ có nghe hostel bao giờ đâu. Mãi sau này tôi mới biết hostel là một loại hotel cho ‘host’ (khách) – viết ghép – ở dài hạn.

Chúng tôi lên xe bus đi về một trung tâm tạm cư ở vùng ngoại ô phía Tây Nam Sydney có tên là Cabramatta. Trên đường từ phi trường đến vùng ngoại ô Cabramatta, tôi để ý không thấy nhà cửa cao vút trời như ở Bangkok, mà chỉ toàn là nhà gạch đỏ ao, không sơn phết phía ngoài như nhà ở Việt Nam. Có lúc xe chạy ngang qua những khu cây cối um tùm mà tôi tưởng như đang đi trong rừng. Sau này tôi mới biết đó là đại lộ Henry Lawson (một thi sĩ người Úc), một trong những con đường đẹp của Sydney. Lúc đó, tôi đã hơi thất vọng, vì nước Úc không như mình nghĩ trong tâm tưởng là một xứ với nhà lầu cao trọc trời, văn minh, hiện đại.

Xe bus đậu bến Cabramatta Hostel, tôi đã thấy vài người đang nằm trên bãi cỏ xanh rì đọc sách hay ngắm nhìn trời xanh. Tôi để ý thấy đủ sắc dân ở đó mà sau này tôi được biết là họ đi từ Campuchea, Lào, Hồng Kông, Nam Dương, Ba Lan, Nam Tư, Tiệp Khắc, Liên Xô, v.v.

Nhìn hostel từ phía ngoài qua màu gạch có vẻ cũ kĩ, nhưng phía trong phòng lại đầy đủ tiện nghi như phòng trong khách sạn. Quang cảnh xanh tươi và cây cỏ rất giống Đà Lạt. Lúc bấy giờ tôi mới nhận ra rằng người Úc không chú trọng bề ngoài nhưng lại rất quan tâm đến bên trong, nội thất. Theo qui định của hostel, chúng tôi không được nấu nướng trong phòng mà phải ăn ở phòng ăn của nhà bếp. Phòng ăn và nhà bếp rất lớn, có khả năng phục vụ cả vài trăm người.

Vì mới tới trại, chưa đủ thời gian để chính phủ trợ cấp an sinh xã hội, nên hội từ thiện công giáo St Vincent de Paul lúc đó cho chúng tôi mỗi người 30 đô-la và một vé đi mua quần áo cũ ở tiệm của Hội. Cầm cái phiếu đi lãnh đồ, tôi tưởng là đồ mới, nhưng không phải. Đó là cái shop của Hội St Vincent de Paul, chuyên bán đồ cũ cho người nghèo (loại quần áo mà VN ta quen gọi là SIDA). Nói đồ cũ nhưng còn mới và đẹp với tôi lắm. Tôi được cho phép tha hồ chọn 3 bộ đồ (quần và áo) và một đôi giày (vì tôi đến Úc bằng đôi dép, dân ‘vô sản’ chính hiệu!).  Cho đến nay, tôi vẫn giữa 3 bộ đồ này làm kỉ niệm, còn đôi giày thì đành phải ‘chia tay’ với nó vài năm sau. Đó cũng chính là lí do tại sao sau này tôi tích cực cho quần áo và cho tiền Hội St Vincent de Paul.

Kỉ niệm “Dymock” và “Oxford”

Lần đầu tiên cầm trên tay 30 đôla, tôi chẳng biết phải làm gì với số tiền này. Tôi chợt nhớ đến cuốn từ điển, và thế là đón xe lửa đi lên ‘City’ (là cách nói thành phố Sydney của người địa phương). City cách Cabramatta chừng 40 km, nhưng đi xe lửa thì chỉ mất chừng 50 phút và êm lắm.

Ga xe lửa Cabramatta lúc đó còn nghèo nàn lắm. Cây cầu bắt ngang đường rầy làm bằng gỗ và sắt cũ kĩ. Xe lửa thì còn loại “Red Rattler” (màu đỏ) chỉ có 1 tầng và không có máy lạnh. Mùa hè mà đi xe lửa loại này là khách phải mở hết cửa sổ. Nhưng cũng may là thời đó xe lửa rất ít khách. Mỗi toa xe chỉ chừng 50% ghế là có khách thôi. Xe chạy rất ồn ào, nhưng đối với tôi là quá ‘ngon lành’ rồi.

Xe chạy tới Sydney, và trạm tôi đến là Town Hall, ngay trung tâm thành phố. Ga Town Hall là ở dưới mặt đất, nhưng khá đông khách qua lại. Ui chao, mới bước lên mặt đường tôi mới thấy choáng ngộp và nghĩ “Ah, đây mới là thành phố”. Những toà nhà cao vút, những siêu thị bóng loáng, những con người sang trọng tập nập đi lại, còn dưới đường thì xa cộ quá nhiều chẳng khác gì Bangkok.

Địa điểm tôi tới là Nhà sách Dymock, nhưng tôi đã gặp trở ngại về tiếng Anh ngay từ giây phút đầu tiên. Tôi cầm tấm bản đồ để định hướng cái nhà sách, thì một ông tốt bụng dừng lại hỏi tôi tìm gì. Tôi nói “Tôi tìm nhà sách Đi Mốc“. Ông người Úc nghĩ một hồi rồi hỏi lại “Nhà sách gì?” Tôi tự tin lặp lại chữ “Đi Mốc” vì tên nó là Dymock. Có lẽ đầu hàng với loại tiếng Anh của tôi, ông kêu tôi viết ra, và tôi viết “D Y M O C K”. Ông vỗ trán rồi kêu lên “Ah, Đi Mịch“. Trời, sao viết vậy mà đọc khác quá vậy. Nghĩ vậy nhưng không dám hỏi. Ông ấy kéo tôi ra góc đường, rồi chỉ về hướng đường George có một cái toà nhà màu đỏ thiệt lớn, đó là nhà sách Đi Mịch. Tôi cám ơn rối rít ông tốt bụng. Tôi đi về hướng nhà sách, mà ông ấy vẫn đứng nhìn sợ tôi đi lạc. Ôi, sao đời có người tử tế thế. Đúng là xứ sở tự do!

Đến nhà sách Dymock, tôi lại học thêm một bài học về phát âm tiếng Anh. Nhà sách lớn mà tôi chưa thấy trong đời. Nhà sách Khai Trí ở Sài Gòn xưa kia chỉ bằng 1 góc cái nhà sách vĩ đại này. Sách mênh mông, và sắp xếp theo ngành nghề hay chủ đề. Không có cách gì một kẻ lơ tơ mơ như tôi mà tìm được sách dễ dàng.

Tôi tìm gặp anh nhân viên bán hàng và nói: “tôi muốn mua một cuốn từ điển Ox-pho“.  Tôi nghĩ xe Ford mình đọc là “pho”, vậy thì Oxford mình đọc là “Ox-pho”, nên tôi đọc là ócx-fo.  Anh chàng bán sách chẳng hiểu tôi nói gì, nhưng anh ta rất lịch sự, kiên nhẫn nghe tôi nói, nhưng chắc anh ấy chẳng hiểu gì, nên lại đề nghị tôi viết xuống giấy.  Tôi viết xuống ngay: “O X F O R D”.  Anh ấy đọc xong rồi mới vỗ trán một cái và nói: “Ah, Ocx-phớd”.  Nói xong, anh dạy tôi đọc chữ đó, và dặn tôi nhớ đọc như anh ấy, chớ đọc kiểu tôi chẳng ai hiểu đâu.  Ôi, một bài học tiếng Anh nhớ đời.  (Sau này tôi hay chỉ cho chiêu đãi viên và pilot của Vietnam Airlines đọc cho đúng tên phi trường “Kingsford Smith”, mà thường thì họ đọc không đúng như tôi ngày xưa),

Anh bán hàng rất tử tế, anh dẫn tôi đến hàng từ điển, có hàng chục loại từ điển, và anh giảng giải công dụng của từng loại, rồi hỏi tôi vậy anh muốn mua cuốn nào? Thú thiệt, anh ta nói nhiều, chứ tôi có hiểu anh ấy nói gì đâu, chỉ nghe lõm bõm thôi.  Cuối cùng thì tôi cũng mua được một cuốn vừa ý, tốn mất 15 đôla.  Cuốn từ điển này vẫn còn trong tủ sách của tôi.  Mỗi lần thấy nó, tôi nhớ đến câu chuyện phát âm chữ “Oxford.”

Kỉ niệm học tiếng Anh

Tất cả những người mới nhập cư đều phải học tiếng Anh. Dĩ nhiên, nhiều người trước khi đến Úc đã học tiếng Anh, nhưng đó là loại tiếng Anh academic, hơi khác với tiếng Anh cho đời sống. Lớp tiếng Anh ở đây (Cabramatta Hostel) là nhằm giúp cho người mới nhập cư hội nhập vào xã hội Úc, và quan trọng hơn là tìm việc làm.

Do đó, cách họ dạy tiếng Anh rất ư là thực dụng. Họ không mấy quan tâm đến văn phạm hay ngữ vựng, mà là đối thoại. Cô giáo là một người Úc tên Katherine, chừng 30 tuổi, đẹp người đẹp nết. Bà rất vui tính, và rất kinh nghiệm trong giảng dạy (tôi có thể đánh giá vì cũng từng làm nghề dạy học). Tôi nhớ hoài ngày tôi chia tay lớp học, bà nói “Tôi sẽ hẹn cậu ngày buổi lễ 150 năm thành lập nước Úc.”

Chương trình học thì chủ yếu là đàm thoại. Ngày nào cũng How are you‘, ‘I am fine, thank you‘, ‘I am looking for a job, v.v. Mấy ngày đầu thì ok, nhưng kéo dài hoài thì phải nói là tôi chán ngấy. Tôi chỉ học được chừng  hơn1 tuần thì … bỏ học.

Tôi quyết tâm tự học. Cách học tiếng Anh của tôi rất đơn giản và đã có lần chia sẻ rồi.  Mỗi ngày tôi học chỉ một chữ. Nhưng tôi học cẩn thận, ngoài nghĩa của chữ, tôi còn tìm hiểu nguồn gốc của chữ này đến từ đâu, những biến thể của nó, và cách sử dụng những biến thể này như thế nào. Chẳng hạn như chữ produce, tôi phải tìm hiểu produce (động từ và danh từ), biến thể production, product, productive, v.v. phải học cho thật kĩ và biết tận ngọn ngành của chữ. Mỗi ngày tôi tìm báo để đọc, và chữ nào không biết thì xem từ điển, chữ nào chưa biết cách phát âm thì chờ đến chiều khi đài truyền hình họ truyền đi những bản tin tức này và để ý họ phát âm mấy chữ mình chưa rành ra sao.

Tôi thấy học như thế có hiệu quả rất cao về từ vựng. Còn về văn phạm thì cuốn Practical English Usage của Michael Swan đúng là cuốn sách gối đầu giường của tôi. Tôi học văn phạm bằng cách … dịch sách. Để phân biệt cách chia và sử dụng động từ, tôi dịch những phần liên quan trong cuốn sách sang tiếng Việt. Tôi phát hiện rằng cách học hay nhất là mình phải viết xuống những gì mình học (chứ đọc hay nhập tâm vẫn chưa đủ), và dịch sang tiếng Việt là cách học tuyệt vời nhất.

Kỉ niệm món ăn

Ở hostel, ngày ngày tôi phải ăn uống trong nhà bếp rất lớn và rất sạch. Nhà bếp phục vụ cho cả 500 người tị nạn hay nhập cư. Lần đầu tiên vào phòng ăn, tôi bị choáng ngộp trước lượng thức ăn và sự dư thừa của thịt cá và trái cây ở đây. Tất cả món ăn đều được bày đặt một cách cực kì ngăn nắp và sạch sẽ. Tất cả món ăn đều do người Úc nấu theo kiểu [dĩ nhiên là] Úc.

Mỗi ngày nhà bếp phục vụ ba buổi ăn: ăn sáng, ăn trưa và ăn tối. Mặc dù thức ăn đầy rẫy, tôi vẫn không ăn được gì nhiều, một phần do nhớ nhà, một phần vì thức ăn không hợp khẩu vị (không có nước mắm hay các món như kho). Mà cũng chẳng riêng tôi, hầu như người Á châu nào cũng có cùng cảm tưởng. Cứ mỗi lần họ phục vụ món thịt trừu thì phòng ăn có đầy người Tây phương và vắng mặt người Á châu; nhưng nếu bữa ăn có món thịt gà thì lại thấy hiện diện của nhiều “đầu đen”. Sau này, nhà bếp họ biết khẩu vị của người Á châu, nên họ thuê hẳn đầu bếp Việt Nam vào nấu, và thế là chúng ta có những bữa ăn ngon.

Sau vài ngày quen nước quen cái, tôi tìm đường cuốc bộ ra phố và thấy có một tiệm thực phẩm có tên là “Ho Vi Lai” và một tiệm phở “Quê Hương”. Tôi mừng húm vì có thể vào mua mì gói về ‘nhà’ nấu ăn (dĩ nhiên là giấu ban quản trị hostel) mà không phải ăn thịt trừu nữa. Nhưng tôi vẫn chưa dám vào quán phở ăn, vì thấy một tô phở giá tới 2 đô-la, tức tương đương giá hai bộ quần áo và đôi giày của tôi!

Kỉ niệm Cabramatta

Những ai đến thăm Cabramatta ngày nay không thể tưởng tượng được thị trấn này vào thập niên 1980s. Thời đó, Cabramatta là một thị trấn bán nông thôn, hay có thể gọi là ‘sleeping town’ (thị trấn ngủ). ‘Ngủ’ ở đây có nghĩa là rất ít người, nhứt là những buổi trưa hè, chỉ loe ngoe vài người qua lại.

Đa số nhà cửa trong vùng xây dựng bằng fibro, nhưng cũng có nhà gạch. Người Úc chiếm đa số, nhưng thời đó thì đã có người Ý, Nam Tư và Ba Lan đến định cư ở Cabramatta. Người Việt chúng ta chỉ là nhóm sau cùng, nhưng lại là nhóm biến Cabramatta thành một đô thị phồn thịnh như ngày nay.

Thật vậy, chỉ chưa đầy 15 năm sau, Cabramatta đã bị ‘hoán chuyển’ hoàn toàn. Từ một thị trấn ngủ thành một khu phố nhộn nhịp nhứt nhì Sydney. Hầu hết các tiệm trên con đường chánh (John Street) đều được người Việt và người Hoa mua lại hay mướn hết. Ngày nay có thể nói là hơn 90% các con đường là hàng quán Việt và Hoa. Không những thế, tất cả các con đường chung quanh dần dần biến thành khu phố sầm uất. Hội đồng thành phố cho xây Quảng trường Tự Do để ghi công người tị nạn và vinh danh tự do.

Thời đó (1980s) giá nhà ở Cabramatta (tiêu biểu) chỉ chừng 40,000 đến 60,000 đôla. Nhưng ngày nay thì chắc chừng 700,000 đến 900,000 đôla. Giá xăng thời thập niên 1980s là 25 cent, ngày nay tăng lên 1.4 đôla. Cabramatta cũng trải qua một thời gian lừng danh với các băng đảng người Việt đánh đấm với băng đảng người Úc, với ma tuý, buôn bán phi pháp, v.v. Nhưng nay thì Cabramatta đã quay về cái thời thanh bình, và là nơi đến của người Á châu ở Sydney. Cuối tuần, lượng khách đổ về đây nhiều đến nổi không có chỗ đậu xe!

Tôi nghĩ công bằng mà nói, Cabramatta có được như ngày nay là nhờ sự đóng góp của người tị nạn. Anh bạn tôi là một doanh nhân ở VN khi sang Úc thăm con và hay ghé qua Cabramatta hay nói rằng những người Việt đến đây đầu tiên, dù họ theo trường phái chánh trị nào, cần phải được ghi công.

Kỉ niệm tự do

Tôi đã có những ngày sung sướng nhất ở đây. Điều làm tôi ngạc nhiên và cứ tự hỏi là sao không ai kêu mình đi khai báo hay làm hộ khẩu. Chẳng ai nói gì về chuyện đó. Chẳng thấy phường xã gì cả. Cũng chẳng thấy huyện gì cả. Không biết cái ‘uỷ ban nhân dân’ nó ở đâu. Sau này mới biết là chỉ có ‘Council’ (hội đồng thành phố), và hội đồng này là do dân bầu, các ông bà hội đồng chỉ làm bán thời gian thôi.

Ra đường thì ít khi nào thấy bóng dáng cảnh sát, càng chẳng thấy lính. Tôi ở Cabramatta Hostel chừng 3 tháng mà không hề thấy một anh chàng cảnh sát nào chung quanh Hostel. Dĩ nhiên là có cảnh sát, nhưng họ ở đâu và lo chuyện gì thì không biết. Thỉnh thoảng ra ngoài đường thì thấy họ đi xe màu xanh, nhưng họ cũng chẳng quan tâm đến mình.

Chẳng ai hỏi mình sẽ mướn nhà ở đâu. Hoá ra, Nhà nước chỉ cấp cho mình chừng vài trăm đô để lo mướn nhà, còn mướn ở đâu thì đó là quyền và lực chọn của mình.

Muốn đi đâu thì đi, chẳng cần giấy phép hay ‘giấy giới thiệu’ như ở Việt Nam. Muốn đi City thì nhảy lên xe lửa và cứ thế mà đi. Muốn ra biển tắm thì … cứ tự nhiên. Sau này, tôi còn biết được bãi biển dành cho những người khoả thân, nhưng tôi chỉ đi ngang chớ chưa bao giờ ghé đó.

Điều làm tôi kinh ngạc nhứt là thái độ của người dân ở đây với mấy lãnh đạo quốc gia. Mỗi ngày tôi thấy ông Malcolm Fraser (lúc đó là thủ tướng) xuất hiện trên tivi và báo chí trả lời phỏng vấn. Cứ mỗi ngày dạy tiếng Anh bà cô Katherine đem theo tờ Sydney Morning Herald vào rồi chỉ những bản tin về ông thủ tướng, rồi bà giải thích bằng loại ngôn ngữ dễ hiểu nhứt. Ngày nào cũng có tin tức chỉ trích ông thủ tướng vì tình trạng thất nghiệp tăng cao, tiền lời ngân hàng cũng tăng. Có hôm bà chỉ vào tấm hình ông thủ tướng trên báo, rồi nói: “Cái ông này rất bất tài. Mai mốt tôi không bầu cho ổng nữa!” Tôi ngồi dưới lớp nghe giải thích mà kinh ngạc, và tự hỏi sao bà cô này gan thế. Cả lớp toàn dân tị nạn im lặng như tờ, chắc vì … sốc.

Có một điều tôi chú ý là dân tị nạn từ Việt Nam, Lào, Campuchea, Hungary, Ba Lan, Tiệp Khắc, Trung Cộng, v.v. tất cả đều hành xử rất giống nhau. Đó là cách nhìn người đối diện bằng ánh mắt nghi ngờ. Tất cả đều dường như nghi kị người đối diện là một gián điệp hay đại loại như vậy. Họ nói gì cũng giữ kẽ, không dám tiết lộ gì quá nhiều. Họ cười cũng không thoải mái. Tất cả đều sợ, không dám phê bình lãnh đạo như bà cô Katherine. Tất cả đều sợ về hộ khẩu. Tôi mới đi đến kết luận là hoá ra, các nước XNCH xưa có một cái khuôn duy nhứt và cách cai trị bằng nỗi sợ. Phải vài năm sau mới gột rửa được cái tâm lí này.

Tôi viết thư về nhà báo cho Ba Má và các em biết là đã đến bến bờ tự do. Nhưng bên nhà chỉ nhận một ít thư của tôi, vì thời đó chế độ kiểm duyệt rất khắc nghiệt. Sau này tôi mới biết là sau lần anh em tôi vượt biên, có những (hay tất cả) thư từ tôi gửi về nhà hoặc bị tịch thu, hoặc Ba tôi phải đọc trước các ông công an xã. Có lần Ba tôi nổi nóng chửi mấy cán bộ và không đi đọc thư cho họ nghe nữa.

Những khó khăn của thế hệ I

Vèo một cái, tôi đã ở đây 39 năm. Hôm về quê thăm nhà, thằng em họ nó nhắc rằng ngày tôi rời Việt Nam là ngày 16/4/1981 (còn anh Hai tôi thì đi ngày 12/2/1981), tức là năm nay là năm kỉ niệm tôi xa Việt Nam tròn 40 năm. Tôi nghĩ mỗi chúng ta đều có một lịch sử để chia sẻ. Quãng đời 40 năm của một ‘refugee’ càng có trải nghiệm để chia sẻ. Vậy thì tôi có thể chia sẻ cái gì đến các bạn trẻ? Tôi đã trải qua những thách thức và khó khăn nào? Ngẫm nghĩ lại tôi thấy mình và các bạn cùng thế hệ có 3 khó khăn chánh trong thời gian đầu: tiếng Anh, kì thị và việc làm.

Cái khó khăn lớn nhứt đối với thế hệ tôi và tôi là tiếng Anh. Rất nhiều người Việt thời đó tới Úc không biết tiếng Anh hay chỉ với một chút vốn liếng tiếng Anh thôi. Cái vốn đó chỉ đủ giao tiếp hàng ngày, chớ chưa đủ trong công việc, càng chưa đủ cho việc học hành. Mà, tới Úc ở tuổi thanh niên thì càng khó học tiếng Anh, và đó chính là lí do mà nhiều người đã có nghề nghiệp chuyên môn ở Việt Nam đành phải chấp nhận công việc tay chân trong các hãng xưởng, và nhiều người không quay lại nghề cũ vì tuổi tác.

Cái khó khăn thứ hai là kì thị chủng tộc. Ở Úc có chánh sách “White Australia Policy”, tức là nước Úc của người da trắng. Lúc tôi tới Úc thì chánh sách này mới bị huỷ bỏ, nhưng dư âm của nó vẫn còn. ‘Dư âm’ này có nghĩa là người Úc cảm thấy rất khó chịu trước sự hiện diện của người tị nạn Việt Nam. Một số thì tỏ thái độ ghét ra mặt. Người Việt thích chơi nổi với xe xịn. Và, vậy là có kẻ phao tin nhảm rằng chánh phủ Úc tài trợ cho người tị nạn nên họ mới có những chiếc xe mắc tiền! Họ phao tin rằng bọn Việt Nam vào đây để lấy việc làm của người Úc.

Một số người Việt bị hành hung. Anh bạn tôi bị bọn thanh niên kì thị chận đánh khi trên đường đi làm về nhà. Đó chính là lí do làm cho người Việt đoàn kết lại, tổ chức thành nhiều nhóm để chống lại bọn kì thị. Thời đó công dân có quyền mua súng, và người Việt thì không lạ gì súng ống, mà cũng chẳng sợ chết (toàn dân độc thân mới từ trại tị nạn qua) nên bọn kì thị cũng bị phản công nhiều trận khiến chúng khiếp vía.

Cái khó khăn thứ ba là công việc. Tuyệt đại đa số người Việt tới Úc đều nóng lòng tìm việc làm để có tiền trước là ổn định cuộc sống, sau là gởi về quê nhà. Họ chấp nhận bất cứ việc làm nào, bất kể “low pay” bao nhiêu. Kĩ sư, bác sĩ đi làm công nhân trong các hãng xưởng, thầy giáo đi hái trái cây, sinh viên đi làm lựa thư cho bưu điện, riêng tôi thì làm trong nhà bếp.

Thời đó, Việt Nam bị cấm vận mà cũng nghèo xác xơ vì sai lầm nghiêm trọng trong chánh sách kinh tế đối với miền Nam. (Bây giờ nghĩ lại những sai lầm đó mà tức giận và khó tha thứ cho mấy người cầm đầu). Thành ra, ai ra đi cũng có cái ưu tiên số 1 là giúp đỡ người thân bên quê nhà. Làm được 1 đồng là dành ra 50 cent giúp cho bên nhà. Những thùng quà liên tục được gởi về gần như hàng tháng. Nào là vải may quần áo, quần jean, bánh kẹo, thuốc lá, rượu, thuốc men, v.v. nói chung cái gì cũng cần cho Việt Nam. Những món hàng gởi về Việt Nam thời đó rất đúng với ca khúc của Việt Dũng:

Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá
Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay
Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may
Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đầy

Dù biết rằng gởi quà về là bị mấy cán bộ hải quan chận lại lấy hay ăn cắp, nhưng bà con vẫn gởi. Vẫn gởi vì hi vọng rằng 10 món thì 5 món cũng đến tay người thân. Nhớ lại cái thời đó làm cho người tị nạn có ác cảm với cán bộ hải quan kinh khủng, không hiểu nổi tại sao cũng là con người mà họ man rợ đến nổi lấy thuốc men dành cho người mắc bệnh nguy kịch!

Đó là 3 khó khăn hay rào cản mà người tị nạn thuộc thế hệ tôi gặp trong thời thập niên 1980s. Bây giờ thì thế hệ thứ hai không có vấn đề ngôn ngữ nữa, mà họ cũng góp phần làm sáng cộng đồng người Việt. Ngày nay, các bạn có thể đi bất cứ trường trung học nào thuộc những vùng có đông người Việt đều thấy bảng vàng ghi nhận những học sinh xuất sắc nhứt với họ Nguyen, Tran, Huynh, Pham, v.v. Vào các đại học cũng có những bảng vàng ghi nhận các sinh viên xuất sắc gốc Việt. Người Việt thuộc thế hệ thứ 2 đã hoà nhập vào xã hội Úc và có người đạt những vị trí cao cấp (leadership) trong doanh nghiệp, chánh trường, khoa học, v.v.

Ngày nay thì sự kì thị chủng tộc như vậy không còn nữa, nhưng sự prejudice / thành kiến và ‘glass ceiling’ (rào cản vô hình) thì tôi nghĩ vẫn tồn tại dưới những hình thức tinh vi hơn. Cái hiện tượng glass ceiling là một khó khăn lớn đối với người Á châu nói chung, chớ không chỉ riêng người Việt mình. Nó làm cho người Á châu khó tiến thân trong thế giới khoa bảng phương Tây. Mình cần phải nhận thức được điều này để đấu tranh thẳng thừng.

Ngày nay thì Việt Nam không còn nghèo tột cùng như 40 năm trước nữa, nhưng vẫn chưa phải là nước giàu có gì. Chúng tôi không còn gởi quà cáp về Việt Nam nữa, hay có gởi thì cũng rất chọn lọc (vì Việt Nam đã có gần như tất cả những gì mà bên này có). Nhưng tiền thì vẫn gởi về Việt Nam để yểm trợ bà con. Mới vài tuần trước, theo thông tin từ báo chí thì trong năm qua cộng đồng người Việt hải ngoại đã gởi về Việt Nam khoảng 16 tỉ USD. Tôi thì nghĩ con số đó thấp hơn thực tế, vì đó là con số mà chánh phủ đếm được; còn số tiền mà ‘Việt kiều’ đi về Việt Nam, chi tiêu ở Việt Nam thì chắc chắn không kém con số đó bao nhiêu.

Như là một ngày Tạ Ơn

Từ một làng quê ở miền Tây đến viện Garvan, UNSW, hay UTS hay AAHMS là một quãng đường dài. Trên quãng đường đời đó tôi mang ơn rất nhiều người trong và ngoài nước. Nhưng ơn lớn nhứt vẫn là nước Úc.

Cứ đến ngày này (26/1) là tôi ví như ngày lễ Tạ Ơn bên Mĩ. Ngày mà tôi nói lời cảm ơn nước Úc đã cưu mang mình trong những ngày khó khăn nhứt. Chẳng những cưu mang mà còn cho tôi một cơ hội để đóng góp cho quê hương thứ hai này (và cả quê hương thứ nhứt). Tôi tự xem mình là một kẻ sống sót (survivor). Tôi đã sống qua quãng đời ‘thuyền nhân’, ‘refugee’, phụ bếp, phụ tá trong labo bệnh viện, sinh viên, v.v. Úc giống như đã hồi sanh cho tôi từ một kẻ lang thang trong các trại tị nạn, và  cho tôi một căn cước mới: căn cước Úc.

Với cái giấy thông hành và quốc tịch Úc tôi đã có dịp đi qua và làm việc ở những địa chỉ từ ‘vô danh’ đến những địa chỉ lừng danh trên thế giới như Mayo Clinic, UCSF, UCSD, UCI, Âu châu, Hong Kong, Thái Lan, v.v.  Với cái prestige của Úc tôi đã được bổ nhiệm vào các vai trò leadership trong các hiệp hội loãng xương Hoa Kì và thế giới, mà chưa có người Việt nào có cơ hội. Cũng với cái prestige của Úc và các viện đại học Úc mà tôi không còn xa lạ gì với các tập san y khoa số 1 trên thế giới như New England Journal of Medicine, Lancet, BMJ, JAMA, Nature, v.v. Nói theo người Tây là “been there, done that”. Tất cả là nhờ Úc.  Thành ra, tôi lúc nào cũng tự đáy lòng mình cảm ơn cái quê hương thứ hai này.

Nhưng dù là vậy, tự trong lòng tôi vẫn thấy mình là người Việt hơn là người Úc. Dù thời gian tôi đã ở đây lâu hơn thời gian ở Việt Nam, nhưng tôi vẫn không thấy gắn bó với đất nước này.  Dù mang quốc tịch Úc, nhưng tôi không xem mình là người Úc. Dù đất nước này đã cho tôi tất cả và tôi cũng đóng góp cho đất nước này hết mình, nhưng tôi vẫn không gọi Úc bằng hai chữ ‘quê hương’ ngọt ngào. Lăn lộn và cọ xát trong xã hội này lâu như thế nhưng thỉnh thoảng (chỉ thỉnh thoảng thôi) tôi vẫn thấy mình như đứng bên lề. Tôi tự đặt câu hỏi tại sao, và phải lâu lắm mới nghiệm ra điều hiển nhiên là vì mình không sanh ra ở đây, không có quãng thời gian thiếu niên ở đây, và do đó tôi không chia sẻ lịch sử và những giá trị đi kèm lịch sử, nên tôi mới có cảm giác ‘bên lề’ như thế. 

Mà, hình như người ngoại quốc cũng không xem tôi là người Úc. Nhớ có lần tôi nói chuyện trong một hội nghị bên Mĩ, chẳng hiểu vì thích hay vì muốn làm quen, họ bao quanh tôi và hỏi tôi là người gì. Khi tôi trả lời là Australian, họ lắt đầu nói ‘Không, tôi muốn hỏi trước đó ông đến từ đâu‘. Khi nói từ Việt Nam thì họ mới hài lòng. Năm kia, tôi được mời đến giảng plenary trong một hội nghị lớn ở Jakarta, ban tổ chức nghiễm nhiên ghi tôi là người đến từ Việt Nam, tôi phải nhắc họ là tôi đến từ Úc, nhưng họ nói ‘Oh, anh là công dân Úc, chứ anh là người Việt Nam, đúng không?’ Khi tôi làm Chair Liên minh Biomedical Science Á châu người ta vẫn xem tôi là người Việt Nam gốc … Đà Nẵng!

Ấy thế mà càng lạ lùng hơn là khi tôi về Việt Nam, nơi tôi nghĩ đó là quê hương, nhưng khi đối diện với thực tế tôi lại thấy mình xa lạ. Xa lạ ngay từ lúc đến phi trường, không chỉ cái không gian lạnh lùng, mà ở cái quầy di trú dành cho người Việt và dành cho người nước ngoài. À, thì ra người ta xem mình là người nước ngoài. Đến khi đặt chân về quê, cảm giác xa lạ càng cao vì những gì trong kí ức của mấy mươi năm trước đã thay đổi và không còn nữa. Nói như Nhà văn Nguyễn Đình Toàn [trong một ca khúc tôi rất thích] là ‘ta mất người như người đã mất tên‘. Bạn bè giờ này họ xem mình là ‘Việt kiều’. Thú thật, tôi không ưa chữ đó, vì nó hàm ý nói như là những kẻ ngoài cuộc. Cũng giống như ‘Hoa kiều’, vốn là những người sống với phương châm mà nhiều người nhạo báng là ‘Nơi nào buôn bán được là quê hương, nơi nào hối lộ được là tổ quốc’. Không ưa chữ ‘Việt kiều’, nhưng tôi cũng hiểu đó là một cách nói ngắn gọn. Nhưng cách nói đó cũng làm cho mình cảm thấy một khoảng cách tinh thần nhứt định với quê hương.

Cho đến bây giờ, dù về Việt Nam làm việc thường xuyên, mà tôi vẫn thấy mình xa lạ ngay trên quê hương mình! Tôi cố gắng tự tìm lời giải thích tại sao, nhưng vẫn chưa đi đến câu trả lời sau cùng. Tuy nhiên, tôi nghĩ có thể đó là một khoảng cách về thế hệ. Sau 40 năm, một thế hệ mới đã hình thành, và lịch sử mới đã diễn ra. Tôi không thể chia sẻ lịch sử và không có cảm xúc như thế hệ mới. Tôi không chia sẻ cái gu văn hoá nghệ thuật với thế hệ mới. Những bài nhạc họ say sưa hát theo tôi thì không thích; ngược lại, những gì tôi thích thì họ cho là xưa, là sến. Tôi nghĩ chính vì không chia sẻ cảm nhận và giá trị văn hoá như thế nên tôi vẫn là người ngoài cuộc.

Ấy vậy mà tôi vẫn là người trong cuộc. Tôi đọc tin tức hàng ngày ở trong nước, sau khi đọc tin Úc. Tôi vẫn theo dõi những diễn biến ở trong nước với nhiều trăn trở chỉ biết giãi bày trên trang giấy hay màn hình. Tôi thậm chí còn xuất bản sách ở trong nước, và hợp tác với hàng chục đồng nghiệp trong nước. Tôi giảng dạy và hướng dẫn nghiên cứu sinh ở trong nước. Lạ một điều là nhiều khi tôi đi la cà ngoài các quán bình dân ở Sài Gòn, thậm chí cả ở Nam Định, Mỹ Tho và Rạch Giá, mà có người vẫn nhận ra tôi!

Tôi nghiệm ra sau 40 năm mình ở một vị trí chông chênh giữa một bên là quê hương và một bên là nơi an cư lạc nghiệp.

___

Bản tiếng Anh kể chuyện con kangaroo nó giúp tôi đi Úc như thế nào:

https://tuanvnguyen.medium.com/how-did-i-come-to-australia-i-just-want-to-see-a-kangaroo-7eb00276af3d

PS: Hôm nọ, ngồi ôn chuyện thời tị nạn với một anh lái taxi, và biết được một câu chuyện cảm động. Tháng 10/1982, một chiếc tàu gồm 57 người đi tị nạn, bị cướp bóc không còn một cái gì, và mọi người chờ chết. Nhưng như một phép lạ, một chiếc tàu hàng London Cargo thấy tội nghiệp bèn kéo vào bờ Pilau Bidong và thế là cả tàu sống sót. Trong tàu có 2 đứa nhỏ, một đứa mới 6 tháng tuổi và một đứa gần mới 5 ngày tuổi thiếu sữa bú và nước uống, nên suýt chết. Cả gia đình được nhận đi định cư ở Úc. Hai đứa nhỏ suýt chết đó nay là bác sĩ ở Melbourne. Anh bạn taxi nói anh lấy cái ngày anh đi vượt biên làm ngày khai sanh.

2 thoughts on “Kỉ niệm những ngày đầu trên đất Úc

  1. Hi Anh.
    Có đọc bài viết của Anh qua email của người bạn gởi cho. Hành trình đến Thái Lan giống của tôi: Budi-Songkhla-Bangkok-USA. Năm 2018 vợ chồng tôi có về thăm trại Songkhla
    , muốn đến làng Budi để trả ơn những người đã cưu mang tôi vào đầu năm 1979, nhưng vì an ninh nên cảnh sát Thái khuyên tôi nên đi vào buổi sáng và ra ngay. Vì thì gian không dự trù trước nên chỉ đến Songkhla. Mong được kết nối, kể chuyện làng Budi. Nhóm của tôi là nhóm 21 người đến làng Budi, ngủ ở chuồng gà bỏ trống gần cái giếng. Email của tôi: dxq1952@yahoo.com

    Like

  2. Cảm ơn Thầy Tuấn chia sẻ những trải nghiệm thực tế nhiều gian nan, phấn đấu kiên trì và sáng tạo để thành đạt ở môi trường rất mới: nước Úc.
    Tôi có được vinh dự đến Sydney 6 tháng để tu nghiệp tiếng Anh và tự nghiên cứu về Y học Gia đình và hoạt động của các Trung tâm Dưỡng lão. Tôi cũng có những kỷ niệm thoáng qua – theo kiểu lát cắt mỏng -tương tự khi thử hội nhập với người dân Úc: đi học, đi làm ngoài giờ, giải trí, giao du với người dân địa phương, nghiên cứu…
    Tôi rất ngưỡng mộ và khâm phục Thầy Tuấn về rất nhiều mặt mà mình có thể biết được. Rất mong có dịp được tiếp đón Thầy ở quê nhà VN.
    Nguyễn Hùng Vĩ

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s